HAI TIẾNG SAU, bộ tứ này lại tập họp tại Văn phòng Cảnh sát trưởng - cụ thể là trong những chốn cũ mà P. K. Madigan bị trục xuất. Đó là phòng lớn nhất trong Văn phòng Cảnh sát trưởng, căn phòng duy nhất đủ sức chứa hơn hai đến ba người một lúc.
Với chút buồn bã, Dance để ý tay chánh thanh tra giữ những phiếu giảm giá của Safeway[1] cắt ra từ một tờ báo. Có lẽ cậu ta đi mua sắm cho gia đình. Chỉ có một phiếu giảm giá mua kem. Mua một tặng một.
Cô nhận được một tin nhắn, khi đọc xong, cô liền hỏi các cảnh sát, “Mọi người chỉ cho tôi cửa dịch vụ được không?”
Harutyun và Stanning nhìn nhau, rồi Stanning nói, “Tất nhiên rồi. Theo tôi.”
Dance cùng những người khác theo sau. Đi bộ một lúc, họ dừng lại trước một ngưỡng cửa rộng trong khu giao hàng phía sau tòa nhà chính, mở ra một con dốc dẫn lên bãi đỗ xe.
“Tốt, thế này sẽ ổn.” Cô gọi một cuộc và chỉ hướng đến lối vào. Dance ngắt máy rồi giải thích, “Tôi sắp đón vài vị khách quen của gia đình dịp cuối tuần này. Họ đi dự hội nghị ở San Jose. Tôi được phép mời họ đến đây. Tôi đã nhờ văn phòng của chúng tôi tại San Francisco tạo điều kiện cho lộ trình của họ thuận lợi hơn. Thực sự họ căn giờ tốt hơn tôi tưởng.”
Vừa lúc đó, một chiếc xe tải tấp vào rồi dừng lại. Cánh cửa bên mở ra, một cầu thang dốc cho người khuyết tật được kéo xuống tận mặt đất. Lúc sau, một người đàn ông bảnh trai với mái tóc đen và chiếc mũi to điều khiển một xe lăn màu đỏ gắn động cơ nhanh chóng cho xe chạy xuống đường dốc vào ngưỡng cửa của khu dịch vụ. Trong chiếc quần âu màu nâu vàng nhạt, áo sơ mi dài tay màu burgundy, trông anh nhợt nhạt như kiểu những người không ra ngoài nhiều. Đi cùng anh là một người phụ nữ cao, tóc đỏ, mặc quần jean, áo thun ngắn tay màu đen và áo khoác đen, cùng một thanh niên mảnh khảnh, trẻ tuổi hơn với mái tóc được cắt tỉa hoàn hảo. Anh ta mặc quần âu cắt may rất khéo, áo sơ mi trắng và thắt cà vạt sọc.
“Lincoln!” Dance cúi người xuống, áp má vào má người đàn ông trên xe lăn. “Amelia.” Cô ôm chầm lấy người phụ nữ tóc đỏ, Amelia Sachs, đồng đội của Lincoln Rhyme.
“Chào Thom,” cô nói với người hộ lý của Rhyme, anh ta cũng ôm chầm lấy cô.
“Lâu lắm… đã lâu lắm rồi,” tay trợ lý nói.
“Kathryn… và Michael O’Neil,” Rhyme nói, quét mắt rất nhanh về phía tay thanh tra.
Ngạc nhiên, O’Neil đáp, “Đúng vậy.” Anh ta chưa từng gặp Rhyme. “Làm sao anh biết?”
“Nhờ quan sát thôi. Anh đang mang vũ khí nên anh là nhân viên an toàn công cộng, và những người ở Fresno-Madera đây,” - một cái hất đầu sang Harutyun và Stanning - “đều mặc đồng phục, nhưng các phù hiệu tên của họ cho thấy họ chỉ là thanh tra. Chính sách ở đây quy định ngay cả thanh tra cũng phải mặc đồng phục. Nhưng anh thì không, nên có khả năng anh đến từ một đơn vị khác. Có một chiếc xe ô tô ngoài kia với biển hiệu Hạt Monterey chạy phía trên. Làn da anh rám nắng và rất tráng kiện - theo kiểu những người đi thuyền buồm, hay câu cá trên đại dương thường có. Tôi biết anh và Kathryn gần đây làm việc cùng nhau. Do đó… anh là Michael O’Neil. Hoặc tôi có thể đoán được từ ngôn ngữ cơ thể giữa hai người.” Giống như hầu hết những nhận xét có vẻ châm chích của Lincoln Rhyme, điều này được nói ra không kèm theo nụ cười.
Cổ Rhyme cử động nhẹ, tay phải của anh khẽ chìa ra. Anh bắt tay O’Neil. Dance biết dạo gần đây anh đã trải qua cuộc phẫu thuật cải thiện tình trạng của mình - anh bị liệt cả tứ chi từ cổ trở xuống, do chấn thương gặp phải khi đang làm nhiệm vụ tại Đơn vị Điều tra Hiện trường NYPD vài năm trước. Ca phẫu thuật thành công, anh gần như cử động được toàn bộ cánh tay và bàn tay phải, điều khiển bằng các cử chỉ khéo léo của cổ, vai và cơ đầu.
Tương tự anh bắt tay cả Harutyun cùng Stanning, Sachs giới thiệu với họ Thom Reston, hộ lý của Rhyme.
Harutyun nói tiếp, “Kathryn nói rằng cô ấy đã gọi một chuyên gia, nhưng tôi không nghĩ sẽ là anh. Cảm ơn vì đã đến. Tôi nghe nói trụ sở của anh tại New York. Cơn gió nào mang anh tới California vậy?”
“Đi thăm viếng,” người đàn ông đáp ngắn gọn. Và chấm hết. Anh ấy không phải là người hoạt ngôn - thậm chí còn nói ít hơn cả Michael O’Neil.
Sachs đỡ lời, “Anh ấy đang thuyết trình tại hội nghị về giám định pháp y tại San Jose. Sau đó chúng tôi sẽ nghỉ ngơi vài ngày - cùng Kathryn và gia đình cô ấy ở Pacific Grove.”
Dance quen biết và làm việc cùng Rhyme trong vài năm. Cô đã ngỏ lời mời anh và Sachs đến thăm. Rhyme có xu hướng không thích di chuyển - chắc chắn vì những vấn đề hậu cần, phần nữa anh vốn là người thích sống ẩn dật - tuy nhiên do nhu cầu dành cho nhà tư vấn về giám định pháp y và công tác khám nghiệm hiện trường như anh quá lớn, nên anh quyết định nhận công việc thuyết trình tại hội nghị về chủ đề này tại San Jose.
Khi sửa sang lại nhà của Dance, cha cô đã dự tính trước cuộc viếng thăm này. Ông xây thêm đường dốc cho xe của Rhyme lên đến cửa trước và có sửa đổi phòng tắm một chút. Rhyme đã nói không nên làm phiền mọi người, rằng anh sẽ ở quán trọ. Nhưng Stuart Dance đã về hưu tha thiết muốn anh sử dụng các đồ mộc tự tay ông làm.
Harutyun nói, “Chúng tôi thực sự hân hạnh được gặp anh, Thám tử Rhyme.”
Lời đáp rất nhanh, “Gọi Lincoln được rồi. Tôi có đang làm việc đâu.” Anh để lộ thái độ bực bội nhưng vui vẻ trước câu nhận xét của người thanh niên.
“Amelia lái xe đúng không, tôi đoán vậy,” Dance nói, liếc mắt chế nhạo sang Thom. Câu này có ý nói đến việc căn giờ. Từ San Jose đến Fresno cách khoảng 120 dặm, thế nhưng họ đi chỉ trong vòng có nửa tiếng - bằng chiếc xe tải chở người khuyết tật nữa, đúng là ngạc nhiên. Không giống như Dance, nữ cảnh sát viên từ New York là một người mê xe cộ - cô đang tự cải thiện điều này - thi thoảng lôi con xe kềnh càng của cô ra đường ‘thư giãn’ với vận tốc 180 dặmgiờ.
Sachs mỉm cười. “Toàn đường thẳng tắp ý mà. Đèn xanh cũng giúp ích nhiều đấy.”
Rhyme nhìn xung quanh cơ sở bảo quản, mặt nhăn nhó như thể anh mong đây là một phòng thí nghiệm hình sự. “Nào. Cô có thứ gì muốn tôi xem qua không?” Dance nhớ lại, nhà tội phạm học này không phải là tuýp người dễ hòa nhập.
“Chúng tôi có phòng thí nghiệm rất đẹp,” Harutyun giới thiệu.
“Thật không đấy?” Có ý hoài nghi trong giọng anh. Dance đã từng đến thăm ngôi nhà thành phố của Rhyme tại Central Park West, Manhattan, với phòng khách được anh biến thành một phòng thí nghiệm giám định pháp y với trang thiết bị tối tân. Nơi đó, với tư cách cố vấn, anh cùng Sachs và các sĩ quan khác đã phụ trách điều tra hiện trường các vụ án trọng điểm trong khu tàu điện ngầm.
Không để tâm đến ý mỉa mai, Stanning tự hào nói, “Vâng, thưa ngài. Cảnh sát trưởng Madigan đã tranh đấu rất vất vả để xây dựng CSU của chúng tôi. Các sĩ quan ở xa tận Bakersfield cũng gửi mẫu tới đây. Và ý tôi không phải những đồ rẻ tiền. Mà là những thiết bị cực kỳ phức tạp.”
“Bakersfield,” Rhyme nói, thậm chí còn mỉa mai hơn, ném sang Thom cái nhìn sắc lạnh, ra ý không cần thiết phải tỏ ra hợm hĩnh. Cho dù Dance cho rằng thái độ của anh chẳng liên quan gì đến thành kiến đối với thành phố nhỏ. Rhyme là một người thô lỗ chẳng theo một trường phái nào cả. Anh đã từng khiến cả NYPD, Scotland Yard và FBI nếm trái đắng nhiều lần. Cả Văn phòng Thống đốc và Thị trưởng New York cũng không thoát được cơn phẫn nộ của anh.
“Nếu hai người không phiền, chúng ta nên vào trong thôi.”
“Đi lối này,” Harutyun nói, dẫn họ tiến qua cửa trước để vào trong.
Khi mọi người cùng tiến về phòng thí nghiệm hình sự, Dance tóm tắt cho họ về vụ án, giải thích rằng nghi phạm chính của họ đã chứng minh gã rất khó nắm bắt. “Tên gã là Edwin Sharp. Gã có thể là hung thủ, có thể là vật tế thần và có thể hoàn toàn vô tội.”
Harutyun nói, “Đối tượng ẩn danh thông báo các vụ tấn công bằng cách phát một đoạn lời từ một trong số các ca khúc của Kayleigh.”
Điều này rõ ràng đánh động Rhyme. “Thú vị, được đấy,” anh nói, rồi quyết định mình đang hân hoan quá đà. “Và hắn thông minh, đúng không? Hắn bắt đầu bằng điện thoại, sau đó chuyển sang các phương thức khác để phát ca khúc, như gửi yêu cầu qua radio.”
“Rất giỏi thưa ngài,” Stanning nói. “Không phải hộp thư truyền hình. Gần đây nhất, hắn phát một ca khúc qua hệ thống phát thanh công cộng tại sân vận động trường cấp ba.”
Rhyme nhíu mày. “Không nghĩ đến cái này. Thú vị, như tôi đã nói.”
Dance nói thêm, “Giờ đây chúng tôi đang lần theo một nhân chứng, có thể là một chứng cớ ngoại phạm. Và gã cho rằng có ai đó đang tiến hành theo dõi gã, có lẽ là gài bẫy gã vướng vào những tội ác. Đó là phần bằng chứng chúng tôi muốn anh xem qua.”
Sachs hỏi, “Cô đã thẩm vấn hắn chưa?”
“Rồi. Nhưng ngôn ngữ cử chỉ không đem lại kết quả. Dù tôi có thể nói rằng gã mang tính cách của kẻ rình mò: suy giảm cảm xúc, gặp vấn đề về tâm lý, xa rời thực tế.”
Người phụ nữ đến từ New York gật đầu. Kathryn Dance liếc nhìn xuống: cô yêu những đôi giày, và không thể không ngưỡng mộ đôi bốt đen, cao gót của Sachs như khiến người phụ nữ - vốn là cựu người mẫu thời trang này - như chạm được đến tầng bình lưu.
Rhyme hỏi, “Các mẫu thu được từ nhà hoặc căn hộ của Edwin thì sao?”
Dance đáp, “Gã cho phép chúng tôi khám xét trong nhà, mặc dù có lẽ gã đã lau sạch mọi thứ trước khi đội khám nghiệm lục soát.”
Harutyun nói thêm rằng cuộc lục soát trước đó, vì không có giấy phép nên đã khiến hai chánh thanh tra cùng một cảnh sát bị đình chỉ. Hung thủ cũng ăn cắp súng của một thanh tra khác, tạm thời khiến anh ta bị loại khỏi cuộc điều tra.
“Đúng là cáo già,” Rhyme nhận xét và dường như vui vẻ đến lạ lùng trước tin tức này - có thể vì anh thích những đối thủ thông minh và thách thức đặc biệt. Kẻ thù lớn nhất của anh chính là sự buồn chán.
Rồi họ bước vào phòng thí nghiệm và gặp gỡ Charlie Shean. Nếu Harutyun bị ấn tượng khi Rhyme đến đây, Shean cũng chẳng kém khi được gặp thần tượng điều tra hiện trường tại ‘tệ xá khiêm nhường’ của ông ta.
Dù vậy[2], Rhyme rõ ràng bị ấn tượng trước sự tối tân của cơ sở này, bất chấp mối nghi ngờ ra mặt của anh trước đó. Dance biết một vài người dễ bị nhìn thấu hơn những người khác, cho dù ngôn ngữ cơ thể của anh ta rõ ràng bị hạn chế. Đối với cô, Rhyme là một quyển sách mở.
Lúc này, Charlie Shean tóm tắt cho nhà tội phạm học phần họ cần đến chuyên môn của anh. “Chúng tôi đã khám xét và hoàn thành phân tích rồi. Nhưng hầu hết các kết quả chỉ là dữ liệu thô. Chúng tôi không rõ cái gì tạo nên chúng. Nếu anh có thể cho biết vài quan điểm của anh, điều đó sẽ rất có giá trị.”
Rhyme tiếp nhận những câu nói này khi ánh mắt anh đang quét qua trần nhà. Rồi đột ngột lên tiếng, “Sachs, chuẩn bị bảng đi.”
Rhyme sử dụng đồ họa để giải quyết các vụ án của anh - một người viết ra bằng chứng sau đó tất cả được tổng hợp lại - trên tấm bảng, anh điều khiển xe lùi hoặc tiến, tự lẩm bẩm hoặc nhíu mày, từ đó đưa ra những suy luận hoặc kết luận hoặc không gì cả. Shean giải thích những gì họ tìm thấy và Sachs chép lại:
• Chủ nhật. Vụ giết Robert Prescott, sân khấu trung tâm hội nghị / khoang nhạc / giàn giáo.
+ dàn đèn
- không có dấu vân tay trùng
- không có dấu vết dụng cụ thích hợp (tháo thiết bị bằng đinh ốc tai hồng)
+ dây điện dài 15m
- không có dấu vân tay trùng
+ bộ báo khói, bị hỏng
- không có dấu vân tay trùng
- các vết bẩn được xác định do các găng tay nhựa tạo ra, không biết nhãn hiệu, không trùng với găng tay của riêng Edwin Sharp.
+ các hộp carton bị di chuyển khỏi đường rơi của nạn nhân.
- không có dấu vân tay dạng ẩn trùng
- các vết bẩn được xác định do các găng tay nhựa tạo ra, không biết nhãn hiệu, không trùng với găng tay của riêng Edwin Sharp.
+ dấu vết độc nhất từ sân khấu / khoang nhạc / giàn giáo
- chất béo trung tính (mỡ lợn)
- nhiệt độ màu 2700K (vàng nhạt)
- nhiệt độ nóng chảy: 40 - 55°F
- mật độ tỷ đối: 0,91 ở 40°C
+ không có dấu chân / vết bánh xe.
• Thứ Hai. Vụ giết Frederick Blanton, trạm xăng gần sông San Joaquin
+ hai vỏ đạn 9mm
- có khả năng vũ khí ăn cắp của Gabriel Fuentes, không có vỏ đạn để so sánh.
- không có dấu vân tay dạng ẩn
- các dấu vết của dấu móc vỏ đạn trùng với những dấu hiệu tìm thấy tại hiện trường vụ Sheri Towne
+ một đầu đạn lớn 9mm được tìm thấy
- các khoảng cắt rãnh và đường rãnh trùng với các đầu đạn tìm thấy tại hiện trường vụ Sheri Towne.
+ chất xúc tác
- khí đốt hãng Shell, 89 octane
- thùng dầu bị phá hủy
+ không có dấu chân / vết bánh xe
• Thứ Hai. Nhà riêng của Frederick Blanton, Fresno
+ không có các dấu vân tay dạng ẩn trùng, không có dấu chân / vết bánh xe.
• Thứ Hai. Buồng điện thoại công cộng tại tòa nhà phòng học, trường Cao đẳng Fresno
+ không có dấu vân tay dạng ẩn có liên quan.
+ dấu vết độc nhất thu thập được:
- bột canxi. Chất bổ sung trong y tế / chế độ ăn?
- các hóa chất: quặng sắt nâu, oxit sắt và canxi
+ không có dấu chân / vết bánh xe
• Thứ Ba. Hiện trường vụ án Sheri Towne
+ tàn thuốc lá
+ hai mươi ba vỏ đạn 9mm
- có khả năng vũ khí ăn cắp của Gabriel Fuentes, không có vỏ đạn để so sánh.
- không có dấu vân tay dạng ẩn
- các dấu vết của dấu móc vỏ đạn trùng với những dấu vết tìm thấy tại hiện trường trạm xăng.
+ bảy đầu đạn lớn 9mm
- các khoảng cắt rãnh và đường rãnh trùng với các đầu đạn tìm thấy tại hiện trường vụ Frederick Blanton.
+ không có dấu vân tay dạng ẩn.
+ không có dấu chân / vết bánh xe.
• Thứ Ba. Sân vận động trường Trung học Emerson, thiết bị hệ thống phát thanh công cộng
+ không có dấu vân tay dạng ẩn.
+ không có dấu chân / vết bánh xe.
+ dấu vết độc nhất thu được:
- bột canxi. Chất bổ sung trong y tế / chế độ ăn?
• Thứ Ba. Công viên đối diện Nhà trọ Mountain View
- thuốc lá Marlboro. Đã đề nghị phân tích ADN
- dây bẫy là dây câu, không rõ thương hiệu.
- không có dấu vân tay dạng ẩn.
- không có dấu chân / vết bánh xe.
• Thứ Tư. Nhà của Edwin Sharp + ngoài nhà:
- dấu chân, có thể là ủng cao bồi, không thể xác định được kích cỡ, giày nam hay nữ.
- không có vết bánh xe.
- các chất liệu dấu vết duy nhất:
- chất béo trung tính (mỡ lợn)
- nhiệt độ màu 2700K (vàng nhạt).
- nhiệt độ nóng chảy: 40 - 55°F.
- mật độ tỷ đối: 0,91 ở 40°C.
- nấm.
- các hóa chất: quặng sắt nâu, oxit sắt và canxi.
- dầu khoáng với sulfur vôi.
- bột canxi. Chất bổ sung trong y tế / chế độ ăn?
- oxalate amoni
+ trong nhà:
- các găng tay nhựa không trùng với các găng tay trong vụ giết Prescott.
- hóa chất làm sạch nhà (để xóa dấu vết?)
- không có thuốc lá, diêm hay bật lửa, không có mùi thuốc lá.
❀ ❀ ❀
[1] : Hệ thống bán lẻ lớn thứ hai Bắc Mỹ.
[2] : Bản dịch là ‘Mặc dù’ (Caruri).