DANCE VÀ O’NEIL đích thân tiến hành khám xét.
Lại được ở bên và làm việc cùng anh ta khiến cô có cảm giác thật tuyệt. Một trong những cảm xúc ấy là sự thoải mái khi được ở bên cạnh người thân thiết với mình, hoàn toàn thấu hiểu nhau qua những ánh mắt, nụ cười và cử chỉ tế nhị mà chẳng cần phải nói.
Nhưng quan trọng nhất là sự kết hợp các kỹ năng thực thi luật pháp của hai người. Một cấu trúc - tổng thể lớn hơn nhiều sự kết hợp của các bộ phận. Làm cảnh sát là một công việc khó khăn, bạn không thể thực hiện nó một mình. Công việc có thể biến thành cơn ác mộng khi bạn không có sự liên kết với đồng đội - và điều này không chỉ khiến một ngày làm việc trở nên vất vả, mà còn có nghĩa là những kẻ xấu có ít khả năng bị bắt hơn.
Công tác điều tra của cảnh sát có thể là một hình thức nghệ thuật, như ba lê, môn nghệ thuật kết hợp kỹ thuật, mục đích, và cô cảm thấy điều này trong sự hợp tác hoàn hảo với Michael O’Neil.
Sân khấu cho hai người thể hiện sự hài hòa là chiếc xe moóc của Bobby Prescott, chi tiết gợi cảm hứng cho cuộc khám xét này là tiết lộ về Bộ Tứ Huyền Ảo của Harutyun.
Dance tin rằng giờ đây cô đã biết Tabatha Nysmith nhìn thấy trong xe moóc của Bobby - ăn cắp cái gì vào buổi sáng, sau khi tay kỹ thuật viên đường phố bị sát hại. Đối tượng của kẻ trộm này không phải là những hồi ức đáng nhớ của Kayleigh Towne. Thực ra, nó chẳng có liên quan gì đến nàng ca sĩ, cũng như với kẻ rình mò - phải, ngoại trừ ở chừng mực nào đó, Edwin Sharp có khả năng là vật tế thần như gã không ngừng kêu.
“Nào,” cô nói, có phần hụt hơi, khi xem xét một bìa hồ sơ từ trên giá sách, nơi vài ngày trước cô đã nhận ra có thứ bị mất khi đến đây cùng P. K. Madigan.
O’Neil bước đến gần hơn cùng cô để xem một cuốn sổ tay bìa xoắn, trong đó, cha của Bobby đã ghi nhanh những chi tiết về các đĩa ghi âm mà ông hỗ trợ phần kỹ thuật tại Abbey Road Studio, London trong những năm 60 và 70.
Dance nhớ lại Tabatha đã đề cập đến sự nghiệp vang danh của bố Bobby.
Đó là một danh sách các tài năng ngoạn mục từ kỷ nguyên ấy: Cliff Richard, Connie Francis, ban nhạc Scorpions, Hollies, Pink Floyd và dĩ nhiên là Beatles. Ban nhạc này đã thu âm ca khúc Yellow Submarine và Abbey Road tại đó. Phần nhiều những dòng chữ vội vàng rất khó hiểu - những ghi chép về các nhạc cụ điện tử, cường độ ampli, các bộ tiêu âm và nhạc cụ.
Nhưng có liên quan nhất là một bản sao bằng giấy than lá thư gửi cho bố Bobby.
Ngày 13 tháng 06 năm 1969
Bob Prescott:
Chào ông bạn, cảm ơn vì công việc TUYỆT VỜI, chúng tôi muốn nói rằng ông là kỹ sư giỏi nhất. Làm việc cùng ông thật tuyệt. Và nhằm tri ân cho những đêm không ngủ đó, các cuốn băng ghi âm những ca khúc chúng tôi đã chơi sau ‘Abbey Road’, tất cả đều là của ông, toàn bộ bản quyền, mọi thứ. Danh sách xem bên dưới. Chúc mừng!!!!!!!!!!
“Chờ đã,” O’Neil nói. “Có phải họ…?”
Dance thì thầm, “Tôi nghĩ là họ. Lạy Chúa. Tôi nghĩ là họ đấy.” Phía dưới bức thư là tên bốn ca khúc. Không ca khúc nào trong số này là những ca khúc nổi tiếng của nhóm Beatles.
Cô giải thích rằng việc sáng tác và thu âm các bài hát cho album Abbey Road được bắt đầu vào mùa xuân năm 1969. Đó là album thu tại phòng thu cuối cùng của nhóm. Let It Be ra mắt một năm sau đó mặc dù ca khúc này được viết xong vào tháng 1 năm 1969.
Dennis Harutyun - ‘thủ thư của FMCSO’, như Madigan đặt biệt danh - thực sự đã có nghiên cứu ấn tượng về cuộc đời của Bobby Prescott và gia đình anh ta, để xem liệu có ai ngoài Edwin Sharp có thể có động cơ giết anh ta không. Tay cảnh sát đã tìm thấy vài lời đồn thổi bị lãng quên trên Internet, rằng bố anh ta có thể có những bản chỉnh sửa các ca khúc của Beatles mà ông từng hỗ trợ phần kỹ thuật tại London nhiều năm trước.
Nhưng đây không phải là những bản chỉnh sửa, chúng là những ca khúc hoàn chỉnh, nguyên gốc và không được phát hành, công chúng chưa từng được biết tới.
“Và ban nhạc Beatles không thèm ngó ngàng đến chúng?” O’Neil hỏi.
“Lúc đó ban nhạc đã tan rã rồi. Họ đã giàu có. Có thể họ không còn quan tâm đến chúng nữa. Hoặc có thể họ chỉ nghĩ là chúng không còn hay nữa.”
“Lá thư này không hề có chữ ký của ai trong bọn họ.”
Dance nhún vai. “Một chuyên gia chữ viết có thể giám định ai trong số bốn người họ đã viết nó. Nhưng họ có nói đến câu ‘sau Abbey Road’. Còn có thể là ai chứ? Sau đấy, chắc họ phải ở đâu đó quanh phòng thu, cùng nhau tung ra vài bài nữa. Chẳng thành vấn đề; chúng vẫn là những ca khúc của Beatles.”
“Bobby được bố anh ta để lại những cuốn băng.”
“Đúng vậy,” Dance nói, chỉ tay về phía các giá sách. “Hung thủ đã tìm ra chúng, và hắn chỉ chờ cơ hội giết anh ta rồi ăn cắp.”
“Và đợi chờ Edwin, hay ai đó giống gã xuất hiện như một vật tế thần.”
“Chính xác.”
O’Neil nói, “Vậy là có ai đó quen biết Bobby, biết hồ sơ lưu trữ của anh ta và hẳn phải biết đến những đồn thổi về các ca khúc của Beatles.” Anh ta chăm chú nhìn lời bài hát. “Hung thủ có thể nào bán chúng không?”
“Tôi nghĩ ít nhất hắn có thể nghĩ ra khoản tiền chuộc đến hàng triệu đô la. Hoặc hắn có thể bán cho một nhà sưu tập ẩn dật - giống tay thương gia người Nhật mới bị khám xét vì đã tiêu năm mươi triệu USD cho một bức họa của Van Gogh ăn cắp. Hắn sẽ giấu nó dưới tầng hầm mà không bao giờ cho ai xem.”
O’Neil chỉ rõ, “Vậy chúng ta đã biết động cơ. Câu hỏi thứ hai là, hung thủ là ai? Cô có ý tưởng nào không? Tôi không biết nhiều nhân vật ở đây.”
Dance suy nghĩ một lúc, nhìn xung quanh chiếc xe moóc.
A đến B đến Z…
“Tôi cần anh làm cho tôi một việc.”
“Được,” tay thanh tra nói. “Bằng chứng, hiện trường tội ác? Cô là nhà thẩm vấn tốt hơn cả tôi nhưng tôi là chuyên gia đấy.”
“Không,” cô nói. Cô nắm lấy hai vai ông ta rồi đẩy về phía sau khoảng mét rưỡi. Sau đó cô bước ra xa, xem xét ông ta thật kỹ. “Chỉ việc đứng yên đó, không được cử động.”
Khi cô bước ra cửa, O’Neil nhìn quanh và nói, “Tôi làm được mà.”
NỬA TIẾNG SAU, Dance với O’Neil cùng một nhóm các cảnh sát FMCSO tiến về một quán trọ đối diện Xa lộ 41 trong buổi chiều cuối hạ mù sương.
Đó là Quán trọ Mái đỏ. Tươm tất, sạch sẽ nhưng chắc chắn còn xa mới đáp ứng được tiêu chuẩn của vị khách họ sắp bắt, vào những thời điểm nhất định trong cuộc đời ông ta.
Bốn chiếc xe lặng lẽ tiếp cận.
Dĩ nhiên có những cân nhắc về thẩm quyền, nhưng Dance và O’Neil không tới đây để tranh phần, mà đơn thuần họ chỉ muốn giúp đỡ. Họ rất vui vẻ để cảnh sát địa phương giải quyết vụ bắt giữ. Cuối cùng cô cho phép Madigan ra tay bắt giữ, giành lại sự yêu mến của dân chúng, cho dù nói chung đây là vinh dự của FMCSO vì ông không còn trong ngành nữa.
Ba chiếc xe cảnh sát và chiếc Nissan của Dance lặng lẽ tiến lên khu nhà trọ rồi dừng lại. Cùng mỉm cười trong sự thấu hiểu ngấm ngầm, Dance và O’Neil nhìn nhau rồi tiến đến phía sau ngôi nhà, ở đó Harutyun, Stanning cùng bốn cảnh sát khác đang chạy nước rút qua các sảnh vào căn phòng, nơi giám sát cho thấy nghi phạm đang ở.
Đúng như họ dự đoán, tên hung thủ căng thẳng đã đoán trước cuộc viếng thăm này, khi trông thấy những chiếc xe đến gần bèn liều lĩnh nhảy qua cửa sổ xuống một bãi cỏ bẩn thỉu vốn dành cho chó giải quyết nhu cầu. Hắn đứng dậy rất nhanh, tay ôm chặt quai cái túi đựng máy tính xách tay trước ngực và lao như tên bắn. Nhưng hắn bỗng khựng lại khi liếc thấy súng trên tay Dance và O’Neil. Cả hai họng súng đang chĩa thẳng vào đầu hắn.
Hai cảnh sát ủ rũ nữa, một người Latin và một người Canada, cùng nhập bọn với họ phía sau nhà. Họ chính là những người bập còng vào tay nhà sản xuất của Kayleigh, Barry Zeigler, dẫn ông ta tiến về phía bãi đỗ xe trước nhà. Kathryn Dance cầm cái túi đựng máy tính chứa những ca khúc vô giá ông ta ăn cắp từ xe moóc của Bobby vào buổi sáng, sau khi giết chết tay kỹ thuật viên.