Giải Phẫu Nỗi Sầu Muộn

Lượt đọc: 56 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bản Tóm Lược Về Nỗi Sầu Muộn Của Tác Giả, Διαλογῶς

❊ ❊ ❊

Khi ta trầm mặc bước đi một mình,

Nghĩ ngợi miên man chuyện trước sinh.

Lúc ta xây những lâu đài mây gió,

Không chút buồn sầu, chẳng chút lo.

Tự mình vui với ảo ảnh ngọt ngào,

Thời gian trôi vùn vụt biết bao.

Mọi niềm vui thảy đều là trò dại,

Chẳng gì ngọt ngào bằng nỗi sầu tư.

Khi ta nằm thức thâu đêm một mình,

Tự sám hối những việc quấy đã sinh.

Tâm tư bấy giờ giày vò ta khổ sở,

Sợ hãi cùng sầu đau ập đến bất ngờ.

Dù ta ở lại hay bước đi chăng nữa,

Thời gian trôi sao mà chậm quá chừng.

Mọi nỗi đau thảy đều là vui vẻ,

Chẳng gì điên cuồng bằng nỗi sầu tư.

Khi ta tự diễn kịch vàm mỉm cười,

Lấy ý nghĩ vui vùa qua thời buổi.

Bên bờ suối nhỏ hay khóm rừng xanh thẳm,

Không tiếng ai nghe, chẳng ai tìm, không ai thấy ngắm,

Muôn ngàn khoái lạc ban ơn phước cho ta,

Và đội vương miện hạnh phúc lên linh hồn ta.

Mọi niềm vui khác thảy đều là dại dột,

Chẳng có gì ngọt ngào bằng nỗi sầu tư.

Khi ta nằm, ngồi, hay đi dạo một mình,

Ta thở dài, thương khóc, rên siết đinh ninh.

Trong lùm cây tối tăm, hay hang ổ buồn hiu,

Cùng sự bất mãn và các vị Nữ thần Báo oán tiêu điều,

Muôn ngàn cay đắng cùng một lúc

Chiếm cứ trái tim và linh hồn nặng trĩu.

Mọi nỗi đau thảy đều là vui vẻ,

Chẳng gì cay đắng bằng nỗi sầu tư.

Ta tưởng nghe, ta tưởng thấy,

Âm nhạc ngọt ngào, khúc ca diệu kỳ biết mấy;

Thị trấn, cung điện, và thành cao hoa lệ;

Nơi này, chốn kia, cả thế gian là của ta thể;

Những mỹ nhân tuyệt thế, những phu nhân kiều diễm rạng ngời,

Bất cứ điều gì đáng yêu hoặc thiêng liêng trên đời.

Mọi niềm vui khác thảy đều là dại dột,

Chẳng gì ngọt ngào bằng nỗi sầu tư.

Ta tưởng nghe, ta tưởng thấy

Bóng ma, yêu tinh, quỷ dữ; trí tưởng tượng đây

Hiện ra muôn ngàn hình thù gớm ghiếc,

Gấu cụt đầu, người đen, cùng bầy vượn điếc;

Tiếng kêu than thê thảm, cảnh tượng kinh hoàng,

Làm linh hồn u sầu, tăm tối của ta khiếp hoảng.

Mọi nỗi đau thảy đều là vui vẻ,

Chẳng gì đáng nguyền rủa bằng nỗi sầu tư.

Ta tưởng đang tán tỉnh, ta tưởng đang hôn,

Ta tưởng đang ôm người tình trong vòng tay ôm.

Ôi những ngày diễm phúc, ôi niềm vui ngọt ngào,

Ta đang sống trong chốn Thiên đàng biết bao.

Ước gì những ý nghĩ ấy mãi lay động tâm trí ta,

Ước gì ta mãi mãi đắm chìm trong tình yêu thiết tha.

Mọi niềm vui thảy đều là trò dại,

Chẳng gì ngọt ngào bằng nỗi sầu tư.

Khi ta nhớ lại bao nỗi sợ của tình yêu,

Những tiếng thở dài, giọt nước mắt, những đêm trắng tiêu điều,

Những cơn ghen tuông; ôi định mệnh cay đắng của ta,

Giờ ta hối hận thì đã quá muộn mà.

Chẳng có sự tra tấn nào tệ hại bằng tình yêu,

Chẳng điều gì cay đắng với linh hồn đến thế phiêu.

Mọi nỗi đau thảy đều là vui vẻ,

Chẳng gì khắc nghiệt bằng nỗi sầu tư.

Hỡi bạn bè và bằng hữu, xin hãy lui chân,

Ta chỉ khao khát được sống một mình một thân;

Chẳng khi nào khỏe khoắn bằng khi ý nghĩ và ta

Cùng nhau độc chiếm chốn riêng tư mượt mà.

Chẳng viên ngọc nào, kho báu nào sánh bằng chốn này,

Đó là niềm vui, vương miện, và phúc lạc của ta đây.

Mọi niềm vui thảy đều là trò dại,

Chẳng gì ngọt ngào bằng nỗi sầu tư.

Được ở một mình là nỗi thống khổ duy nhất của ta,

Ta đã biến thành dã thú, thành quái vật ta.

Ta không muốn ánh sáng, chẳng cần bầu bạn đâu,

Ta giờ đây mới thấy đó là nỗi đau.

Cảnh tượng đổi thay, niềm vui đã vụt bay,

Sợ hãi, bất mãn, và sầu muộn kéo đến đây.

Mọi nỗi đau thảy đều là vui vẻ,

Chẳng gì dữ dội bằng nỗi sầu tư.

Ta chẳng đổi đời với bất kỳ vị vua nào trên dương gian,

Ta đang ngây ngất: thế gian này có thể mang

Lại niềm vui nào hơn là được mãi cười vui,

Dùng những thú vui tao nhã để qua ngày tháng nguôi?

Xin đừng, ôi xin đừng làm phiền ta nữa,

Ta đang cảm nhận và thấy niềm vui sướng chan hòa vừa.

Mọi niềm vui thảy đều là trò dại,

Chẳng gì thiêng liêng bằng nỗi sầu tư.

Ta sẵn sàng đổi đời với bất kỳ kẻ khốn cùng nào

Mà ngươi có thể lôi ra từ nhà lao hay đống phân nào;

Nỗi đau của ta đã vô phương cứu chữa, một địa ngục khác trần gian,

Ta không thể tiếp tục sống trong sự tra tấn này thêm ngàn!

Giờ đây trong tuyệt vọng, ta căm ghét cả sinh mạng mình,

Hãy cho ta mượn một sợi dây thừng hay con dao tinh;

Mọi nỗi đau thảy đều là vui vẻ,

Chẳng gì đáng nguyền rủa bằng nỗi sầu tư.

DEMOCRITUS TRẺ GỬI BẠN ĐỌC.

Bạn đọc thân mến, ta đoán chắc ngươi sẽ rất tò mò muốn biết tên hề hay diễn viên đóng giả nào đây lại dám cả gan xông vào sân khấu chung này để bày tỏ trước thiên hạ, mạo nhận tên của người khác; hắn là ai, tại sao hắn làm vậy, và hắn có điều gì muốn nói; dẫu cho, như lời hắn đã nói, Primum si noluero, non respondebo, quis coacturus est? Ta sinh ra là một con người tự do, có quyền chọn lựa trả lời hay không; ai có thể ép buộc ta? Nếu bị thúc ép, ta sẽ đáp lại nhanh chóng như người Ai Cập trong tác phẩm của Plutarch, khi một kẻ tò mò cứ gặng hỏi trong giỏ của ông ta có gì, Quum vides velatam, quid inquiris in rem absconditam? Vật đó được che đậy lại chính là để hắn không biết bên trong có gì. Đừng tìm kiếm những điều được che giấu; nếu nội dung làm ngươi hài lòng, “và hữu ích cho ngươi, thì hãy cứ cho rằng Người trên Mặt Trăng, hay bất kỳ ai ngươi muốn chính là tác giả”; ta không muốn danh tính của mình bị lộ diện một cách gượng ép. Tuy nhiên, để phần nào làm ngươi thỏa mãn, vốn là điều vượt quá mức cần thiết của ta, ta sẽ trình bày lý do cho cả cái tên được mạo nhận này, cả tựa đề lẫn chủ đề của tác phẩm. Và trước hết là về cái tên Democritus; e rằng vì cái tên ấy mà có người bị lừa phỉnh, khi lại đi trông đợi một bài châm biếm, một áng văn đả kích, hay một luận trưóc nực cười nào đó (như chính ta cũng sẽ làm nếu ở vị trí của họ), một học thuyết kỳ quái nào đó, hay một nghịch lý về chuyển động của trái đất, về những thế giới vô tận trong infinito vacuo, ex fortuita atomorum collisione, trong một khoảng không vô tận, được tạo ra do sự va chạm ngẫu nhiên của các hạt bụi trong ánh mặt trời—tất cả những điều mà Democritus từng chủ trương, mà Epicurus và bậc thầy của họ là Leucippus từng gìn giữ từ thời cổ đại, và nay vừa được hồi sinh bởi Copernicus, Brunus, cùng một số người khác. Bên cạnh đó, từ lâu đã có một thói quen thông thường, như Gellius nhận xét, “đối với các nhà văn đời sau và những kẻ mạo danh, là tung ra vô số câu chuyện bịa đặt ngớ ngẩn và trơ trẽn dưới tên tuổi của một triết gia vĩ đại như Democritus, nhằm tạo uy tín cho bản thân, và qua đó nhận được sự kính trọng lớn hơn,” y như cách các nghệ nhân thường làm, Novo qui marmori ascribunt Praxatilem suo. Sự việc của ta không diễn ra theo chiều hướng đó.

Non hic Centaurus, non Gorgonas, Harpyasque

Invenies, hominem pagina nostra sapit.

Đừng mong tìm thấy ở đây Nhân mã, Quỷ Medusa hay Chim ác điểu, Chủ đề của trang sách chúng tôi viết về con người và nhân loại.

Chính bản thân ngươi là chủ đề trong bài luận của ta.

Quicquid agunt homines, votum, timor, ira, voluptas,

Gaudia, discursus, nostri farrago libelli.

Mọi điều con người làm, những lời thề, nỗi sợ, cơn giận, niềm khoái lạc, niềm vui, và những bước chân lang thang, chính là tổng hòa cuốn sách nhỏ của chúng tôi.

Ý định của ta khi dùng tên ông cũng chẳng khác gì cách Mercurius Gallobelgicus hay Mercurius Britannicus sử dụng cái tên Mercury, hay như Democritus Christianus, v.v.; dẫu vẫn còn một vài hoàn cảnh khác khiến ta phải đeo chiếc mặt nạ này, cùng một số khía cạnh riêng tư mà ta chưa thể diễn đạt trọn vẹn cho đến khi vẽ ra một bức chân dung tóm lược về vị Democritus của chúng ta—ông từng là ai, kèm theo một bản tóm tắt về cuộc đời ông.

Democritus, theo mô tả của Hippocrates và Laertius, là một lão già gầy gò nhỏ thó, bản tính vốn rất sầu muộn, trong những năm cuối đời thường lánh xa đám đông và rất ưa chuộng sự cô độc; ông là một triết gia lừng danh thời bấy giờ, sống cùng thời với Socrates, trong giai đoạn cuối đời hoàn toàn đắm chìm vào việc nghiên cứu và một lối sống riêng tư. Ông đã viết nhiều tác phẩm xuất sắc, là một nhà thần học lớn theo quan niệm thần học thời đó, một y sĩ kỳ tài, một nhà chính trị, một nhà toán học xuất sắc, điều đó được minh chứng qua tác phẩm Diacosmus cùng các trước tác khác của ông. Columella cho biết ông rất ưa thích các ngành nghiên cứu nông nghiệp, và ta thường thấy tên ông được trích dẫn bởi Constantinus cùng những tác giả khác khi bàn về chủ đề ấy. Ông am hiểu bản chất và sự khác biệt của mọi loài dã thú, thảo mộc, cá tôm, chim chóc; và theo một số người kể lại, ông còn có thể hiểu được tiếng hót và âm thanh của chúng. Nói một cách ngắn gọn, ông là omnifariam doctus, một học giả uyên bác toàn diện, một nhà nghiên cứu vĩ đại; và nhằm mục đích chiêm nghiệm sâu sắc hơn, một số tài liệu ghi lại rằng ông đã tự chọc mù mắt mình, trở thành người mù tự nguyện trong những năm tháng tuổi già, thế nhưng lại nhìn thấu vạn vật tường tận hơn tất cả xứ Hy Lạp gộp lại, đồng thời viết về mọi chủ đề—Nihil in toto opificio naturae, de quo non scripsit. Ông là một con người có trí tuệ xuất sắc, tư duy sâu sắc; và để thủ đắc tri thức tốt hơn trong thời buổi thanh xuân, ông đã đi khắp Ai Cập và Athens để đàm đạo cùng các bậc hiền triết, “được người này ngưỡng mộ, bị kẻ kia khinh miệt.” Sau một cuộc đời lang thang dặm trường, ông định cư tại Abdera, một thị trấn thuộc Thrace, nơi ông được mời đến để làm nhà lập pháp, sử gia, hay viên thư ký thị trấn, theo lời một số người; hoặc theo những người khác, ông vốn sinh ra và lớn lên tại đó. Dù thế nào đi nữa, cuối cùng ông vẫn sống tại đó trong một khu vườn ở ngoại ô, hoàn toàn hiến dâng bản thân cho việc học hành và đời sống ẩn dật, “trừ những lúc ông thả bộ xuống bến cảng, và cười ha hả trước bao cảnh tượng nực cười muôn hình vạn trạng mà ông chứng kiến ở đó.” Con người Democritus là thế đấy.

Nhưng trong lúc này, điều đó liên quan gì đến ta, hay dựa vào cơ sở nào mà ta lại mạo nhận vỏ bọc của ông? Quả thật, ta thú nhận rằng việc so sánh bản thân với ông dựa trên những gì ta vừa nói chẳng khác nào sự trơ trẽn và ngạo mạn. Ta không dám mạo muội đặt mình lên bàn cân ngang hàng: Antistat mihi millibus trecentis, parvus sum, nullus sum, altum nec spiro, nec spero. Tuy vậy, ta vẫn xin phép được nói đôi điều về bản thân mình, và hy vọng điều đó hoàn toàn không vướng chút nghi ngờ nào về sự kiêu ngạo hay tự phụ: ta đã sống một cuộc đời lặng lẽ, ít vận động, cô độc, riêng tư, mihi et musis tại Trường Đại học, khoảng thời gian dài gần bằng quãng đời Xenocrates ở Athens—ad senectam fere—để học lấy sự khôn ngoan như ông, và giam mình phần lớn thời gian trong phòng nghiên cứu. Bởi ta lớn lên như một học giả tại trường đại học hưng thịnh nhất châu Âu—augustissimo collegio—và suýt có thể lớn tiếng khoe khoang cùng Jovius rằng: in ea luce domicilii Vicani, totius orbis celeberrimi, per 37 annos multa opportunaque didici; suốt ba mươi năm qua, tôi vẫn tiếp tục duy trì việc học tập (với sự trợ giúp của những thư viện tuyệt vời chẳng kém gì ông ấy), và do đó, ta vô cùng miễn cưỡng—hoặc bằng cách sống như một con ong thợ lười biếng để trở thành một thành viên vô tích sự, bất xứng của một hội đoàn uyên bác và cao quý nhường ấy, hoặc bằng cách viết ra những điều gây tổn hại danh dự cho một nền tảng hoàng gia và rộng lớn như thế. Ta đã làm được một vài điều; dẫu chuyên môn của ta là thần học, nhưng do turbine rapcid ingenii, như lời ông ấy nói, vì một bộ óc linh hoạt nhưng bất định và không chịu ngồi yên, ta từng ôm ấp một khao khát lớn lao (dù không thể đạt tới sự uyên bác bề ngoài ở bất kỳ môn nào) là muốn biết chút đỉnh về tất cả mọi thứ, trở thành aliquis in omnibus, nullus in singulis; điều mà Plato ca ngợi, được Lipsius tán thành và thúc đẩy tiếp nối, “như một phẩm chất rất đáng khắc ghi trong mọi tâm hồn tò mò, không để bản thân trở thành nô lệ của một môn khoa học duy nhất, hay chôn chân tại một chủ đề đơn độc như đa số người vẫn làm, mà là vươn mình bay nhảy đó đây, centum puer artium, nhúng một tay vào chèo thuyền của mọi người, nếm qua từng món ăn và nhấp qua từng giọt chén”; điều mà Montaigne cho rằng đã được thực hiện xuất sắc bởi Aristotle và vị học giả đồng hương Adrian Turnebus. Tâm tính bay nhảy này (dẫu không đạt được thành công tương tự) vẫn luôn gắn bó với ta; và giống như một chú chó săn rong ruổi sủa vơ vẩn vào bất kỳ con chim nào nhìn thấy để rồi bỏ quên con mồi chính của mình, ta đã theo đuổi tất cả mọi thứ, ngoại trừ thứ duy nhất mà lẽ ra ta phải làm, và ta hoàn toàn có lý khi cất lời phàn nàn đầy chân thật rằng: qui ubique est, nusquam est—điều mà Gesner từng khiêm tốn thừa nhận—rằng ta đã đọc rất nhiều sách nhưng chẳng thu được bao nhiêu, tất cả là vì thiếu đi một phương pháp đúng đắn; ta đã đọc lướt qua một cách hỗn độn biết bao tác giả trong các thư viện của chúng ta mà chẳng thu về lợi lộc đáng kể nào, tất cả chỉ vì thiếu nghệ thuật, trật tự, trí nhớ và khả năng phán đoán. Ta chưa từng đi du lịch đâu xa ngoại trừ trên bản đồ hay tranh vẽ, nơi những suy nghĩ phóng khoáng của ta được tự do bay bổng, bởi từ xưa ta đã luôn dành một tình yêu đặc biệt cho môn Địa lý. Sao Thổ là tinh tú cai quản lá số tử vi của ta, đang ở đỉnh điểm, v.v., và Sao Hỏa là hành tinh chủ chốt quyết định hạnh kiểm, đang ở góc hợp chính xác với cung mọc của ta; cả hai đều tọa lạc đắc địa tại các cung vị của chúng, v.v. Ta không nghèo, ta cũng chẳng giàu: nihil est, nihil deest, ta có rất ít nhưng chẳng thiếu thốn điều gì; toàn bộ kho báu của ta đều nằm trong ngọn tháp của nữ thần Minerva. Ta chưa từng vươn tới những bổng lộc lớn lao hơn, nhưng đồng thời ta cũng chẳng mang ơn ai vì điều đó; ta có một mức sống đủ đầy (tạ ơn Chúa) nhờ những vị ân chủ cao quý và hào phóng, dẫu ta vẫn sống như một sinh viên đại học hưng thịnh y như Democritus trong khu vườn của ông, dẫn dắt một đời sống đan tu, ipse mihi theatrum, tách biệt khỏi những náo nhiệt và phiền muộn của thế gian; Et tanquam in specula positus (như lời ông ấy từng nói), ngự trên một đỉnh cao nào đó vượt lên trên tất cả các ngươi, tựa như một bậc Hiền triết Khắc kỷ—Stoicus Sapiens—mankind omnia saecula, praeterita presentiaque videns, uno velut intuitu—nhìn thấu mọi thời đại, quá khứ lẫn hiện tại, chỉ trong một cái nhìn duy nhất; ta nghe và thấy những gì diễn ra ngoài kia, cách mà người ta bon chen, rong ruổi, nhọc nhằn và dày vò bản thân nơi triều đình lẫn thôn quê; ở xa những vụ kiện tụng tranh chấp chốn phàm trần—aulae vanitatem, fori ambitionem—ta quen lẫm thầm cười một mình: ta cười vào tất cả mọi thứ, chỉ an lòng một nỗi là vụ kiện của ta không đến nỗi tồi tệ, tàu bè của ta không bị đắm, lúa mì và gia súc không bị thiệt hại, việc buôn bán không bị ngưng trệ, và ta chẳng có vợ con dẫu tốt hay xấu để mà lo lắng bận lòng. Ta chỉ là một kẻ đứng ngoài quan sát vận mệnh và những cuộc phiêu lưu của người khác, ngắm nhìn cách họ diễn tròn vai diễn của mình, mà đối với ta, chúng hiện lên muôn hình vạn trạng tựa như từ một sân khấu hoặc khung cảnh chung. Ta nghe những tin tức mới mỗi ngày, từ những lời đồn thổi thông thường về chiến tranh, dịch bệnh, hỏa hoạn, lụt lội, trộm cắp, mưu sát, thảm sát, hiện tượng khí trời, sao chổi, bóng ma, điềm gở, hiện tượng kỳ lạ, cho đến chuyện các thị trấn bị thất thủ, các thành phố bị bao vây ở Pháp, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư, Ba Lan, v.v., cùng những cuộc duyệt binh và chuẩn bị chiến tranh diễn ra hằng ngày trong thời kỳ bão giông này, những trận chiến đẫm xáp lá cà, bao sinh mạng ngã xuống, các cuộc đấu tay đôi, đắm tàu, hải tặc và hải chiến; rồi hòa bình, liên minh, mưu lược, và những hồi còi báo động dồn dập. Một sự hỗn độn bao la gồm những lời thề nguyền, ước nguyện, hành động, sắc lệnh, thỉnh nguyện thư, đơn kiện, lời biện hộ, luật lệ, chiếu chỉ, lời than vãn và oán thán hằng ngày đổ dồn vào tai chúng ta. Sách mới xuất hiện mỗi ngày, những tờ truyền đơn, bản tin thời sự, tiểu thuyết, cả một danh mục dài dặc các tập sách đủ mọi thể loại, những nghịch lý mới, quan điểm mới, giáo phái ly khai, dị giáo, những cuộc tranh cãi triết học, tôn giáo, v.v. Rồi đến những tin tức về đám cưới, lễ hội hóa trang, vũ hội mập mờ, tiệc tùng tiếp đón, đại lễ kỷ luận, sứ thần, các cuộc đấu thương trên ngựa, lễ khải hoàn, yến tiệc, trò chơi thể thao và kịch nghệ; rồi lại chuyển cảnh như trên một sân khấu vừa đổi phông: mưu phản, trò lừa đảo, cướp bóc, những tội ác tày trời đủ mọi thể loại, tang lễ, mai táng, sự ra đi của các bậc vương tôn công tử, những phát kiến mới, các cuộc viễn chinh, lúc thì mang màu sắc hài kịch, khi lại đẫm vị bi thương. Hôm nay ta nghe tin các vị đại thần và quan chức mới được bổ nhiệm, ngày mai lại nghe tin một vài nhân vật lớn bị phế truất, rồi tiếp đó là những tước vị vinh quang mới được ban ơn; kẻ này được thả ra, người nọ bị tống giam; kẻ tậu được dinh cơ, người kia thì vỡ nợ; người này phất lên, kẻ hàng xóm phá sản; lúc thì sung túc, khi lại đói kém bần hàn; người này chạy đôn chạy đáo, kẻ kia cỡi ngựa bon chen, tranh cãi, cười cợt, khóc than, v.v. Tất cả những điều đó ta đều nghe thấy mỗi ngày, cùng những tin tức công lẫn tư tương tự, giữa một thế giới đầy vẻ hào nhoáng lẫn nỗi khốn cùng; giữa niềm vui hoan hỉ, sự kiêu ngạo, những mối bận tâm lo lắng, sự ngây thơ chất phác và bản chất đồi bại; giữa sự tinh ranh, xảo quyệt, lòng chân thành và sự chính trực đan xen lẫn nhau và phơi bày trước mắt; ta cứ thế lầm lũi sống cuộc đời của một privus privatus; y như cách ta vẫn sống từ trước đến nay, statu quo prius, phó mặc cho cuộc sống cô độc cùng những nỗi bất mãn gia đình của chính mình; ngoại trừ việc thỉnh thoảng, ne quid mentiar—để không phải nói dối—y như Diogenes từng bước vào thành phố và Democritus tới bến cảng để ngắm nhìn thế thái nhân tình, thỉnh thoảng ta cũng dạo bước ra ngoài để giải khuây, nhìn ngắm thế gian, và không tài nào kìm lòng được việc đúc rút vài quan sát nhỏ nhoi: non tam sagax observator ac simplex recitator, không phải với tư cách là một kẻ quan sát tinh ranh mà chỉ là một người thuật lại chân chất, không phải để chế giễu hay cười cợt tất cả như họ đã làm, mà với một thứ cảm xúc đan xen lẫn lộn.

Bilem saepe, jocum vestri movere tumultus.

Hỡi những kẻ bắt chước đáng thương, với những cơn bốc đồng dại dột,

Đã bao lần các ngươi trở thành đối tượng cho tiếng cười châm biếm và cơn giận dữ của ta!

Đã có lúc ta cười cợt cùng Lucian, đả kích bằng ngòi bút châm biếm của Menippus, khóc thương cùng Heraclitus; đôi khi ta lại mang petulanti splene chachinno, cười vang ha hả đầy ngạo mạn, rồi chốc lát sau lại urere bilis jecur, cảm thấy gan ruột nóng bừng lên trước những thói hư tật xấu mà ta chẳng thể nào sửa chữa nổi. Dù trong tâm trạng ấy ta có đồng cảm sâu sắc với vị triết gia nào đi chăng nữa, thì lý do ta ẩn mình dưới danh tính của ông hoàn toàn không phải vì những điều đó; mà hoặc là để dưới một vỏ bọc vô danh ta có thêm chút quyền tự do ngôn luận, hoặc nếu ngươi khăng khăng muốn biết, thì đó chính là vì lý do duy nhất mà Hippocrates đã tường thuật tỉ mỉ trong bức thư gửi Damegetus. Trong đó, ông kể lại rằng khi đến thăm Democritus vào một ngày nọ, ông đã bắt gặp nhà triết gia đang ngồi trong khu vườn ngoại ô ở Abdera, dưới một vòm lá râm mát, tay cầm cuốn sách đặt trên đầu gối, miệt mài nghiên cứu, lúc thì viết lách, lúc lại thong thả bước đi. Chủ đề cuốn sách của ông là về chứng sầu muộn và sự điên rồ; xung quanh ông bày la liệt xác của rất nhiều loài thú vật vừa bị ông mổ xẻ; không phải vì ông khinh miệt các tạo vật của Chúa như ông đã thanh minh với Hippocrates, mà là để tìm ra sào huyệt của thứ mật đen—atra bilis—hay chứng sầu muộn này, để biết nó xuất phát từ đâu, và được sinh sôi nảy nở ra sao trong cơ thể con người, với mục đích có thể chữa trị nó tốt hơn cho chính bản thân mình, đồng thời qua các trước tác và quan sát của mình có thể dạy cho người khác cách phòng ngừa và né tránh nó. Ý định tốt đẹp đó của Democritus từng được Hippocrates hết lời ca ngợi; và chính vì thế, Democritus Trẻ mới dám mạo muội noi theo gương ông; và bởi vì Democritus lớn đã để lại công trình ấy dang dở và nay đã thất truyền, nên ta xuất hiện quasi succenturiator Democriti—như một người tiếp ứng phía sau—để hồi sinh, tiếp tục theo đuổi và hoàn thành nó trong chuyên khảo này.

Ngươi đã rõ lý do về cái tên. Còn nếu tựa đề và đề từ của sách xúc phạm đến sự nghiêm nghị của ngươi, thì giả sử việc buộc tội kẻ khác có thể xem là sự biện minh đầy đủ, ta hoàn toàn có thể trưng ra vô số tác phẩm nghiêm túc, thậm chí là ngay cả các bài giảng đạo, vốn mang trên trang bìa những cái tên còn kỳ quái hơn nhiều. Dẫu sao đi nữa, việc đặt một cái tên kỳ quái lên một cuốn sách chuẩn bị được đem bán cũng là một thứ chiến lược trong thời buổi này; bởi vì, giống như những con chim sơn ca sà xuống tấm lưới bẫy chim hằng ngày, vô số độc giả phù phiếm sẽ đứng ngây người ngắm nghía như những lữ khách ngốc nghếch trước một bức tranh quái dị trong cửa hiệu của họa sĩ, chứ chẳng thèm ngó ngàng tới một tác phẩm uyên thâm. Và quả thật, như Scaliger nhận xét, “không gì lôi cuốn độc giả mạnh mẽ hơn một đề tài bất ngờ, chưa từng được nghĩ tới, và nó bán chạy hơn bất kỳ tập truyền đơn bôi nhọ nào,” tum maxime cum novitas excitat palatum, nhất là khi sự mới mẻ kích thích vòm miệng. Gellius từng nói: “Rất nhiều người tỏ ra vô cùng kỳ quặc trong các đề từ của họ,” và “có tài” (như Pliny trích dẫn từ Seneca) “làm cho kẻ đang vội vã chạy đi tìm bà đỡ đẻ cho đứa con gái sắp lâm bồn của mình cũng phải ngây người đứng lại dọc đường.” Về phần mình, ta có những tiền lệ vô cùng đáng kính cho việc làm này: ta xin trích dẫn một ví dụ điển hình cho tất cả, đó là tác phẩm “Giải phẫu Trí tuệ” của Anthony Zara, Giám mục Papia, chia làm bốn phần, các tiểu mục, phân đoạn, v.v., hiện vẫn đang được đọc trong các thư viện của chúng ta.

Nếu có ai phản đối nội dung hoặc phương pháp bàn luận về chủ đề này của ta và đòi hỏi một lời giải thích, ta hoàn toàn có thể viện dẫn không chỉ một lý do: ta viết về chứng sầu muộn chính là bằng cách bận rộn để né tránh chứng sầu muộn. Chẳng có nguyên nhân nào gây sầu muộn lớn hơn sự nhàn rỗi, và “cạnh đó chẳng có phương thuốc chữa trị nào tốt hơn công việc,” như Rhasis đã khẳng định; và mặc dù stultus labor est ineptiarum, việc cắm cổ làm những chuyện vặt vãnh là vô bổ, nhưng hãy lắng nghe lời dạy của bậc thánh nhân Seneca: aliud agere quam nihil—thà làm việc gì đó dẫu chẳng đi đến đâu còn hơn là ngồi không chẳng làm gì cả. Do đó, ta đã viết và bận rộn trong thứ lao động vui đùa này—otiosaque diligentia ut vitarem torporum feriandi—giống như Vectius trong tác phẩm của Macrobius, nhằm “biến sự nhàn rỗi thành một công việc hữu ích.”

Simul et jucunda et idonea dicere vita,

Lectorem delectando simul atque monendo.

Các nhà thơ muốn mang lại lợi ích hoặc niềm vui cho nhân loại,

Và kết hợp những điều bổ ích với sự ngọt ngào.

Việc hòa quyện nghệ thuật giữa lợi ích và niềm vui,

Nhằm bồi đắp phán đoán mà không làm tổn thương tâm hồn,

Sẽ giành được sự đồng thuận của tất cả mọi người.

Chính vì mục đích này mà ta viết, giống như họ, theo lời Lucian, là những kẻ “ngâm thơ cho cây cối nghe và hùng biện trước những cây cột vì thiếu vắng thính giả”; hệt như Paulus Aegineta từng thành thật thú nhận, “không phải vì có điều gì chưa được biết đến hay bị bỏ sót, mà là để rèn luyện bản thân”; nếu một số người chịu áp dụng con đường này, ta tin rằng nó sẽ rất có lợi cho thể xác và còn tuyệt vời hơn nữa cho tâm hồn họ; hoặc có lẽ, như những người khác vẫn làm, là vì danh tiếng, để chứng tỏ bản thân (Scire tuum nihil est, nisi te scire hoc sciat alter). Ta hoàn toàn đồng quan điểm với Thucydides, “biết một điều gì đó mà không thèm bày tỏ nó thì cũng chẳng khác nào việc không hề biết nó.” Khi ta bắt đầu thực hiện nhiệm vụ này—et quod ait ille, impellente genio negotium suscepi—ta đã nhắm đến điều đó; vel ut lenirem animum scribendo, để xoa dịu tâm hồn mình bằng việc viết lách; bởi vì ta có gravidum cor, foetum caput, một thứ ung nhọt trong đầu mà ta vô cùng khao khát được trút bỏ, và ta chẳng thể tưởng tượng ra phương pháp tống xuất nào phù hợp hơn cách này. Hơn thế nữa, ta không thể kìm lòng được, bởi vì ubi dolor, ibi digitus, ngứa ở đâu thì phải gãi ở đấy. Ta không hề ít chịu tổn thương bởi căn bệnh này—ta nên gọi nó là gì đây, tình nhân Melancholy của ta, nàng Aegeria của ta, hay linh hồn ma quỷ malus genius của ta? Và chính vì lý do đó, tựa như kẻ bị bọ cạp chích, ta muốn dùng độc trị độc—clavum clavo—lấy nỗi buồn này để xoa dịu nỗi buồn kia, lấy sự nhàn rỗi để trị sự nhàn rỗi—ut ex vipera Theriacum—biết đâu lại có thể luyện ra phương thuốc giải độc từ chính nguyên nhân gốc rễ gây ra căn bệnh của mình. Hoặc giống như nhân vật mà Felix Plater từng nhắc đến, kẻ cứ đinh ninh rằng trong bụng mình có mấy con ếch của Aristophanes cứ kêu ê a suốt ngày, và vì thế đã dùi mài y học suốt bảy năm trời, lặn lội khắp phần lớn châu Âu để tìm cách chữa trị cho bản thân. Để làm ơn cho chính mình, ta đã lật giở biết bao danh y mà các thư viện của chúng ta có thể cung cấp, hoặc do những người bạn tri kỷ truyền lại, và ta đã chịu đựng biết bao nhọc nhằn này. Và tại sao lại không chứ? Cardan từng tuyên bố ông đã viết cuốn sách De Consolatione sau cái chết của con trai mình để tự an ủi bản thân; Tully cũng viết về một chủ đề tương tự với mục đích y hệt sau sự ra đi của cô con gái yêu dấu—nếu đó thực sự là tác phẩm của ông, hay chỉ là một ngụy tác được mượn tên bởi kẻ mạo danh nào đó, điều mà Lipsius có lẽ đang hoài nghi. Về phần bản thân mình, ta có lẽ có thể khẳng định cùng Marius trong tác phẩm của Sallust rằng: “Những gì người khác được nghe hay được đọc, thì chính ta đã tự mình trải nghiệm và thực hành; họ thu thập kiến thức qua sách vở, còn ta qua sự sầu muộn.” Experto crede Roberto. Ta có thể nói lên một vài điều rút ra từ chính kinh nghiệm xương máu của mình—aerumnabilis experientia me docuit; và giống như người phụ nữ trong thi phẩm: Haud ignara mali miseris succurrere disco; ta muốn cứu giúp những người khác xuất phát từ sự đồng cảm sâu sắc; và giống như vị phu nhân đức hạnh thuở xưa, “dù bản thân mắc bệnh hủi, vẫn đem toàn bộ tài sản của mình để xây dựng một bệnh viện cho những người cùng bệnh,” ta nguyện dâng hiến thời gian và tri thức của mình, vốn là gia tài lớn nhất mà ta có, vì lợi ích chung của tất cả mọi người.

Vâng, nhưng có lẽ ngươi sẽ suy luận rằng đây là actum agere, một công việc thừa thãi, cramben bis coctam apponnere, nhai đi nhai lại một ý bằng những từ ngữ khác. Nhằm mục đích gì chứ? “Chẳng có điều gì có thể nói hay mà lại bị bỏ sót,” Lucian từng nghĩ như vậy về một chủ đề tương tự. Đã có bao nhiêu danh y xuất sắc viết nên những bộ sách đồ sộ và các chuyên khảo công phu về chủ đề này rồi cơ chứ? Chẳng có gì mới mẻ ở đây cả; những gì ta có đều là đi chắp vá từ người khác—Dicitque mihi mea pagina fur es. Nếu cái phán quyết nghiêm khắc ấy của Synesius là sự thật rằng “việc ăn cắp công sức lao động của người đã khuất còn là một tội ác nặng nề hơn cả việc ăn cắp quần áo của họ,” thì số phận của phần lớn các nhà văn sẽ đi về đâu? Ta cũng giơ tay xin chịu tội tại vành móng ngựa cùng những người khác và nhận mình phạm tội ăn cắp trong chuyện này—habes confitentem reum, ta sẵn sàng chịu đựng sự đè nén cùng thiên hạ. Thật là đúng thế thay, tenet insanabile multos scribendi cacoethes, và “việc viết sách là vô tận,” như bậc hiền triết đã nhận ra từ thuở xa xưa, trong cái thời đại thích bôi mực ra giấy này, đặc biệt là khi “số lượng sách vở nhiều đến mức không thể đếm xuể” (như lời một bậc đáng kính), “các nhà in thì bị đè nặng,” và xuất phát từ một cái tật ngứa ngáy muốn thể hiện bản thân của mỗi người, “kẻ khao khát danh vọng và vinh quang (scribimus indocti doctique——) cứ viết bất chấp nội dung ra sao, vơ vét gom góp chẳng màng từ đâu.” Bị mê hoặc bởi cái ham muốn danh vọng ấy—etiam mediis in morbis—bất chấp sức khỏe bị tổn hại, tay gần như không thể cầm nổi cây bút, họ vẫn cứ phải nói điều gì đó, “và tự kiếm cho mình một cái tên,” theo lời Scaliger, “dù cho điều đó có dẫn đến sự sụp đổ và tàn lụi của biết bao người khác.” Để được người đời gọi là nhà văn—scriptores ut salutentur—được xem và tôn sùng là những bậc bác học uyên thâm—apud imperitum vulgus ob ventosae nomen artis—để tậu cho mình một vương quốc làm bằng giấy: nulla spe quaestus sed ampla famae, trong cái thời đại vội vã và đầy tham vọng này—nunc ut est saeculum, inter immaturam eruditionem, ambitiosum et praeceps (đó là lời chỉ trích của Scaliger); và những kẻ vốn chỉ đáng làm thính giả—vix auditores—lại muốn leo lên làm bậc thầy, làm giáo viên trước khi họ có đủ năng lực và sự phù hợp để lắng nghe. Họ lao đầu vào mọi lĩnh vực học thuật, togatam armatam, từ các tác giả thần học đến thế tục, sục sạo khắp mọi bảng mục lục và tờ truyền đơn để nhặt nhạnh ghi chép, y như những thương nhân của chúng ta lùng sục các hải cảng lạ để buôn bán, viết nên những bộ sách dày cộm—Cum non sint re vera doctiores, sed loquaciores—trong khi thực chất họ chẳng uyên bác hơn chút nào mà chỉ lắm điều hơn mà thôi. Họ thường ra điều lớn tiếng vì lợi ích chung, nhưng như Gesner đã quan sát, chính sự kiêu ngạo và thói hư vinh mới là động lực thúc đẩy họ; chẳng có tin tức gì mới mẻ hay điều gì đáng chú ý, tất cả chỉ là sự xào nấu lại những thứ cũ kỹ bằng ngôn từ khác. Ne feriarentur fortasse typographi vel ideo scribendum est aliquid ut se vixisse testentur. Giống như những dược sĩ, chúng ta pha chế những thứ thuốc mới mỗi ngày, trút từ bình này sang bình khác; và y như những người La Mã cổ đại từng cướp bóc tất cả các thành phố trên thế giới chỉ để làm đẹp cho thành phố Rome vốn nằm ở vị trí chẳng lấy gì làm đắc địa của họ, chúng ta hớt lấy lớp váng béo bở từ trí tuệ của người khác, bẻ những bông hoa đẹp nhất trong khu vườn đã được cày xới của họ để trang hoàng cho mảnh đất cằn cỗi của chính mình. Castrant alios ut libros suos per se graciles alieno adipe suffarciant (như Jovius đả kích). Họ độn lớp mỡ từ các tác phẩm của người khác vào những cuốn sách gầy guộc của mình. Ineruditi fures, v.v. Đó là cái lỗi mà bất kỳ nhà văn nào cũng nhận ra, y như ta đang làm lúc này, thế nhưng bản thân họ cũng đầy rẫy tội lỗi—Trium literarum homines, toàn là một lũ trộm cắp; họ khoắng đồ từ các tác giả cổ đại để nhồi nhét vào những bài bình luận mới của mình, xới tung những đống rác của Ennius, và bới móc từ cái hố của Democritus, y như ta đã làm. Bằng cách đó, kết quả là “không chỉ các thư viện và cửa hiệu ngập ngụa trong những xấp giấy thối rữa của chúng ta, mà ngay cả mọi cái bô và nhà xí cũng thế”—Scribunt carmina quae legunt cacantes; chúng chỉ đáng dùng để lót dưới những chiếc bánh, gói gia vị, hoặc che cho thịt quay khỏi bị cháy. “Ở chỗ chúng tôi bên Pháp,” Scaliger nói, “ai cũng có quyền viết, nhưng rất ít người có năng lực.” “Trước đây, học thuật được tôn vinh bởi những học giả sáng suốt, nhưng ngày nay các khoa học cao quý lại bị phỉ báng bởi những kẻ viết lách thấp kém, dốt nát,” những kẻ viết lách hoặc vì lòng hư vinh, vì túng quẫn tiền bạc, hoặc làm nịnh thần để ca tụng, bợ đỡ những kẻ có thế lực, họ sản xuất ra burras, quisquiliasque ineptiasque—những thứ rác rưởi vớ vẩn và ngớ ngẩn. Giữa bao nhiêu là ngàn tác giả ấy, ngươi sẽ hiếm hoi lắm mới tìm được một người mà nhờ đọc sách của họ, ngươi trở nên khôn ngoan hơn dù chỉ một chút, thay vào đó chỉ rước lấy sự tồi tệ hơn—quibus inficitur potius, quam perficitur—khiến bản thân bị đầu độc nhiều hơn là được hoàn thiện theo bất kỳ cách nào.

———Qui talia legit,

Quid didicit tandem, quid scit nisi somnia, nugas?

Thế nên thường xảy ra cơ sự (điều mà Callimachus từng châm biếm từ thuở xưa) một cuốn sách lớn chính là một tại họa lớn. Cardan chê bai người Pháp và người Đức vì thói viết lách vô bổ của họ—non inquit ab edendo deterreo, modo novum aliquid inveniant—ông không ngăn cản họ viết, miễn là đó phải là một phát minh hoàn toàn mới của chính họ; thế nhưng chúng ta vẫn cứ dệt mãi một tấm vải ấy, cứ xoắn mãi một sợi thừng ấy hết lần này đến lần khác; hoặc nếu đó có là một phát minh mới đi chăng nữa, thì cũng chỉ là vài thứ đồ chơi vớ vẩn do những kẻ nhàn rỗi viết ra để cho những kẻ nhàn rỗi khác đọc, mà nào có ai là không thể tự sáng chế ra chứ? “Kẻ nào không thể sáng tạo ra điều gì trong thời đại viết lách này thì kẻ đó quả là có một trí tuệ cằn cỗi. Các vị hoàng đế khoe khoang quân đội của họ, người giàu khoe dinh cơ, binh lính khoe tài năng chiến trận, còn các học giả thì bày bán những món đồ chơi của mình”; độc giả buộc phải đọc, buộc phải lắng nghe dù muốn hay không.

Et quodcunque semel chartis illeverit, omnes

Gestiet a furno redeuntes scire lacuque,

Et pueros et anus———

Những gì một khi đã được viết ra trên giấy mực, ai nấy đều phải biết,

Từ những bà cụ già cho đến trẻ nhỏ khi đi qua đi lại.

“Biết bao nhiêu là nhà thơ xuất hiện trong năm nay,” như Pliny phàn nàn với Sossius Sinesius. “Tháng Tư này, ngày nào cũng có người ngâm thơ.” Thật là một danh mục dài dặc các cuốn sách mới trong suốt năm nay, trong suốt thời đại này (ta xin nhấn mạnh là thế), mà các hội chợ Frankfurt, các hội chợ trong nước của chúng ta đã tung ra! Hai lần một năm, Proferunt se nova ingenia et ostentant, chúng ta vắt kiệt trí tuệ của mình rồi bày ra bán, magno conatu nihil agimus—tốn bao công sức lớn lao mà chẳng làm được nên tích sự gì. Do đó, điều mà Gesner từng tha thiết mong mỏi, nếu không sớm có một cuộc cải cách triệt để thông qua các sắc lệnh của hoàng gia và sự giám sát nghiêm ngặt của các bậc bề trên nhằm kìm hãm sự tự do bừa bãi này, thì tình trạng ấy sẽ cứ tiếp diễn in infinitum. Nào có ai là kẻ ham đọc sách đến mức cuồng nhiệt như thế—quis tam avidus librorum helluo—mà đọc nổi chứ? Y như hiện tại, chúng ta sẽ có một sự hỗn độn và vô định vĩ đại của sách vở, chúng ta bị đè bẹp bởi chính chúng, mắt chúng ta mỏi nhừ vì đọc, ngón tay chúng ta đau nhức vì lật giở. Về phần mình, ta cũng nằm trong số đó—nos numerus sumus (chúng ta chẳng qua chỉ là những con số không tròn chỉnh); ta không hề chối cãi điều đó; ta chỉ có một câu của Macrobius để tự biện hộ cho bản thân: Omne meum, nihil meum—tất cả đều là của ta mà cũng chẳng phải của ta. Giống như một người nội trợ đảm đang nhặt nhạnh từ nhiều tấm lông cừu khác nhau để dệt nên một tấm vải, một chú ong thợ thu gom sáp và mật từ muôn ngàn bông hoa để gom thành một bó hoa chung,

Floriferis ut apes in saltibus omnia libant,

ta đã nhọc nhằn thu thập bản tổng hợp này từ vô số các tác giả khác nhau—và điều đó sine injuria—ta không hề làm tổn hại hay bất công với bất kỳ tác giả nào, mà luôn trả lại danh tính cho từng người; điều mà Hierom từng hết lời ca ngợi nơi Nepotian: ông không hề ăn cắp nguyên cả những câu thơ, trang sách hay các đoạn văn như một số kẻ thời nay vẫn làm, che giấu tên tuổi của các tác giả gốc, mà luôn minh bạch rằng đây là của Cyprian, kia là của Lactantius, của Hilarius, rồi Minutius Felix, Victorinus, và cho đến tận đoạn của Arnobius: ta trích dẫn và ghi rõ tên các tác giả của mình (điều mà dẫu cho một số kẻ viết lách dốt nát có coi là vẻ bề ngoài học đòi—pedantical—như một chiếc áo choàng che đậy sự dốt nát và trái ngược với phong cách hoa mỹ màu mè của chúng, ta vẫn phải và sẽ dùng đến)—sumpsi, non suripui; và những gì Varro từng viết trong cuốn 6 về Kinh tế nông nghiệp—minime maleficae nullius opus vellicantes faciunt delerius—ta có thể tự hào nói về chính mình: Ta đã làm tổn hại ai chứ? Nội dung phần lớn là của họ, nhưng đồng thời cũng là của ta—apparet unde sumptum sit (điều mà Seneca tán thành)—aliud tamen quam unde sumptum sit apparet; giống như cách thiên nhiên tiếp nhận dưỡng chất nuôi cơ thể chúng ta, tự hấp thụ, tiêu hóa và đồng hóa nó, ta concoquere quod hausi—tiêu hóa những gì ta thu nạp được. Ta bắt chúng phải cống nạp để trang hoàng cho cuốn Maceronicon này của ta; duy chỉ có phương pháp là của riêng ta, ta buộc phải mượn câu của Wecker trích từ Terence: nihil dictum quod non dictum prius, methodus sola artificem ostendit—chẳng có điều gì được nói ra mà trước đó chưa từng được nói, chỉ có bố cục và phương pháp mới tôn lên tài nghệ của người nghệ sĩ. Oribasius, Aesius, Avicenna đều lấy mọi thứ từ Galen, nhưng theo phương pháp của riêng họ, diverso stilo, non diversa fide. Các nhà thơ của chúng ta ăn cắp từ Homer; hắn nôn ra, như Aelian nói, còn họ thì liếm lại. Các nhà thần học vẫn dùng nguyên văn từng chữ của thánh Augustine, và những nhà biên soạn lịch sử của chúng ta cũng làm y hệt; kẻ đến sau bao giờ cũng thường là kẻ xuất sắc nhất,

———donec quid grandius aetas

Postera sorsque ferat melior.———

Mặc dù trong lĩnh vực y học và triết học từng có rất nhiều người khổng lồ thời cổ đại, nhưng ta xin được đồng ý với Didacus Stella rằng: “Một chú lùn đứng trên vai của một người khổng lồ có thể nhìn xa hơn cả chính người khổng lồ đó”; ta hoàn toàn có thể bổ sung, thay đổi và nhìn thấu xa hơn các bậc tiền bối của mình; và việc ta viết tiếp sau những người khác chẳng phải là một định kiến lớn lao gì hơn so với chuyện Aelianus Montaltus, vị danh y lừng danh nọ, viết tác phẩm De morbis capitis nối gót Jason Pratensis, Heurnius, Hildesheim, v.v., hay việc có nhiều con tuấn mã cùng tranh tài trên một đường đua, hay việc vị chuyên gia logic này nối tiếp vị chuyên gia hùng biện nọ. Vậy thì ngươi cứ việc phản đối bất cứ điều gì ngươi muốn,

Allatres licet usque nos et usque

Et gannitibus improbis lacessas.

Ta xin giải quyết vấn đề ấy thế này. Còn về những lỗi lầm khác như tính man rợ, phương ngữ Doric, phong cách ứng khẩu tức thời, lỗi lặp từ (tautologies), thói bắt chước kệch cỡm, một bản rắp vá những mảnh giẻ rách lượm lặt từ khắp các đống rác, chất thải của các tác giả, những thứ đồ chơi và trò vớ vẩn được quăng quật một cách hỗn độn chẳng có chút nghệ thuật, phát minh, phán đoán, trí tuệ hay học thức nào; thô kệch, sống sượng, thô lỗ, kỳ quái, ngớ ngẩn, trơ trẽn, thiếu thận trọng, kém cỏi trong bố cục, chưa được tiêu hóa, phù phiếm, thô tục, vô tích sự, tẻ nhạt và khô khan; ta xin thú nhận tất cả (một phần đó là do cố ý), ngươi không thể nào nghĩ về ta tệ hơn chính những gì ta tự nghĩ về bản thân mình đâu. Nó chẳng đáng để đọc, ta xin nhượng bộ điều đó, ta chẳng mong ngươi phải mất thời gian để lướt qua một chủ đề nhảm nhí như thế; có lẽ chính bản thân ta cũng cảm thấy miễn cưỡng nếu phải đọc những gì ngươi hay một kẻ nào đó viết theo lối này; 'tis non operae pretium—nó chẳng đáng công sức bỏ ra đâu. Tất cả những gì ta muốn nói là: ta có các tiền lệ cho việc này, điều mà Isocrates gọi là perfugium iis qui peccant—nơi chốn nương náu cho những kẻ phạm lỗi; những người khác cũng ngớ ngẩn, phù phiếm, vô tích sự, dốt nát không kém, v.v. Nonnulli alii idem fecerunt; những người khác cũng từng làm như vậy, thậm chí còn hơn thế nữa, và có lẽ ngay cả chính ngươi cũng thế—Novimus et qui te, v.v. Ai mà chẳng có lầm lỗi; scimus, et hanc veniam, v.v.; ngươi chỉ trích ta, thì ta cũng từng làm thế với những người khác, và hoàn toàn có thể làm điều tương tự với ngươi—Cedimus inque vicem, v.v., đó là luật ăn miếng trả miếng—lex talionis, quid pro quo. Giờ thì ngươi hãy cứ đi đi, thỏa sức chỉ trích, phán xét, chế giễu và mắng mỏ đi.

Nasutus cis usque licet, sis denique nasus:

Non potes in nugas dicere plura meas,

Ipse ego quam dixi, &c.

Dù ngươi có đầy rẫy sự mỉa mai và châm chọc, hệt như một vị thần Momus sống đi chăng nữa,

Ngươi cũng chẳng thể nói về những trò vớ vẩn của chúng ta tệ hơn

Chính những gì ta đã tự nói về bản thân mình, v.v.

Thế nên, hệt như mấy bà nội trợ mắng chửi nhau, ta đã cướp lời kêu lên "đĩ điếm" trước, và trong đánh giá của một số người, ta e rằng mình đã đi quá đà—Laudare se vani, vituperare stulti; dẫu ta không tự đề cao, ta cũng chẳng hề tự hạ thấp mình. Primus vestrum non sum, nec imus, ta không phải là kẻ xuất sắc nhất trong số các ngươi, nhưng cũng chẳng phải là kẻ bét nhè. Dù ta chỉ cao được một inch, hoặc từng ấy thước, từng ấy dặm, đứng sau người này hay kẻ nọ, ta có lẽ vẫn có thể hơn ngươi một bậc quân bài. Vậy thì sự việc cứ để nó diễn ra theo cách của nó đi, dù tốt hay xấu, ta đã thử sức, đã bước lên sân khấu; ta buộc phải chấp nhận sự phán xét, không thể nào trốn tránh được. Quả thực, stylus virum arguit, văn phong tố cáo con người chúng ta, và giống như những thợ săn tìm ra con mồi nhờ vào dấu vết để lại, bản chất của một con người cũng được khắc họa qua các tác phẩm của họ—Multo melius ex sermone quam lineamentis, de moribus hominum judicamus; đó là quy tắc từ thời cố Cato. Ta đã phơi bày trọn vẹn con người mình (ta thừa nhận điều đó) trong chuyên khảo này, lộn trái mặt trong của mình ra ngoài; ta chắc chắn sẽ bị chỉ trích; bởi vì, nói một cách thành thật theo Erasmus, nihil morosius hominum judiciis—chẳng có gì khó chiều và oi bức cho bằng sự phán xét của con người; tuy vậy, đây cũng là một niềm an ủi: ut palata, sic judicia, những lời phán xét của chúng ta đa dạng hệt như vị giác vậy.

Tres mihi convivae prope dissentire videntur,

Poscentes vario multum diversa palato, &c.

Ta có ba vị khách cùng ngồi dự tiệc nhưng dường như bất đồng ý kiến,

Mỗi người đều đòi hỏi thỏa mãn khẩu vị của mình

Bằng những món ăn khác nhau.

Các tác phẩm của chúng ta cũng giống như vô số món ăn, độc giả của chúng ta là những vị khách, sách vở cũng tựa như nhan sắc: thứ mà người này ngưỡng mộ thì kẻ khác lại chối từ; chúng ta được đón nhận hay không tùy thuộc vào khuynh hướng cảm xúc của mỗi người. Pro captu lectoris habent sua fata libelli. Thứ làm người này say mê nhất lại là amaracum sui—cay đắng nhất đối với kẻ khác. Quot homines, tot sententiae—lắm thầy nhiều ma, lắm người nhiều ý: thứ mà ngươi lên án thì kẻ khác lại ca ngợi.

Quid petis, id sane est invisum acidumque duobus.

Thứ ngươi tìm kiếm lại chính là thứ bị hai kẻ kia căm ghét và cho là chua chát. Hắn quan tâm đến nội dung, còn ngươi thì cắm cổ vào câu chữ; hắn thích một phong cách tự do phóng khoáng, còn ngươi thì tôn sùng lối bố cục trau chuốt, những dòng văn đanh thép, ẩn dụ, phóng đại; hắn thích một trang bìa lộng lẫy, những hình minh họa lôi cuốn, giống như những bức tranh mà tu sĩ Dòng Tên Hieron. Natali từng khắc cho các bài giảng ngày Chủ nhật để thu hút sự chú ý của độc giả—thứ mà ngươi khinh bỉ; điều mà người này ngưỡng mộ thì kẻ khác lại phùng mang trợn má bác bỏ là vô cùng ngớ ngẩn và nực cười. Nếu nó không đúng phóc với khiếu thẩm mỹ, phương pháp hay ý tưởng của hắn—si quid, forsan omissum, quod is animo conceperit, si quae dictio, &c.—nếu có bất kỳ điều gì bị bỏ sót hoặc thêm thắt mà hắn vừa lòng hay chướng mắt, ngươi lập tức biến thành mancipium paucae lectionis—một kẻ đọc ít biết nhiều, một gã ngốc, một tên đần độn, nullus es, hay một kẻ đạo văn—plagiarius, một kẻ lông bông lêu lổng, một gã trốn học, một tên lười biếng; hoặc nếu không thì đó cũng chỉ là một sản phẩm của sự chăm chỉ thuần túy, một tập hợp vô tích sự chẳng có lấy một chút trí tuệ hay sự sáng tạo nào, một thứ đồ chơi con trẻ. Facilia sic putant omnes quae jam facta, nec de salebris cogitant, ubi strata via; thiên hạ thường đánh giá thấp các tác phẩm và phỉ báng công sức của người khác như thể đó là những thứ vô giá trị do những kẻ bất tài làm ra, những kẻ mà bản thân chẳng đời nào làm nổi ngần ấy việc. Unusquisque abundat sensu suo—ai nấy đều khư khư ôm lấy cái lý lẽ của riêng mình; và chừng nào mỗi cá nhân còn bị chi phối bởi thái độ ấy, làm sao có thể làm hài lòng tất cả mọi người đây?

Quid dem? quid non dem? Renuis tu quod jubet ille.

Ta phải chọn con đường nào đây?

Phải làm gì và không nên làm gì? Cả hai người đều từ chối những gì người kia ra lệnh.

Làm sao ta có thể hy vọng diễn đạt sao cho vừa lòng khiếu thẩm mỹ và tư duy của từng người, hay làm sao để thỏa mãn tất cả đây? Có kẻ hiểu biết quá ít, có kẻ lại biết quá nhiều—qui similiter in legendos libros, atque in salutandos homines irruunt, non cogitantes quales, sed quibus vestibus induti sint, như Augustine đã quan sát, họ không thèm quan tâm đến nội dung viết ra là gì, mà chỉ nhìn xem ai là kẻ cầm bút—orexin habet auctores celebritas, họ không đo lường giá trị của kim loại mà chỉ nhìn cái dấu triện dập trên đó—Cantharum aspiciunt, non quid in eo. Nếu tác giả không giàu có, không giữ chức vụ cao trọng, không hào nhoáng bảnh bao, không phải là một tiến sĩ lớn, hay không đầy ắp những tước hiệu cao sang, thì dù tài năng đến đâu đi nữa, hắn cũng chỉ là một thằng đần; thế nhưng, y như cách Baronius mô tả về các tác phẩm của Hồng y Caraffa, kẻ nào hắt hủi một người chỉ vì sự nghèo khó của họ thì kẻ đó chẳng khác nào một con heo cẩu thả. Một số người thì quá ư bênh vực thiên vị, tự mãn như những người bạn thân, số khác lại mang theo định kiến đến để xoi mói, chê bai, dèm pha và chế giễu (qui de me forsan, quicquid est, omni contemptu contemptius judicant)—một số đến để hút mật như loài ong, số khác lại đến để nhả độc như loài nhện. Ta phải làm sao trong hoàn cảnh này đây? Giống như cách một chủ quán trọ người Hà Lan, nếu ngươi ghé vào một quán trọ ở Đức mà chê bai thức ăn, chế độ dinh dưỡng, phòng ốc, v.v., ông ta sẽ lạnh lùng trả lời với giọng điệu cộc cằn: aliud tibi quaeras diversorium—nếu ngươi không thích chỗ này, hãy xéo sang quán trọ khác mà ở: ta quyết định rằng, nếu ngươi không thích bài viết của ta, hãy đi đọc cuốn sách khác đi. Ta chẳng màng gì đến lời phán xét của ngươi đâu, ngươi muốn làm gì thì làm, mọi chuyện không diễn ra theo ý ngươi hay ý ta, mà khi cả hai chúng ta đã xong việc, câu nói của Plinius Secundus gửi Trajan sẽ chứng minh là hoàn toàn đúng sự thật: “Không phải mọi tác phẩm trí tuệ của bất kỳ ai cũng được đón nhận, trừ khi bản chất đề tài, chủ đề, hoàn cảnh và sự sủng ái ca tụng của một nhân vật quyền quý nào đó tình cờ mỉm cười với nó.” Nếu ta bị chỉ trích hay bị ngươi cùng một lũ hùa theo phản đối, thì rất có thể ta sẽ lại được tán thành và ca ngợi bởi những người khác—và thực tế đã từng như vậy (Expertus loquor)—và ta có thể hiên ngang nói cùng Jovius trong một hoàn cảnh tương tự (absit verbo jactantia): heroum quorundam, pontificum, et virorum nobilium familiaritatem et amicitiam, gratasque gratias, et multorum bene laudatorum laudes sum inde promeritus—rằng ta từng vinh dự nhận được sự thân thiết, tình bạn, lòng biết ơn và những lời ca ngợi từ một số bậc anh hùng, giáo hoàng và quý tộc xứng đáng, và tương tự cũng từng bị phỉ báng bởi những kẻ khác, và chắc chắn vẫn sẽ tiếp tục bị như thế. Ngay khi cuốn sách này vừa xuất bản (tương tự như cách Probus từng nói về các bài thơ châm biếm của Persius), editum librum continuo mirari homines, atque avide deripere caeperunt, ta có thể phần nào áp dụng điều đó cho tác phẩm của mình. Bản in thứ nhất, thứ hai và thứ ba đã nhanh chóng bay sạch, được ngấu nghiến đón đọc, và như ta đã nói, không chỉ được ca ngợi bởi một số người mà còn bị hắt hủi đầy khinh miệt bởi những kẻ khác. Nhưng đó cũng chính là định mệnh của Democritus: Idem admirationi et irrisioni habitus. Đó cũng là số phận của Seneca—vị giám quan của trí tuệ, học thức và khả năng phán đoán—ad stuporem doctus—vị văn sĩ xuất sắc nhất của cả văn học Hy Lạp lẫn La Mã theo đánh giá của Plutarch; vị “nhà cải cách trứ danh chống lại thói hư tật xấu” như Fabius đã gọi ông, “vị triết gia uyên bác thông tuệ đã viết nên những tác phẩm tuyệt vời và đáng ngưỡng mộ đến thế,” vẫn không thể làm hài lòng tất cả mọi phe phái hay trốn chạy khỏi những lời chỉ trích. Hãy xem ông bị phỉ báng tơi bời thế nào bởi Caligula, Agellius, Fabius và chính Lipsius, người bảo vệ chủ lực của ông! In eo pleraque pernitiosa, Fabius đã thốt lên như thế, rằng ông có vô số các bài luận và châm ngôn nhảm nhí mang tính trẻ con, sermo illaboratus—thường quá cẩu thả và hời hợt, như Agellius nhận xét, oratio vulgaris et protrita, dicaces et ineptae, sententiae, eruditio plebeia—một nhà văn bình dân nông cạn chính hiệu. In partibus spinas et fastidia habet, Lipsius đã buông lời như thế; và cũng y như trong tất cả các tác phẩm khác của ông, đặc biệt là trong các bức thư, aliae in argutiis et ineptiis occupantur, intricatus alicubi, et parum compositus, sine copia rerum hoc fecit—ông nhồi nhét vô số thứ lại với nhau một cách vô tổ chức theo phong cách của phái Khắc kỷ, parum ordinavit, multa accumulavit, v.v. Nếu ngay cả một bậc vĩ đại như Seneca còn bị quất roi tơi tả như thế, cùng nhiều nhân vật lừng danh khác mà ta có thể nêu tên, thì ta còn mong đợi điều gì nữa đây? Làm sao một kẻ vốn chỉ là vix umbra tanti philosophi—chưa bằng một cái bóng mờ của vị triết gia vĩ đại ấy—lại có thể hy vọng làm vừa lòng thiên hạ đây? “Chẳng có ai hoàn hảo đến mức” (theo quan điểm của Erasmus) “có thể làm thỏa mãn tất cả mọi người, trừ khi có sự hậu thuẫn của tính cổ xưa, thói quen lâu đời, v.v.” Nhưng như ta đã chứng minh ở trường hợp của Seneca, điều đó không phải lúc nào cũng ứng nghiệm, vậy ta phải né tránh bằng cách nào đây? Đó chính là hình phạt chung dành cho mọi nhà văn, ta buộc phải (xin nhấn mạnh là phải) chấp nhận nó; ta không hề đi tìm kiếm sự hoan hô cổ vũ: Non ego ventosa venor suffragia plebis; đồng thời non sum adeo informis, ta cũng chẳng đến nỗi quá quắt để phải chịu cảnh bị phỉ báng:

———laudatus abunde,

Non fastiditus si tibi, lector, ero.

Ta e sợ những lời phán xét của người hiền, và xin phó mặc công sức lao động của mình cho sự đón nhận thiện cảm từ họ,

———et linguas mancipiorum

Contemno.———

Giống như tiếng chó sủa vẩn vơ, ta hoàn toàn khinh bỉ và phớt lờ những lời mạt sát độc địa, thô tục, những lời châm chọc, vu khống của đám tiểu nhân hiếu chiến và những kẻ chuyên nghề bới lông tìm vết; ta khinh bỉ tất cả bọn chúng. Do đó, những gì ta đã nói—pro tenuitate mea—ta đã nói hết lòng mình rồi.

Tuy nhiên, vẫn còn một hoặc hai điều ta rất muốn sửa chữa nếu có thể, liên quan đến phương pháp tiếp cận chủ đề này của ta, về phần đó ta phải gửi lời cáo lỗi, deprecari, đồng thời sau khi suy nghĩ chín chắn hơn xin được thông báo trước cho bạn đọc thiện lương: ý định ban đầu của ta không phải là đem đứa con tinh thần của mình ra bán rẻ bằng tiếng Anh, hay phơi bày secreta Minervae—những bí mật của thần Minerva, mà là xuất bản nó một cách cô đọng hơn bằng tiếng Latinh nếu có thể tìm được nhà in chịu nhận. Bất kỳ tập truyền đơn bôi nhọ nhảm nhí nào cũng được chào đón nồng nhiệt bởi đám chủ tiệm sách hám lợi bằng tiếng Anh; chúng in tuốt tuồn tuột mọi thứ,

———cuduntque libellos

In quorum foliis vix simia nuda cacaret;

những cuốn sách mỏng đến mức trên từng trang của nó ngay cả một con khỉ trần trụi cũng chẳng buồn rặn ra một bãi phân;

thế nhưng bằng tiếng Latinh thì chúng kiên quyết không thèm động tay vào; đó cũng chính là một trong những lý do mà Nicholas Car từng nêu ra trong bài diễn văn bàn về sự khan hiếm của các nhà văn Anh, rằng có biết bao nhiêu tâm hồn tài hoa rực rỡ đã bị vùi dập vào quên lãng, phải chết yểu và chôn vùi tại chính quốc gia của chúng ta. Một lỗi lầm chí mạng nữa là ta đã không chịu rà soát lại bản thảo và trau chuốt lại văn phong, khiến cho câu chữ cứ thế tuôn trào một cách hời hợt, y như hình hài ban đầu lúc nó vừa mới hình thành trong tâm trí; nhưng thời gian nhàn rỗi của ta không cho phép: Feci nec quod potui, nec quod volui—ta thú nhận rằng nó chẳng được như ý muốn, cũng chẳng đạt đến mức nên có.

Cum relego scripsisse pudet, quia plurima cerno

Me quoque quae fuerant judice digna lini.

Khi đọc lại bản thảo này do chính mình viết ra,

Ta cảm thấy hổ thẹn và thấy quá nhiều chỗ không xứng đáng xuất hiện dưới con mắt phán xét của ta.

Et quod gravissimum—và điều nghiêm trọng nhất là—trong chính phần nội dung, có rất nhiều điều hiện tại ta không còn đồng tình nữa, mặc dù vào thời điểm viết ra chúng—Non eadem est aetas, non mens—tuổi tác và tâm trí ta đã khác xưa; ta rất muốn rút lại phần lớn nội dung ấy, v.v., nhưng đã quá muộn màng, giờ đây ta chỉ có thể cầu xin sự tha thứ cho những gì còn thiếu sót.

Quả thực, ta hoàn toàn có thể (nếu là một kẻ khôn ngoan) tuân thủ lời khuyên của nhà thơ:

———nonumque prematur in annum,

và cẩn trọng hơn nữa; hoặc giống như cách nhà y học Alexander từng làm với viên đá lưu ly lapis lazuli—phải đem rửa qua năm mươi lần trước khi đem ra sử dụng—ta lẽ ra phải rà soát, đính chính và sửa đổi chuyên khảo này; nhưng ta đã không có được (như đã nói) cái khoảng thời gian nhàn rỗi hạnh phúc ấy, cũng chẳng có lấy nổi một người chép thuê hay trợ lý nào. Pancrates trong tác phẩm của Lucian, khi thiếu vắng một người hầu trong chuyến hành trình từ Memphis đến Coptus ở Ai Cập, đã lấy một thanh chắn cửa, sau khi lẩm nhẩm vài từ ngữ ma thuật (Eucrates, người thuật chuyện lúc bấy giờ đang có mặt ở đó) liền biến nó đứng thẳng lên thành một tên gia nhân, sai nó đi xách nước, quay thịt, dọn bữa tối và làm bất cứ việc gì ông muốn; và khi nó đã hoàn thành xong nhiệm vụ theo yêu cầu, ông ta lại biến tên đầy tớ ấy trở về thành một thanh củi khô như cũ. Ta chẳng có lấy cái phép thuật tài tình ấy để mà tự tạo ra những người hầu theo ý muốn, cũng chẳng có đủ điều kiện tài chính để thuê mướn họ; chẳng có còi để thổi réo gọi như thuyền trưởng ra lệnh cho đám thủy thủ chạy đôn chạy đáo, v.v. Ta chẳng có chút quyền lực nào như thế, cũng chẳng có những vị ân chủ hào phóng giống như nhà quý tộc Ambrosius từng dành cho Origen—cho phép ông có tới sáu hoặc bảy người chép thuê để ghi chép lại những lời ông đọc; vì lý do đó, ta buộc phải tự mình gánh vác công việc của chính mình, và vì thế bị ép buộc, hệt như một con gấu sinh ra bầy con của nó, phải dứt ra đống hỗn độn này; ta không có thời gian để liếm láp, uốn nắn nó vào khuôn khổ như cách con gấu mẹ làm với bầy con của nó, mà đành phải đem xuất bản y nguyên như lúc nó vừa mới được viết ra—quicquid in buccam venit—với một văn phong ứng khẩu tức thời, y như cách ta vẫn thường làm với tất cả các bài tập khác—effudi quicquid dictavit genius meus—tuôn ra tất cả những gì thiên tài của ta sai bảo, nhặt nhạnh từ một mớ ghi chép hỗn độn, và viết lách với sự cân nhắc đắn đo ít ỏi hệt như lúc ta mở miệng nói chuyện thông thường, hoàn toàn không có chút cố tình làm dáng nào với những từ ngữ đao to búa lớn, những cụm từ sáo rỗng hoa hòe, những âm thanh lủng củng, các biện pháp tu từ, những dòng văn đanh thép tựa như mũi tên của Acesta bốc cháy ngay khi bay vút đi—strains of wit, những cơn bốc đồng hào hùng, thơ ca tụng, những hình ảnh phóng đại, sự trau chuốt thanh nhã, v.v., thứ mà biết bao kẻ vẫn vô cùng say đắm. Ta là aquae potor—một kẻ hoàn toàn không uống rượu vang, thứ nước uống từng làm cho trí tuệ hiện đại của chúng ta trở nên sắc sảo biết bao—ta chỉ là một kẻ viết lách cẩu thả, bộc trực, thô ráp, ficum voco ficum et ligonem ligonem—và vô cùng phóng khoáng, cẩu thả, idem calamo quod in mente, nghĩ gì viết nấy bằng ngòi bút, ta gọi cái cuốc là cái cuốc, gọi quả vả là quả vả, animis haec scribo, non auribus, ta tôn trọng nội dung hơn là câu chữ; luôn ghi nhớ câu nói của Cardan: verba propter res, non res propter verba—từ ngữ tồn tại là vì sự vật, chứ sự vật không tồn tại vì từ ngữ; và noi theo tinh thần của Seneca, tìm kiếm quid scribam, non quemadmodum—quan tâm đến nội dung viết ra hơn là cách thức trình bày; bởi vì theo quan điểm của Philo, “Kẻ nào bận tâm đến nội dung sẽ bỏ qua câu chữ, và những kẻ xuất sắc trong nghệ thuật hùng biện này lại hoàn toàn chẳng có lấy một chút kiến thức uyên thâm nào,”

Verba nitent phaleris, at nullus verba medullas

Intus habent———

Bên ngoài từ ngữ lấp lánh trang sức, nhưng bên trong cốt tủy lại chẳng có lấy một chút nội dung nào———

Hơn thế nữa, đó cũng chính là quan sát của bậc hiền triết Seneca: “Khi ngươi nhìn thấy một kẻ tỏ ra quá cẩn trọng với từng câu chữ, và trau chuốt tỉ mỉ trong cách ăn nói của hắn, hãy đinh ninh một điều chắc chắn rằng tâm trí của kẻ đó chỉ toàn bận tâm đến những chuyện vặt vãnh, chẳng có chút sự vững chắc nào bên trong hắn cả.” Non est ornamentum virile concinnitas: y như lời ông từng nói về con chim họa mi,

———vox es, praeterea nihil, &c.

Ngươi chỉ là một tiếng hót, ngoài ra chẳng có gì khác, v.v.

Do đó, trong vấn đề này, ta là một tín đồ thuần thành của Apollonius, một môn đồ của Socrates: ta phớt lờ câu chữ và hoàn toàn dồn hết tâm sức để khai sáng sự hiểu biết cho người đọc, chứ không phải để nịnh nọt lỗ tai họ; mục đích và sự nghiên cứu của ta không phải là để viết lách trau chuốt theo yêu cầu của một nhà hùng biện, mà là để bộc lộ bản thân một cách nhanh chóng và rõ ràng nhất có thể tùy theo hoàn cảnh đưa đẩy. Thế nên, văn phong của ta tuôn chảy y như dòng sông: lúc thì ào ạt xiết xiết, khi lại lững lờ chậm chạp; lúc thì thẳng băng, khi lại ngoằn ngoèo per ambages; lúc thì sâu thẳm, khi lại cạn róc; lúc thì đục ngầu, khi lại trong vắt; lúc thì mênh mông rộng lớn, khi lại hẹp hòi quanh co: khi thì nghiêm túc, lúc lại nhẹ nhàng; lúc mang màu sắc hài kịch, khi lại đẫm vị châm biếm; lúc thì được trau chuốt công phu, khi lại buông lỏng hời hợt, tùy thuộc vào yêu cầu của đề tài lúc bấy giờ, hoặc tâm trạng của ta tại thời điểm đó. Và nếu ngươi rộng lòng chiếu cố đọc qua chuyên khảo này, nó sẽ chẳng hiện lên trong mắt ngươi khác gì so với con đường mòn của một lữ khách bình thường: lúc thì bằng phẳng quang đãng, lúc lại gồ ghề lầy lội; chỗ thì thảo nguyên hoang mạc, nơi lại đồng ruộng rào giậu kín đáo; chỗ thì cằn cỗi ở vùng này, nơi lại màu mỡ hơn ở vùng khác; qua những cánh rừng, lùm cây, đồi cao, thung lũng, đồng bằng, v.v. Ta sẽ dẫn dắt ngươi per ardua montium, et lubrica vallium, et roscida cespitum, et glebosa camporum—vượt qua muôn vàn cảnh sắc đa dạng, qua cả những điều mà ngươi chắc chắn sẽ yêu thích lẫn những thứ làm ngươi gai mắt.

Còn về phần nội dung hoặc phương pháp, nếu có chỗ nào sai sót, ta xin ngươi hãy cân nhắc lời khuyên của Columella: Nihil perfectum, aut a singulari consummatum industria—chẳng có công trình nào là hoàn hảo hay được hoàn thiện bởi sự nỗ lực của một cá nhân đơn độc; không còn nghi ngờ gì nữa, rất nhiều chỗ còn thiếu sót và hoàn toàn có thể bị chỉ trích một cách chính đáng, bị thay đổi và loại bỏ ngay cả trong các trước tác của Galen hay Aristotle, những bậc thầy vĩ đại ấy. Boni venatoris (như một câu nói đã đúc kết) plures feras capere, non omnes; thợ săn giỏi là kẻ bắt được nhiều thú rừng chứ không phải tất cả mọi con; ta đã cố gắng hết sức mình rồi. Hơn thế nữa, ta chẳng phải là kẻ chuyên cư ngụ trong lĩnh vực nghiên cứu này: Non hic sulcos ducimus, non hoc pulvere desudamus, ta thú thật mình chỉ là một kẻ biết chút đỉnh bề ngoài—avery smatterer—một kẻ lữ khách lang thang hái hoa bắt bướm chỗ này một chút, nơi kia một tí; ta sẵn sàng thừa nhận rằng, nếu một nhà phê bình khắc nghiệt nào đó muốn xoi mói chuyên khảo này của ta, hắn sẽ chẳng chỉ ra được vỏn vẹn ba lỗi sai ngớ ngẩn như Scaliger từng làm với các tác phẩm của Terence, mà là tới ba trăm lỗi. Nhiều y như số lỗi mà ông ta từng tìm thấy trong các trước tác tinh tế của Cardan, hoặc nhiều lỗi lầm nghiêm trọng y như cách Gul. Laurembergius, một giáo sư gần đây tại Rostock, đã vạch trần trong cuốn giải phẫu của Laurentius, hay như Barocius người Venice từng phát hiện ở Sacroboscus. Và mặc dù đây đã là bản in lần thứ sáu—lẽ ra trong lần này ta phải cẩn trọng hơn, đã sửa chữa mọi sai sót từ các bản trước—nhưng đây lại là magni laboris opus, một công trình quá đỗi khó khăn và tẻ nhạt, đến mức y như kinh nghiệm thực tế của những người thợ mộc đã đúc kết: đôi khi việc xây mới một ngôi nhà còn dễ chịu và tốt hơn nhiều so với việc sửa chữa một ngôi nhà cũ; ta thà viết thêm một lượng nội dung tương đương còn hơn là đi sửa lại những gì đã được viết ra. Do đó, nếu có điểm nào sai sót (và ta thừa nhận là có), ta chỉ mong nhận được những lời nhắc nhở thiện chí từ bạn đọc chứ không phải những bài mạt sát cay nghiệt: Sint musis socii Charites, Furia omnis abesto; nếu không thì, giống như trong các cuộc tranh cãi thông thường, funem contentionis nectamus, sed cui bono? Chúng ta hoàn toàn có thể tranh cãi và có nguy cơ lăng mạ lẫn nhau, nhưng để làm cái thá gì chứ? Cả hai chúng ta đều là học giả cơ mà, hãy nói xem nào,

———Arcades ambo

Et Cantare pares, et respondere parati.

Cả hai đều là những chàng trai xứ Arcadia trẻ tuổi, cả hai đều tài năng ngang nhau

Trong việc cất tiếng hát và sẵn sàng đối đáp theo nhịp điệu bài ca.

Nếu chúng ta cứ cãi cọ nhau thì sẽ thu về được lợi lộc gì? Chỉ là tự rước lấy rắc rối và tổn hại cho bản thân, đồng thời mua vui cho thiên hạ. Nếu ta bị buộc tội mắc sai lầm, ta sẽ sẵn sàng cúi đầu nhận lỗi và sửa chữa. Si quid bonis moribus, si quid veritati dissentaneum, in sacris vel humanis literis a me dictum sit, id nec dictum esto—bất kỳ điều gì đi ngược lại với thuần phong mỹ tục, đi ngược lại chân lý, dù là trong lĩnh vực thần học hay văn chương thế tục, nếu lỡ bị ta thốt ra, thì hãy coi như chưa từng được nói đến. Trong lúc này, ta chỉ khẩn cầu một sự phán xét khoan dung đối với mọi lỗi lầm bị bỏ sót, những câu cú thô kệch, lỗi lặp từ dư thừa (dẫu cho Seneca vẫn đứng về phía ta với câu: nunquam nimis dicitur, quod nunquam satis dicitur—chẳng bao giờ là quá nhiều đối với những điều chưa bao giờ là đủ), sự nhầm lẫn về thì, số ít số nhiều, những lỗi in ấn, v.v. Các bản dịch của ta đôi khi thiên về phóng tác nhiều hơn là dịch sát nghĩa, non ad verbum, mà mang tinh thần của một tác giả, ta sử dụng sự tự do nhiều hơn, và chỉ chọn lấy những gì phục vụ cho mục đích của mình. Các trích dẫn thường được chèn thẳng vào văn bản, khiến văn phong trở nên thô ráp hơn, hoặc được đặt ở phần lề tùy theo hoàn cảnh lúc viết. Các tác giả Hy Lạp như Plato, Plutarch, Athenaeus, v.v., đều được ta trích dẫn thông qua các bản dịch của họ, bởi vì bản gốc không có sẵn ngay tay. Ta đã pha trộn giữa sacra prophanis—những điều linh thiêng và phàm tục—nhưng ta hy vọng là không hề báng bổ chúng; và khi lặp lại tên tuổi của các tác giả, ta xếp hạng họ per accidens—tùy theo tình cờ chứ không tuân theo trật tự niên đại; đôi khi đặt các tác giả hiện đại trước các bậc tiền nhân tùy theo trí nhớ của ta gợi ý. Một số điều đã được thay đổi, lược bỏ trong lần tái bản thứ sáu này, những thứ khác được chỉnh sửa, và có rất nhiều nội dung được bổ sung, bởi vì rất nhiều tác giả xuất sắc thuộc mọi thể loại đã đến tay ta kể từ đó đến nay, và điều đó chẳng phải là một định kiến hay một sự sơ suất đáng trách nào cả.

Nunquam ita quicquam bene subducta ratione ad vitam fuit,

Quin res, aetas, usus, semper aliquid apportent novi,

Aliquid moneant, ut illa quae scire te credas, nescias,

Et quae tibi putaris prima, in exercendo ut repudias.

Chẳng có điều gì trên đời được tính toán hoàn hảo ngay từ đầu,

Mà không bị thời gian, tuổi tác và kinh nghiệm làm thay đổi ít nhiều;

Giúp ta khôn ngoan hơn, và qua những trải nghiệm thực tế,

Khiến ta phủ nhận những gì mình từng đinh ninh là biết rõ, và từ bỏ những điều ta tưởng là tuyệt vời nhất.

Nhưng giờ đây ta đã hạ quyết tâm sẽ không bao giờ đem chuyên khảo này tái bản một lần nào nữa—Ne quid nimis—ta sẽ không đời nào viết thêm, thay đổi hay rút lại bất kỳ điều gì nữa; ta đã hoàn tất. Ngoại trừ một lời phàn nàn cuối cùng và lớn nhất là: với tư cách là một giáo sĩ, ta lại đi xía mũi vào chuyện y khoa,

Tantumne est ab re tua otii tibi,

Aliena ut cures, eaque nihil quae ad te attinent.

Đây là câu mà Menedemus từng quở trách Chremes; phải chăng ta có quá nhiều thời gian nhàn rỗi, hay có quá ít việc riêng của mình đến nỗi phải đi lo chuyện bao đồng của kẻ khác chẳng dính líu gì đến ta? Ta có dính dáng gì đến y học cơ chứ? Quod medicorum est promittant medici. Người Lacedaemon từng có một lần họp bàn về các vấn đề quốc kế dân sinh, một gã đồi bại nọ đã đứng lên phát biểu vô cùng xuất sắc và trúng trọng tâm, bài phát biểu của hắn được tất cả mọi người tán thành nhiệt liệt; một vị nguyên lão nghiêm nghị bèn đứng bật dậy và bằng mọi giá đòi bác bỏ nó dẫu nó rất hay, lý do là vì dehonestabatur pessimo auctore—nó xuất phát từ một tác giả tồi tệ; hãy để một người đức hạnh phát biểu lại đúng những nội dung đó, thì khi ấy nó mới được thông qua. Đề xuất này đã được đón nhận, factum est, và nó được ghi vào sổ sách ngay tức khắc, Et sic bona sententia mansit, malus auctor mutatus est. Ngươi cũng đang nói y hệt như thế về ta, hỡi cái kẻ hay cáu bẳn kia, và có lẽ ngươi cũng công nhận rằng những điều ta viết về y khoa này hoàn hảo đấy chứ, nếu như nó được viết bởi một người khác—một y sĩ chuyên nghiệp hay đại loại thế; nhưng tại sao ta lại đi xía vào chuyên khảo này chứ? Hãy lắng nghe ta giải thích đây.

Ta dễ dàng thừa nhận rằng có vô số các chủ đề khác trong cả lĩnh vực nhân văn lẫn thần học rất đáng để bàn luận, và nếu ta viết chúng chỉ để ad ostentationem—nhằm phô trương bản thân—thì ta đã thà chọn những chủ đề đó, những lĩnh vực mà ta am hiểu sâu sắc hơn, nơi ta có thể thỏa sức vẫy vùng và làm thỏa mãn bản thân lẫn người khác tốt hơn nhiều; thế nhưng tại thời điểm đó, ta lại bị xô đẩy một cách định mệnh vào vách đá sầu muộn này, bị cuốn đi bởi dòng nước phụ vốn tách ra từ dòng chảy chính trong các công trình nghiên cứu của ta, nơi ta từng tìm thấy niềm vui và sự bận rộn trong những giờ phút nhàn rỗi, xem nó như một chủ đề thiết yếu và vô cùng hữu ích nhất. Không phải vì ta đánh giá nó cao hơn thần học, lĩnh vực mà ta luôn thừa nhận là nữ hoàng của mọi ngành nghề, nơi mọi ngành khác chỉ đóng vai trò như những kẻ hầu cận, mà là vì trong thần học ta không thấy có một nhu cầu cấp thiết lớn đến thế. Bởi vì nếu ta viết theo lối khẳng định giáo điều, thì đã có ngập tràn sách vở thuộc thể loại đó, biết bao nhà chú giải, các chuyên khảo, truyền đơn, trước tác giải nghĩa, các bài giảng đạo nhiều đến mức những cỗ xe bò kéo cũng không tài nào chở nổi; và nếu ta cũng hiếu thắng và tham vọng như một số kẻ khác, ta có lẽ đã cao hứng in ra được một bài giảng tại Thánh giá Paul, một bài giảng tại St. Marie ở Oxford, một bài giảng tại Nhà thờ Christ, hoặc một bài giảng trước các ngài quyền quý, đáng kính, một bài giảng trước các vị tôn kính, một bài giảng bằng tiếng Latinh, bằng tiếng Anh, một bài giảng có đính kèm tên tuổi, một bài giảng ẩn danh, một bài giảng, lại một bài giảng, v.v. Nhưng ta từ xưa đến nay vẫn luôn mong muốn kìm hãm các tác phẩm của mình thuộc thể loại đó, y hệt như cách người ta tìm mọi cách để in ấn và xuất bản tác phẩm của họ vậy. Việc viết lách về các cuộc tranh luận giáo phái chẳng khác nào đi chặt đầu con thủy quái Hydra—Lis litem generat, cuộc chiến này sinh ra cuộc chiến khác, đẻ ra vô số các lớp lặp lại chồng chéo và cả một bầy đàn các câu hỏi hóc búa. Trong cuộc chiến tranh thánh này—in sacro bello—công việc được giải quyết bằng mũi gươm ngòi bút, một khi đã sa chân vào thì ta sẽ chẳng bao giờ có thể tìm thấy điểm dừng. Thư thả hơn nhiều, giống như Giáo hoàng Alexander Đăng lục từng nhận xét từ lâu, là đi khiêu chiến với một vị vương công hùng mạnh còn hơn là dây dưa với một tên tu sĩ khất thực, một tu sĩ dòng Tên, hay một linh sĩ chủng viện; ta xin bổ sung thêm, bởi vì inexpugnabile genus hoc hominum, bọn chúng là một hội đoàn không thể đánh gục nổi, chúng bắt buộc phải và chắc chắn sẽ là kẻ giành được câu nói cuối cùng; và chúng tiến hành các cuộc tranh luận ấy với sự hăng hái, trơ trẽn, thói nói dối gớm ghiếc, xuyên tạc trắng trợn và sự cay độc đến mức, y như nhận định của một người—furorne caecus, an rapit vis acrior, an culpa, responsum date? Cơn cuồng nộ mù quáng, sự sai lầm, tính bồng bột hay bất cứ thứ quái quỷ gì đã thúc đẩy bọn chúng, ta chẳng thể nào biết chắc; ta chỉ chắc chắn một điều, điều mà thánh Augustine đã nhận ra từ lâu—tempestate contentionis, serenitas charitatis obnubilatur—dưới cơn bão giông của tranh chấp, sự thanh tịnh của đức bác ái đã bị che mờ; và hiện đã có quá nhiều linh hồn quỷ quái được triệu hồi trong lĩnh vực này ở tất cả mọi khoa học, vượt quá tầm kiểm soát của chúng ta để có thể trấn yểm chúng xuống, chúng nổi giận cuồng phong và làm náo loạn đến nỗi, như Fabius từng nói: “Thật tốt hơn biết bao cho một số kẻ trong bọn chúng nếu được sinh ra mà bị câm điếc và hoàn toàn mù chữ, còn hơn là lú lẫn đến mức tự hủy diệt chính mình.”

At melius fuerat non scribere, namque tacere

Tutum semper erit,———

Thế nhưng thà không viết còn hơn, bởi vì giữ im lặng

Sẽ luôn là sự lựa chọn an toàn nhất———

Đó là một lỗi lầm chung, giống như Severinus người Đan Mạch từng phàn nàn trong lĩnh vực y học: “Hỡi những con người bất hạnh chúng ta, chúng ta hoang phí những ngày tháng đời mình vào những câu hỏi vô bổ và các cuộc tranh luận,” những sự tinh tế rối rắm—de lana caprina—bàn về chuyện lông cừu dê hay ánh trăng dưới nước, “trong khi lại bỏ mặc những kho báu tối thượng của thiên nhiên mà không thèm động đến, nơi chứa đựng những phương thuốc tuyệt vời nhất cho mọi loại bệnh tật; chúng ta không chỉ tự mình phớt lờ chúng mà còn cản trở, lên án, cấm đoán và chế giễu những ai có thiện chí tìm hiểu về chúng.” Chính những động lực này vào thời điểm hiện tại đã xui khiến ta lựa chọn chủ đề y học này.

Nếu vào lúc ấy có vị y sĩ nào lên tiếng can thiệp—Ne sutor ultra crepidam—và cảm thấy bất bình vì ta đã xía mũi vào chuyên môn của họ, ta sẽ tóm tắt trả lời ngắn gọn rằng: ta đối xử với họ chẳng khác nào cách họ đối xử với chúng ta. Nếu điều đó mang lại lợi ích cho họ, ta biết rõ có rất nhiều người thuộc giáo phái của họ đã thụ phong linh mục với hy vọng kiếm được một bổng lộc nhà thờ—đó là một sự chuyển đổi vô cùng phổ biến, vậy tại sao một vị giáo sĩ đang mắc chứng sầu muộn, kẻ chẳng thể kiếm chác được gì ngoài tội mua bán chức tước giáo hội—simony—lại không thể hành nghề y chứ? Drusianus người Ý (Trithemius gọi là Crusianus nhưng bị đọc chệch) “bởi vì không gặp may mắn trong việc hành nghề y, đã từ bỏ chuyên môn của mình và sau đó chuyển sang viết lách về thần học.” Marcilius Ficinus vừa là linh mục vừa là y sĩ cùng một lúc, và T. Linacer cũng đã thụ phong linh mục khi tuổi đã xế chiều. Các tu sĩ dòng Tên hiện nay hành nghề cả hai, nhiều người trong số họ permissu superiorum—được sự cho phép của các bề trên—làm cả bác sĩ phẫu thuật, kẻ dắt mối, chủ nhà chứa và bà đỡ đẻ, v.v. Rất nhiều vị phó tế nghèo khổ ở vùng nông thôn, vì túng quấn phương kế sinh kế, buộc phải xoay sở đủ đường để biến thành những kẻ bịp bợm lang băm, thầy thuốc vườn; và nếu những vị ân chủ hám lợi của chúng ta cứ áp đặt những điều kiện khắc nghiệt như thế, thì phần lớn chúng ta sẽ bị dồn vào chân tường để phải làm một nghề thủ công nào đó y như cách Phao-lô từng làm, cuối cùng hóa thành những kẻ đi gặt thuê, thợ nấu mạch nha, người bán hoa quả dạo, thợ chăn gia súc, đi bán bia như một số người từng làm, hoặc thậm chí còn tệ hơn thế. Dù sao đi nữa, khi đảm nhận nhiệm vụ này, ta hy vọng mình sẽ không phạm phải sai lầm hay sự bất nhã lớn lao nào nếu xét nét mọi sự cho thấu đáo; ta hoàn toàn có thể tự bào chữa cùng Georgius Braunus và Hieronymus Hemingius, hai vị học giả thần học uyên bác nọ; những người (mượn tạm một hoặc hai dòng từ người anh cả của ta) bị thu hút bởi “tình yêu tự nhiên—một người dành cho tranh ảnh và bản đồ, những khung cảnh phối cảnh và sở thích địa lý, đã viết nên bộ sưu tập đồ sộ về các thành phố; người kia say mê nghiên cứu gia phả, đã biên soạn cuốn theatrum genealogicum.” Hoặc nếu không, ta cũng có thể biện minh cho các nghiên cứu của mình giống như Lessius tu sĩ dòng Tên trong một hoàn cảnh tương tự. Đó chính là một căn bệnh của tâm hồn mà ta đang giải quyết, và nó thuộc về một vị giáo sĩ cũng nhiều y như thuộc về một y sĩ vậy; và ai mà chẳng biết sự tương đồng mật thiết giữa hai ngành nghề này chứ? Một vị giáo sĩ giỏi vốn là hoặc ít ra phải là một y sĩ giỏi, ít nhất cũng là một y sĩ tinh thần, đúng như cách Đấng Cứu Thế của chúng ta tự gọi và thực tế chính là như vậy: Mat. iv. 23; Luke, v. 18; Luke, vii. 8. Chúng chỉ khác nhau ở đối tượng tác động, một bên là thể xác còn bên kia là tâm hồn, và sử dụng những loại dược liệu khác nhau để chữa trị; một bên chữa lành animam per corpus—tâm hồn thông qua thể xác, bên kia chữa corpus per animam—thể xác thông qua tâm hồn, như vị Giáo sư Y khoa của trường Đại học chúng ta từng giảng giải rất uyên bác trong một bài thuyết giảng cách đây không lâu. Một bên chữa trị những thói hư tật xấu và các đam mê của tâm hồn—cơn giận, lòng tham dục, sự tuyệt vọng, thói kiêu ngạo, sự tự phụ, v.v.—bằng cách áp dụng thứ y học tâm thần; trong khi bên kia sử dụng những phương thuốc thích hợp cho các bệnh lý về thể xác. Giờ đây, vì đây là một chứng bệnh chung của cả thể xác lẫn tâm hồn, một căn bệnh đòi hỏi sự chữa trị về mặt tinh thần cũng nhiều y như thể xác, ta không thể tìm ra một nhiệm vụ nào thích hợp hơn để dồn tâm sức vào, một đề tài phù hợp hơn, vô cùng cần thiết, thuận lợi và liên quan chung đến mọi tầng lớp con người, một chủ đề dung hòa trọn vẹn cả hai và đòi hỏi một vị y sĩ toàn diện. Một vị giáo sĩ đứng trước căn bệnh phức tạp hỗn hợp này sẽ chẳng thể làm được bao nhiêu nếu chỉ có một mình, và một vị y sĩ đối mặt với một số dạng sầu muộn lại càng bất lực hơn; chỉ khi kết hợp cả hai mới tạo ra được một phương pháp chữa trị hoàn toàn triệt để.

Alterius sic altera poscit opem.

Khi kết hợp trong tình bằng hữu,

Chúng ta tìm thấy sự hỗ trợ lẫn nhau.

Và điều đó vốn thuộc về cả hai, và ta hy vọng nó không phải là điều bất nhã đối với ta, một người mang chuyên môn là giáo sĩ nhưng lại có khuynh hướng thiên bẩm là y sĩ. Ta từng có sao Mộc tọa lạc ở cung nhà thứ sáu; ta xin nói lại cùng Beroaldus: non sum medicus, nec medicinae prorsus expers—ta không phải là một y sĩ chuyên nghiệp, nhưng cũng chẳng đến nỗi hoàn toàn mù tịt về y học; ta từng bỏ ra không ít công sức nghiên cứu lý thuyết y khoa, không phải với ý định hành nghề, mà là để tự làm thỏa mãn bản thân, đó cũng chính là một trong những nguyên nhân thôi thúc ta thực hiện chủ đề này từ thuở ban đầu.

Nếu những lý do trên vẫn chưa làm ngươi thỏa mãn, hỡi bạn đọc thân mến—giống như cách ngài Alexander Munificus, vị giám mục nhân từ của Lincoln thuở trước, khi xây dựng sáu lâu đài, ad invidiam operis eluendam, như lời Mr. Camden ghi lại, là để xua tan sự ghen tị đối với công trình của mình (y như những từ ngữ mà Nubrigensis dùng để nói về Roger, vị giám mục giàu có xứ Salisbury, kẻ từng cho xây dựng lâu đài Shirburn và lâu đài Devises dưới thời vua Stephen), nhằm chuyển hướng sự tai tiếng hoặc những lời gièm pha có thể từ đó sinh ra, ông đã cho xây dựng vô số các tu viện và nhà thờ—nếu chuyên khảo này của ta mang tính y khoa quá đỗi, hoặc đậm đặc chất nhân văn, ta xin hứa với ngươi rằng sau này ta sẽ bù đắp lại bằng một chuyên khảo nào đó về thần học. Nhưng ta hy vọng chừng này là đủ, khi ngươi đã suy ngẫm kỹ càng hơn về bản chất chủ đề của ta—rem substratam, chứng sầu muộn, sự điên rồ—cùng những lý do tiếp theo vốn là động lực chủ yếu của ta: tính phổ quát của căn bệnh, sự cần thiết của việc chữa trị, và lợi ích hay sự tốt đẹp chung sẽ đến với tất cả mọi người thông qua sự thấu hiểu về nó, điều sẽ được trình bày tường tận trong phần lời nói đầu tiếp theo. Và ta tin chắc rằng cuối cùng ngươi sẽ phải thốt lên cùng ta rằng: việc mổ xẻ chính xác cái tâm trạng ấy xuyên suốt mọi bộ phận của Tiểu vũ trụ—Microcosmus—của chúng ta cũng là một nhiệm vụ vĩ đại chẳng kém gì việc hòa giải những sai lầm niên đại trong triều đại Assyria, tìm ra phép cầu phương cho một vòng tròn, thám hiểm các lạch nước và eo biển của những lối đi phía Đông Bắc hoặc Tây Bắc, và hoàn toàn là một khám phá vĩ đại chẳng kém gì chuyến đi tìm Vùng đất vô danh phương Nam—Terra Australis Incognita—của gã Tây Ban Nha hám ăn nọ, nhọc nhằn chẳng kém gì việc hoàn thiện chuyển động của sao Hỏa và sao Thủy—thứ đang hành hạ các nhà thiên văn học của chúng ta—hay việc chỉnh đốn Lịch Gregory. Về phần mình, ta vô cùng tâm đắc và hy vọng hệt như cách Theophrastus từng nghĩ về các nhân vật của ông: “Hỡi người bạn Policles, hậu thế của chúng ta sẽ trở nên tốt đẹp hơn nhờ những gì chúng ta đã viết ra, thông qua việc tự chỉnh đốn và sửa đổi những gì sai sót trong bản thân họ dựa trên các tấm gương của chúng ta, và áp dụng những lời dạy cùng sự cảnh báo của ta vào cuộc sống của chính họ.” Và giống như vị danh tướng vĩ đại Zisca từng trăn trối muốn người ta lấy da của ông làm mặt trống sau khi ông qua đời, bởi vì ông tin rằng bản thân âm thanh của chiếc trống đó cũng đủ để làm kẻ thù phải khiếp sợ tháo chạy, ta tin chắc rằng những dòng chữ sau đây, khi được ngâm nga hoặc đọc lên trong tương lai, sẽ xua tan chứng sầu muộn (dù cho ta đã khuất núi) hiệu quả chẳng kém gì tiếng trống của Zisca từng làm khi gieo rắc kinh hoàng cho kẻ địch. Tuy nhiên, ta cũng xin gửi gắm một lời cảnh báo dọc đường cho vị độc giả hiện tại hoặc tương lai của ta, những ai đang thực sự mắc chứng sầu muộn, rằng đừng có dại dột đọc phần triệu chứng hoặc tiên lượng bệnh trong chuyên khảo tiếp theo này, kẻo khi áp dụng những điều vừa đọc vào bản thân, tự trầm trọng hóa và vơ vét những điều mang tính tổng quát thành của riêng mình (như những kẻ sầu muộn thường hay làm), hắn sẽ tự chuốc lấy phiền muộn hoặc làm tổn thương chính mình, và cuối cùng rước lấy tác hại nhiều hơn là lợi ích. Do đó, ta khuyên họ hãy thật cẩn trọng khi lướt qua chuyên khảo ấy: Lapides loquitur (như lời Agrippa de occ. Phil. từng nói) et caveant lectores ne cerebrum iis excutiat—hãy cẩn thận kẻo những trang sách này đập tan cả óc các ngươi đấy. Còn lại phần khác, ta tin chắc họ có thể yên tâm đọc và thu về nhiều lợi ích. Nhưng ta đã quá ư dài dòng rồi, ta xin tiếp tục bước đi.

Nếu có ai còn hoài nghi về sự cần thiết và tính phổ quát của những điều ta vừa nói, ta xin mời hắn hãy điểm qua một cách vắn tắt bức tranh toàn cảnh thế giới, y như lời Cyprian khuyên Donat: “Giả sử bản thân được vận chuyển lên đỉnh của một ngọn núi cao nào đó, và từ đó phóng tầm mắt quan sát những cuộc hỗn chiến cùng thăng trầm của thế giới đổi thay này, hắn sẽ chẳng thể làm gì khác ngoài việc bật cười hoặc dâng lên lòng trắc ẩn.” Thánh Hierom với trí tưởng tượng mãnh liệt, khi ở trong chốn hoang mạc, từng ảo giác thấy cảnh người ta đang nhảy múa ở Rome; và nếu ngươi hình dung hoặc leo lên để quan sát, ngươi sẽ nhanh chóng nhận ra rằng cả thế giới này đều điên rồ, rằng nó đang chìm đắm trong sầu muộn, rằng nó đang lú lẫn tuổi già; rằng nó (y như cách Epichthonius Cosmopolites từng thể hiện trên một bản đồ cách đây không lâu) được tạo hình hệt như chiếc đầu của một tên hề (với câu khẩu hiệu: Caput helleboro dignum)—một cái đầu rạn nứt, cavea stultorum, thiên đường của lũ ngốc, hay như Apollonius gọi là nhà tù chung của đám khờ khỉ, kẻ lừa đảo, nịnh thần, v.v., và đang rất cần được cải cách. Strabo trong cuốn sách thứ chín về Địa lý đã so sánh Hy Lạp với hình ảnh của một con người, sự so sánh ấy đã được Nic. Gerbelius tán thành trong phần giải thích bản đồ của Sophianus: phần ngực để lộ ra từ dãy núi Acroceraunian ở Epirus cho đến mũi Sunian ở Attica; Pagae và Magaera là đôi vai; eo đất Corinth là chiếc cổ; và Peloponnesus là cái đầu. Nếu phép ẩn dụ này đúng, thì đó chắc chắn là một cái đầu điên rồ; Morea có thể đổi thành Moria; và để nói lên những gì ta thực sự nghĩ, cư dân của vùng Hy Lạp hiện đại ngày nay cũng lệch lạc khỏi lý trí và tôn giáo chân chính chẳng khác nào cái vùng Morea kia đi chệch khỏi hình hài của một con người. Hãy kiểm tra các vương quốc khác theo cách tương tự, và ngươi sẽ thấy rằng các vương quốc và tỉnh lỵ đều đang sầu muộn, từ các thành phố cho đến những gia đình, tất cả mọi tạo vật từ thực vật, động vật cho đến loài có lý trí, rằng mọi tầng lớp, giáo phái, độ tuổi, điều kiện đều đang trật nhịp, y như trong bảng của Cebes: omnes errorem bibunt, trước khi đặt chân đến thế gian này, họ đã say mèm thứ rượu của sự sai lầm, từ kẻ cao nhất cho đến người thấp kém nhất đều cần đến y học, và những hành động cụ thể được đề cập trong tác phẩm của Seneca—nơi cha và con chứng minh cho nhau thấy rằng người kia bị điên—hoàn toàn có thể áp dụng chung cho tất cả; Porcius Latro sẽ đứng lên biện hộ chống lại tất cả chúng ta. Bởi vì thực tế, ai mà không phải là một kẻ ngốc, sầu muộn và điên rồ chứ?—Qui nil molitur inepte, ai mà không phải là kẻ đầu óc u mê? Sự ngu ngốc, nỗi sầu muộn, chứng điên rồ kỳ thực chỉ là một căn bệnh duy nhất, Delirium là cái tên chung áp dụng cho tất cả. Alexander, Gordonius, Jason Pratensis, Savanarola, Guianerius, Montaltus đều đánh đồng chúng như những sắc thái khác nhau secundum magis et minus; David cũng làm y hệt trong Thánh vịnh xxxvii. 5: “Ta đã nói với những kẻ dại dột rằng: chớ có hành xử điên rồ như thế”; và đó cũng là một nghịch lý cổ xưa của phái Khắc kỷ: omnes stultos insanire—tất cả những kẻ ngốc đều điên, dẫu có kẻ điên nặng hơn kẻ khác. Và ai không phải là kẻ ngốc, ai là kẻ hoàn toàn rảnh rang khỏi chứng sầu muộn chứ? Ai không bị ảnh hưởng ít nhiều về mặt thói quen hay bản tính cơ chứ? Nếu xét về mặt bản tính, “những bản tính tồi tệ sẽ sinh ra các thói quen xấu, và nếu chúng kiên trì bám trụ,” theo lời Plutarch, “các thói quen ấy sớm muộn gì cũng trở thành bệnh tật, hoặc chính là bệnh tật.” Đó cũng là điều mà Tully duy trì trong cuốn sách thứ hai tác phẩm Tusculans: omnium insipientum animi in morbo sunt, et perturbatorum—tâm hồn của tất cả những kẻ ngu muội và những ai bị tâm trí quấy rầy đều đang lâm bệnh; bởi vì bệnh tật là gì, nếu không phải (như Gregory Tholosanus định nghĩa) “sự tan rã hoặc xáo trộn của liên minh thể xác vốn được duy trì bởi sức khỏe”? Và ai là kẻ không bệnh tật, hay không mang bản tính tồi tệ cơ chứ? Trong lòng ai mà không ngự trị những niềm đam mê, cơn giận dữ, lòng đố kỵ, sự bất mãn, nỗi sợ hãi và sầu muộn chứ? Ai là kẻ không mắc phải căn bệnh này chứ? Xin hãy ban cho ta chút ít thời gian, và ngươi sẽ thấy qua biết bao bằng chứng, lời thú tội, các lập luận để ta chứng minh rằng đa số con người đều điên rồ, rằng họ cũng cần phải đi hành hương đến xứ Anticyrae (như cách người ta từng làm vào thời của Strabo) hệt như thời đại chúng ta đổ xô đi Compostella, Đức Mẹ Sichem, hay Lauretta để tìm kiếm sự cứu rỗi; rằng đó sẽ là một chuyến hải trình thịnh vượng chẳng kém gì chuyến đi Guiana, và con người thời nay đang cần đến rễ cây lê lư—hellebore—nhiều hơn là thuốc lá.

Để thấy rằng con người đang bị rối loạn tâm thần, sầu muộn, điên rồ và quay cuồng đầu óc đến nhường nào, hãy lắng nghe lời chứng của Solomon trong sách Truyền đạo ii. 12: “Và ta quay lại để quan sát sự khôn ngoan, sự điên rồ và sự ngu ngốc,” v.v. Và câu 23: “Mọi ngày của hắn chỉ toàn là nỗi sầu muộn, công sức lao nhọc là nỗi đau đớn, và ngay cả ban đêm trái tim hắn cũng chẳng được nghỉ ngơi.” Thế nên, mặc dù ngươi có hiểu chứng sầu muộn theo bất kỳ nghĩa nào đi nữa, dù là theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, về mặt bản tính hay thói quen, vì khoais lạc hay đau đớn, sự lú lẫn tuổi già, sự bất mãn, nỗi sợ hãi, niềm sầu muộn, sự điên rồ, một phần hay toàn bộ, theo nghĩa đen hay nghĩa ẩn dụ, thì tất cả cũng đều là một. Ngay cả tiếng cười tự nó cũng là sự điên rồ theo quan điểm của Solomon, và như sứ đồ Phao-lô đã nói: “Nỗi buồn thế gian mang lại cái chết.” “Lòng của con cái loài người tràn ngập sự dữ, và sự điên rồ ngự trị trong tim họ khi họ còn đang sống,” Truyền đạo ix. 3. “Ngay cả những bậc hiền triết cũng chẳng khá hơn là bao,” Truyền đạo i. 18: “Trong sự thông thái dồi dào có vô vàn nỗi buồn, và kẻ nào gia tăng sự khôn ngoan thì cũng đồng thời gia tăng nỗi sầu muộn,” chương ii. 17. Ông căm ghét cả cuộc đời mình, chẳng có điều gì làm ông thỏa mãn: ông căm ghét công sức lao động của mình, tất cả, như ông đã đúc kết, chỉ là “sự sầu muộn, đau đớn, phù vân và sự khốn khổ của tâm hồn.” Và dẫu ông là người khôn ngoan nhất trên thế gian—sanctuarium sapientiae—và sở hữu trí khôn vô bờ bến, ông cũng chẳng đời nào tự vỗ ngực xưng tên hay biện minh cho các hành động của chính mình. “Quả thật ta ngu ngốc hơn bất kỳ người nào, và không có được sự hiểu biết của một con người bình thường,” Châm ngôn xxx. 2. Dù đó là lời của Solomon hay lời của Agur, con trai của Jakeh, thì chúng vẫn là những lời chính thống kinh điển. David, một người có trái tim đi theo ý Chúa, cũng tự thú nhận điều tương tự về bản thân trong Thánh vịnh xxxvii. 21, 22: “Ta thật quá ư ngu ngốc và vô tri, ta chẳng khác nào một con dã thú trước mặt Ngài.” Và ông lên án tất cả mọi người là những kẻ ngốc trong Thánh vịnh xciii; xxxii. 9; xlix. 20; ông so sánh họ với “loài súc vật, ngựa và la, những loài hoàn toàn không có sự hiểu biết.” Sứ đồ Phao-lô cũng tự cáo buộc bản thân theo cách tương tự trong Cô-rô-thô II, ix. 21: “Tôi mong các anh hãy chịu đựng sự dại dột này của tôi một chút thôi, tôi đang nói những lời dại dột.” “Cả cái đầu đều lâm bệnh,” vị ngôn sứ Ê-sai nói, “và trái tim thì nặng trĩu,” chương i. 5. Và ông đánh giá con người thậm chí còn tệ hơn cả bò và lừa—“con bò còn biết rõ chủ của nó,” v.v.: hãy đọc Đệ-lô-vê xxxii. 6; Giê-rem-i iv; A-mốt iii. 1; Ê-phê-sô v. 6: “Đừng điên rồ, đừng bị lừa dối, hỡi những người Ga-la-ti ngu ngốc, ai đã yểm bùa các ngươi vậy?” Có biết bao nhiêu lần họ bị đóng ấn lên trán bởi cái nhãn mác điên rồ và ngu ngốc ấy? Chẳng có từ ngữ nào xuất hiện thường xuyên hơn thế giữa các Giáo phụ của Giáo hội và các bậc thầy thần học; ngươi có thể thấy quan điểm của họ về thế giới này tồi tệ ra sao, và họ đánh giá các hành động của con người thấp kém đến mức nào.

Ta thừa nhận rằng chúng ta thường nghĩ hoàn toàn ngược lại, và xem đa số những kẻ có chức có quyền, các vị vương công, quan lại, người giàu có là những bậc khôn ngoan bẩm sinh, rằng tất cả các chính trị gia và nhà nước gia đều phải là những kẻ uyên bác, bởi vì ai dám lên tiếng chống lại họ cơ chứ? Và ở chiều ngược lại, do sự suy đồi trong khả năng phán đoán của chúng ta, chúng ta lại xem những con người khôn ngoan và lương thiện là lũ đần độn. Điều đó từng được Democritus đúc kết vô cùng xuất sắc trong bức thư gửi Hippocrates: “Người Abdera xem đức hạnh là sự điên rồ,” và đa số người sống trên đời này đều hành xử y như vậy. Ngươi có muốn biết lý do tại sao không? Định mệnh và Đức hạnh, Sự khôn ngoan và Sự ngu ngốc cùng các cận vệ của họ, có một lần đã tổ chức một cuộc thi tại Thế vận hội Olympic; ai nấy đều đinh ninh rằng Vận may và Sự ngu ngốc sẽ cầm chắc phần thua thảm hại, và vô cùng thương hại cho hoàn cảnh của chúng; thế nhưng kết quả lại diễn ra hoàn toàn trái ngược. Vận may thì mù lòa và chẳng thèm quan tâm mình đang giáng đòn xuống ai hay nơi nào, hành xử chẳng màng luật lệ—Audabatarum instar, v.v. Sự ngu ngốc thì bồng bột và thiếu suy nghĩ, cũng chẳng màng đến những gì mình thốt ra hay làm. Ngược lại, Đức hạnh và Sự khôn ngoan lại bị la ó, phất lờ và đuổi cổ ra khỏi đám đông dân chúng; trong khi Sự ngu ngốc và Vận may lại được tung hô ngưỡng mộ, và tất cả những kẻ đi theo họ cũng được đối xử y như thế cho đến tận ngày nay: những kẻ tiểu nhân và lũ ngốc thường là những kẻ có cuộc sống tốt đẹp nhất và xứng đáng nhận được sự tán dương nhất trong mắt và quan điểm của những kẻ phàm tục. Rất nhiều người đức hạnh chẳng có được số phận khá khẩm hơn thế trong thời đại của họ: Achish trong Samuel I, xxi. 14, từng xem David là một kẻ điên. Elisha và những người khác cũng chẳng được nhìn nhận khác đi. David từng bị chế giễu bởi đám đông dân chúng, Thánh vịnh ix. 7: “Ta đã trở thành một quái vật trong mắt nhiều người.” Và nhìn chung, chúng ta đều bị xem là những kẻ ngốc vì danh xưng của Đấng Christ, Cô-rô-thô I, xiv: “Chúng ta, những kẻ ngốc, từng xem cuộc đời của ngài là sự điên rồ và cái chết của ngài chẳng có lấy một chút vinh quang nào,” Khôn ngoan v. 4. Đấng Christ và các sứ đồ của ngài cũng từng phải chịu chung những lời chỉ trích tương tự trong Giăng x; Mác iii; Công vụ xxvi. Và tất cả các tín đồ Cơ đốc giáo vào thời đại của Pliny cũng vậy—fuerunt et alii, similis dementiae, v.v. Và chẳng lâu sau đó, họ bị gọi là Vesaniae sectatores, những kẻ cuồng tín, những kẻ lật đổ nhân loại, những kẻ cải đạo ô uế, cuồng tín, lũ chó má, ma cô, phù thủy, những gã đàn ông Ga-li-lê thấp kém, v.v. Đó là một chuyện cơm bữa đối với chúng ta: xem những con người chân chính, sùng đạo, chính thống, sùng kính, ngay thẳng là những gã đần độn, lũ lừa không biết hoặc không chịu nói dối và che đậy, không biết luồn lúi, nịnh hót, accommodare se ad eum locum ubi nati sunt, không biết kiếm những mối làm ăn béo bở, không biết đục nước béo cò, phất lên, phục tùng các vị ân chủ; không biết nắm bắt các phương thức thăng tiến chính thống, không biết tuân thủ đúng đắn luật lệ, phong tục, thói quen; không biết ca tụng một cách trơn tru, bảo vệ một cách hùng hồn, ôm ấp các quan điểm, không bao giờ hoài nghi, tin tưởng tất cả mọi thứ, chấp nhận mọi điều, chẳng chê bai bất cứ ai, và đủ mọi thứ trò mèo đem lại sự thăng tiến cùng sự an toàn, những thứ làm cho một con người trở nên hạnh phúc một cách trơn tru chẳng chút trắc trở và trở thành một kẻ khôn ngoan thực thụ trong mắt chúng ta; những kẻ không biết thời thế ứng biến như người khác, không biết nhận và đưa hối lộ, v.v., mà chỉ biết kính sợ Chúa và giữ gìn lương tâm trong mọi hành động của mình. Thế nhưng Chúa Thánh Thần, đấng biết cách phán xét tường tận hơn, lại gọi họ là những kẻ ngốc. “Kẻ ngu ngốc đã tự nhủ trong lòng,” Thánh vịnh liii. 1. “Và đường lối của họ phơi bày rõ sự ngu ngốc của chính họ,” Thánh vịnh xlix. 14. “Bởi vì chẳng có điều gì điên rồ hơn việc vì một chút khoái lạc trần gian tầm thường mà chuốc lấy sự trừng phạt vĩnh cửu cho chính mình,” như Gregory và những vị khác vẫn hằng ngày răn dạy chúng ta.

Thậm chí ngay cả tất cả những triết gia vĩ đại nhất mà thế giới từng chiêm ngưỡng, những người có tác phẩm được chúng ta hết mực tôn sùng, những người từng đưa ra các bài học khôn ngoan cho người khác, những nhà phát minh ra Nghệ thuật và Khoa học, Socrates—con người khôn ngoan nhất thời đại của ông theo lời Oracle của Apollo, người mà hai học trò của ông là Plato và Xenophon từng hết lời ca tụng và tôn vinh với những tước hiệu cao quý nhất: “người tốt nhất và khôn ngoan nhất trong số mọi phàm nhân, người hạnh phúc và công chính nhất”; và như Alcibiades đã ca ngợi không gì sánh bằng: Achilles là một người xứng đáng, nhưng Bracides và những người khác cũng xứng đáng chẳng kém gì ông; Antenor và Nestor cũng tuyệt vời chẳng kém Pericles, và những người khác cũng vậy; nhưng chưa từng có ai sống ở hiện tại, trong quá khứ hay tương lai ngang tầm Socrates, nemo veterum neque eorum qui nunc sunt, chưa từng có ai sánh bằng hoặc đến gần được ông. Bảy hiền triết Hy Lạp, các đạo sĩ Druid xứ Britain, các đạo sĩ Brachmanni xứ Ấn Độ, các triết gia khỏa thân Gymnosophist xứ Ethiopia, các pháp sư xứ Ba Tư, Apollonius—người mà theo Philostratus là Non doctus, sed natus sapiens—khôn ngoan từ trong nôi, Epicurus từng được ca tụng hết lời bởi học trò Lucretius:

Qui genus humanum ingenio superavit, et omnes

Perstrinxit stellas exortus ut aetherius sol.

Kẻ có trí tuệ vượt trội trí tuệ của nhân loại xa xôi,

Tựa như vầng thái dương mọc lên làm lu mờ mọi vì tinh tú trên bầu trời,

hay vị danh nhân Empedocles nọ,

Ut vix humana videatur stirpe creatus.

Đến mức trông ông dường như chẳng sinh ra từ dòng giống phàm nhân.

Tất cả những nhân vật mà ta đọc được những lời ca ngợi mang tính phóng đại tột cùng như vậy, từ Aristotle—rằng ông chính là sự khôn ngoan thu nhỏ trong hình thái trừu tượng, một kỳ quan của tự nhiên, là những thư viện biết thở, y như cách Eunapius miêu tả Longinus, những ngọn hải đăng của tự nhiên, những người khổng lồ về trí tuệ, tinh hoa của trí tuệ, những linh hồn thần thánh, những con đại bàng bay lượn giữa tầng mây, những kẻ từ thiên đàng rơi xuống, các vị thần, các linh hồn, những ngọn đèn của thế giới, những nhà độc tài, Nulla ferant talem saecla futura virum: những vị quân vương, những kỳ quan, những người giám quan của triết học và học thức, oceanus, phoenix, atlas, monstrum, portentum hominis, orbis universi musaeum, ultimus humana naturae donatus, naturae maritus,

———merito cui doctior orbis

Submissis defert fascibus imperium.

Y như cách Aelian viết về Protagoras và Gorgias, chúng ta hoàn toàn có thể nói về tất cả bọn họ: tantum a sapientibus abfuerunt, quantum a viris pueri, họ chỉ là những đứa trẻ nếu so sánh với sự khôn ngoan thực thụ, chỉ là những đứa bé chứ chẳng phải đại bàng, chỉ là đám diều hâu; những kẻ mới nhập môn, dốt nát, Eunuchi sapientiae—những kẻ thiến hoạn của trí tuệ. Và mặc dù họ là những kẻ khôn ngoan nhất và được ngưỡng mộ nhất trong thời đại của họ, nhưng y như cách ông chê bai Alexander, ta cũng đánh giá họ y như vậy: từng có tới 10.000 binh sĩ trong quân đội của ông xứng đáng làm tướng lĩnh (nếu họ được đặt vào vị trí chỉ huy) và dũng cảm chẳng kém gì bản thân ông; từng có hằng hà sa số những con người khôn ngoan hơn trong những thời đại đó, thế nhưng tất cả đều vẫn chưa đạt đến mức độ mà họ cần phải đạt tới. Lactantius trong cuốn sách bàn về sự khôn ngoan đã chứng minh họ chẳng qua chỉ là lũ đần độn, lũ ngốc, lũ lừa, những kẻ điên rồ, ngập tràn trong những học thuyết vô lý lố bịch cùng những lập luận u mê đến mức theo suy nghĩ của ông, chưa từng có một bà già hay một bệnh nhân nào lú lẫn đến thế. Democritus đã gom nhắp tất cả mọi thứ từ Leucippus và để lại, theo lời ông, “gia tài về sự ngu ngốc của mình cho Epicurus,” insanienti dum sapientiae, v.v. Ông cũng giữ quan điểm tương tự đối với Plato, Aristippus và những người khác, chẳng thèm vẽ ra ranh giới phân biệt “giữa họ và loài súc vật, ngoại trừ việc họ có thể cất tiếng nói.” Theodoret trong chuyên khảo De cur. grec. affect. đã vạch trần một cách hiển nhiên sự thật tương tự về Socrates—người mà dẫu cho Oracle của Apollo đã xác nhận là con người khôn ngoan nhất đang sống thời bấy giờ và cứu ông khỏi bệnh dịch, người mà suốt 2.000 năm qua đã được ca tụng ngợi khen, người mà một số người sẵn sàng thốt lên những lời cay nghiệt ngang ngửa với Đấng Christ—thì thực chất, re vera, ông chỉ là một gã đần dốt nát, y như cách Aristophanes gọi ông là irriscor et ambitiosus, hay như bậc thầy Aristotle gọi ông là scurra Atticus, hay như Zeno gọi ông là kẻ thù của mọi nghệ thuật và khoa học, hay theo Athenaeus là kẻ thù của các triết gia và lữ khách, một gã lừa bướng bỉnh cứng đầu, một kẻ chuyên bới lông tìm vết, một thứ nhà giáo hợm hĩnh; còn về hạnh kiểm, theo miêu tả của Theod. Cyrensis, ông là một kẻ loạn dâm, một kẻ vô thần (đã bị kết án bởi Anytus), iracundus et ebrius, dicax, v.v., một kẻ chuyên nhậu nhẹt bù khú, theo chính lời thú nhận của Plato, một kẻ nốc rượu hạng nặng; và hơn tất cả mọi người, ông là kẻ ngớ ngẩn nhất, một gã điên chính hiệu trong mọi hành động và quan điểm. Pythagoras vừa là triết gia vừa là phù thủy, hoặc một phần là phù thủy. Nếu ngươi khao khát muốn nghe thêm về Apollonius, một nhà thông thái lớn từng được Julian kẻ bội giáo so sánh ngang hàng với Đấng Christ, ta xin giới thiệu ngươi đến với chuyên khảo uyên bác của Eusebius chống lại Hierocles, và để tìm hiểu về tất cả bọn họ, hãy đọc các tác phẩm Piscator, Icaromenippus, Necyomantia của Lucian: hành động và quan điểm chung của họ thật quá đỗi quái dị, vô lý, nực cười, những thứ mà họ tung ra và duy trì, sách vở và các chuyên khảo công phu của họ ngập tràn sự lú lẫn tuổi già, điều mà Tully từng quan sát từ rất lâu trong bức thư gửi Atticum: delirant plerumque scriptores in libris suis—các nhà văn thường tỏ ra lú lẫn trong chính những cuốn sách của họ, đời sống của họ thì đi ngược lại với lời nói: họ ca ngợi sự nghèo khó cho người khác nhưng bản thân lại vô cùng tham lam, tôn sùng tình yêu và hòa bình nhưng lại tàn sát lẫn nhau bằng sự thù hận và ác ý cay độc. Họ có thể đưa ra các bài học về thơ ca và văn xuôi, nhưng chẳng có lấy một người trong số họ (như Seneca đã vạch mặt họ tận gốc) có thể kìm chế được các cảm xúc của chính mình. Âm nhạc của họ dạy chúng ta flebiles modos, v.v., cách để nốt nhạc trầm bổng thăng trầm, thế nhưng bản thân họ lại chẳng thể tự kìm chế để không cất lên những tiếng than vãn thê thảm trong nghịch cảnh. Họ có thể đo đạc mặt đất bằng hình học, vạch ra các ranh giới, chia nhỏ và tách nhỏ, thế nhưng lại không thể định mức xem bao nhiêu là đủ cho một con người, hay giữ mình trong giới hạn của lý trí và sự thận trọng. Họ có thể tính ra phép cầu phương cho hình tròn, nhưng lại chẳng hiểu nổi tình trạng linh hồn của chính mình, miêu tả những đường thẳng và đường cong, v.v., nhưng lại chẳng biết thế nào là điều đúng đắn trong cuộc đời này—quid in vita rectum sit, họ hoàn toàn mù tịt; thế nên y như câu nói:

Nescio an Anticyram ratio illis destinet omnem.

Ta nghĩ rằng toàn bộ xứ Anticyrae cũng chẳng thể cứu vãn họ trở về với sự minh mẫn,

nếu những con người thời nay—những kẻ từng nắm giữ trái tim của Xenodotus, lá gan của Crates, chiếc đèn lồng của Epictetus—lại ngớ ngẩn và chẳng có nổi một cọng não nhiều hơn lũ bọ hung như thế, thì chúng ta sẽ phải nghĩ gì về đám đông quần chúng? Nghĩ gì về những kẻ còn lại đây?

Vâng, nhưng có lẽ ngươi sẽ suy luận rằng điều đó chỉ đúng với đám ngoại giáo, nếu so sánh họ với các tín đồ Cơ đốc giáo, Cô-rô-thô I, iii. 19: “Sự khôn ngoan của thế gian này là sự dại dột trước mặt Chúa, mang tính trần tục và thuộc về quỷ dữ,” như Giac-cơ đã gọi nó ở chương iii. 15. “Họ trở nên phù phiếm trong trí tưởng tượng của mình, và trái tim ngu ngốc của họ ngập tràn bóng tối,” Rô-ma i. 21, 22. “Khi họ tự xưng mình là người khôn ngoan, họ đã trở thành những kẻ ngốc.” Những tác phẩm thông thái của họ được ca tụng ở cõi đời này, trong khi linh hồn họ lại đang bị hành hạ trong lửa địa ngục. Ở một khía cạnh nào đó, Christiani Crassiani—các tín đồ Cơ đốc chẳng khác gì môn đồ phái Crassus, và nếu đem so sánh với sự khôn ngoan đích thực đó, họ chẳng khá hơn lũ ngốc là bao. Quis est sapiens? Solus Deus, Pythagoras đáp: “Chỉ có Chúa mới là đấng khôn ngoan,” Rô-ma xvi. Phao-lô khẳng định ngài “là đấng duy nhất tốt lành,” như Augustine đã kiên quyết lập luận, “và không một phàm nhân nào đang sống có thể được xưng công chính trước mắt ngài.” “Chúa nhìn xuống từ thiên nga xuống con cái loài người, để xem có ai thực sự thông sáng hay không,” Thánh vịnh liii. 2, 3, thế nhưng tất cả đều đã bại hoại, sai lầm, Rô-ma iii. 12: “Chẳng có ai làm điều lành, dù chỉ một người.” Giao-b sớm đã xoáy sâu vào điều này ở chương iv. 18: “Này, ngài chẳng tìm thấy sự vững chãi nào nơi các tôi tớ của mình, và áp đặt sự ngu ngốc lên các thiên sứ của ngài”; câu 19: “Huống hồ là những kẻ cư ngụ trong những ngôi nhà bằng đất sét?” Theo nghĩa này, tất cả chúng ta đều là những kẻ ngốc, và duy chỉ có Kinh Thánh mới là arx Minervae—thành trì của nữ thần Minerva—còn chúng ta cùng các trước tác của mình đều nông cạn và đầy rẫy khuyết điểm. Nhưng ta không có ý đó; ngay cả trong những giao dịch thông thường hằng ngày, chúng ta cũng chẳng khá hơn lũ ngốc là bao. “Tất cả các hành động của chúng ta,” như Pliny từng nói với Trajan, “đều sỉ nhục chúng ta bằng sự ngu ngốc,” toàn bộ tiến trình cuộc đời của chúng ta chẳng qua chỉ là một chuỗi những trò cười: chúng ta chẳng hề khôn ngoan một cách tỉnh táo; và chính thế giới này, nơi lẽ ra phải trở nên khôn ngoan nhờ vào tuổi thọ lâu đời của nó, như Hugo de Prato Florido muốn thế—”semper stultizat—ngày càng trở nên ngu ngốc hơn qua mỗi ngày; càng bị quất roi, nó lại càng tồi tệ hơn, và giống như một đứa trẻ, nó vẫn cứ thích được đội những vòng hoa hồng và hoa tươi lên đầu.” Chúng ta hành xử ngớ ngẩn y như loài khỉ—asini bipedes—và bất kỳ xó xỉnh nào cũng ngập tràn inversorum Apuleiorum—những con lừa hai chân đã bị biến hóa, inversorum Silenorum—những gã Silenus lú lẫn, ngây ngô như đám trẻ con hai tuổi—pueri instar bimuli, tremula patris dormientis in ulna. Jovianus Pontanus, trong tác phẩm Antonio Dial, đã đưa vào hình ảnh một kẻ đang chế giễu một cụ ông vì tuổi già nên đâm ra lú lẫn đôi chút, nhưng y như lời ông ấy cảnh báo trong đó: Ne mireris mi hospes de hoc sene, đừng chỉ ngạc nhiên về một mình cụ ông ấy, bởi vì tota haec civitas delirium—toàn bộ thành phố của chúng ta đều lú lẫn y hệt như thế, “chúng ta là một lũ ngốc tập thể.” Đừng có hỏi như nhân vật trong thơ ca: Larvae hunc intemperiae insaniaeque agitant senem?—thứ điên rồ ma quỷ nào đang ám ảnh lão già này cơ chứ, mà phải hỏi là thứ điên rồ nào đang ám ảnh tất cả chúng ta đây? Bởi vì chúng ta ad unum omnes—tất cả đều điên như nhau, semel insanivimus omnes—không phải chỉ điên một lần mà là luôn luôn như thế, et semel, et simul, et semper—luôn luôn và hoàn toàn tồi tệ y như lão; và không chỉ là senex bis puer, delira anus—già rồi lại hóa trẻ con, bà già lú lẫn—mà phải nói điều đó về tất cả chúng ta: semper pueri—cả trẻ lẫn già, tất cả đều lú lẫn, như Lactantius đã chứng minh qua các trước tác của Seneca; và chẳng có chút khác biệt nào giữa chúng ta với lũ trẻ, ngoại trừ việc majora ludimus, et grandioribus pupis—chúng chơi đùa với những con búp bê bằng giẻ rách cùng mấy thứ đồ chơi vặt vãnh, còn chúng ta thì chơi đùa với những món đồ chơi to tát hơn. Chúng ta chẳng thể nào quy trách nhiệm hay lên án lẫn nhau, bởi vì chính bản thân chúng ta cũng đầy rẫy tội lỗi, deliramenta loqueris, ngươi đang nói nhảm nhí đấy, hoặc y như cách Mitio mắng mỏ Demea: insanis, auferte, bởi vì bản thân chúng ta cũng điên rồ chẳng kém gì ai, và thật khó để nói ai mới là kẻ tồi tệ nhất. Không, sự thật là nó diễn ra phổ biến trên toàn cầu: Vitam regit fortuna, non sapientia.

Khi Socrates đã vất vả cực nhọc tột cùng để đi tìm một con người khôn ngoan, và vì mục đích đó đã đi tham vấn hết các triết gia, nhà thơ, nghệ nhân, ông cuối cùng đã kết luận rằng tất cả mọi người đều là lũ ngốc; và mặc dù điều đó rước về cho ông cả sự giận dữ lẫn sự ghen ghét tột độ, nhưng trong bất kỳ hội nhóm nào ông cũng đều công khai tuyên bố điều đó. Khi Supputius trong tác phẩm của Pontanus đi du lịch khắp châu Âu để tìm kiếm một con người khôn ngoan, ông cuối cùng đã trở về tay trắng mà chẳng tìm thấy lấy một ai. Cardan cũng đồng quan điểm với ông: “Có rất ít người (theo những gì ta có thể nhận thấy) hoàn toàn minh mẫn tỉnh táo.” Tully cũng khẳng định y như vậy: “Ta thấy mọi thứ đều được thực hiện một cách ngu ngốc và thiếu suy nghĩ.”

Ille sinistrorsum, hic dextrorsum, unus utrique

Error, sed variis illudit partibus omnes.

Kẻ này lảo đảo sang trái, kẻ kia ngả nghiêng sang phải, cả hai đều vướng chung một lỗi lầm,

Chỉ là nó đánh lừa tất cả mọi người ở những góc độ khác nhau mà thôi.

Họ đều lú lẫn cả lượt, nhưng không theo cùng một kiểu—Μανία γαρ πᾶσιν ὁμοια—không cùng một thể loại: “Kẻ này thì tham lam, kẻ thứ hai thì dâm ô, kẻ thứ ba thì hiếu thắng, kẻ thứ tư thì đố kỵ, v.v.”, y như cách Damasippus thuộc phái Khắc kỷ đã minh họa rất xuất sắc trong thơ ca:

Desipiunt omnes aeque ac tu.

Và những kẻ đang gọi ngươi là đồ ngốc, với mức độ ngang bằng

Cũng hoàn toàn có quyền mang cái danh xưng ấy.

Đó là một căn bệnh bẩm sinh ngự trị trong từng cá nhân chúng ta, ở đó có seminarium stultitiae—một cái vườn ươm của sự ngu ngốc, “nếu nó bị khấy động hoặc vươn lên dẫn đầu, nó sẽ bùng nổ in infinitum, và biến hóa vô tận tùy thuộc vào mức độ nghiện ngập khác nhau của chính chúng ta,” theo lời Balthazar Castilio; và không thể dễ dàng nhổ tận gốc, nó bám rễ quá chặt, như Tully nhận định: altae radices stultitiae—sự ngu ngốc bám rễ sâu xa, chúng ta sinh ra đã thế và cứ tiếp tục sống như thế. Một số người cho rằng có hai khiếm khuyết chính của trí tuệ là sự sai lầm và sự dốt nát, mọi khiếm khuyết khác đều quy về hai điều đó; do dốt nát nên chúng ta không biết những điều cần thiết, do sai lầm nên chúng ta nhận thức chúng một cách sai lệch. Sự dốt nát là một sự thiếu hụt, còn sai lầm là một hành động mang tính tích cực. Từ sự dốt nát sinh ra thói hư tật xấu, từ sự sai lầm sinh ra dị giáo, v.v. Nhưng dù ngươi có chia chác thành bao nhiêu loại đi nữa, dù phân loại rồi lại phân nhỏ, thì cũng chẳng có mấy người là hoàn toàn rảnh rang, hay không dính líu vào ít nhất một loại nào đó. Sic plerumque agitat stultos inscitia, như bất kỳ ai tự kiểm điểm hành động của chính mình và người khác sẽ nhận ra.

Charon trong tác phẩm của Lucian, y như cách ông châm biếm tưởng tượng, đã được dẫn đường bởi thần Mercury đến một nơi mà từ đó ông có thể quan sát toàn bộ thế giới cùng một lúc; sau khi đã quan sát kỹ lưỡng và ngó nghiêng chán chê, thần Mercury liền gặng hỏi ông đã quan sát được những gì: Charon liền đáp rằng ông thấy một đám đông vô cùng vĩ đại và hỗn tạp, những chốn dung thân của chúng trông giống như những ụ mối, con người thì lúi húi như bầy kiến, “ông có thể nhận ra các thành phố giống như những cái tổ ong, trong đó mỗi con ong đều mang theo một cái ngòi chích, và chúng chẳng làm gì ngoài việc chích nhau, có những con thống trị như bọn tò ví to lớn hơn phần còn lại, có những con giống như lũ tò ví ăn cắp, có những con thì như ong đực.” Lơ lửng ngay trên đầu chúng là một đám đông hỗn độn gồm các nỗi xáo trộn: niềm hy vọng, nỗi sợ hãi, cơn giận dữ, lòng tham lam, sự dốt nát, v.v., cùng vô số các căn bệnh lơ lửng bủa vây mà chúng cứ liên tục lôi xềnh xệch lên đỉnh đầu mình. Kẻ thì đang cãi lộn, người thì đánh nhau, cỡi ngựa chạy loanh quanh, sollicite ambientes, callide litigantes—tranh giành nhau từng thứ đồ chơi vặt vãnh và những thứ phù du chốc lát ấy. Các thị trấn và tỉnh lỵ của chúng chẳng qua chỉ là những bè phái chia rẽ: người giàu chống người nghèo, người nghèo chống người giàu, tầng lớp quý tộc chống lại đám thợ thủ công, đám thợ thủ công chống lại quý tộc, và những thành phần còn lại cũng thế. Cuối cùng, ông kết án tất cả bọn chúng đều là những kẻ điên rồ, đần độn, lũ lừa: O stulti, quaenam haec est amentia?—Hỡi những kẻ ngốc, sự điên rồ quái đản gì thế này? insana studia, insani labores, v.v.—những nỗ lực điên rồ, những hành động điên rồ, điên, điên, và điên, O saeclum insipiens et infacetum—một thời đại u mê đần độn. Triết gia Heraclitus, xuất phát từ sự chiêm nghiệm nghiêm túc về cuộc đời con người, đã bật khóc nức nở và dùng những giọt nước mắt không dứt để than khóc cho sự khốn cùng, điên rồ và ngu ngốc của họ. Ngược lại, Democritus thì cười phá lên tơi bời, toàn bộ cuộc đời của họ hiện lên trong mắt ông quá ư nực cười, và ông bị cuốn đi xa đến mức thứ cảm xúc châm biếm ấy khiến cư dân Abdera đinh ninh rằng ông đã phát điên, và do đó đã phái các sứ thần đến gặp y sĩ Hippocrates để cầu cứu ông này ra tay chữa trị. Nhưng câu chuyện đó đã được thuật lại một cách tỉ mỉ bởi chính Hippocrates trong bức thư gửi Damogetus, và bởi vì nó hoàn toàn không lạc đề đối với chuyên khảo này, ta xin trích dẫn lại gần như nguyên văn y hệt như những gì được chính Hippocrates truyền đạt, kèm theo mọi hoàn cảnh xoay quanh nó.

Khi Hippocrates đã đặt chân đến Abdera, người dân trong thành phố liền lũ lượt kéo đến vây quanh ông, người thì khóc lóc, kẻ thì van nài ông hãy cố gắng hết sức mình. Sau khi nghỉ ngơi đôi chút, ông liền đi thăm Democritus, đông đảo người dân lũ lượt bám theo sau, và bắt gặp nhà triết gia (như trước đó) đang ngồi một mình trong khu vườn ở ngoại ô, “ngồi trên một tảng đá dưới bóng một cây bạch dương, chân không mang tất cũng chẳng đi giày, trên đầu gối đặt một cuốn sách, đang miệt mài mổ xẻ các loài thú vật và bận rộn nghiên cứu.” Đám đông đứng vây quanh ngây người ngắm nghía cuộc gặp gỡ. Sau một thoáng dừng lại, Hippocrates cất tiếng chào tên ông, và Democritus chào lại, gần như xấu hổ vì không thể gọi tên vị y sĩ kia hoặc đã quên mất nó. Hippocrates liền gặng hỏi ông đang làm gì đấy: Democritus đáp rằng ông đang “bận rộn mổ xẻ nhiều loài động vật khác nhau để tìm ra nguyên nhân gây ra chứng điên rồ và sầu muộn.” Hippocrates cất lời khen ngợi công việc của ông, đồng thời bày tỏ sự ngưỡng mộ trước niềm hạnh phúc và khoảng thời gian nhàn rỗi của ông. Và Democritus liền vặn hỏi lại: Tại sao ngài lại không có được khoảng thời gian nhàn rỗi ấy? Bởi vì, Hippocrates đáp lại, những công việc gia đình bề bộn cản trở, những thứ bắt buộc phải làm cho bản thân, hàng xóm, bạn bè; những khoản chi phí, bệnh tật, sự yếu đuối và cái chết cận kề luôn xảy ra; vợ con, người hầu kẻ hạ, cùng vô số những bận rộn cướp mất thời gian của chúng ta. Trước câu nói đó, Democritus bật cười sảng khoái (trong khi bạn bè và người dân đứng xung quanh lúc ấy lại đang khóc lóc và thương xót cho sự điên rồ của ông). Hippocrates liền hỏi lý do vì sao ông cười. Democritus bảo rằng ông cười trước những thói hư vinh và những trò lố bịch của thời đại, khi thấy con người hoàn toàn trống rỗng trước các hành động đức hạnh, cắm cổ truy đuổi vàng bạc, tham vọng chẳng có điểm dừng; nhọc nhằn tột cùng chỉ vì một chút vinh quang cỏn con và muốn được người đời sủng ái; đào những cái hầm mỏ sâu hoắm vào lòng đất để tìm vàng, để rồi rất nhiều lần chẳng thu về được gì ngoài việc đánh đổi cả sinh mạng và tài sản. Kẻ thì yêu chó, người thích ngựa, kẻ muốn được sai khiến quyền lực ở vô số tỉnh lỵ, thế nhưng bản thân chúng lại chẳng chịu tuân phục bất kỳ ai. Kẻ thì lúc đầu yêu thương vợ tha thiết, nhưng chẳng được bao lâu lại quay sang ruồng bỏ và căm ghét; sinh con đẻ cái với biết bao công sức và tiền bạc tốn kém để nuôi dạy chúng, thế nhưng khi chúng trưởng thành, chúng lại khinh miệt, ghẻ lạnh và bỏ mặc cha mẹ bơ vơ trước lòng thương hại của thế gian. Những hành vi đó chẳng phải đang phơi bày sự ngu ngốc không thể dung tha của họ hay sao? Khi con người sống trong hòa bình thì lại thèm khát chiến tranh, căm ghét sự yên bình, phế truất các vị vua này để đưa những kẻ khác lên thay, tàn sát người đàn ông này chỉ để có thể sinh con với vợ của họ. Con người mang biết bao tâm tính kỳ lạ làm sao! Khi nghèo túng túng thiếu thì họ tìm kiếm sự giàu sang, thế nhưng khi đã có trong tay của cải thì họ lại chẳng biết tận hưởng, mà đem giấu kín dưới lòng đất, hoặc phung phí sạch sành sanh. Hỡi Hippocrates thông thái, ta cười trước những hành vi ngớ ngẩn đó, nhưng ta còn cười lớn hơn nữa khi chẳng có chút kết quả tốt đẹp nào sinh ra từ đó, và khi chúng được thực hiện cho những mục đích tồi tệ đến thế. Chẳng có lấy một chút sự thật hay công lý nào được tìm thấy nơi họ, bởi vì hằng ngày họ kiện tụng lẫn nhau, con kiện cáo cha mẹ, anh em kiện tụng lẫn nhau, họ hàng và bạn bè cùng đẳng cấp cấu xé nhau; và tất cả những điều đó chỉ vì tiền bạc, thứ mà sau khi chết đi họ chẳng thể mang theo làm sở hữu chủ được nữa. Thế nhưng bất chấp điều đó, họ vẫn sẵn sàng phỉ báng và tàn sát lẫn nhau, phạm mọi hành động trái pháp luật, khinh miệt Chúa tể lẫn con người, bạn bè và tổ quốc. Họ đặt rất nhiều tâm sức vào vô số những thứ vô tri vô giác, xem chúng như một phần lớn tài sản của mình, từ những bức tượng, tranh ảnh cho đến những thứ đồ đạc di dời đắt đỏ được chế tác tinh xảo đến mức chỉ thiếu mỗi tiếng nói, thế nhưng họ lại căm ghét những con người bằng xương bằng thịt đang cất tiếng nói chuyện với họ. Những kẻ khác lại theo đuổi những thứ khó nhằn: đang sống trên đất liền vững chãi thì dọn ra đảo ở, rồi từ đảo lại quay về đất liền, chẳng có lấy một chút kiên định nào trong những khao khát của mình. Họ ca ngợi lòng dũng cảm và sức mạnh trong chiến tranh, nhưng lại tự nguyện để bản thân bị chinh phục bởi lòng tham dục và sự tham lam; tóm lại, tâm trí họ rối ren chẳng khác nào thân hình của Thersites. Và giờ đây, hỡi Hippocrates vô cùng đáng kính, ngài không nên trách móc nụ cười của ta khi ngài nhận ra quá nhiều trò ngớ ngẩn nơi con người; bởi vì chẳng có ai đi chế giễu sự ngu ngốc của chính mình, mà chỉ cười vào sự ngu ngốc của kẻ khác, và thế là họ cứ công bằng cười cợt lẫn nhau. Kẻ nát rượu gọi kẻ khác là ham ăn dù hắn biết rõ gã kia hoàn toàn tỉnh táo. Rất nhiều người yêu biển cả, kẻ khác lại thích nghề nông; tóm lại, họ chẳng thể đồng thuận nổi trong chính các ngành nghề và chuyên môn của mình, huống hồ là trong cuộc sống và hành động.

Khi Hippocrates lắng nghe những lời lẽ được thốt ra một cách trôi chảy và không cần chuẩn bị trước ấy, vạch trần sự phù phiếm của thế giới đầy rẫy những sự mâu thuẫn nực cười, ông liền đáp rằng sự cần thiết đã ép buộc con người phải làm vô số những hành động như thế, cùng những ý chí khác nhau nảy sinh từ sự cho phép của thần linh để chúng ta không phải ngồi không ăn bám, bởi vì chẳng có gì đáng ghét đối với họ bằng sự lười biếng và chểnh mảng. Hơn thế nữa, con người không thể lường trước được các sự kiện tương lai trong sự bấp bênh này của các vấn đề nhân thế; họ sẽ chẳng đời nào kết hôn nếu có thể tiên đoán trước các nguyên nhân dẫn đến sự ghẻ lạnh và ly tán của mình; hoặc các bậc phụ huynh sẽ chẳng đời nào yêu thương chăm sóc con cái quá mức như thế nếu họ biết trước giờ chết của chúng; hoặc một người nông dân sẽ chẳng gieo hạt nếu hắn nghĩ sẽ chẳng có mùa màng thu hoạch; hoặc một thương nhân sẽ chẳng dám mạo hiểm ra khơi nếu hắn thấy trước cảnh đắm tàu; hoặc nhận làm quan magistrate nếu sắp sửa bị phế truất. Hỡi Democritus đáng kính, ai ai cũng hy vọng vào những điều tốt đẹp nhất, và họ làm mọi việc vì mục đích đó, thế nên chẳng có nguyên nhân hay cơ sở nực cười nào để phải cười cợt cả.

Democritus lắng nghe lời biện hộ nghèo nàn đó, lại cất tiếng cười vang sảng khoái khi nhận ra vị y sĩ đã hiểu lầm hoàn toàn ý mình và chẳng tài nào nắm bắt nổi những gì ông vừa giảng giải về các nỗi xáo trộn cùng sự bình yên của tâm trí. Đến mức mà, nếu con người biết điều phối hành động của mình bằng sự thận trọng và dự liệu, họ sẽ chẳng bao giờ tự biến mình thành lũ ngốc như hiện tại, và ông sẽ chẳng có lý do gì để bật cười; nhưng (ông nói) họ cứ phổng mũi kiêu ngạo trong cuộc đời này như thể họ là những bậc bất tử và các vị á thần, tất cả chỉ vì thiếu sự hiểu biết. Chỉ cần họ chịu suy ngẫm về sự đổi thay vô thường của thế giới này, và cách nó quay cuồng vần vũ, chẳng có điều gì là vững chãi và chắc chắn, thì chừng đó cũng đủ để làm họ trở nên khôn ngoan rồi. Kẻ ngày hôm nay đang ở trên cao, ngày mai đã rơi xuống tận bùn đen; kẻ hôm nay ngồi bên phía này, ngày mai đã bị quăng quật sang phía bên kia: và vì chẳng chịu suy ngẫm những vấn đề này, họ sa chân vào vô số phiền toái rắc rối, khao khát những thứ vô tích sự và thèm khát chúng đến mờ mắt, lao đầu xuống vực thẳm của muôn vàn tai ương. Thế nên nếu con người chỉ mưu cầu những gì trong sức chịu đựng của mình, họ sẽ dẫn dắt những cuộc đời đầy mãn nguyện, và khi học được cách tự thấu hiểu bản thân, họ sẽ biết kìm hãm tham vọng của mình, họ sẽ nhận ra rằng thiên nhiên đã đủ đầy sẵn có mà chẳng cần phải đi tìm những thứ xa hoa phù phiếm và vô tích sự vốn chẳng mang lại điều gì ngoài nỗi buồn phiền và quấy rầy. Giống như một cơ thể béo phì dễ mắc bệnh tật, những kẻ giàu có cũng dễ mắc phải những sự ngớ ngẩn lố bịch, vô số các tai họa và rắc rối tréo ngoe. Có rất nhiều kẻ chẳng thèm để tâm đến những tai họa giáng xuống đầu người khác do thói giao du tồi tệ, và vì thế tự hủy diệt chính mình qua những con đường y hệt bởi chính lỗi lầm của bản thân, chẳng thèm lường trước những hiểm nguy rành rành trước mắt. Đó chính là những điều (hỡi kẻ còn điên rồ hơn cả sự điên rồ, ông nói) mang lại cho ta chất liệu để bật cười, khi phải gánh chịu những nỗi đau từ sự vô đạo đức của các ngươi, từ thói tham lam, sự đố kỵ, ác tâm, những tội ác tày trời, bạo loạn, lòng tham không đáy, âm mưu cùng vô số các thói hư tật xấu không thể chữa trị; chưa kể đến sự giả dối và đạo đức giả của các ngươi, che đậy lòng căm thù tận xương tủy dành cho nhau nhưng lại trưng ra một vẻ bề ngoài tốt đẹp, lao đầu vào mọi thú vui nhơ nhớp và vi phạm mọi thứ luật lệ từ tự nhiên cho đến phép xã giao. Rất nhiều thứ sau khi đã từ bỏ, chẳng được bao lâu họ lại đâm đầu vào làm lại từ đầu: nghề nông, nghề hàng hải; rồi lại bỏ dở, đúng là những kẻ thay lòng đổi dạ và vô định làm sao! Khi còn trẻ thì mong muốn được già đi, đến lúc già lại thèm muốn tuổi trẻ. Các vị vương công ca ngợi đời sống ẩn dật; những kẻ ở ẩn lại thèm khát vinh quang chức tước; một vị quan chức ca ngợi cuộc sống yên bình; một kẻ đang sống yên bình lại ao ước được ngồi vào ghế quyền lực và bắt người khác phải tuân phục mình như ông ta: và nguyên nhân của tất cả những điều này là gì, nếu không phải vì họ không thèm hiểu rõ chính mình? Kẻ thích tàn phá, người thích xây dựng, kẻ phá hủy đất nước này để làm giàu cho đất nước khác và cho chính bản thân hắn. Trong tất cả những điều đó, họ hệt như những đứa trẻ chẳng có lấy một chút khả năng phán đoán hay mưu lược nào, chẳng khác nào dã thú, ngoại trừ việc dã thú còn khôn ngoan hơn họ ở chỗ chúng biết hài lòng với những gì thiên nhiên ban tặng. Khi nào ngươi thấy một con sư tử đem vàng đi chôn giấu dưới lòng đất, hay một con bò đực tranh giành bãi cỏ tốt hơn cơ chứ? Khi một con lợn rừng khát nước, nó uống vừa đủ lượng nước phục vụ cho nó chứ không hơn; và khi cái bụng đã căng tròn, nó ngừng ăn: thế nhưng con người lại vô độ trong cả hai điều đó—giống như trong chuyện sắc dục—họ khao khát hoan lạc xác thịt vào mọi thời điểm cố định, còn con người thì bất kể lúc nào, qua đó tự tay hủy hoại sức khỏe thể xác của chính mình. Và việc nhìn thấy một gã ngốc đa tình tự trau chuốt bản thân vì một ả đàn bà, khóc lóc, hú hét vì một mụ đàn bà xấu xí, một ả nhà quê đôi lúc có thể rước về cho mình những nhan sắc tuyệt mỹ nhất, chẳng phải là một điều đáng cười hay sao? Liệu có phương thuốc y khoa nào chữa nổi căn bệnh này không? Ta tiến hành mổ xẻ và phanh phui những con dã thú khốn tội ấy, để nhìn thấu những sự rối loạn, thói phù phiếm và sự ngu ngốc này, thế nhưng bằng chứng ấy lẽ ra nên được thực hiện trên chính cơ thể con người nếu bản tính hiền hòa của ta chịu đựng nổi; con người ngay từ khoảnh khắc lọt lòng mẹ đã là sinh vật khốn cùng nhất: yếu ớt, ốm đau bệnh tật; khi còn bú mớm thì được dẫn dắt bởi người khác, khi lớn khôn thì hành nghề bất hạnh và trở nên bướng bỉnh cứng đầu, và đến tuổi già lại hóa thành trẻ con một lần nữa để rồi phải hối hận về quãng đời đã qua của mình.

Và khi đang bị ngắt lời bởi một người mang sách đến, ông lại tiếp tục cắm cổ vào nghiên cứu, rằng tất cả đều điên rồ, bất cẩn và ngu đần. Để chứng minh những lời phát biểu trước của ta, hãy nhìn vào các triều đình hoặc các dinh thự tư gia. Các thẩm phán đưa ra phán quyết dựa trên lợi ích cá nhân của họ, gây ra những bất công rành rành cho những kẻ vô tội khốn cùng để làm vừa lòng kẻ khác. Các công chứng viên xào nấu lại phán quyết, và vì tiền bạc mà đánh mất văn kiện. Kẻ thì làm tiền giả, kẻ khác làm cân giả. Kẻ thì bất hiếu với cha mẹ, thậm chí loạn luân với chính chị em ruột của mình; kẻ khác thì viết những bài phao tus văng mạng và châm biếm bôi nhọ những người có lối sống tốt đẹp trong khi lại ca ngợi những kẻ đồi bại đốn mạt. Kẻ thì cướp người này, kẻ thì cướp người nọ; các quan chức đặt ra luật pháp để chống lại bọn trộm cắp, nhưng bản thân họ lại chính là những tên trộm khốn nạn nhất. Kẻ thì tự sát, người khác thì chìm trong tuyệt vọng vì không đạt được điều mình muốn. Kẻ thì nhảy múa, ca hát, cười cợt, yến tiệc linh đình, trong khi những kẻ khác lại thở dài, tàn tạ, đau buồn và khóc lóc vì chẳng có lấy một hạt cơm, ngụm nước hay mảnh áo che thân. Kẻ thì chưng diện lồng lộn cho thể xác trong khi tâm trí lại ngập tràn những thói hư tật xấu đáng nguyền rủa. Kẻ thì chạy đôn chạy đáo để làm chứng gian và thốt ra bất kỳ điều gì vì tiền bạc; và mặc dù các thẩm phán thừa biết điều đó, nhưng vì đút lót mà họ làm ngơ cho qua chuyện, dung túng cho những hợp đồng giả mạo chiến thắng công lý. Phụ nữ dành cả ngày để trang điểm chải chuốt nhằm làm đẹp lòng người khác ngoài xã hội, nhưng khi về nhà thì lôi thôi lếch thếch như mụ ở bẩn, chẳng thèm quan tâm đến việc làm vừa lòng chính người chồng mà lẽ ra họ phải chiều chuộng. Khi con người ta quá ư thay lòng đổi dạ, đần độn và mất kiểm soát như thế, tại sao ta lại không được phép cười vào mặt những kẻ xem sự ngu ngốc là sự khôn ngoan, nhất định không chịu chữa trị và hoàn toàn chẳng nhận thức được điều đó?

Trời đã về chiều: Hippocrates từ biệt ông; và ngay khi ông vừa bước đi, toàn bộ cư dân lại lũ lượt kéo đến vây quanh để hỏi xem ông đánh giá thế nào về nhà triết gia. Ông ngắn gọn thông báo rằng, ngoại trừ những sự bất cẩn nhỏ nhặt về trang phục, cơ thể và chế độ ăn uống, thế giới không có lấy một ai khôn ngoan hơn, uyên bác hơn và lương thiện hơn thế, và họ đã hoàn toàn bị lừa dối khi tuyên bố ông bị điên.

Democritus có cái nhìn về thế giới như thế đấy vào thời đại của ông, và đó chính là nguyên nhân dẫn đến tiếng cười của ông; và ông hoàn toàn có lý.

Olim jure quidem, nunc plus Democrite ride;

Quin rides? vita haec nunc mage ridicula est.

Democritus đã đúng khi cười vào thời xưa,

Ông có lý do chính đáng, nhưng ngày nay còn phải cười lớn hơn nữa;

Cuộc đời của chúng ta lúc này nực cười biết bao

So với thời của ông, hoặc thuở xa xưa trước đó.

Chưa bao giờ có nhiều lý do để cười như lúc này, chưa bao giờ có lắm lũ ngốc và kẻ điên rồ đến thế. Chỉ một mình Democritus là không đủ để cười trong thời đại này; chúng ta lúc này đang cần đến một “Democritus để cười nhạo Democritus”; một tên hề để chế giễu một tên hề khác, một gã ngốc để mỉa mai một gã ngốc khác: một Democritus vĩ đại cất tiếng vang như tiếng loa Stentor, to lớn hệt như bức tượng Colossus xứ Rhodes. Bởi vì giờ đây, như Salisburiensis từng nói vào thời của ông: totus mundus histrionem agit—toàn bộ thế giới này đang đóng kịch; chúng ta có một sân khấu mới, một khung cảnh mới, một vở hài kịch về những sai lầm mới, một đoàn diễn viên đóng giả mới, volupiae sacra (y như cách Calcagninus vui vẻ tưởng tượng trong các câu chuyện ngụ ngôn của ông) được cử hành trên khắp toàn cầu, nơi tất cả các diễn viên đều là những kẻ điên rồ và ngốc nghếch, cứ mỗi giờ lại thay đổi trang phục hoặc vớ lấy bất kỳ thứ gì có sẵn ngay trước mặt. Kẻ hôm nay là thủy thủ, ngày mai đã thành dược sĩ; lúc là thợ rèn, lúc lại hóa triết gia trong các trò chơi volupiae của hắn; vị vua hiện tại đang đội vương sinh, khoác áo choàng, cầm quyền trượng, có kẻ hầu người hạ, lát sau đã tự tay lùa một con lừa chở nặng đi trước mặt mình y như một gã phu xe, v.v. Nếu Democritus còn sống đến ngày nay, ông sẽ chứng kiến những sự đổi thay kỳ lạ, một đoàn quân mới gồm những chiếc mặt nạ giả tạo, những gã phất cờ, những con lừa xứ Cuma, những kẻ hóa trang, vũ hội mummers, những con rối được sơn phết, những lớp vỏ bên ngoài, những bóng ma kỳ quái, lũ khờ khỉ, quái vật, những cái đầu rỗng tuếch, những con bướm. Và quả thực có rất nhiều kẻ như thế (nếu mọi điều ta đọc được là sự thật). Bởi vì khi đám cưới của Zeus và Hera được cử hành vào thuở xưa, tất cả các vị thần đều được mời đến dự tiệc, cùng vô số các nhân vật quý tộc khác: trong số đó có Crysalus, một vị hoàng tử người Ba Tư, được hộ tống hoành tráng, giàu có trong những bộ y phục bằng vàng, trang phục rực rỡ, với một sự hiện diện oai nghiêm, nhưng thực chất bên trong lại là một con lừa. Các vị thần nhìn thấy hắn bước vào với vẻ phô trương và quyền uy tột độ ấy liền đứng bật dậy để nhường chỗ cho hắn, ex habitu hominem metientes—đo lường con người qua bề ngoài trang phục; thế nhưng Zeus nhận ra bản chất hắn thực chất là một kẻ hời hợt, kỳ quái và nhàn rỗi, liền biến hắn cùng đám tùy tùng kiêu ngạo của hắn thành những con bướm: và cho đến nay chúng vẫn tiếp tục (theo những gì ta biết) bay lượn trong những chiếc áo khoác sặc sỡ, và được gọi là chrysalides bởi những kẻ khôn ngoan hơn; nghĩa là những kẻ mang lớp vỏ ngoài bằng vàng, lũ ong đực, những con ruồi, và những sinh vật chẳng có chút giá trị nào. Vô số những kẻ như thế, v.v.

ubique invenies

Stultos avaros, sycophantas prodigos.

Democritus sẽ còn quan sát thấy biết bao sự bổ sung, sự gia tăng chóng mặt của sự điên rồ, ngu ngốc và thói hư vinh, nếu ông bây giờ có dịp du hành, hoặc xin được phép của Pluto để ghé thăm trần gian ngắm nhìn thế thái nhân tình y như Charon từng làm trong tác phẩm của Lucian khi đến thăm các thành phố Moronia Pia và Moronia Felix: ta chắc chắn rằng ông sẽ cười đến rách cả quai ruột. Si foret in terris rideret Democritus, seu, v.v.

Một nhà châm biếm người La Mã vào thời của ông từng cho rằng mọi thói hư tật xấu, sự ngu ngốc và điên rồ đều đã dâng trào đến đỉnh điểm ở con triều cường—Omne in praecipiti vitium stetit.

Sử gia Josephus từng quở trách đồng bào Do thái của ông vì thói khoe khoang những thói hư tật xấu của mình, công khai hóa những sự ngu ngốc của bản thân, và thi thố với nhau xem ai là kẻ nổi bật nhất trong các tội ác; thế nhưng chúng ta còn tuôn chảy mạnh mẽ hơn thế trong sự điên rồ, vượt xa bọn họ rất nhiều,

Mox daturi progeniem vitiosorem,

Và với những tội ác chưa từng được biết đến đối với chúng ta,

Con cháu chúng ta sẽ tự khắc định hình thời đại tương lai của chính chúng,

và hồi kết (ngươi biết rõ đó là lời phán quyết của ai) có lẽ sẽ còn tồi tệ hơn nữa. Không thể phủ nhận rằng thế giới này thay đổi qua từng ngày—Ruunt urbes, regna transferuntur, v.v., variantur habitus, leges innovantur, như Petrarch đã quan sát, chúng ta thay đổi ngôn ngữ, trang phục, luật lệ, phong tục, thói quen, nhưng tuyệt đối không thay đổi các thói hư tật xấu, không thay đổi bệnh tật, hay các triệu chứng của sự ngu ngốc và điên rồ, chúng vẫn y nguyên như thế. Và hệt như một dòng sông mà chúng ta thấy, vẫn giữ nguyên tên gọi và vị trí dòng chảy, nhưng dòng nước thì không hề cũ, và cứ thế mãi mãi trôi đi,

Labitur et labetur in omne volubilis aevum;

thời đại và con người của chúng ta thay đổi, nhưng thói hư tật xấu thì vẫn y hệt và sẽ mãi là như thế; hãy nhìn xem cách chim họa mi hót thuở xưa, gà gáy, bò rống, cừu kêu be be, chim sẻ hót líu lo, chó sủa, chúng vẫn làm thế cho đến tận ngày nay: chúng ta vẫn duy trì sự điên rồ của mình, vẫn đóng vai những kẻ ngốc—nec dum finitus Orestes; chúng ta mang những tâm tính và khuynh hướng hệt như các bậc tiền bối của mình; ngươi sẽ thấy tất cả chúng ta đều giống nhau, chẳng khác là bao, chúng ta và con cháu của chúng ta,

Et nati natorum, et qui nascuntur ab illis.

Và con cháu của con cháu họ, cùng những kẻ sinh ra từ họ.

Và hậu thế của chúng ta sẽ tiếp tục duy trì điều đó cho đến tận hồi kết. Nhưng nói về thời đại hiện tại.

Nếu Democritus còn sống đến ngày nay và tận mắt chứng kiến sự mê tín của thời đại chúng ta, sự điên rồ mang màu sắc tôn giáo—Religiosam insaniam, y như cách Meteran gọi nó—với ngần ấy người tự xưng là tín đồ Cơ đốc giáo nhưng lại có quá ít kẻ noi theo tấm gương của Đấng Christ; bàn về tôn giáo thì lắm thế, học thức đầy mình nhưng lương tâm thì chẳng có bao nhiêu; sự hiểu biết ngập tràn, các nhà truyền giáo vô số kể nhưng thực hành thì nhỏ giọt; sự đa dạng của các giáo phái, cái thói giữ khư khư lập trường ở mọi phe phái—obvia signis signa, v.v.—những truyền thống và nghi lễ vô lý lố bịch đến thế: Nếu ông bắt gặp một tu sĩ Capuchin, một tu sĩ dòng Phanxicô, một tu sĩ dòng Tên theo tư tưởng Ph-ri-sê, một con người mang lốt rắn, một tu sĩ cạo trọc đầu mặc áo dòng, một tu sĩ khất thực, hoặc diện kiến Chúa tể và Tôn sư tối cao đội vương miện ba tầng của họ, người kế vị của thánh Phê-rô tội nghiệp—servus servorum Dei—kẻ từng dùng chân đạp đổ các vị vua, giẫm lên cổ các hoàng đế, bắt họ phải đứng dưới cổng thành bằng chân trần không tất, cầm cương và bước đi bên chiếc bệ của mình, v.v. (Ôi, giá như Phê-rô và Phao-lô còn sống để chứng kiến cảnh tượng này!): Nếu ông quan sát thấy một vị vương công quỳ rạp thành kính đến mức hôn lên ngón chân của vị giáo hoàng ấy, và đám hồng y đội mũ đỏ vốn chỉ là những linh mục xứ đạo nghèo hòan thuở xưa nay lại trở thành bạn bè của các bậc vương tôn; ông sẽ thốt lên điều gì đây? Coelum ipsum petitur stultitia. Giá như ông gặp phải một số đoàn hành hương sùng đạo của chúng ta đang lê lết chân trần đi đến Jerusalem, Đức Mẹ Lauretto, Rome, đền thờ của thánh S. Iago, thánh Thomas, để bò lết trước những thánh tích giả mạo bị sâu mọt đục khoét ấy; giá như ông có mặt trong một buổi lễ thánh và chứng kiến cảnh hôn hít các tấm bình an paxes, thánh giá, những cái cúi rạp người, những cái lạy lục, trang phục và nghi lễ đủ loại của họ, những bức tranh thánh, các sắc lệnh ân xá, sự tha tội, các buổi canh thức, ăn chay, lễ hội, làm dấu thánh, gõ ngực, quỳ gối đọc kinh Kính Mừng, tiếng chuông trống kèm theo biết bao thứ tương tự,

—jucunda rudi spectacula plebi,

lẩm bẩm những lời cầu nguyện bằng thứ ngôn ngữ ngọng nghịu và đọc tràng hạt. Giá như ông tận tai nghe một bà cụ đọc kinh bằng tiếng Latinh, hành động vẩy nước thánh và đi rước kiệu,

———incedunt monachorum agmina mille;

Quid momerem vexilla, cruces, idolaque culta, &c.

Những cuốn sách kinh nguyện, chiếu chỉ bùa chú, những hạt đậu được ban phước, các nghi thức trừ tà, tranh ảnh, thánh giá kỳ quái, những câu chuyện ngớ ngẩn và các thứ đồ chơi vặt vãnh. Giá như ông đọc qua cuốn Truyền thuyết Vàng—Golden Legend—Kinh Quran của người Thổ Nhĩ Kỳ, hay Kinh Talmud của người Do Thái, những lời bình luận của các giáo sĩ Rabbi, ông sẽ nghĩ gì đây? Ngươi nghĩ tâm trạng của ông sẽ bị tác động ra sao? Giá như ông mổ xẻ một cách tường tận hơn cuộc đời của một tu sĩ dòng Tên trong số những kẻ khác, ông sẽ chứng kiến một kẻ đạo đức giả mở miệng ra là nói chuyện nghèo khó, thế nhưng lại sở hữu khối lượng tài sản và đất đai nhiều hơn cả các vị vương công, nắm giữ những kho báu và nguồn thu nhập vô tận; dạy người khác ăn chay trong khi bản thân lại ăn uống phè phỡn như heo; hệt như những người chèo thuyền nhìn hướng này nhưng lại chèo hướng khác. Tuyên thệ giữ gìn trinh tiết, mở miệng là bàn chuyện thanh cao thánh thiện, thế nhưng thực chất lại là một mụ tú bà khét tiếng và là một kẻ tà dâm lừng danh—lascivum pecus, một con dê đực chính hiệu. Những tu sĩ theo đúng nghĩa vụ dòng tu, từ bỏ thế gian và mọi thói phù phiếm của nó, thế nhưng lại là một bè lũ theo chủ nghĩa Machiavelli nhúng tay sâu vào mọi vấn đề của nhà nước: những con người thánh thiện, những sứ giả hòa bình, thế nhưng bên trong lại được cấu thành từ sự đố kỵ, lòng tham dục, tham vọng, sự thù hận và ác ý; những kẻ châm ngòi lửa đỏ, adulta patriae pestis, những kẻ phản bội, sát thủ—hac iter ad astra—và điều này được xem là làm việc phước đức vượt mức để tích công đức thiên đàng cho bản thân lẫn người khác. Giá như ông tận mắt chứng kiến ở phe đối lập, một số tín đồ ly giáo khó tính và kỳ quặc ở một thái cực khác, căm ghét mọi nghi lễ, thà mất đi sinh mạng và bổng lộc còn hơn là thực hiện hay chấp nhận bất kỳ điều gì mà những kẻ theo đạo Phổ từng sử dụng trong quá khứ, dẫu đó chỉ là những thứ mang tính trung lập (trong khi chính họ mới là Giáo hội chân chính—sal terrae—dẫu là lũ nhạt nhẽo ngớ ngẩn nhất). Những kẻ hình thức chủ nghĩa, xuất phát từ sự sợ hãi và tính hèn mạt nịnh bợ, quay vòng vòng như những chiếc chong chóng gió, một bè lũ chuyên thời cơ, sẵn sàng ôm ấp và duy trì mọi thứ đang hoặc sẽ được đề xuất với hy vọng được thăng tiến: một bè lũ theo chủ nghĩa Epicurus khác, lẩn khuất rình rập như những con kền kền đang chờ đợi con mồi là tài sản của Giáo hội, sẵn sàng phất lên từ sự sụp đổ của bất kỳ ai: như Lucian từng nói trong một hoàn cảnh tương tự, ngươi nghĩ Democritus sẽ làm gì nếu ông chứng kiến những sự kiện này?

Hoặc giá như ông quan sát thấy đám đông quần chúng lũ lượt bám theo sau hệt như một bầy cừu đi theo một con dẫn đầu bị lôi xếch qua khe hở bởi đôi sừng, người thì vì sự cuồng tín, kẻ thì vì nỗi sợ hãi—quo se cunque rapit tempestas—tin tưởng tất cả mọi thứ, chẳng thèm kiểm tra bất cứ điều gì, thế nhưng lại sẵn sàng bỏ mạng trước khi chịu từ bỏ bất kỳ nghi lễ nào mà họ đã quen thuộc; những kẻ khác vì thói đạo đức giả mà năng nổ đi lễ nghe giảng đạo, đấm ngực, trợn ngược mắt, ra điều sùng đạo, khao khát cải cách, thế nhưng thực chất lại là những kẻ cho vay nặng lãi khét tiếng, những kẻ hút máu người, những con quái vật đội lốt người, những con chim ác điểu Harpy, những con quỷ dữ trong đời sống thực tế, thể hiện ra mọi thứ ngoại trừ sự chân thật.

Ông sẽ thốt lên điều gì khi nhìn thấy, nghe và đọc về ngần ấy trận chiến đẫm máu, ngần ấy hàng ngàn người ngã xuống cùng một lúc, những dòng máu đỏ tươi đủ sức quay cả cối xay: unius ob noxam furiasque, hay chỉ để làm trò vui cho các vị vương công, chẳng vì một lý do chính đáng nào cả, “vì những tước hiệu hão huyền” (như Augustine nói), “sự ưu tiên, một ả đàn bà nào đó, hoặc những thứ đồ chơi vặt vãnh tương tự, hoặc xuất phát từ khao khát thống trị, lòng kiêu ngạo, ác tâm, sự trả thù, sự ngu ngốc, điên rồ” (toàn là những lý do tuyệt vời—ob quas universus orbis bellis et caedibus misceatur), trong khi các nhà chính trị gia thì ung dung an toàn ở hậu phương, phè phỡn trong mọi thú vui và khoái lạc, thư thái tận hưởng và theo đuổi các ham muốn của mình, chẳng thèm đếm xỉa gì đến những nỗi khốn khổ không thể tưởng tượng nổi mà các binh lính nghèo hèn phải gánh chịu, những vết thương tích dày đặc, cơn đói khát, v.v., những nỗi lo âu thê thảm, sự tra tấn, tai họa và áp bức đồng hành cùng những cuộc chiến đó, họ chẳng hề cảm nhận hay thèm để ý tới. “Đó là cách các cuộc chiến tranh bùng nổ, thông qua sự xúi giục của một vài kẻ đồi bại, nóng nảy, nghèo túng, lỏng lẻo, đám sĩ quan hám ăn, những kẻ nịnh bợ bợ đỡ, lũ hiếu chiến bất an, những kẻ thích nổi loạn, đám thanh niên non nớt háo thắng, chỉ để làm thỏa mãn cơn giận dỗi cá nhân, thói dâm dục, tham vọng, lòng tham lam của một kẻ,” v.v.—tales rapiunt scelerata in praelia causae. Flos hominum, những chàng trai trẻ khôi ngô tuấn tú, vóc dáng cân đối, được nuôi dạy cẩn thận, đầy đủ khả năng về cả thể xác lẫn trí tuệ, khỏe mạnh, bị dắt đi như những con súc vật đến lò mổ khi đang ở độ tuổi rực rỡ nhất của thanh xuân, sung mãn và sung sức nhất, chẳng có lấy một chút xót thương hay thương xót, bị hiến tế cho thần Pluto, bị tàn sát y như những con cừu để làm thức ăn cho quỷ dữ, 40.000 mạng người trong một nốt nhạc. Trong một nốt nhạc, ta vừa nói thế, nếu thế thì còn có thể chấp nhận được, nhưng những cuộc chiến này cứ kéo dài mãi mãi qua nhiều thế hệ; chẳng có điều gì quen thuộc hơn cái thói chặt chém, tàn sát, tàn phá này—ignoto coelum clangore remugit—họ chẳng thèm quan tâm đến việc bản thân gây ra thói tàn ác nào, miễn là có thể làm giàu cho bản thân ở hiện tại; họ cứ mãi thổi bùng ngọn lửa tranh chấp cho đến khi toàn bộ thế giới này bị thiêu rụi trong biển lửa. Cuộc bao vây thành Troy kéo dài mười năm tám tháng, có tới 870.000 binh sĩ Hy Lạp và 670.000 người thành Troy thiệt mạng khi thành thất thủ, và sau đó có thêm 276.000 đàn ông, phụ nữ cùng trẻ em đủ mọi thành phần bị tàn sát. Caesar đã tiêu diệt một triệu người; Mahomet đệ nhị của Thổ Nhĩ Kỳ tàn sát 300.000 người; Sicinius Dentatus từng tham gia chiến đấu trong một trăm trận chiến, tám lần chiến thắng trong các cuộc đấu tay đôi, mang trên mình bốn mươi vết thương, được thưởng 140 vương miện, chín lần khải hoàn vì những chiến công hiển hách của mình. M. Sergius mang 32 vết thương; Scaeva đại đội trưởng mang bao nhiêu vết thương thì ta không rõ; quốc gia nào cũng sản sinh ra những vị anh hùng kiểu Hektor, Scipio, Caesar và Alexander của riêng họ! Vị vua Edward Đệ tứ của chúng ta từng tham chiến trong 26 trận đánh dưới mặt đất: và y như tất cả những kẻ khác, ông ta tự hào về điều đó, nó được ghi chép lại như một vinh quang của ông ta. Tại cuộc bao vây Jerusalem, 1.100.000 người đã chết vì gươm giáo và nạn đói. Tại trận chiến Cannae, 70.000 binh sĩ đã thiệt mạng, theo ghi chép của Polybius, và số lượng tương tự cũng ngã xuống tại trận địa Battle Abbey của chúng ta; và việc chiến đấu từ sáng sớm cho đến tối mịt chẳng phải là chuyện lạ gì, y như những gì Constantine và Licinius từng làm, v.v. Tại cuộc bao vây thành Ostend (học viện của quỷ dữ) một thị trấn nhỏ bé nghèo nàn nếu so sánh, một pháo đài bé nhỏ nhưng lại là một nấm mồ vĩ đại, 120.000 người đã bỏ mạng, chưa kể vô số các thị trấn, làng mạc và bệnh viện ngập tràn những thương binh tàn tật; ở đó có máy móc, hỏa công, và bất kỳ thứ gì quỷ dữ có thể phát minh ra để gây tổn hại với 2.500.000 viên đạn sắt nặng tới 40 cân Anh được bắn ra, ba bốn triệu đồng vàng bị thiêu rụi. “Ai,” (như tác giả của ta đã thốt lên) “có thể không bàng hoàng trước trái tim sắt đá, sự bướng bỉnh, cơn thịnh nộ, sự mù quáng của họ, những kẻ chẳng có lấy một cơ hội thành công khả quan nào nhưng vẫn đẩy các binh lính nghèo hèn vào hiểm cảnh, dắt mũi họ không thương tiếc đến lò mổ, thứ mà người ta có thể gọi một cách chính đáng là cơn cuồng nộ của loài dã thú hung hãn, cứ lao đầu vào cái chết chẳng cần đến lý trí”: quis malus genius, quae furia quae pestis, v.v.; thảm họa nào, cơn thịnh nộ nào, dịch bệnh nào đã đưa một thứ quỷ quyệt, dã man như chiến tranh lần đầu tiên xâm nhập vào tâm trí con người? Ai đã biến một sinh vật vốn mềm mỏng và yêu chuộng hòa bình, sinh ra là để dành cho tình yêu, sự thương xót và dịu hiền, lại trở nên cuồng nộ, giận dữ y như dã thú, và lao đầu vào sự tự hủy diệt của chính mình? Làm sao Thiên nhiên có thể lên án nhân loại: Ego te divinum animal finxi, v.v.? Ta đã nhào nặn ngươi thành một sinh vật vô hại, tĩnh lặng và mang tính thần thánh cơ mà: làm sao Chúa tể và tất cả những con người lương thiện có thể chất vấn họ được? Thế nhưng, horum facta (như một người đã thốt lên thương cảm) tantum admirantur, et heroum numero habent: đây chính là những tâm hồn dũng cảm, những trang nam nhi hào hoa của thế giới, những kẻ duy nhất được ca tụng, được khải hoàn, được dựng tượng, vương cậm, kim tự tháp, tháp nhọn để lưu danh thiên cổ, rằng linh hồn bất tử đang hộ tống họ, hac iter ad astra. Khi đảo Rhodes bị bao vây, fossae urbis cadaveribus repletae sunt—những con hào của thành phố ngập ngụa xác chết; và y như lúc vị vua Suleiman vĩ đại của Thổ Nhĩ Kỳ bao vây thành Vienna, xác chết nằm chồng chất ngang bằng với đỉnh của các bức thành. Bọn chúng xem đó là một trò vui, và sẵn sàng làm điều đó với chính những người bạn và đồng minh của mình, bất chấp lời thề nguyền, giao ước, hứa hẹn, bằng mưu kế hoặc bất kỳ cách nào khác—dolus an virtus? quis in hoste requirat?—các liên minh và luật lệ chiến tranh (silent leges inter arma), để phục vụ cho lợi ích của chúng, omnia jura, divina, humana, proculcata plerumque sunt—luật lệ của Thiên Chúa và con người đều bị giẫm đạp dưới chân, chỉ có gươm giáo mới quyết định tất cả; để làm thỏa mãn lòng tham dục và cơn giận dữ của mình, chúng chẳng màng bản thân đang mưu tính, thốt ra hay làm bất kỳ điều gì,

Rara fides, probitasque viris qui castra sequuntur.

Chẳng có gì phổ biến hơn cảnh “cha chiến đấu chống lại con trai, anh em chém giết lẫn nhau, họ hàng tương tàn, vương quốc này tiêu diệt vương quốc kia, tỉnh lỵ này tàn sát tỉnh lỵ nọ, tín đồ Cơ đốc giáo tàn sát lẫn nhau”: a quibus nec unquam cogitatione fuerunt laesi—những kẻ chưa từng làm tổn hại họ dù chỉ trong một suy nghĩ, lời nói hay hành động. Những kho báu vô tận bị thiêu rụi, các thị trấn bị thiêu rụi, những thành phố hưng thịnh bị cướp phá và tàn lụi, quodque animus meminisse horret, những vùng đất tươi đẹp bị tàn phá biến thành hoang mạc, cư dân bản địa bị đuổi cổ, thương mại và giao thương ngưng trệ, các trinh nữ bị hủy hoi hoang phế—Virgines nondum thalamis jugatae, et comis nondum positis ephaebi; những người vợ hiền đức cất tiếng than khóc cùng Andromache, Concubitum mox cogar pati ejus, qui interemit Hectorem—họ sớm muộn gì cũng sẽ bị ép buộc phải ngủ chung với kẻ từng tàn sát chồng của họ: để chứng kiến cảnh người giàu, kẻ nghèo, người bệnh, kẻ khỏe, lãnh chúa, đầy tớ, eodem omnes incommodo macti—tất cả đều bị tiêu diệt hoặc tàn phế trong cùng một thảm họa, v.v. Et quicquid gaudens scelere animus audet, et perversa mens, như Cyprian nói, và bất kỳ sự tra tấn, khốn khổ, tai ương nào mà địa ngục, quỷ dữ, cơn giận dữ và sự cuồng nộ có thể phát minh ra nhằm phục vụ cho sự tự hủy diệt của chính chúng; chiến tranh quả là một thứ gớm ghiếc, như Gerbelius đã đúc kết: adeo foeda et abominanda res est bellum, ex quo hominum caedes, vastationes, v.v.—roi da của Thiên Chúa, nguyên nhân, hậu quả, trái ngọt và sự trừng phạt của tội lỗi, chứ không phải tonsura humani generis như Tertullian gọi nó, mà là sự tàn lụi hủy diệt. Giá như Democritus có mặt tại các cuộc nội chiến gần đây ở Pháp, những cuộc chiến gớm ghiếc đó—bellaque matribus detestata—“nơi trong vòng chưa đầy mười năm, mười ngàn người đã bị tàn sát,” theo Collignius, hai mươi ngàn nhà thờ bị lật đổ; chưa kể toàn bộ vương quốc bị lật nhào (như Richard Dinoth bổ sung). Vô số vạn thường dân bị tàn sát dưới gươm giáo, nạn đói, chiến tranh, tanto odio utrinque ut barbari ad abhorrendam lanienam obstupescerent—với một mối hận thù hoang dã đến mức thế giới phải bàng hoàng ghê rợn; hoặc tại những chiến trường Pharsalus gần đây của chúng ta dưới thời Henry Đệ lục, giữa hai phe phái Lancaster và York, một trăm ngàn người đã bỏ mạng, theo ghi chép của một tác giả; tác giả khác ghi nhận mười ngàn gia đình bị nhổ tận gốc rễ, “đến mức không một ai có thể không bàng hoàng,” như Comineus nhận xét, “trước sự dã man tàn bạo, cơn điên rồ hoang dã diễn ra giữa những con người cùng chung một quốc gia, ngôn ngữ và tôn giáo.” Quis furor, O cives? “Tại sao dân ngoại lại phẫn nộ dữ dội đến thế?” như nhà tiên tri David đã hỏi trong Thánh vịnh ii. 1. Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể đặt câu hỏi: tại sao những người theo đạo Cơ đốc lại phẫn nộ dữ dội đến thế?

Arma volunt, quare poscunt, rapiuntque juventus?

Điều đó vốn không thích hợp với dân ngoại, huống hồ là đối với chúng ta, lại đi hành xử độc tài y như cách người Tây Ban Nha ở Tây Ấn từng làm, khi tàn sát trong vòng 42 năm (nếu chúng ta có thể tin tưởng Bartholomeus a Casa, giám mục của chính họ) 12 triệu người, bằng những màn tra tấn tột cùng tinh vi; và ta sẽ chẳng nói dối (ông nói) nếu ta tuyên bố con số đó là 50 triệu. Ta xin bỏ qua những cuộc thảm sát ở Pháp, những buổi chiều kinh hoàng ở Sicily, những chính sách bạo tàn của Công tước xứ Alva, những âm mưu thuốc súng của chúng ta, và thứ bạo lực thứ tư đó, y như cách ai đó gọi nó, tòa án dị giáo Tây Ban Nha, thứ hoàn toàn làm lu mờ mười cuộc đại bách hại thuở trước,

———saevit toto Mars impius orbe.

Chẳng phải đây là mundus furiosus, một thế giới điên rồ, như ông gọi nó, insanum bellum? Chẳng phải những kẻ đó là những kẻ điên rồ, như Scaliger đúc kết, qui in praelio acerba morte, insaniae, suae memoriam pro perpetuo teste relinquunt posteritati—những kẻ để lại vô số trận chiến đẫm máu làm ký ức vĩnh cửu về sự điên rồ của chúng cho tất cả các thế hệ mai sau hay sao? Ngươi nghĩ điều đó có ép buộc Democritus của chúng ta phải bật cười, hay đúng hơn là làm cho ông phải đổi giọng, thay đổi tông giọng, và bật khóc cùng Heraclitus, hoặc đúng hơn là gào thét, gầm rú và vứt bỏ tóc tai để bày tỏ lòng thương cảm, đứng ngây người bàng hoàng; hoặc y như các nhà thơ tưởng tượng rằng Niobe vì đau buồn mà hóa đá hoàn toàn hay không? Ta vẫn chưa nói đến điều tồi tệ nhất, điều ngớ ngẩn và điên rồ hơn thế nữa, trong các cuộc bạo loạn, nổi diệu, chiến tranh phi nghĩa và nội chiến—quod stulte suscipitur, impie geritur, misere finitur. Ý ta muốn nói là những cuộc chiến tranh kiểu đó; bởi vì không phải mọi cuộc chiến tranh đều đáng bị lên án, y như cách những kẻ theo phái Anabaptist tưởng tượng một cách ngớ ngẩn. Các chiến thuật Cơ đốc giáo của chúng ta hoàn toàn cần thiết chẳng kém gì chiến thuật acies của người La Mã hay phalanx của người Hy Lạp, trở thành một người lính là một nghề nghiệp vô cùng cao quý và đáng kính (xét theo thế giới hiện tại), là thứ không thể thiếu được, họ chính là những bức tường và thành lũy vững chắc nhất của chúng ta, và do đó ta hoàn toàn thừa nhận câu nói của Tully là hoàn toàn chính xác: “Mọi vấn đề dân sự của chúng ta, mọi cuộc nghiên cứu, mọi lời biện hộ, sự chăm chỉ và sự ca ngợi đều nằm dưới sự bảo vệ của các đức tính võ bị, và bất cứ khi nào xuất hiện sự nghi ngờ về bạo loạn, mọi nghệ thuật của chúng ta đều ngưng trệ”; chiến tranh vô cùng cần thiết, et bellatores agricolis civitati sunt utiliores, như Tyrius biện hộ: và lòng dũng cảm là điều rất đáng được ca ngợi nơi một người khôn ngoan; nhưng phần lớn họ đều lầm lẫn, auferre, trucidare, rapere, falsis nominibus virtutem vocant, v.v. (Đó là quan sát của Galgacus trong tác phẩm của Tacitus) họ gọi hành vi trộm cắp, mưu sát và cướp bóc là đức hạnh, dùng sai cả tên gọi, những vụ hiếp dâm, tàn sát, v.v., jocus et ludus, chỉ là những trò tiêu khiển dễ thương, như Ludovicus Vives ghi chú. “Họ thường gọi những kẻ hút máu hiếu chiến nhất, những tên trộm mạnh bạo nhất, những tên tội phạm tuyệt vọng nhất, những tên cún con phản bội, những kẻ mưu sát tàn nhẫn, những kẻ tồi tệ nóng nảy, tàn ác và lỏng lẻo là những tâm hồn dũng cảm và hào phóng, những vị đại úy anh dũng và đáng kính, những trang nam nhi cầm gươm cừ khôi, những người lính dũng cảm và lừng danh, bị ám ảnh bởi niềm tin thô lỗ về một thứ vinh quang giả tạo,” y như cách Pontus Huter phàn nàn trong bộ sử ký xứ Burgundy của mình. Chính vì thế mà mỗi ngày có vô số tình nguyện viên dâng hiến bản thân, bỏ lại những người vợ hiền, con cái, bạn bè để đổi lấy sáu xu (nếu họ có thể kiếm được) mỗi ngày, bán rẻ sinh mạng và chân tay, khao khát lao vào các cửa khẩu thành bị phá vỡ, đứng gác phiên gác, mở đợt xung phong đầu tiên, đứng ở hàng đầu tiên của trận tuyến, hiên ngang tiến bước với âm thanh rộn rã của trống kèn, sự hăng hái và hào hứng tột độ, vô số lá cờ bay phấp phới trong gió, áo giáp lấp lánh, những chiếc lông vũ chuyển động, những khu rừng giáo mác và gươm giáo, đủ mọi màu sắc, sự xa hoa và lộng lẫy hệt như thể họ đang tiến bước trong lễ khải hoàn, tiến về Điện Capitol với tư cách là những kẻ chiến thắng, với sự phom phang hệt như khi đoàn quân của đại đế Darius tiến ra để đối đầu với Alexander tại Issus. Hoàn toàn không chút sợ hãi, họ lao đầu vào những hiểm nguy cận kề, miệng pháo, v.v., ut vulneribus suis ferrum hostium hebetent, như Barletius nói, để tậu lấy cái danh xưng dũng cảm, theo đuổi tâm tính và sự hoan hô, thứ chẳng kéo dài lâu, bởi vì thứ danh vọng này chỉ là một tia chớp phù du, và hệt như một đóa hồng, intra diem unum extinguitur, nó vụt tắt chỉ trong nháy mắt. Trong số 15.000 binh sĩ vô sản thiệt mạng trong một trận chiến, hiếm hoi lắm mới có mười lăm người được ghi chép lại trong sử sách, hoặc chỉ duy nhất một người là vị Tướng quân, và sau một thời gian thì tên tuổi của ông ta cùng bọn họ cũng bị xóa sổ, bản thân trận chiến đó cũng bị chìm vào quên lãng. Các nhà hùng biện Hy Lạp, summa vi ingenii et eloquentiae, tường thuật lại những thảm bại lừng danh tại Thermopylae, Salamis, Marathon, Micale, Mantinea, Chaeronea, Plataea. Người La Mã ghi chép lại trận chiến tại Cannae và các chiến trường Pharsalus, nhưng họ cũng chỉ ghi chép, còn chúng ta thì hiếm khi được nghe về chúng. Thế nhưng cái gọi là vinh quang, sự hoan hô của đám đông, khao khát đạt được sự bất tử bằng con đường này, sự kiêu ngạo và thói hư vinh lại liên tục thúc đẩy họ một cách liều lĩnh và thiếu thận trọng để đẩy bản thân cùng vô số người khác vào cái chết. Alexander từng cảm thấy buồn phiền vì chẳng còn thế giới nào khác cho ông chinh phục, ông được một số người ca ngợi vì điều đó—animosa vox videtur, et regia—đó là một câu nói mang phong thái của một vị vương công; thế nhưng y như cách nhà hiền triết Seneca chê bai ông: vox inquissima et stultissima—đó là một câu nói phát ra từ cái miệng của một gã điên hoang tưởng; và câu châm ngôn mà chính Seneca áp dụng cho cha ông và ông, ta xin áp dụng cho tất cả bọn chúng: Non minores fuere pestes mortalium quam inundatio, quam conflagratio, quibus, v.v., chúng gây ra cho nhân loại những thảm họa chẳng kém gì lũ lụt hay hỏa hoạn, những nguyên tố vô cảm khi chúng nổi giận. Điều còn đáng thương tâm hơn nữa là: chúng thuyết phục con người rằng con đường sống địa ngục này là sự thiêng liêng, chúng hứa hẹn thiên đường cho những kẻ mạo hiểm sinh mạng bello sacro, và rằng thông qua những cuộc chiến đẫm máu này, y như cách người Ba Tư, Hy Lạp và La Mã thuở trước, hay người Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại đang làm với dân thường của họ nhằm khích lệ họ chiến đấu—ut cadant infeliciter—“nếu họ ngã xuống trên chiến trường, họ sẽ thẳng tiến lên thiên đường và được phong thánh.” (Ôi, một phát minh quỷ quái!) được đưa vào sử sách, in perpetuam rei memoriam—để lưu danh vĩnh cửu đến muôn đời: trong khi thực tế, y như một số người quan sát, sẽ tốt hơn biết bao (bởi vì chiến tranh là roi da của Thiên Chúa giáng xuống vì tội lỗi, qua đó ngài trừng phạt sự bướng bỉnh và ngu ngốc của phàm nhân) nếu những câu chuyện dã man đó bị cấm tiệt, bởi vì ad morum institutionem nihil habent, chúng chẳng đóng góp gì cho luân lý hay lối sống tốt đẹp cả. Nhưng họ vẫn cứ khăng khăng muốn thế, và do đó họ gán cái nhãn “sự thần thánh lên thảm họa tàn khốc và hiểm độc nhất đối với nhân loại,” tôn sùng những kẻ đó bằng những tước hiệu cao quý, các cấp bậc, tượng đài, hình ảnh, tôn vinh, ca ngợi và ban thưởng hậu hĩnh cho những chiến công hiển hách của chúng, chẳng có vinh quang nào lớn lao hơn việc ngã xuống trên chiến trường. Thế nên Scipio được ca ngợi bởi Ennius: thần Mars, và thần Hercules, cùng không biết bao nhiêu kẻ khác thuở xưa đã được phong thánh; họ bước vào thiên đường bằng con đường này, những kẻ vốn thực chất chỉ là những tên đồ tể đẫm máu, những kẻ tàn phá độc ác và khuấy động thế giới, những quái vật dị thường, những con chó săn địa ngục, những thảm họa dã man, những kẻ ngấu nghiến, những đao phủ chung của nhân loại, y như cách Lactantius đã chứng minh một cách chân thật, và Cyprian gửi Donat, những kẻ liều lĩnh trong chiến tranh, và vội vã tự vẫn (hệt như bộ tộc Celt trong tác phẩm của Damascen, với lòng dũng cảm nực cười, ut dedecorosum putarent muro ruenti se subducere—xem đó là một sự nhục nhã nếu trốn chạy khỏi một bức tường mục nát đang sắp sửa đổ sập xuống đầu họ), những kẻ không chịu lao đầu vào mũi kiếm hay tìm cách né tránh đường đạn pháo đều là những kẻ hèn nhát hạ cấp chứ chẳng có lấy một chút dũng cảm nào. Bằng cách đó, Madet orbis mutuo sanguine—trái đất ngập ngụa trong chính máu của mình,

Saevit amor ferri et scelerati insania belli;

và vì điều đó, nếu hành vi đó được thực hiện ở tư gia, một kẻ sẽ bị phán quyết tử hình nghiêm ngặt, “và điều đó chẳng khác nào tội mưu sát; nhưng nếu chính hành vi đó được thực hiện công khai trong chiến tranh, nó lại được gọi là lòng nam nhi, và kẻ thực hiện được tôn vinh vì điều đó.”

Prosperum et felix scelus,

Virtus vocatur.

Chúng ta đo lường mọi thứ y như cách người Thổ Nhĩ Kỳ làm, thông qua kết quả, và phần lớn, y như cách Cyprian ghi chú trong mọi thời đại, quốc gia, địa điểm: saevitiae magnitudo impunitatem sceleris acquirit—sự tàn ác tột cùng sẽ mang lại quyền miễn trừ cho tội ác. Kẻ này bị trói vào cột vì hành vi mà kẻ khác được vương miện:

Ille crucem sceleris precium tulit, hic diadema;

được phong hiệp sĩ, tước lãnh chúa, bá tước, đại công tước (như Agrippa ghi chú) vì hành vi mà kẻ khác sẽ bị treo cổ lủng lẳng trên giá gãy như một lời cảnh cáo đối với phần còn lại,

———et tamen alter,

Si fecisset idem, caderet sub judice morum.

Và dẫu vậy, một kẻ khác,

Nếu làm y hệt thế, sẽ rơi vào sự phán xét của tòa án luân lý.

Một tên ăn cắp cừu nghèo hèn bị treo cổ vì tội ăn trộm thức ăn, có lẽ do bị ép buộc bởi sự túng quẫn của cái lạnh giá khắc nghiệt, cơn đói khát để cứu bản thân khỏi chết đói: thế nhưng một kẻ quyền quý đương chức có thể ung dung cướp bóc toàn bộ các tỉnh lỵ, đẩy hàng ngàn người vào cảnh khốn cùng, vơ vét bóc lột, áp bức ad libitum, lột da, bóp nát, hành xử bạo ngược, làm giàu cho bản thân từ chiến lợi phẩm của thường dân, hoàn toàn không bị kiểm soát trong mọi hành động của mình, và sau cùng vẫn được đền đáp bằng những tước hiệu cao ngất ngưởng, được tôn vinh vì những chiến công hiển hách, và chẳng một ai dám lên tiếng chê bai hay lẩm bẩm oán thán về điều đó.

Democritus của chúng ta sẽ bị tác động ra sao khi chứng kiến một tên đồi bại hoặc “gã ngốc, một tên đần độn đích thực, một gã thô lỗ ngu ngốc, một con lừa mang lớp vỏ vàng, một con quái vật của nhân loại, lại được rất nhiều người tốt, người khôn ngoan, các học giả vây quanh phục tùng với thái độ cúi rạp tuyệt đối, xem bản thân như một thứ phụ kiện cho sự giàu có của hắn, chỉ vì lý do duy nhất là hắn có nhiều tiền của và tài sản,” “tôn vinh hắn bằng những tước hiệu thần thánh và những tính từ béo bở,” ngập chìm hắn trong những lời ca tụng bốc thơm mà họ thừa biết hắn chỉ là một tên đần, một gã ngốc, một kẻ tham lam bần tiện, một con dã thú, v.v., “chỉ vì hắn giàu có”? Để chứng kiến sub exuviis leonis onagrum—một cái xác hôi thối ghê tởm, một cái đầu Medusa được bơm phồng bởi đám nịnh thần, tự gán cho mình những tước hiệu hào nhoáng, trong khi trí tuệ chỉ bằng một đứa trẻ, một con lừa xứ Cuma, một ngôi mộ được sơn phết, một ngôi đền Ai Cập? Để chứng kiến một khuôn mặt héo hắt, một sắc thái bệnh tật, biến dạng, đầy vết ung nhọt, một thây ma thối rữa, một tâm hồn độc địa như loài rắn rết và một linh hồn theo chủ nghĩa Epicurus được trang hoàng lộng lẫy bằng những viên ngọc trai phương Đông, trang sức, vương miện, nước hoa, những tác phẩm điêu khắc tinh xảo, kiêu ngạo vì trang phục y như một đứa trẻ hãnh diện với chiếc áo mới; trong khi một con người khôi ngô tuấn tú, mang gương mặt thiên thần thánh thiện, một vị thánh, một tâm hồn khiêm nhường, một linh hồn phù hợp lại mặc rách rưới, đi ăn xin và đang chết đói? Để chứng kiến một gã lếch thếch đáng khinh trong trang phục rách rưới, nhưng lời lẽ thì lịch thiệp, tâm hồn thần thánh, khôn ngoan; trong khi một kẻ khác ăn mặc tươm tất, bảnh bao, ngập tràn sự lịch thiệp nhưng bên trong lại trống rỗng ơn phu phúc, chẳng có chút trí tuệ, nói năng nhảm nhí?

Để chứng kiến vô số các luật sư, luật gia, các tòa án, nhưng lại có quá ít công lý; vô số các quan chức, nhưng lại có quá ít sự quan tâm đến lợi ích chung; vô số luật lệ, nhưng trật tự xã hội chưa bao giờ hỗn loạn hơn thế; Tribunal litium segetem—Tòa án là một mê cung, vô số hàng ngàn vụ kiện trong cùng một phiên tòa đôi khi được theo đuổi một cách bạo lực đến thế? Để chứng kiến injustissimum saepe juri praesidentem, impium religioni, imperitissimum eruditioni, otiosissimum labori, monstrosum humanitati?—để chứng kiến một con cừu chịu thi hành án, một con sói đứng lên tuyên án, tên ăn cắp ngồi trên ghế bị cáo, còn tên trộm lại ngự trị trên băng ghế thẩm phán, vị thẩm phán nghiêm khắc trừng phạt người khác trong khi bản thân lại phạm tội nặng hơn, eundem furtum facere et punire, rapinam plectere, quum sit ipse raptor? Luật pháp bị thay đổi, bóp méo, diễn giải xuôi ngược tùy theo việc vị thẩm phán được mua chuộc bởi bạn bè, bị hối lộ hoặc tác động hệt như một cục sáp mềm, hôm nay thế này ngày mai thế khác; hoặc kiên định trong quan điểm của mình, hất hủi quan điểm của người khác? Các phán quyết bị kéo dài, thay đổi ad arbitrium judicis, trong cùng một vụ án, “kẻ này bị tus đuổi khỏi quyền thừa kế, kẻ kia được nhét vào một cách bất hợp pháp nhờ sự sủng ái, những văn kiện hoặc di chúc giả mạo.” Incisae leges negliguntur—luật lệ được đặt ra nhưng không được tuân thủ; hoặc nếu được đưa vào thực thi, thì chỉ có những kẻ nghèo hèn ngớ ngẩn mới bị trừng phạt. Chẳng hạn, giả sử đó là tội tà dâm, người cha sẽ từ quyền thừa kế hoặc phế truất đứa con của mình, tống cổ nó đi thẳng (cút đi, đồ vô lại, biến khỏi đây, đừng có bén mảng xuất hiện trước mặt ta nữa); một kẻ nghèo khổ bị hành hạ thê thảm với việc mất đi gia sản, tài sản, tài vận, danh tính, bị sỉ nhục vĩnh viễn, bị ruồng bỏ và phải chịu hình phạt xác thịt nặng nề nhất; đó là một tội ác tử hình, nhưng xét cho cùng, nunquid aliud fecit, như Tranio từng nói trong thơ ca, nisi quod faciunt summis nati generibus?—hắn chẳng làm điều gì khác ngoài những việc mà tầng lớp quý tộc vẫn thường làm. Neque novum, neque mirum, neque secus quam alii solent. Bởi vì đối với một nhân vật cao quý, thưa ngài đáng kính, một vị đại quý tộc quyền uy, đó không phải là một tội nhẹ, không phải là một peccadillo, hoàn toàn không phải là một tội lỗi gì cả, đó là một chuyện cơm bữa và thông thường, chẳng một ai thèm để ý tới; hắn hiên ngang biện minh cho nó công khai, và thậm chí có lẽ còn khoe khoang về điều đó,

Nam quod turpe bonis, Titio, Seioque, decebat

Crispinum———

Bởi vì những điều vốn đáng xấu hổ đối với những người tốt như Titius và Seius, lại hoàn toàn phù hợp với Crispinus.

Rất nhiều người nghèo, những đứa con thứ, v.v., do chính sách tồi tệ và nền giáo dục lỏng lẻo (bởi vì họ có lẽ chẳng được dạy dỗ để làm bất kỳ ngành nghề nào), bị buộc phải đi ăn xin hoặc đi ăn trộm, để rồi cuối cùng bị treo cổ vì tội trộm cắp; chẳng có điều gì nhục nhã hơn thế, non minus enim turpe principi multa supplicia, quam medico multa funera, đó hoàn lỗi của nhà cầm quyền. Libentius verberant quam docent, y như các giáo viên thường trừng phạt học sinh nhiều hơn là dạy bảo chúng khi chúng làm sai. “Họ cần phải đảm bảo không còn những kẻ trộm cắp và kẻ ăn xin nào nữa, y như cách họ phải làm với chính sách đúng đắn, và triệt tiêu tận gốc các nguyên nhân, thay vì để chúng cứ tiếp tục lao đầu vào con đường tự hủy diệt”; đồng thời nhổ tận gốc những nguyên nhân gây tranh chấp, một số lượng khổng lồ các luật sư, và giải quyết các cuộc tranh chấp lites lustrales et seculares bằng những phương pháp ngắn gọn hơn. Trong khi hiện nay, chỉ vì một món đồ chơi vặt vãnh họ cũng lôi nhau ra tòa—Mugit litibus insanum forum, et saevit invicem discordantium rabies—họ sẵn sàng cắn xé cổ họng lẫn nhau; và vì mục đích lợi ích “để vắt kiệt máu,” như Hierom nói, “ra khỏi trái tim của người anh em mình,” phỉ báng, nói dối, sỉ nhục, bươi móc, chửi rủa, thề thốt khai gian, thề thốt nhảm nhí, chiến đấu và cãi lộn, ném tiền qua cửa sổ tài sản, sinh mạng, bạn bè, tàn sát lẫn nhau chỉ để làm giàu cho một tên luật sư hám lợi, kẻ đang mồi chè trên xác của cả hai và cất tiếng hét Eia Socrates, Eia Xantippe; hoặc một vị thẩm phán hối lộ, kẻ hệt như con diều hâu trong ngụ ngôn của Aesop, trong lúc con chuột và con ếch đánh nhau đã quắp cả hai đi mất. Nhìn chung, chúng cứ cắn xé lẫn nhau y như vô số loài chim săn mồi, dã thú, cá nuốt chửng, chẳng có điểm dừng, omnes hic aut captantur aut captant; aut cadavera quae lacerantur, aut corvi qui lacerant—hoặc lừa đảo hoặc bị lừa đảo; hoặc xé xác người khác hoặc chính mình bị xé xác thành trăm mảnh; y như vô số cái gàu trong giếng nước, kẻ này ngoi lên thì kẻ kia tụt xuống, kẻ này trống rỗng thì kẻ khác đong đầy; sự sụp đổ của kẻ này là chiếc thang cho kẻ thứ ba; các tiến trình thông thường của chúng ta diễn ra là thế đấy. Chợ bách hóa là gì chứ? Một nơi, theo Anacharsis, ở đó người ta lừa đảo lẫn nhau, một cái bẫy; không, bản thân thế giới này là cái gì chứ? Một sự hỗn độn bao la, sự hỗn độn của các thói hư tật xấu, thay đổi thất thường hệt như gió, domicilium insanorum—nơi cư trú của những kẻ điên rồ, một binh đoàn náo loạn ngập tràn sự nhơ nhớp, cái chợ của những linh hồn lang thang, yêu tinh, sân khấu của sự đạo đức giả, cửa hiệu của sự khôn lọi, nịnh bọt, cái vườn ươm của tội ác, sân khấu của thói lắm điều, ngôi trường của sự hời hợt, học viện của thói hư tật xấu; một chiến trường ubi velis nolic pugnandum, aut vincas aut succumbas, nơi bắt buộc phải chiến đấu dù muốn hay không, hoặc chiến thắng hoặc ngã gục; trong đó mỗi người đều lo cho bản thân, vì mục đích tư lợi của mình và đứng vững trên lập trường phòng thủ của chính mình. Chẳng có lấy một chút lòng bác ái, tình yêu, tình bạn, sự kính sợ Thiên Chúa, liên minh, họ hàng, dòng máu, Cơ đốc giáo nào có thể kiềm chế nổi họ, mà bất cứ khi nào họ bị xúc tổn hại theo bất kỳ cách nào, hoặc sợi dây lợi ích bị chạm đến, họ lập tức lật mặt trở mặt cắn xé nhau. Những người bạn cũ bỗng chốc trở thành kẻ thù không đội trời chung chỉ vì những món đồ chơi và những xúc phạm nhỏ nhặt, và những kẻ từng sẵn sàng làm mọi nghĩa vụ tương trợ của tình yêu và lòng tử tế giờ đây lại sỉ nhục và tàn sát lẫn nhau cho đến chết, với một mối hận thù vượt xa cả mối hận của người Vatian, nhất quyết không chịu hòa giải. Chừng nào còn mang lại lợi ích cho nhau, họ còn yêu thương nhau hoặc có thể hỗ trợ lẫn nhau, nhưng khi chẳng còn điều gì tốt đẹp để trông đợi nữa, họ đối xử với nhau hệt như với một con chó già: đem treo cổ hoặc tus cổ nó đi; điều mà Cato xem là một sự bất nhã lớn lao khi đối xử với con người y như với những chiếc giày cũ hay mảnh thủy tinh vỡ bị vứt xó ra đống rác; ông thậm chí chẳng nỡ lòng bán đi một con bò già, huống hồ là vứt bỏ một người đầy tớ già cận kề: thế nhưng họ thay vì đền đáp lại xỉ vả hắn, và khi đã biến hắn thành công cụ cho tội ác của mình, y như cách Bayazet Đệ nhị, Hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ, từng đối xử với Acomethes Bassa: thủ tiêu hắn, hoặc thay vì đền ơn, lại căm thù hắn đến chết, y như cách Silius bị đối xử bởi Tiberius. Tóm lại, ai nấy đều vì mục đích tư lợi cá nhân của mình. Summum bonum của chúng ta chính là lợi ích, và vị nữ thần mà chúng ta tôn sùng là Dea moneta, Nữ hoàng Tiền bạc, kẻ mà mỗi ngày chúng ta đều dâng lễ vật hy sinh, kẻ lèo lái trái tim, đôi tay, tình cảm, tất cả mọi thứ của chúng ta: vị nữ thần quyền năng nhất, kẻ nâng chúng ta dậy, dìm chúng ta xuống, tôn vinh chúng ta, được xem là nữ chúa tể duy nhất điều phối mọi hành động của chúng ta, vì thế mà chúng ta cầu nguyện, chạy, cỡi ngựa, đi, đến, làm việc và tranh giành nhau y như những con cá tranh nhau từng vụn bánh mì rơi xuống nước. Không phải giá trị, đức hạnh (đó chỉ là bonum theatrale), sự khôn ngoan, lòng dũng cảm, học thức, sự trung thực, tôn giáo hay bất kỳ năng lực nào mang lại cho chúng ta sự tôn trọng, mà chính là tiền bạc, quyền lực, chức vụ, danh vọng, uy quyền; sự trung thực bị xem là sự ngu ngốc; sự khôn lọi được xem là sự sắc sảo; con người được ngưỡng mộ dựa trên quan điểm chứ không phải thực chất con người họ: những thói lươn lẹo, nói dối, bợ đỡ, mưu tính, mưu tính ngược lại, thời cơ, nịnh bọt, lừa đảo, giả dối đến mức “bắt buộc con người ta phải xúc phạm Thiên Chúa một cách nặng nề nếu hắn ta muốn thích nghi với thế giới này—Cretizare cum Crete—hoặc nếu không sẽ phải sống trong sự khinh miệt, sỉ nhục và khốn cùng.” Kẻ thì khoác lên mình tấm áo ôn hòa, thánh thiện, người thì khắc khổ, kẻ thứ ba lại mang theo một vẻ ngây ngô giả tạo, trong khi thực chất bản thân hắn, hắn, hắn và những kẻ còn lại đều là những “kẻ đạo đức giả, chơi hai tay hai phía,” những kẻ mang lớp vỏ ngoài, vô số những bức tranh xoay chiều: một con sư tử ở mặt này, một con cừu ở mặt kia. Democritus sẽ bị tác động ra sao khi chứng kiến những điều này! Để chứng kiến một con người tự biến mình thành đủ mọi hình hài y như loài tắc kè hoa, hoặc giống như thần Proteus—omnia transformans sese in miracula rerum—để đóng liền lúc hai mươi vai trò và nhân vật vì lợi ích của bản thân, biết thời cơ ứng biến và thay đổi hệt như hành tinh Thủy Tinh: tốt với người tốt, xấu với kẻ xấu; mang những gương mặt, dáng vẻ và tính cách khác nhau cho từng người mà hắn gặp gỡ; theo mọi tôn giáo, tâm tính, khuynh hướng; nịnh bọt y như một con chó săn—mentitis et mimicis obsequis; gầm gừ y như sư tử, sủa như chó hoang, chiến đấu như rồng, chích nọc như rắn, hiền lành như cừu, thế nhưng đồng thời cũng nhe nanh nhạo bám y như hổ mang, khóc lóc y như cá sấu, lấn lướt kẻ này nhưng lại quỵ lụy trước kẻ khác, ra lệnh ở chốn này nhưng co ro ở chốn kia, độc tài ở nơi nọ nhưng bị sỉ nhục ở chốn kia, khôn ngoan ở nhà nhưng lại hóa thành gã ngốc ngoài xã hội chỉ để mua vui cho thiên hạ.

Để chứng kiến sự khác biệt quá lớn giữa lời nói và việc làm, ngập tràn khoảng cách giữa lưỡi và trái tim, con người hệt như những diễn viên trên sân khấu đóng đủ mọi thể loại vai trò, đưa ra những lời khuyên tuyệt vời cho người khác, bay vút lên tầng mây cao trong khi bản thân lại lê lết sát mặt đất.

Để chứng kiến một con người thề thốt tình bạn, hôn lên tay kẻ mà hắn thèm muốn được thấy bị chém đứt phăng đầu, mỉm cười với dụng ý gây tổn hại hoặc lừa gạt kẻ mà hắn chào hỏi, ca ngợi một người bạn không xứng đáng bằng những lời ca ngợi phóng đại; trong khi kẻ thù dù là một người tốt lại bị hắn bôi nhọ và sỉ nhục, thậm chí mọi hành động của người đó đều bị bươi móc bằng sự khinh bỉ và ác ý tột cùng mà sự ghen ghét có thể phát minh ra.

Để chứng kiến một tên đầy tớ có đủ tiền để mua đứt cả ông chủ của mình, kẻ cầm quyền trượng còn có giá trị cao hơn cả vị quan magistrate, điều mà Plato trong cuốn 11 sách De leg. cấm tuyệt đối, và Epictetus căm ghét tột độ. Một con ngựa cày cu๊ng trên cánh đồng thì chỉ được cho ăn cám rơm, trong khi một con lừa nhàn rỗi lại được ăn ngập mồm ngập miệng yến mạch; kẻ làm giày thì đi chân trần, kẻ bán thịt thì chết đói; một kẻ làm lụng vất vả thì chết đói, trong khi một con ong đực lười biếng lại phất lên.

Để chứng kiến con người mua khói để đổi lấy hàng hóa, những lâu đài xây bằng đầu của những kẻ ngốc, con người hệt như bầy khỉ đua đòi theo mốt trang phục, cử chỉ, hành động: nếu nhà vua cười, tất cả cùng cười;

Rides? majore chachiano

Concutitur, flet si lachrymas conspexit amici.

Alexander cúi đầu, đám quần thần cũng làm y hệt; Alphonsus quay đầu, đám nịnh thần cũng quay theo. Sabina Poppea, vợ của Nero, nhuộm tóc màu hổ phách, lập tức tất cả các phu nhân La Mã đều nhuộm màu ấy, mốt của bà ta trở thành mốt của họ.

Để chứng kiến con người hoàn toàn bị dẫn dắt bởi cảm xúc, được ngưỡng mộ và phán xét dựa trên quan điểm chứ không có chút năng lực phán đoán nào: đám đông quần chúng thiếu suy nghĩ, hệt như bầy chó trong một ngôi làng, hễ có một con sủa lên là tất cả cùng hùa nhau sủa theo chẳng vì lý do gì; giống như cánh quạt của Vận may đổi chiều, nếu một kẻ được sủng ái hoặc được lệnh bởi một nhân vật lớn nào đó, toàn bộ thế giới liền tung hô hắn; nếu hắn thất sủng, lập tức tất cả đều căm ghét hắn, và hệt như khi mặt trời bị nhật thực, những kẻ trước đó chẳng thèm ngó ngàng bỗng dán mắt vào nhìn chằm chằm vào hắn.

Để chứng kiến một con người mang bộ não cất giấu trong cái bụng, ruột gan thì để trên đầu, vác cả trăm cây sồi trên lưng, nuốt trọn cả trăm con bò trong một bữa ăn, không những thế, còn nuốt trọn cả nhà cửa thành phố, hoặc y như đám ăn thịt người Cannibal, nuốt chửng lẫn nhau.

Để chứng kiến một con người cuộn tròn mình lại y như quả cầu tuyết, từ một kẻ ăn mày hèn mọn vươn lên nắm giữ các tước hiệu đáng kính và quyền quý, bất chấp thủ đoạn để chen chân vào các chức vụ quyền lực; trong khi một kẻ khác lại tự tay bóp nghẹt tài năng thiên bẩm của mình, đày đọa linh hồn xuống địa ngục chỉ để vơ vét của cải, thứ mà hắn chẳng thèm tận hưởng, để rồi đứa con hoang đàng của hắn nướng sạch và tiêu hủy trong chớp mắt.

Để chứng kiến thói κακοζηλίαν của thời đại chúng ta, một con người dốc toàn bộ sức lực, phương tiện, thời gian, tài sản để trở thành người sủng ái của người sủng ái của một kẻ sủng ái, v.v., một kẻ nịnh bọt của một kẻ nịnh bọt của một kẻ nịnh bọt, kẻ có thể khinh bỉ thế giới đầy rẫy nô lệ này vì cho rằng bản thân đã có quá đủ rồi.

Để chứng kiến đứa con trai của một gã ăn mày lông bông rậm rạp, kẻ trước đó vốn chỉ quen ăn đồ thừa, lê lết van nài khắp nơi và vì một chiếc áo rách cũ kỹ mà sẵn sàng chạy lon ton sai vặt, nay lại diện áo lụa là sa tanh, hiên ngang cỡi ngựa bảnh bao, vui vẻ và lịch thiệp, quay sang khinh miệt những người bạn cũ và bằng hữu thuở hàn vi, ruồng bỏ họ hàng, lấn lướt những kẻ bề trên hơn mình, thống trị trên tất cả mọi người.

Để chứng kiến một học giả phải cúi rạp luồn lúi trước một gã nông dân dốt nát chỉ để đổi lấy một bữa ăn; một tay thư lại được trả tiền công cao hơn cho một bản hợp đồng; một gã huấn luyện chim ưng nhận mức lương cao hơn cả một sinh viên đại học; một luật sư kiếm tiền trong một ngày còn nhiều hơn cả một triết gia kiếm trong cả năm, phần thưởng cho một giờ làm việc còn hậu hĩnh hơn cả một học giả vùi đầu nghiên cứu suốt mười hai tháng; kẻ biết vẽ tranh Thais, gảy đàn vĩ cầm, uốn tóc, v.v., lại dễ dàng thăng tiến nhanh hơn nhiều so với một nhà ngôn ngữ học hay một nhà thơ.

Để chứng kiến một người mẹ cuồng dại, hệt như con khỉ trong ngụ ngôn của Aesop, ôm con đến chết ngộp; một gã chồng ngốc nghếch làm ngơ trước lòng chung thủy của vợ trong khi lại vô cùng tinh mắt trong mọi vấn đề khác; kẻ thì vấp ngã vì một cọng rơm nhưng lại nhảy qua cả khúc gỗ; cướp của Peter để trả cho Paul; vơ vét những khoản tiền bất chính bằng một tay, tậu những điền trang lớn thông qua tham nhũng, lừa đảo và gian lận, nhưng tay kia lại hào phóng phân phát cho người nghèo, quyên góp phần dư thừa cho các mục đích tôn giáo, v.v. Khôn nhà dại chợ; kẻ mù lóa đi phán xét màu sắc; người khôn ngoan thì im lặng, kẻ ngốc thì ba hoa; chê bai người khác nhưng bản thân lại làm những chuyện tồi tệ hơn; lớn tiếng lên án ở nơi công cộng thứ mà hắn vẫn làm lén lút trong bóng tối; và y như cách Aurelius Victor trích dẫn từ Augustus: nghiêm khắc chỉ trích ở kẻ thứ ba thứ mà chính bản thân hắn là kẻ phạm tội nặng nề nhất.

Để chứng kiến một gã lao công nghèo hèn, hoặc một tên đầy tớ làm thuê liều mạng vì ông chủ mới, kẻ mà dường như sẽ keo kiệt không trả nổi tiền lương cho hắn vào cuối năm; một gã nông dân cày cuốc dầm dãi, cày cấy và làm lụng vất vả cho một tên lười biếng hoang đàng, kẻ ngấu nghiến toàn bộ thành quả lao động hoặc phung phí nó vào những khoản chi phí kỳ quái; một nhà quý tộc lao đầu vào cái chết một cách ngạo mạn để đổi lấy một tia lóe sáng nhỏ nhoi của vinh quang; một kẻ phàm trần run rẩy trước một viên chức thi hành di chúc nhưng lại chẳng hề sợ hãi ngọn lửa địa ngục; khao khát và mong mỏi sự bất tử, thèm muốn được hạnh phúc, thế nhưng bằng mọi giá lại tìm cách né tránh cái chết, cánh cửa bắt buộc phải bước qua để đưa hắn đến điều đó.

Để chứng kiến một kẻ liều mạng ngu ngốc hệt như những người Đan Mạch thuở xưa, qui decollari malunt quam verberari, thà chấp nhận cái chết còn hơn là chịu trừng phạt, trong một tâm trạng ngớ ngẩn ôm lấy cái chết đầy hân hoan, thế nhưng lại từ chối việc than khóc cho những tội lỗi và nỗi khốn khổ của chính mình, hay sự ra đi của những người bạn thân thiết nhất.

Để chứng kiến những người khôn ngoan bị giáng chức, những kẻ ngốc được cất nhắc, kẻ cai quản các thị trấn và thành phố, thế nhưng lại bị giật dây ở nhà bởi một mụ đàn bà đần độn; cai quản cả một tỉnh lỵ, thế nhưng chính các đầy tớ hoặc con cái của hắn lại vạch ra luật lệ cho hắn, y như con trai của Themistocles từng làm ở Hy Lạp: “Những gì ta muốn,” cậu ta nói, “thì mẹ ta muốn, và những gì mẹ ta muốn, thì cha ta làm.” Để chứng kiến những con ngựa cỡi trên xe xơ, còn con người thì kéo xe; chó nuốt chửng chủ của chúng; các tòa tháp xây thợ nề; trẻ con cầm quyền; người già đến trường; phụ nữ mặc quần thay đàn ông; cừu phá hủy các thị trấn, nuốt chửng con người, v.v. Và tóm lại, thế giới bị lật nhão tung tóe từ trên xuống dưới. O viveret Democritus.

Việc đi sâu vào từng chi tiết nhỏ nhặt sẽ là một trong những kỳ công của Hercules, bởi vì có quá nhiều các dẫn chứng nực cười, nhiều như những hạt bụi trong ánh mặt trời. Quantum est in rebus inane? (Biết bao nhiêu sự phù vân ngập tràn trong vạn vật!) Và ai có thể kể hết ra cho được? Crimine ab uno disce omnes, hãy xem những điều này làm một ví dụ nhỏ.

Nhưng những điều đó quá ư hiển hiện rõ ràng trước mắt, tầm thường và nổi tiếng, dễ dàng nhận biết. Democritus sẽ bị xúc động đến nhường nào nếu ông được tận mắt chứng kiến những bí mật ẩn giấu trong trái tim họ? Nếu mỗi con người đều mang một khung cửa sổ ngay trước ngực, thứ mà Momus từng mong muốn được thấy ở người nhân tạo của Vulcan, hay điều mà Tully từng tha thiết ao ước được khắc ngay trên trán của mỗi người: Quid quisque de republica sentiret—những suy nghĩ thực sự của họ là gì; hoặc nếu có thể thực hiện được trong chớp mắt điều mà thần Mercury đã làm với Charon trong tác phẩm của Lucian, bằng cách chạm vào đôi mắt của ông để giúp ông nhận ra semel et simul rumores et susurros—những lời đồn thổi và thì thầm trong cùng một lúc.

Spes hominum caecas, morbos, votumque labores,

Et passim toto volitantes aethere curas.

Những niềm hy vọng và ước nguyện mù quáng, những suy nghĩ và công việc của họ,

Những tiếng thì thầm đồn đại và những nỗi lo âu bay lượn đó đây.

Rằng ông có thể cubiculorum obductas foras recludere et secreta cordium penetrare, điều mà Cyprian từng ao ước: mở tung các cánh cửa và ổ khóa, bắn tung các chốt cửa, y như chú gà trống của Lucian từng làm bằng một chiếc lông đuôi của nó; hoặc chiếc nhẫn tàng hình của Gyges, hoặc một chiếc kính viễn vọng quý hiếm nào đó, hay chiếc loa thính giác Otacousticon—thứ phóng đại các sự vật đến mức một con người có thể nghe và thấy tất cả cùng một lúc (giống như vị thần Zeus trong tác phẩm của Martianus Capella cầm trên tay một ngọn giáo trình diễn trước mắt ngài mọi thứ diễn ra hằng ngày trên bề mặt trái đất), quan sát những cặp sừng cắm trên đầu những kẻ mọc sừng, những chiêu trò giả mạo của các nhà giả kim, hòn đá phù thủy của triết gia, những kẻ lập dự án mới, v.v., và tất cả những công trình của bóng tối, những lời thề ngốc nghếch, niềm hy vọng, nỗi sợ hãi và ước nguyện, thì ngần ấy tiếng cười sẽ văng vẳng biết bao? Ông sẽ chứng kiến những chiếc cối xay gió trong đầu của kẻ này, cái tổ ong bắp cày trong đầu kẻ nọ. Hoặc nếu ông có mặt cùng Icaromenippus trong tác phẩm của Lucian tại căn phòng thì thầm của thần Zeus, và nghe thấy kẻ thì cầu xin mưa thuận gió hòa, kẻ khác xin thời tiết đẹp; người cầu xin cho vợ chết, kẻ xin cho cha chết, v.v., “đem những điều mà bản thân cảm thấy xấu hổ nếu để bất kỳ ai nghe thấy ra để cầu xin thần linh”: Làm thế nào ông có thể không bối rối cho được? Ngươi nghĩ ông, hay bất kỳ ai khác, có thể thốt lên rằng những kẻ này hoàn toàn minh mẫn tỉnh táo hay chăng?

Haec sani esse hominis quis sanus juret Orestes?

Liệu có kẻ điên Orestes nào thề thốt rằng những kẻ này là người bình thường hay chăng?

Liệu toàn bộ rễ cây lê lư ở xứ Anticyrae có thể chữa lành được cho những con người này không? Chắc chắn là không rồi, “một sào rễ lê lư cũng chẳng đời nào làm nổi điều đó.”

Đáng buồn thay, họ cũng điên cuồng như người đàn bà mù trong chuyện của Seneca, chẳng những không chịu nhận ra hay tìm cách chữa trị, mà còn rơi vào cảnh pauci vident morbum suum, omnes amant — ít ai thấy rõ bệnh tình của mình, mà tất cả đều say đắm lấy nó. Nếu chân hay tay bị đau, chúng ta tìm mọi cách có thể để cứu chữa; nếu mắc bệnh về thể xác, ta cho vời thầy thuốc; thế nhưng với những căn bệnh của tâm hồn, ta hoàn toàn phớt lờ. Dâm dục giày vò ta mặt này; đố kỵ, giận hờn, tham vọng giày vò ta mặt khác. Ta bị xé nát bởi những đam mê chẳng khác nào giữa bầy ngựa chứng, kẻ thế này, người nẻo khác; kẻ u sầu, người điên loạn; và trong số chúng ta, có ai tìm kiếm sự giúp giúp đỡ, có ai thừa nhận sai lầm của mình, hay biết rằng mình đang lâm bệnh? Giống như gã khờ nọ thổi tắt ngọn nến để lũ bọ chét đang cắn xé không thể tìm thấy mình; hắn tự ngụy trang trong một lớp áo lạ lùng, những tước vị mượn mượn, cốt để chẳng ai nhận ra bản chất của hắn. Ai nấy đều tự nhủ với bản thân: Egomet videor mihi sanus — ta khỏe mạnh, ta khôn ngoan, rồi cười nhạo những kẻ khác. Và đó là một thói xấu chung của tất cả bọn họ: những gì mà tổ tiên chúng ta từng ca ngợi — từ cung cách ăn uống, y phục, quan điểm, tính tình, phong tục cho đến lối sống — thì nay ta lại chế giễu và bác bỏ như những điều ngớ ngẩn. Người già coi giới trẻ đều là những kẻ dại dột, trong khi chính họ mới đích thực là những gã lú lẫn; và hệt như những kẻ đi biển, khi

———terraeque urbesque recedunt———

tàu chuyển động, đất liền đứng yên,

thì thế gian cũng khôn ngoan hơn nhiều, còn họ thì cứ tự mụ mẫm trong u mê. Người Thổ Nhĩ Kỳ chế giễu chúng ta, ta chế giễu họ; người Ý chế giễu người Pháp, coi họ là những kẻ nhẹ dạ cạn nghĩ, rồi người Pháp lại mỉa mai người Ý cùng những tập tục riêng của họ; người Hy Lạp từng coi cả thế giới ngoài họ là lũ dã man, để rồi giờ đây thế giới cũng khinh miệt họ ngần ấy; ta cho người Đức là những kẻ chậm chạp, trì độn, bài bác nhiều thói quen của họ; họ lại nhìn ta đầy khinh miệt; người Tây Ban Nha cười cợt tất cả, và tất cả cũng cười cợt lại họ. Cứ thế, chúng ta chẳng qua chỉ là những gã hề lố bịch, ngớ ngẩn trong hành động, cử chỉ, cách ăn mặc, y phục, tập tục và mưu tính; chúng ta chế giễu và chỉ trỏ lẫn nhau, để rồi rốt cuộc ai nấy đều là những kẻ khờ khạo, “và ngu xuẩn nhất là những kẻ che giấu đôi tai dài của mình nhất.” Một cá nhân, hễ đã tự kiên quyết với quan điểm hay lập trường của mình, thì sẽ coi tất cả những ai không cùng chí hướng với hắn đều là lũ ngu ngốc và đần độn,

[399]———nil rectum, nisi quod placuit

sibi, ducit,

rằng chẳng có gì là đúng đắn, ngoại trừ những gì vừa ý hắn,

những ai không suy nghĩ như hắn, [400](quodque volunt homines se

bene velle putant,) coi mọi kẻ không nghĩ giống mình đều là ngốc nghếch: hắn sẽ chẳng thèm nói như Atticus rằng Suam quisque sponsam, mihi meam — hãy để mỗi người chung thủy với người vợ của riêng mình; mà chỉ có người phụ nữ của hắn mới là tuyệt sắc, suus amor, v.v., và khinh miệt tất thảy so với chính bản thân hắn, chẳng muốn bắt chước ai, chẳng muốn lắng nghe ai [402] ngoài bản thân mình, đúng như lời Pliny nói, hắn tự đặt ra luật lệ và gương mẫu cho chính mình. Và điều mà Hippocrates từng quở trách Dionysius trong bức thư cổ của ông, nay vẫn ứng nghiệm hoàn toàn vào thời đại chúng ta: Quisque in alio superfluum esse censet, ipse quod non habet nec curat — những gì bản thân không có hoặc không coi trọng thì hắn cho là thừa thãi, là một thói vô bổ, một sự đảnh đoảng lố bịch ở kẻ khác: hệt như con cáo trong ngụ ngôn của Aesop, sau khi mất đi cái đuôi, liền muốn tất cả những con cáo đồng loại cũng phải cắt bỏ đuôi của chúng. Người Trung Hoa bảo rằng người châu Âu chỉ có một con mắt, còn họ có tới hai, trong khi phần còn lại của thế giới thì mù lòa (dù Scaliger cũng coi họ chẳng khác nào loài vật, merum pecus); thế nên, chỉ có ngươi và giáo phái của ngươi mới là khôn ngoan, những kẻ khác chỉ làng nhàng, còn phần còn lại thì đều mất trí, chẳng khác nào lũ đần độn và lừa ngợm. Cứ thế, chẳng chịu thừa nhận những sai lầm và khiếm khuyết của chính mình, chúng ta vô tư chế giễu người khác, cứ như thể chỉ có mình ta là đứng ngoài vòng danh lợi, làm khán giả cho thiên hạ, coi đó là một niềm vui lớn lao — và quả thực là vậy — Aliena optimum frui insania — được cười vui trước sự lệch lạc của kẻ khác, trong khi bản thân kẻ ấy lại còn mắc nhiều lỗi lầm hơn tất thảy, mutato nomine, de te fabula narratur — đổi tên khác đi, thì câu chuyện ấy đang ám chỉ chính ngươi đấy thôi; ngươi có thể tự tát vào mũi mình vì tội ngu ngốc; và điều mà người ta gọi là maximum stultitiae specimen — sự biểu hiện tối cao của sự ngu xuẩn — chính là việc trở thành trò cười cho kẻ khác mà bản thân lại không hề hay biết hay nhận ra, hệt như Marsyas khi tỉ thí với Apollo, non intelligens se deridiculo haberi, theo lời Apuleius; đó là bi kịch của chính hắn, hắn là một tên điên đã bị phơi bày tội trạng, đúng như lời thánh Augustine đúc kết: “Dưới con mắt của những bậc hiền triết và các thiên thần, hắn trông giống như một kẻ đang đi ngược đầu xuống đất.” Thế nên ngươi cười nhạo ta, ta cười nhạo ngươi, và cả hai cùng cười một kẻ thứ ba; để rồi kẻ đó lại ném câu thơ ấy vào mặt chúng ta:

[406]Hei mihi, insanire me aiunt, quum ipsi ultro insaniant. Chúng ta buộc tội người khác là điên rồ, ngốc nghếch, trong khi chính chúng ta mới là những kẻ lú lẫn nhất. Bởi vì một dấu hiệu và đặc trưng lớn của kẻ ngốc (được đề cập trong sách Truyền đạo, chương X, câu 3) là sự kiêu ngạo và tự phụ, chuyên mạt sát, phỉ báng, lên án, chỉ trích và gọi người khác là kẻ ngốc (trong khi Non videmus manticae quod a tergo est — ta chẳng bao giờ nhìn thấy cái bị mang ở sau lưng mình); chỉ trích ở người khác những thói hư tật xấu mà chính mình lại mắc trầm trọng nhất; ra rả dạy đời những điều mà bản thân chẳng buồn tuân theo: một kẻ lại lách viết về sự kiên định, một kẻ sống trác táng lại đi vạch ra những quy chuẩn về sự thanh cao và đạo đức, một tên đần độn lại đi trước tác một chuyên luận về sự khôn ngoan, hoặc hệt như Sallust, lớn tiếng nguyền rủa những kẻ tàn phá đất nước, nhưng khi tại nhiệm lại chính là một tên mọt dân hút máu tàn bạo nhất. Điều đó chứng tỏ sự yếu đuối, và là một minh chứng rành rành cho sự thiếu khôn ngoan của những kẻ ấy. [408]Peccat uter nostrum cruce dignius? “Giờ thì ai mới là kẻ ngốc?” Hoặc đôi khi, ở một vài nơi, tất cả chúng ta đều hùa nhau điên rồ cho có bạn có bè, và vì thế mà chẳng ai nhận ra điều đó, Satietas erroris et dementiae, pariter absurditatem et admirationem tollit. Tình cảnh của chúng ta cũng giống như tình cảnh của C. Pimbria ở Rome thuở trước (theo đánh giá của Cicero), một kẻ bạo ngược, liều lĩnh, điên rồ và bị tất cả mọi người coi rẻ, ngoại trừ những kẻ cũng điên rồ chẳng kém gì hắn: và trong một trường hợp như thế, chẳng ai thèm bận tâm đến nữa.

Nimirum insanus paucis videatur; eo quod

Maxima pars hominum morbo jactatur eodem.

Khi tất cả đều điên, và ai nấy đều chịu chung một nỗi đau,

thì làm sao phân biệt được kẻ điên với người bình thường?

Nhưng giả sử họ có nhận ra điều đó, và có kẻ bị phơi bày rõ ràng là điên rồ, hắn bắt đầu nhận thức được sự dại dột của mình — dù đó là trong hành động, cử chỉ, lời ăn tiếng nói, hay một thói quen hão huyền nào đó như xây cất nhà cửa, khoe khoang, cãi vã, vung tay quá trán, cờ bạc, tán tỉnh, viết lách, ba hoa, những thứ khiến hắn trở thành trò cười cho thiên hạ, những thứ mà hắn say mê đến mức mụ mẫm — hắn hoàn toàn thừa nhận điều đó: thế nhưng, dẫu cho ngươi có dùng hết mọi tài hùng biện trên đời, ngươi cũng chẳng thể kéo hắn ra khỏi vũng lầy, trái lại, bất chấp tất cả, hắn vẫn cứ kiên trì bám lấy cơn mê muội ấy. Đó là amabilis insania, et mentis gratissimus error — một sự điên rồ đáng yêu, một thứ sai lầm ngọt ngào nhất của tâm trí, khiến hắn hoàn toàn không thể dứt ra được. Hắn thừa nhận sai lầm của mình, nhưng quyết không chịu từ bỏ; dù ngươi có báo trước cho hắn biết kết cục sẽ là cảnh khốn cùng, đau khổ, bệnh tật, nhục nhã, hổ thẹn, mất mát, điên dại, thế nhưng [414]“một kẻ hay giận dữ vẫn đặt sự trả thù lên trên hết, kẻ dâm ô đặt ả nhân tình, tên trộm đặt chiến lợi phẩm, kẻ phàm ăn đặt cái bụng của hắn lên trên sự bình an của chính mình.” Hãy thử cảnh tỉnh một kẻ hưởng lạc, một kẻ keo kiệt, một tên tham vọng về con đường sai trái của chúng, hãy kéo chúng ra khỏi đó dù chỉ một chút, thì ngay lập tức hắn sẽ kêu lên: pol me occidistis amici — các anh đã hại đời tôi rồi, và hệt như [415]“con chó quay lại liếm bãi nôn của chính mình,” hắn lại lao đầu về chốn cũ; chẳng lời khuyên can nào thấu tai, chẳng lời mưu sĩ nào có ích, mặc cho ngươi có nói gì đi nữa,

Clames licet et mare coelo

———Confundas, surdo narras,[416]

Dẫu ngươi có gào thét đến động trời lở đất,

thì cũng chỉ như nước đổ đầu vịt mà thôi,

mặc cho ngươi có giải thích rành mạch như cách Odysseus từng làm với Elpenor, Gryllus cùng những người bạn đồng hành của hắn — những kẻ “mang thân người nhưng tâm tính loài heo” — thì hắn vẫn cứ cố chấp với bản tính ương ngạnh ấy, bản chất con heo trong hắn chẳng thể nào đổi thay; có giã hắn trong cối đi chăng nữa, hắn vẫn hoàn là hắn mà thôi. Nếu hắn lọt vào một giáo phái dị giáo, hay ôm ấp một quan điểm lệch lạc nào đó — vững như thành đồng vách sắt giống như những tín đồ Công giáo dốt nát thời nay — dù ngươi có đả thông nhận thức của hắn, chỉ cho hắn thấy những thói ngớ ngẩn và lố bịch của giáo phái ấy, ép hắn phải thốt lên veris vincor, hay làm cho chân lý sáng rực như ban ngày, [418] hắn vẫn cứ u mê ngoan cố, bướng bỉnh như một đứa trẻ; và hệt như kẻ từng nói [419]si in hoc erro, libenter erro, nec hunc errorem auferri mihi volo — nếu tôi có lầm đường lạc lối trong chuyện này, thì đó là sự tự nguyện của tôi, và tôi chẳng muốn ai tước đoạt sự lầm lạc ấy đi đâu: tôi cứ làm theo cách của tôi, theo cách mà tổ tiên tôi từng làm, [420] và theo cách mà bạn bè tôi đang làm lúc này đây: tôi chấp nhận hùa theo thiên hạ để mà u mê. Nào, hãy thử nói xem, những kẻ đó [421]có điên hay không, [422]Heus age responde? Chúng có đáng buồn cười không? cedo quemvis arbitrum, chúng có phải là những kẻ sanae mentis — tỉnh táo, khôn ngoan và thận trọng không? Chúng có chút nhận thức thông thường nào hay không?

———[423]uter est insanior horum?

Trong số bọn chúng, ai mới là kẻ điên rồ hơn cả?

Phần tôi, tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm của Democritus, và coi tất cả bọn chúng đều đáng cười chê; một lũ đần độn bệnh hoạn, điên rồ chẳng khác gì Orestes và Athamas, đáng phải “cỡi lừa bêu riếu,” và cùng nhau giương buồm xuôi về Anticyra trên “con thuyền của những kẻ khờ.” Tôi chẳng cần phải nhọc công chứng minh điều này bằng cách nào khác ngoài việc đưa ra một lời thề long trọng — tôi tin rằng các bạn sẽ tin tôi mà chẳng cần lời thề thốt nào; hãy nói ngắn gọn xem, chúng có phải là những kẻ ngốc không? Tôi xin phó mặc điều đó cho phán quyết của các chính các bạn, dẫu cho các bạn cũng chẳng khác gì những kẻ ngốc nghéch và điên rồ, còn tôi thì cũng dại dột chẳng kém khi lại đi đặt ra câu hỏi ấy; bởi vì vị thần Mercury trong kịch hài đã từng nói gì nào?

[425]Justum ab injustis petere insipientia est.

Đòi hỏi sự công chính từ những kẻ bất công quả là một hành vi dại dột.

Dẫu vậy, tôi vẫn xin chờ đợi phán quyết từ các bạn, các bạn nghĩ sao?

Nhưng bởi vì ngay từ đầu tôi đã cam đoan rằng các vương quốc, các tỉnh lỵ, các gia đình cũng chịu cảnh u sầu chẳng khác gì những cá nhân đơn lẻ, nên giờ đây tôi sẽ mổ xẻ từng trường hợp cụ thể; và những điều nãy giờ tôi mới chỉ bàn luận lan man ở dạng tổng quát, tôi sẽ đi sâu vào chi tiết, chứng minh bằng những luận chứng, chứng cứ và minh họa cụ thể, xác thực hơn, và xin được tóm lược ngắn gọn như sau.

[426]Nunc accipe quare desipiant omnes aeque ac tu.

Luận điểm đầu tiên của tôi được mượn từ vua Solomon, một mũi tên rút ra từ ống tên đầy châm ngôn của ngài, sách Châm ngôn, chương III, câu 7: “Chớ khôn ngoan theo mắt mình.” Và chương XXVI, câu 12: “Há ngươi thấy một kẻ tự cho mình là khôn ngoan sao? Kẻ khờ dại còn có hy vọng hơn hắn.” Tiên tri Isaiah cũng cất tiếng khốn tai cho những kẻ như thế, chương V, câu 21: “Khốn thay cho những kẻ khôn ngoan trước mặt mình, và tự cho mình là thông minh.” Từ đây ta có thể suy ra rằng đó là một tội lỗi lớn, và những kẻ tự đánh giá quá cao bản thân đã tự lừa dối chính mình, đó chính là một bằng chứng xác thực để kết tội chúng là ngu muội. Nhiều kẻ (theo lời Seneca) “đã có thể trở thành bậc hiền triết một cách không bàn cãi, nếu như chúng không tự mãn cho rằng mình đã đạt đến sự viên mãn của tri thức ngay cả khi chưa đi nổi nửa con đường,” quá vội vã, quá chín ép, praeproperi, quá nhanh nhảu và chớp nhoáng, cito prudentes, cito pii, cito mariti, cito patres, cito sacerdotes, cito omnis officii capaces et curiosi, chúng quá tự cao về bản thân, và chính điều đó đã hỏng việc; chúng tự phụ về giá trị, lòng dũng cảm, kỹ năng, nghệ thuật, học thức, khả năng phán đoán, sự hùng biện và những phẩm chất tốt đẹp của mình; con ngỗng nào của chúng cũng hóa thành thiên nga, và điều đó minh chứng rõ mồn một rằng chúng chẳng hơn gì lũ ngốc. Thuở trước, người ta chỉ có bảy bậc hiền triết, còn nay thì tìm đỏ mắt cũng chẳng ra ngấy ấy kẻ ngu. Thales từng gửi chiếc đỉnh vàng do những người đánh cá tìm được — thứ mà nhà tiên tri phán phải [429]“trao cho người khôn ngoan nhất” — cho Bias, Bias lại trao cho Solon, v.v. Nếu một báu vật như thế được tìm thấy vào thời nay, chắc chắn chúng ta sẽ lao vào cấu xé nhau hệt như ba nữ thần tranh giành quả táo vàng, bởi ai nấy cũng đều tự cho mình là khôn ngoan: đàn bà thì làm chính trị gia, trẻ con thì làm nhà siêu hình học; gã khờ nào cũng nghĩ mình có thể giải được bài toán cầu phương, chế tạo ra cỗ máy chuyển động vĩnh cửu, tìm ra hòn đá phù thủy, giải mã sách Khải Huyền, lập ra những học thuyết mới, một hệ thống vũ trụ mới, một nền logic mới, triết học mới, v.v. Nostra utique regio, theo lời Petronius, “xứ sở của chúng ta ngập tràn những linh hồn được thần thánh hóa, những tâm hồn siêu việt, đến nỗi ngươi có thể tìm thấy một vị thần dễ hơn là tìm thấy một con người,” chúng ta tự ngạo mạn về bản thân biết bao, và đó chính là bằng chứng hùng hồn cho sự u muội lớn lao.

Luận điểm thứ hai của tôi được xây dựng dựa trên một đoạn Kinh Thánh tương tự — dẫu đã được đề cập ngầm ở trên, nhưng vì một số lý do vẫn cần phải nhắc lại (và xin phép Plato cho tôi được trích dẫn lại, [431]δίς τὸ καλὸν ρηθέν ὀυδέν βλάπτει — điều hay lặp lại hai lần chẳng hại gì): “Những kẻ dại dột” (David viết) “vì cớ những tội ác của chúng,” v.v., Thánh Vịnh CVII, câu 17. Từ đó Musculus suy ra rằng tất cả những kẻ phạm tội chắc chắn đều là kẻ ngốc. Tương tự, ta đọc thấy trong thư gửi tín hữu Rô-ma, chương II: “Sự khốn cùng và khốn đốn sẽ giáng trên linh hồn mọi kẻ làm ác”; mà ngặt một nỗi, ai lại chẳng làm điều ác. Và sách Isaiah, chương LXV, câu 14: “Tôi tớ ta sẽ ca hát vì vui mừng, còn [432]các ngươi sẽ kêu van vì đau thắt cõi lòng và tâm trí bấn loạn.” Điều này đã được đồng thuận bởi tất cả các triết gia. “Sự bất lương,” Cardan nói, “chẳng qua chỉ là sự ngu ngốc và điên rồ.” [433]Probus quis nobiscum vivit? Hãy chỉ cho tôi xem một người lương thiện nào xem, Nemo malus qui non stultus — chẳng có kẻ ác nào mà không ngu ngốc cả, đó là châm ngôn của Fabius nhằm khẳng định cùng một ý đó. Nếu chẳng có ai lương thiện, cũng chẳng có ai khôn ngoan, thì tất thảy đều là lũ ngốc. Và quả thực, họ hoàn toàn xứng đáng bị coi như vậy: bởi ai lại đi gọi một kẻ đang Qui iter adornat in occidentem, quum properaret in orientem? — đi ngược về hướng tây trong cả cuộc đời, trong khi đích đến phải là hướng đông — là người khôn ngoan? Hay ai lại coi một kẻ [434]“đặt những hoan lạc nhất thời lên trên sự vĩnh hằng, kẻ tiêu sạch gia tài của chủ trong lúc vắng mặt để rồi sớm muộn gì cũng bị trừng phạt” là một người khôn ngoan (theo lời Musculus)? Nequicquam sapit qui sibi non sapit — kẻ chẳng biết khôn cho chính mình thì chẳng có chút khôn ngoan nào hết. Ai có thể gọi một kẻ bệnh tật lại đi ăn uống cốt để phá hủy thân nhiệt của chính mình là kẻ khôn ngoan cơ chứ? Các ngươi có thể coi một kẻ tha thiết muốn có sức khỏe, nhưng lại nhất quyết chẳng chịu làm bất kỳ điều gì để duy trì hay đạt được nó là người khôn ngoan hay thận trọng hay sao? [435]Theodoret, dựa theo tư tưởng của nhà triết học theo phái Plato là Plotinus, “coi việc một con người sống theo luật lệ của riêng mình, làm những điều xúc phạm đến Thiên Chúa mà vẫn ôm mộng được Ngài cứu rỗi là một điều hết sức nực cười; và khi hắn tự nguyện buông xuôi sự an nguy của bản thân, khinh miệt mọi phương tiện cứu rỗi, mà lại cứ đinh ninh rằng mình sẽ được cứu vớt bởi một ai khác”: hỏi rằng có ai dám gọi những kẻ đó là khôn ngoan?

Luận điểm thứ ba được rút ra từ tiền đề trước đó: [436]tất thảy mọi người đều bị cuốn đi bởi đam mê, sự bất mãn, dục vọng, hoan lạc, v.v., họ nhìn chung đều căm ghét những đức hạnh mà đáng ra họ phải yêu quý, và lại yêu mến những thói hư tật xấu mà lẽ ra họ phải căm ghét. Do đó, họ không chỉ u sầu mà còn hoàn toàn điên rồ, chẳng khác nào loài thú vô tri và mất hết lý trí, như Chrysostom đã lập luận; “hoặc đúng hơn là đã chết và bị chôn sống,” như Philon Judeus đã đúc kết một cách chắc chắn về “tất cả những kẻ bị cuốn đi bởi đam mê, hoặc đang oằn mình chịu đựng bất kỳ căn bệnh nào của tâm hồn.” Ở đâu có sự sợ hãi và buồn rầu, thì ở đó [438]“sự khôn ngoan không thể nào trú ngụ được,” như Lactantius đã quả quyết một cách đanh thép,

———qui cupiet, metuet quoque porro,

Qui metuens vivit, liber mihi non erit unquam.[439]

Kẻ nào còn ham muốn, ắt cũng sẽ sợ hãi,

Và kẻ sống trong sợ hãi, muôn đời chẳng được tự do.

Seneca cùng các triết gia phái khắc kỷ đều có chung quan điểm rằng, hễ nơi nào còn xuất hiện dù chỉ một chút ít xao động tâm can, thì ở đó tuyệt đối không thể tìm thấy sự khôn ngoan. “Còn gì nực cười hơn,” như Lactantius đã viện dẫn, “khi nghe chuyện Xerxes quất roi xuống biển Hellespont, đe dọa cả ngọn núi Athos,” và những chuyện đại loại như thế. Để đi thẳng vào vấn đề, thử hỏi có ai là người hoàn toàn đứng ngoài vòng vây của đam mê? [441]Mortalis nemo est quem non attingat dolor, morbusve, đúng như Cicero đã khẳng định từ một bài thơ cổ, không một người phàm nào có thể tránh khỏi nỗi buồn và bệnh tật, mà buồn rầu lại là kẻ đồng hành bất khả phân ly của chứng u sầu. [443]Chrysostom còn biện luận sâu hơn nữa rằng họ thậm chí còn điên rồ hơn cả loài thú, bị làm cho mụ mẫm và mất sạch ý thức thông thường: “Bởi vì,” ông nói, “làm sao ta có thể nhận ra ngươi là một con người, khi ngươi cứ lồng lộn hệt như một con lừa, hí lên như một con ngựa mỗi khi thấy đàn bà, cuồng loạn vì dục vọng như một con bò đực, tham tàn như một con gấu, chích nọc như một con bọ cạp, bòn rút như một con sói, ranh mãnh như con cáo, và vô liêm sỉ hệt loài chó? Ta phải gọi ngươi là con người bằng cách nào đây, khi ngươi mang đầy đủ mọi triệu chứng của loài thú? Làm sao ta nhận ra ngươi là con người? Qua hình hài ư? Điều đó lại càng khiến ta khiếp sợ hơn, khi tận mắt nhìn thấy một con quái vật mang lốt người.”

[444]Seneca gọi câu nói của Epicurus là magnificam vocem — một lời tuyên bố mang tầm vóc anh hùng: “Kẻ ngu ngốc thì lúc nào cũng chỉ đang bắt đầu sống,” và ông coi đó là một sự nhẹ dạ bỉ ổi ở con người khi ngày nào họ cũng đặt những nền móng mới cho cuộc đời mình, thế nhưng thử hỏi có mấy ai làm khác đi? Người này đi du lịch, kẻ kia cất nhà; người vì việc này, kẻ bận việc nọ, và người già thì cũng lầm lạc chẳng kém gì ai; O dementem senectutem, Cicero đã phải thốt lên như thế. Do đó, dù là trẻ tuổi, già nua hay trung niên, tất thảy đều u muội và mụ mẫm.

[445]Aeneas Sylvius, trong số rất nhiều tác giả khác, đã vạch ra ba con đường cụ thể để nhận diện một kẻ ngốc: Kẻ ngốc là kẻ đi tìm thứ mà hắn không thể tìm thấy; kẻ ngốc là kẻ đi tìm thứ mà khi tìm thấy rồi lại mang lại cho hắn nhiều tác hại hơn là lợi ích; kẻ ngốc là kẻ có muôn vàn con đường để đi đến đích, nhưng lại cứ khăng khăng chọn con đường tồi tệ nhất. Nếu vậy, ngẫm lại thì hình như phần lớn loài người đều là kẻ ngốc; hãy nhìn vào đường đi nước bước của họ, và ngươi sẽ sớm nhận ra đại đa số bọn họ đều là những gã đần độn và điên rồ.

Beroaldus thì cho rằng những kẻ say xỉn, những gã bù khú chiều hôm, và những ai quá đỗi mê đắm men nồng đều là những kẻ điên. Chén rượu đầu tiên làm dịu đi cơn khát — đó là kết luận của nhà thơ Panyasis được ghi chép trong tác phẩm của Athenaeus; secunda gratiis, horis et Dyonisio: chén thứ hai mang lại niềm vui, chén thứ ba đem tới sự hoan lạc, còn quarta, ad insaniam, chén thứ tư sẽ biến họ thành những kẻ điên. Nếu tiền đề này là sự thật, thử hỏi chúng ta sẽ có một danh sách dài dượt bao nhiêu những kẻ điên rồ? Thế còn những kẻ uống liền bốn bốn mười sáu chén thì sao? Nonne supra omnem furorem, supra omnem insanian reddunt insanissimos? Chúng há chẳng phải đã vượt lên trên mọi sự cuồng nộ, vượt qua mọi cơn điên để trở thành những kẻ điên rồ tột cùng rồi sao? Về điểm này, tôi hoàn toàn đồng quan điểm với ông: chúng chẳng những điên, mà còn điên hơn gấp bội.

Dân chúng thành [446]Abdera từng kết tội Democritus là một kẻ điên, chỉ vì đôi khi ông buồn rầu, nhưng cũng có lúc lại cười cợt đến mức sảng khoái. Hac Patria (Hippocrates viết) ob risum furere et insanire dicunt, đồng hương của ông cho rằng ông bị điên chỉ vì ông hay cười; [447]và chính vì thế “ông đã khuyên tất cả những người bạn của mình ở Rhodes chớ nên cười quá lớn, hay tỏ ra quá đỗi u sầu.” Giá như những cư dân thành Abdera ấy mà được sống chung với chúng ta và tận mắt chứng kiến cảnh tượng nhếch mép cười cợt và nhe răng cười trừ đang diễn ra nhan nhản trong thời đại này, thì chắc chắn họ sẽ phải kết luận rằng tất cả chúng ta đều đã mất hết trí khôn rồi.

Aristotle trong tác phẩm Đạo đức học cho rằng felix idemque sapiens — sự khôn ngoan và hạnh phúc là hai khái niệm tương đương, rằng người tốt cũng chính là người khôn ngoan và lương thiện. Đó là một nghịch lý của [449]Cicero: “Những bậc hiền triết thì tự do, còn kẻ ngu ngốc là nô lệ,” trong đó sự tự do chính là năng lực được sống theo luật lệ của chính mình, đúng như mong muốn của bản thân: thử hỏi ai có được sự tự do ấy? Ai mới là kẻ thực sự tự do?

[450]———sapiens sibique imperiosus,

Quem neque pauperis, neque mors, neque vincula terrent,

Responsare cupidinibus, contemnere honores

Fortis, et in seipso totus teres atque rotundus.

Kẻ khôn ngoan là kẻ làm chủ được ý chí của chính mình,

Kiên định và dũng cảm trước mọi đổi thay,

Kẻ chẳng sợ nghèo hèn, chẳng run rẩy trước xiềng xích hay cái chết,

Biết kìm hãm dục vọng, khinh miệt vinh quang, hiên ngang và chính trực.

Nhưng liệu một con người như thế có thể tìm thấy ở đâu? Nếu chẳng thể tìm thấy ở bất cứ đâu, thì xét theo hướng e diametro, tất cả chúng ta đều là nô lệ, là những kẻ vô tri hoặc tệ hại hơn thế. Nemo malus felix — chẳng có kẻ ác nào là hạnh phúc cả. Nhưng ngặt nỗi chẳng có ai thực sự hạnh phúc trong cõi đời này, cũng chẳng có ai thực sự tốt lành, và vì thế, chẳng có ai là kẻ khôn ngoan cả.

[451]Rari quippe boni———

Bởi những kẻ tốt lành trên đời này hiếm hoi làm sao———

Cứ ứng với một đức hạnh, ngươi sẽ tìm thấy tới mười thói hư tật xấu trong cùng một con người; ít kẻ là Prometheus, mà phần đông lại là Epimetheus. Có lẽ chúng ta chỉ mượn tạm danh xưng ấy, hoặc ban ơn nó cho người khác để lấy lòng, chẳng hạn như Carolus Sapiens (Charles Thông thái), Philippus Bonus (Philip Hậu hĩnh), Lodovicus Pius (Louis Sùng đạo), v.v., và rồi miêu tả những phẩm chất của một bậc hiền triết hệt như cách Cicero miêu tả một nhà hùng biện, Xenophon miêu tả Cyrus, Castilio miêu tả một triều thần, Galen miêu tả thể tạng con người, hay cách các nhà chính trị gia phác họa một nền cộng hòa lý tưởng. Nhưng rốt cuộc, một con người như thế có thể tìm thấy ở đâu?

Vir bonus et sapiens, qualem vix repperit unum

Millibus e multis hominum consultus Apollo.

Một người vừa khôn ngoan vừa lương thiện giữa muôn vàn ngàn vạn người,

Ngay cả thần Apollo được thỉnh cầu cũng khó lòng tìm nổi một người.

Bản thân con người đã là một điều kỳ diệu, nhưng Trismegistus còn thêm rằng: Maximum miraculum homo sapiens — một bậc hiền triết chính là một kỳ quan vĩ đại: kẻ cầm gậy Thyrsus thì nhiều, nhưng tín đồ thực sự của Bacchus thì lại chẳng có bao nhiêu.

Khi Alexander được tặng chiếc tráp quý giá và đắt tiền của vua Darius, và ai nấy đều xúm lại khuyên ông nên dùng nó để đựng bất cứ thứ gì, ông đã quyết định giữ nó lại để cất giữ các tác phẩm của Homer, coi đó là viên ngọc quý giá nhất của trí tuệ loài người; thế mà [452]Scaliger lại mắng nhiếc nàng thơ của Homer là Nutricem insanae sapientiae — cái nôi nuôi dưỡng sự khôn ngoan điên rồ, impudentas vô liêm sỉ hệt như một quý bà chốn cung đình, chẳng biết đỏ mặt trước bất cứ điều gì. Jacobus Mycillus, Gilbertus Cognatus, Erasmus và hầu như toàn bộ hậu thế đều trầm trồ thán phục trước trí tuệ dồi dào của Lucian, thế nhưng Scaliger lại bác bỏ ông trong các bài bình phẩm của mình và gọi ông là con chó ba đầu Cerberus của các nàng thơ. Socrates — người từng được cả thế giới ca tụng hết lời — lại bị cả Lactantius và Theodoret lên án là một kẻ ngốc. Plutarch ca tụng trí tuệ của Seneca vượt lên trên tất cả mọi người Hy Lạp, nulli secundus — không thua kém bất kỳ ai, thế nhưng chính [454]Seneca lại tự nói về mình rằng: “Khi tôi muốn tự khuây khỏa với một kẻ ngốc, tôi nhìn lại chính mình, và thế là tôi đã tìm thấy hắn ngay lập tức.” Cardan, trong Quyển thứ Mười Sáu tác phẩm Về những sự tinh vi, đã liệt kê ra mười hai nhà triết học lỗi lạc và sắc sảo bậc nhất về giá trị, sự tinh tế và khôn ngoan: Archimedes, Galen, Vitruvius, Architas Tarentinus, Euclid, Geber — nhà phát minh đầu tiên ra đại số học, Alkindus nhà toán học — cả hai đều là người Ả Rập, cùng nhiều người khác. Thế nhưng bộ ba quyền lực của ông, những kẻ vượt trội hoàn toàn so với phần còn lại, chính là Ptolomaeus, Plotinus và Hippocrates. Scaliger, trong tác phẩm Exercitationes, đoạn 224, lại chế giễu những lời bình phẩm này của ông, gọi một số người trong đó chỉ là thợ mộc và thợ thủ công, ông coi Galen chỉ là fimbriam Hippocratis — dải tua rua bên mép áo của Hippocrates; và chính bản thân [455]Cardan ở một nơi khác cũng lên án cả Galen lẫn Hippocrates vì sự rườm rà, tối nghĩa và rối rắm của họ. Trong khi đó, Paracelsus lại quả quyết rằng cả hai người bọn họ chẳng qua chỉ là lũ đần độn, những đứa trẻ sữa trong y học và triết học. Scaliger và Cardan hết lời ca tụng Suisset kẻ tính toán, qui pene modum excessit humani ingenii — kẻ gần như vượt qua cả giới hạn của trí tuệ loài người, thế nhưng [456]Lod. Vives lại gọi những tác phẩm ấy là nugas Suisseticas — những thứ trò nhảm nhí của Suisset; và Cardan, tự mâu thuẫn với chính mình ở một chỗ khác, lại khinh miệt những bậc cổ nhân ấy khi đặt họ lên bàn cân với thời đại hiện tại, [457]Majoresque nostros ad presentes collatos juste pueros appellari — và rằng tổ tiên chúng ta khi đem so sánh với người đương thời thì hoàn toàn chỉ đáng gọi là lũ trẻ ranh. Rốt cuộc, chính [458]Cardan và Thánh Bernard cũng chẳng thèm dung nạp ai vào danh sách những bậc hiền triết ấy, [459]ngoại trừ các nhà tiên tri và các tông đồ; còn bản thân họ tự đánh giá thế nào thì các ngươi đã nghe ở trên rồi đấy. Chúng ta khôn ngoan theo kiểu thói đời, tự mãn về bản thân và đi tìm sự tung hô: nhưng hãy lắng nghe lời Thánh [460]Bernard đây: quanto magis foras es sapiens, tanto magis intus stultus efficeris, v.v., in omnibus es prudens, circa teipsum insipiens — ngươi càng tỏ ra khôn ngoan trước mặt thiên hạ bao nhiêu, thì trong thâm tâm ngươi lại càng ngu ngốc bấy nhiêu. Tôi không phủ nhận rằng vẫn có một thứ sự ngu ngốc được chấp thuận, một cơn cuồng nộ thần thánh, một sự điên rồ thánh thiện, thậm chí là một cơn say sưa thuộc về tâm linh ngay cả trong lòng các thánh nhân của Chúa; thánh Bernard gọi đó là sanctum insanium — sự điên rồ thánh thiện (dù không theo cách mà kẻ báng bổ Vorstius suy diễn rằng đó là một thứ cảm xúc vốn có ở chính Thiên Chúa, mà là) một trạng thái quen thuộc ở những người hiền đức, hệt như lời Phaolô trong Thư gửi tín hữu Cô-rinh-tô lần thứ hai: “ông đã hành xử như một kẻ ngốc,” v.v., và trong thư gửi tín hữu Rô-ma, chương IX, ông ước gì mình bị nguyền rủa vì ích lợi của họ. Đó chính là cơn say men tình mà Ficinus từng nhắc đến, khi linh hồn được nâng lên và chìm đắm trong hương vị thần thánh của dòng mật ngọt thiên thai ấy — thứ mà các nhà thơ thường khắc họa qua nghi lễ tế thần Dionysius; và theo nghĩa này, cùng với nhà thơ, [462]insanire lubet, hệt như lời khuyên của thánh Augustine, ad ebrietatem se quisque paret — mỗi người chúng ta hãy chuẩn bị để cùng nhau say sưa và điên cuồng. Nhưng ngặt một nỗi chúng ta thường hiểu lầm và đi quá giới hạn cho phép, cứ lảo đảo lao về thái cực đối lập, [464]rồi chẳng thể nào lĩnh hội nổi nó, [465]và hệt như lời người ta nói về người Hy Lạp: Vos Graeci semper pueri, vos Britanni, Galli, Germani, Itali, &c. — hỡi lũ người Hy Lạp, Anh, Pháp, Đức, Ý các ngươi, tất thảy chỉ là một lũ trẻ ranh dại dột mà thôi.

Giờ hãy chuyển từ các bộ phận sang toàn thể, hoặc từ tổng thể đến chi tiết, và ngươi sẽ thấy chẳng có kết cục nào khác, các bộ phận ấy sẽ được mổ xẻ một cách đầy đủ trong phần Lời nói đầu tiếp theo đây. Toàn thể ắt sẽ phải tuân theo một chuỗi suy luận logic hoặc quy nạp. Bất kỳ đám đông nào cũng đều điên rồ, bellua multorum capitum (một con quái vật nhiều đầu), hấp tấp và liều lĩnh thiếu hẳn sự phán đoán, stultum animal — một bầy đàn chỉ biết gào thét. [467]Roger Bacon chứng minh điều này dựa trên tư tưởng của Aristotle: Vulgus dividi in oppositum contra sapientes, quod vulgo videtur verum, falsum est — những gì mà giới bình dân cho là sự thật, thì phần lớn lại là sai lầm, chúng luôn đi ngược lại với các bậc hiền triết, thế nhưng cả thế giới này đều mang cái tâm tính ấy (vulgus), và chính bản thân ngươi cũng thuộc về de vulgo — dân đen; rồi hắn, rồi cả hắn nữa, và tất cả phần còn lại cũng đều như vậy cả; và do đó, như kết luận của Phocion, chẳng có điều gì ngươi nói hay làm là đáng được chấp thuận cả, tất thảy chỉ là lũ đần độn và lừa ngợm mà thôi. Vậy thì cứ bắt đầu từ đâu tùy thích, tiến lên hay lùi lại, chọn lựa bất kỳ kẻ nào trong cái bầy đàn ấy, cứ nhắm mắt bốc đại, ngươi cũng sẽ thấy chúng đều một giuộc cả thôi, “chẳng cái thùng nào tốt hơn cái thùng nào.”

Copernicus — người kế vị của thần Atlas — mang quan điểm cho rằng trái đất là một hành tinh, chuyển động và tỏa sáng với kẻ khác hệt như mặt trăng chiếu sáng chúng ta. Digges, Gilbert, Keplerus, Origanus và nhiều người khác đã bảo vệ giả thuyết này của ông một cách hoàn toàn nghiêm túc, đồng thời cho rằng mặt trăng cũng có người ở. Nếu thực sự trái đất cũng là một mặt trăng, thì bên trong cái mê cung dưới mặt trăng này, chúng ta cũng chẳng khác nào những kẻ chóng mặt, quay cuồng và lú lẫn.

Tôi hoàn toàn có thể tuôn ra những luận chứng như thế cho đến tận đêm khuya; nếu các ngươi mà nghe nốt phần còn lại,

Ante diem clauso component vesper Olimpo:

Trời chiều sẽ buông xuống đỉnh Olympus trước khi ta kể xong câu chuyện dài,

Nếu ta cứ trôi theo dòng ngôn từ ấy,

Thì ngày tàn sẽ đến trước khi câu chuyện khép lại:

thế nhưng, đúng như lời đã hứa, tôi sẽ đi xuống những chi tiết cụ thể. Chứng u sầu này không chỉ lan rộng ở con người, mà thậm chí còn vươn tới cả giới thực vật và muông thú. Tôi không nói đến những sinh vật vốn mang tính thổ, mang sẵn sự u sầu trong bản chất như chì cùng các khoáng chất tương tự, hay các loài thực vật như cây vân hương, cây bách, v.v. và cả cây thung – thứ mà [468]Agrippa từng đề cập, hay các loài cá, chim muông, thú rừng như thỏ rừng, thỏ nhà, chuột sóc, v.v., cú vọ, dơi, những loài chim đêm, mà là thứ u sầu nhân tạo có thể nhận thấy ở tất cả bọn chúng. Hãy bứng một cái điều kiện sống của thực vật, nó sẽ héo mòn tàn lụi, điều đó thể hiện rõ nhất ở những cây chà là, như các ngươi có thể đọc thấy tường tận trong bộ sách về nghề nông của Constantine, hay sự tương khắc giữa cây nho và cây bắp cải, giữa cây nho và dầu ô-liê. Nhốt một con chim vào lồng, nó sẽ chết vì u uất; nhốt một con thú vào chuồng, hoặc tách nó khỏi bầy đàn hay những đứa con thơ, và hãy xem điều đó gây ra hậu quả gì. Nhưng thử hỏi ai lại không nhận ra những cảm xúc thông thường ấy ở các sinh vật có tri giác, nào là sợ hãi, buồn rầu, v.v.? Trong số đó, loài chó là những sinh vật dễ mắc căn bệnh này nhất, đến mức nhiều người cho rằng chúng cũng biết nằm mơ hệt như con người, và vì sự dữ dội của chứng u sầu mà hóa điên; tôi hoàn toàn có thể kể ra rất nhiều câu chuyện về những chú chó đã chết vì đau buồn, héo mòn tàn lụi khi mất đi chủ nhân của mình, thế nhưng những câu chuyện ấy thì tác giả nào cũng có thừa. [469]

Các vương quốc, tỉnh lỵ và các thể chế chính trị cũng nhạy cảm và dễ mắc phải căn bệnh này hệt như vậy, như [470]Boterus từng chứng minh tường tận trong tác phẩm chính trị học của ông. “Cũng như trong cơ thể con người,” ông viết, “có muôn vàn sự biến đổi bắt nguồn từ các thể dịch, thì trong một cộng hòa cũng tồn tại vô số bệnh trạng, phát sinh từ những sự mất cân bằng tương tự,” điều mà các ngươi có thể dễ dàng nhận ra qua các triệu chứng cụ thể của chúng. Bởi vì ở đâu các ngươi nhìn thấy người dân sống văn minh, tuân thủ thiên chúa và vua chúa, biết điều, hòa bình và yên ổn, giàu có, may mắn [471]và thịnh vượng, sống trong hòa bình, đoàn kết và hòa hợp, đất nước cày cấy ruộng nương tươi tốt, muôn vàn thành phố đông đúc mọc lên san sát, ubi incolae nitent như lời cụ [472]Cato nói, dân chúng tươm tất, lịch sự và nhã nhặn, ubi bene, beateque vivunt — nơi con người sống cuộc đời sung túc, hạnh phúc, thứ mà các nhà chính trị gia coi là mục đích tối thượng của một quốc gia; và điều mà [473]Aristotle trong sách Chính trị học, quyển III, chương IV gọi là Commune bonum (lợi ích chung), Polybius trong quyển VI gọi là optabilem et selectum statum (trạng thái đáng mơ ước và lựa chọn) — thì xứ sở đó hoàn toàn miễn nhiễm với chứng u sầu; hệt như nước Ý vào thời đại của Augustus, hay đất nước Trung Hoa và nhiều vương quốc thịnh vượng khác ở châu Âu hiện nay. Ngược lại, ở đâu các ngươi nhìn thấy muôn vàn bất mãn, những nỗi oan khuất chung của người dân, nghèo đói, dã man, khốn cùng, dịch bệnh, chiến tranh, nổi loạn, bạo động, tranh chấp, thói lười biếng, truỵ lạc, hưởng lạc, đất đai bỏ hoang, ngập ngụa đầm lầy, hoang mạc, v.v., các thành phố lụi tàn, những thị trấn nghèo hèn, làng mạc tiêu điều, dân chúng nheo nhóc, nhếch nhác, vô văn hóa; thì vương quốc đó, xứ sở đó chắc chắn đang chìm trong bất mãn, u sầu, mang một thân thể bệnh tật và đang cần phải được cải cách.

Thế nhưng điều đó sẽ chẳng thể thực hiện được cho đến khi nguyên nhân của những căn bệnh ấy được triệt tiêu, mà chúng thường bắt nguồn từ chính sự lỏng lẻo của họ, hoặc từ một số bất lợi ngẫu nhiên: chẳng hạn như việc tọa lạc ở một vùng khí hậu tồi tệ, quá xa về phía bắc, cằn cỗi, ở một nơi đất đai sỏi đá như sa mạc Libya, sa mạc Ả Rập, những chốn không có lấy một giọt nước như vùng Lop hay Belgian ở châu Á, hoặc ở một vùng không khí độc hại như Alexandretta, Bantam, Pisa, Durrazzo, S. John de Ulloa, v.v., hoặc luôn đối mặt với nguy cơ bị biển nhấn chìm liên tục như ở nhiều vùng thuộc Vùng đất thấp và các nơi khác, hoặc sống cạnh những người hàng xóm tồi tệ, như người Hungary sống cạnh người Thổ Nhĩ Kỳ, người Podolia sống cạnh người Tartar, hoặc hầu như bất kỳ quốc gia giáp ranh nào, họ luôn sống trong sợ hãi và vì những cuộc xâm lăng của kẻ thù mà thường xuyên rơi vào cảnh tàn tạ, hoang phế. Tình cảnh của các thành phố cũng tương tự như vậy do [474]chiến tranh, hỏa hoạn, dịch bệnh, lụt lội, [475]dã thú hoành hành, thương mại lụi tàn, các cảng biển bị phong tỏa, bạo lực từ biển cả — Antwerp là một nhân chứng cho điều đó trong thời gian gần đây, Syracuse thuở trước, Brindusium ở Ý, Rye và Dover xứ chúng ta, cùng rất nhiều nơi ngày nay vẫn đang nơm nớp lo sợ trước sự thịnh nộ cuồng nộ của biển cả và phải gồng mình chống đỡ hệt như cách người Venezia đã làm với cái giá đắt đỏ đến không thể tưởng tượng nổi. Nhưng những căn bệnh phổ biến nhất lại chính là những thứ phát sinh từ chính bản thân họ, trước hết là khi tôn giáo và việc phụng sự Chúa bị lơ đễnh, bị cải cách hay đổi thay, khi họ không kính sợ Chúa, không vâng lời vua chúa, khi chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa hưởng lạc, tội bán thánh, tội mua bán chức tước trong giáo hội, v.v., và tất cả những sự bất kính ấy được dung túng một cách tự do, thì xứ sở đó tuyệt đối không thể thịnh vượng được. Khi Abraham đến vùng Gerar và nhìn thấy một vùng đất tồi tệ, ông đã thốt lên rằng chắc chắn sự kính sợ Chúa chẳng hề hiện diện nơi chốn này. [476]Cyprian Echovius, một nhà địa lý học người Tây Ban Nha, trong số tất cả các thành phố của Tây Ban Nha, đã hết lời ca ngợi Borcino, “nơi chẳng có lấy một kẻ ăn mày, không một ai nghèo khó, v.v., mà tất cả đều giàu có và sống trong cảnh sung túc,” và ông đưa ra lý do là vì họ sống đạo đức hơn những người hàng xóm của mình: tại sao Israel lại thường xuyên bị kẻ thù tàn phá, bị bắt làm phu tù, v.v., nếu không phải vì tội thờ thần tượng, lơ là lời Chúa, vì tội phạm thánh, hay thậm chí chỉ vì tội lỗi của một mình Achan? Thế thì chúng ta phải tính sao khi đang sở hữu cả một cơ man nào là những kẻ giống như Achan, những kẻ chuyên cướp bóc nhà thờ, những vị bảo trợ mua bán chức quyền, v.v., làm sao họ có thể hy vọng thịnh vượng khi cứ lơ là các bổn phận thiêng liêng, và sống phần lớn cuộc đời hệt như những kẻ theo chủ nghĩa hưởng lạc?

Những nỗi khổ chung khác cũng gây hại không kém cho một thân thể chính trị: sự thay đổi luật lệ và tập tục, việc phá vỡ các đặc quyền, sự áp bức lan tràn, các cuộc nổi loạn, v.v., đã được quan sát bởi [477]Aristotle, Bodin, Boterus, Junius, Arniscus, v.v. Tôi sẽ chỉ điểm qua một vài điều tai hại nhất. [478]Impotentia gubernandi, sự hỗn loạn, quản lý tồi, phát sinh từ những vị quan lại bất tài, lười biếng, tham lam, vụ lợi, bất công, hấp tấp hoặc chuyên quyền, khi họ chỉ là những kẻ ngu ngốc, đần độn, trẻ ranh, kiêu ngạo, bướng bỉnh, thiên vị, thiếu thận trọng, những kẻ chuyên áp bức, đầu óc bấn loạn, bạo chúa, không có năng lực hoặc không thích hợp để cáng đáng những trọng trách ấy: [479]những thành phố uy nghi và vương quốc thịnh vượng vì thế mà trở thành hoang phế, toàn bộ thân thể oằn mình rên siết dưới những cái đầu như thế, và mọi bộ phận ắt cũng sẽ nhiễm bệnh, hệt như ngày nay những tỉnh lỵ tươi đẹp ở Tiểu Á, v.v., đang oằn mình gánh chịu ách thống trị của người Thổ Nhĩ Kỳ; và những vương quốc rộng lớn ở Muscovia, Nga chìm đắm [480]dưới ách độc tài của một vị công túc bạo ngược. Đã có ai từng nghe nói về những xứ sở nào đông đúc, văn minh và giàu có hơn những vùng “Hy Lạp, Tiểu Á, trù phú với mọi thứ [481]của cải, dân cư đông đúc, lực lượng hùng hậu, quyền uy, sự lộng lẫy và tráng lệ” chưa? Và cả kỳ quan của các xứ sở, [482]Đất Thánh — nơi trên một diện tích nhỏ hẹp thế mà có thể nuôi sống bấy nhiêu là thị trấn, thành phố, sản sinh ra biết bao tráng sĩ chiến trận? Ai Cập, một thiên đường khác, giờ đây lại hoang vu, dã man và gần như cằn cỗi dưới nền cai trị chuyên chế của một tên Thổ Nhĩ Kỳ hống hách, intolerabili servitutis jugo premitur (như lời một kẻ đã than thở), không chỉ lửa và nước, của cải hay đất đai, sed ipse spiritus ab insolentissimi victoris pendet nutu — thậm chí ngay cả hơi thở và linh hồn của họ cũng phụ thuộc hoàn toàn vào ý muốn và mệnh lệnh ngạo mạn của kẻ chiến thắng. Một kẻ bạo chúa tàn phá tất thảy mọi nơi hắn đặt chân đến, đến mức một [484]sử gia đã phải than thở rằng: “Nếu một vị cao niên từng sống ở đó từ trước nay quay lại nhìn thấy họ, ông sẽ chẳng thể nhận ra nổi, còn nếu là một du khách hay kẻ lữ hành, trái tim ông ta sẽ phải thắt lại khi chứng kiến cảnh tượng ấy.” Trong khi đó, [485]Aristotle lưu ý rằng những khoản sưu thuế mới, những gánh nặng mới liên tục giáng xuống đầu họ, hệt như những thứ mà Zosimus đã miêu tả trong Quyển II, cay đắng đến mức ut viri uxores, patres filios prostituerent ut exactoribus e questu, &c. — đàn ông phải đem vợ, cha mẹ phải đem con cái ra để bán dâm cốt lấy tiền nộp thuế cho quan chức, v.v., họ chắc chắn sẽ bất mãn, hinc civitatum gemitus et ploratus, như [486]Cicero nhận định, từ đó sinh ra những tiếng than van và nước mắt của các thành phố, những “thần dân nghèo khổ, khốn cùng, nổi loạn và tuyệt vọng,” như lời bổ sung của [487]Hippolitus; và [488]như một đồng hương sáng suốt của chúng ta đã quan sát không lâu trước đây trong một cuộc khảo sát về Đại Công quốc Tuscany rằng, người dân sống trong nỗi đau buồn và bất mãn sâu sắc, điều đó thể hiện rõ qua muôn vàn lời than vãn hiển hiện của họ trong vấn đề này. “Rằng đất nước ấy giống như một cơ thể bệnh tật vừa mới uống thuốc đắng, với những thể dịch hãy còn chưa kịp lắng xuống, và bị suy kiệt nặng nề bởi những đợt tẩy trừ đến mức chẳng còn lại gì ngoài chứng u sầu.”

Trong khi các bậc vương hầu và thế lực lại chìm đắm trong dục vọng vô độ, giả hình, hưởng lạc, chẳng có lấy chút tôn giáo nào ngoài lớp vỏ bề ngoài: Quid hypocrisi fragilius? Có thứ gì dễ vỡ và bấp bênh hơn thế ư? Có thứ gì lật đổ vương triều nhanh hơn những dục vọng hoang dại và cuồng nộ hướng về vợ con của thần dân mình hay không? Để rồi thay vì facam praeferre — dẫn đường chỉ lối cho mọi hành động đức hạnh, họ lại thường xuyên sắm vai những kẻ cầm đầu mọi thói hư tật xấu và lối sống trác táng, để rồi kết cục là đất nước của họ bị trừng phạt, [489]“còn chính bản thân họ thì thường chuốc lấy diệt vong, bị lưu đày hoặc sát hại bởi chính âm mưu của thần dân mình, hệt như Sardanapalus, Dionysius Trẻ, Heliogagalus, Periander, Pisistratus, Tarquinius, Timocrates, Childericus, Appius Claudius, Andronicus, Galeacius Sforza, Alexander Medices,” v.v.

Khi các vương and thế lực mang tâm địa hiểm độc, đố kỵ, bè phái, tham vọng, ghen đua, chúng xé nát đất nước thành trăm mảnh hệt như những phe phái Guelf và Gibeline, phá nát sự bình yên của xứ sở, [490]và để mặc cho nó rỉ máu đến chết qua những vụ sát hại lẫn nhau; sử sách của chúng ta đã quá dư thừa những sự dã man tàn bạo cùng những nỗi khốn khổ phát sinh từ đó.

Khi họ hệt như những con vắt đói khát, bòn rút, tham nhũng, [491]tham vọng, avaritice mancipia, tham lam như loài sói, bởi như Cicero đã viết: qui praeest prodest, et qui pecudibus praeest, debet eorum utilitati inservire — kẻ cai quản phải mang lại ích lợi, và kẻ chăn dắt bầy đàn phải phục vụ cho lợi ích của chúng; hoặc những kẻ luôn đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích công cộng. Bởi vì như [492]ông từng nói từ thuở trước, res privatae publicis semper officere — việc tư luôn làm hại việc công. Hoặc khi họ dốt nát, mù chữ, chỉ là những kẻ tay ngang trong chính trị, ubi deest facultas, [493]virtus (Aristotle, Chính trị học, quyển V, chương VIII) et scientia, chỉ khôn ngoan nhờ thừa kế, nắm giữ quyền lực nhờ quyền trưởng nam, sự sủng ái, hay vì của cải và tước vị; thì ở đó chắc chắn sẽ xuất hiện sai lầm, [494]một sự thiếu hụt trầm trọng: bởi vì như một [495]triết gia cổ đại từng khẳng định, những con người như thế không phải lúc nào cũng đủ khả năng. “Trong một số lượng vô hạn, chỉ có rất ít người được làm thượng nghị sĩ, và trong số ít ỏi đó, lại càng có ít người tốt hơn, và trong cái con số nhỏ nhoi những kẻ lương thiện, tốt lành và quý phái ấy, chẳng có mấy ai là người uyên bác, khôn ngoan, thận trọng và đủ khả năng cáng đáng những trọng trách đó, điều đó chắc chắn sẽ dẫn đến sự suy vong của một quốc gia.”

Bởi vì Princes thế nào, dân chúng thế ấy: Qualis Rex, talis grex; và điều mà [497]Antigonus từng nói rất đúng thuở trước: qui Macedonia regem erudit, omnes etiam subditos erudit — kẻ dạy dỗ vua xứ Macedonia chính là kẻ dạy dỗ tất thảy thần dân của ngài, vẫn là một chân lý vẹn nguyên.

Bởi vì các vị vua chính là tấm gương, là mái trường, là cuốn sách,

Nơi ánh mắt thần dân học hỏi, đọc và soi mình vào đó.

———Velocius et citius nos

Corrumpunt vitiorum exempla domestica, magnis

Cum subeant animos auctoribus.———[498]

Những tấm gương hư hỏng trong nhà là thứ nhanh chóng làm nhơ nhuốc chúng ta nhất,

Nhất là khi chúng được cổ súy bởi những kẻ có quyền thế lớn lao.

Những tấm gương của họ là thứ nhanh chóng bị học theo nhất, những thói hư tật xấu dễ dàng được dung túng nhất; nếu họ vô thần, bất kính, dâm ô, truỵ lạc, hưởng lạc, bè phái, tham lam, dốt nát, thì đại đa số dân chúng cũng sẽ y hệt như vậy: lười biếng, hoang đàng, dễ sa ngã vào dục vọng, say xỉn, và do đó trở nên nghèo túng, khốn cùng (ἡ πενια στάσιν ἐμποιει καὶ κακουργίαν, bởi sự nghèo đói sinh ra nổi loạn và tội ác), chực chờ mọi cơ hội để nổi dậy và chống đối, lúc nào cũng bất mãn, cằn nhằn, phàn nàn, ấm ức, sẵn sàng làm mọi chuyện tàn ác, trộm cắp, phản quốc, mưu sát, nổi loạn, ngập chìm trong nợ nần, chuyên lừa đảo, bịp bợm, thành những kẻ sống ngoài vòng pháp luật, Profligatae famae ac vitae. Đó là châm ngôn của một nhà chính trị cổ đại: “Những kẻ nghèo hèn và đồi bại thường đố kỵ với người giàu, căm ghét người tốt, ghê tởm chính quyền hiện tại, khát khao một sự đổi thay và muốn lật nhào mọi thứ đảo điên.” Khi Catiline nổi loạn ở Rome, hắn đã quy tụ được một bọn cưu mang những kẻ đán đúm vô lại ấy xung quanh mình, chúng chính là tay chân và cộng sự thân tín của hắn; và trong mọi thời đại, những kẻ nổi loạn của các ngươi hầu hết cũng toàn một một giuộc như thế: Jack Cade, Tom Straw, Kette cùng những đồng bọn của hắn.

Nơi đâu dân chúng chìm đắm trong truỵ lạc và tranh chấp, nơi đâu có vô vàn bất hòa, vô vàn luật lệ, vô vàn vụ kiện tụng, vô vàn luật sư và thầy thuốc, đó là dấu hiệu rành rành của một thân thể chính trị bệnh hoạn và u sầu, đúng như [500]Plato từng khẳng định từ lâu: bởi nơi nào mà những hạng người đó sinh sôi nảy nở đông đúc, thì chúng sẽ càng tạo ra nhiều việc làm cho chính mình, khiến cho thân thể chính trị vốn dĩ lành lặn trở nên bệnh hoạn. Đó là một hiểm họa chung trong thời đại chúng ta, một thứ dịch bệnh vô hình, và chưa bao giờ chúng lại đông đúc đến thế: “những kẻ giờ đây đang sinh sôi nảy nở,” theo lời Mat. Geraldus (chính bản thân cũng là một luật sư), “hệt như một đàn châu chấu, không phải là bậc sinh thành, mà là tai ương của đất nước, và phần lớn là một tầng lớp kiêu ngạo, tồi tệ, tham lam và ưa kiện tụng.” [501]Crumenimulga natio, v.v. Một lũ moi túi người ta, một bầy đàn ồn ào, những con kền kền mặc áo choàng, [503]qui ex injuria vivent et sanguine civium — sống bằng những bất công và dòng máu của người dân, những tên trộm cắp và là mầm mống của sự bất hòa; tệ hại hơn cả những kẻ cướp bóc bên vệ đường, auri accipitres, auri exterebronides, pecuniarum hamiolae, quadruplatores, curiae harpagones, fori tintinabula, monstra hominum, mangones, v.v., những kẻ ra điều lập lại hòa bình nhưng thực chất lại chính là kẻ phá hoại sự bình yên của chúng ta, một bầy đàn quỷ hút máu vô thần, chuyên bòn rút, vơ vét, những tên sai dịch đói khát (ý tôi là những kẻ cò con chuyên tụ tập ở tòa án, rabulas forenses — dĩ nhiên tôi vẫn luôn yêu quý và tôn trọng mọi bộ luật chân chính cùng những vị luật sư đáng kính, những người hệt như những [505]ngọn hải đăng và hoa tiêu của một nền cộng hòa được trị an tốt). Chẳng có tài năng, chẳng có phán đoán, chúng gây ra nhiều tác hại hơn, như lời [506]Livy nói, quam bella externa, fames, morbive — hơn cả chiến tranh ngoại xâm, nạn đói hay bệnh tật; “và gây ra một sự tàn phá khủng khiếp đến không thể tưởng tượng nổi cho đất nước,” theo lời [507]Sesellius, một chuyên gia luật dân sự nổi tiếng từng ở Paris, hệt như cây thường xuân bám lấy cây sồi, ôm chặt lấy nó cho đến khi hút cạn nhựa sống mới thôi, chúng cũng đối xử với những nơi chúng đặt chân đến y như vậy; chẳng có chút lời khuyên nào, chẳng có chút công lý nào, chẳng thể thốt ra được câu nào nisi eum premulseris — nếu ngươi không nhét tiền vào miệng chúng, hoặc nếu không chúng sẽ câm như hến, thà cạy miệng một con hến còn dễ hơn. Experto crede (theo lời [508]Salisburiensis): in manus eorum millies incidi, et Charon immitis qui nulli pepercit unquam, his longe clementior est — “Tôi nói bằng chính kinh nghiệm xương máu của mình, tôi đã sa vào tay bọn chúng hàng ngàn lần, và ngay cả vị thần sông âm phủ Charon bất dung thứ chưa từng tha thiết cho ai kia còn tỏ ra nhân từ hơn chúng rất nhiều; [509]ông ta chỉ bằng lòng với một đồng tiền đò duy nhất, còn bọn chúng thì cứ vơ vét mãi chẳng bao giờ biết đủ,” chưa kể chúng còn mang cái lưỡi quỷ quyệt damnificas linguas, như ông gọi, nisi funibus argenteis vincias — nếu ngươi không dùng tiền bạc để trói chặt miệng chúng lại, thì số tiền ngươi phải chi để chúng chịu giữ im lặng còn lớn hơn cả số tiền ngươi bỏ ra để thuê người nói những lời hay ý đẹp nhất. Chúng sẽ nói ngọt với thân chủ, mời họ dùng bữa tối tại nhà mình, nhưng rồi như ông đã tiếp lời, [510]“trong tất cả mọi sự bất công, chẳng có sự bất công nào tai hại bằng thứ bất công của bọn chúng, khi mà vừa lúc chúng lừa gạt người ta đau đớn nhất, thì lại cứ ra điều mình là những kẻ lương thiện.” Chúng tự nhận mình là những sứ giả hòa bình, et fovere causas humilium, giúp người nghèo đòi lại công lý, patrocinantur afflictis, thế nhưng tất cả chỉ vì lợi ích của chính chúng, ut loculos pleniorom exhauriant — để vét sạch những chiếc túi căng phồng hơn của người khác; chúng nhận bào chữa miễn phí cho người nghèo, nhưng thực chất đó chỉ là miếng mồi nhử để bắt những con mồi béo bở khác. Nếu chẳng có vụ kiện nào, [513]chúng có thể tự tạo ra một vụ, từ chính trong bộ luật tìm ra những kẽ hở này hay mánh khóe nọ để xúi giục người ta cãi vã, rồi kéo dài các vụ kiện hết năm này qua năm khác, lustra aliquot, tôi cũng chẳng biết là bao nhiêu năm trời trước khi vụ việc được mang ra xét xử, và đến khi nó được phán quyết rồi thì do những mánh khóe và sai sót kỹ thuật nào đó, mọi thứ lại quay về vạch xuất phát hệt như ban đầu, đôi khi kéo dài gấp đôi bảy năm trời; cứ thế chúng kéo dài thời gian, trì hoãn các vụ kiện cho đến khi chúng đã vơ vét đến giàu sụ còn thân chủ thì rơi vào cảnh khùng cùng khánh kiệt. Và hệt như cách Cato từng đả kích các học trò của Isocrates, chúng ta cũng hoàn toàn có thể lên án những gã luật sư cãi vạ của mình, họ consenescere in litibus, quá đỗi quen thuộc với những trò kiện tụng và bận rộn trần gian này đến nỗi tôi nghĩ mai mốt đây xuống địa ngục, một số trong bọn họ chắc chắn vẫn sẽ nhận cãi thuê cho các thân chủ ở dưới đó cho mà xem. [515]Simlerus từng phàn nàn về các biện hộ sư ở Thụy Sĩ thời của ông rằng, khi lẽ ra họ phải đặt dấu chấm hết cho các tranh chấp, thì họ lại khơi mào cho chúng, và “kéo dài các vụ kiện nhùng nhằng qua nhiều năm trời, rót vào tai thân chủ rằng phần thắng chắc chắn thuộc về họ, cho đến khi gia sản của những con người khốn khổ ấy bị tiêu tan sạch sẽ, và họ nhận ra mình đã tốn kém cho việc kiện tụng nhiều hơn cả giá trị thực của món tài sản, hoặc nhiều hơn cả những gì họ có thể đòi lại được.” Thế nên kẻ nào đi kiện, đúng như câu tục ngữ, [516]chẳng khác nào đang túm lấy tai một con sói, hoặc hệt như con cừu giữa cơn giông bão chạy đi tìm chỗ nấp dưới lùm cây gai góc, nếu hắn theo đuổi vụ kiện hắn sẽ bị bào mòn đến khánh kiệt, còn nếu hắn bỏ cuộc hắn sẽ mất sạch tất cả; vậy thì khác biệt chỗ nào? Thuở trước, thánh Augustine kể rằng người ta thường giải quyết mọi chuyện per communes arbitros — thông qua những trọng tài viên chung; và ở Thụy Sĩ cũng vậy (như chúng ta được thông tin bởi [517]Simlerus), “họ có những trọng tài viên chung hoặc người phân xử ở mỗi thị trấn, chuyên đứng ra dàn hòa một cách thân thiện giữa người với người, và ông vô cùng ngạc nhiên trước sự đơn sơ, lương thiện của họ, khi có thể giữ gìn sự hòa bình tốt đến thế và giải quyết những vụ việc lớn lao chỉ bằng cách đó.” Tại [518]Fez ở châu Phi, họ chẳng có lấy một vị luật sư hay biện hộ sư nào; mà hễ có bất kỳ tranh chấp nào nảy sinh, cả nguyên đơn lẫn bị đơn đều tự mình đến gặp các Alfakin — tức các vị chánh án — “và ngay lập tức, chẳng cần phải qua những phiên tòa kháng cáo phiền hà hay những sự trì hoãn thảm hại nào khác, vụ việc được lắng nghe và phán quyết dứt điểm.” Tổ tiên chúng ta, như [520]một nhà địa lý học đáng kính của xứ sở đã quan sát, thuở trước chỉ dùng vài chiếc thánh giá bằng vàng nhỏ xíu pauculis cruculis aureis cùng vài dòng thơ là đã có thể lập xong mọi giấy tờ chuyển nhượng, cam kết. Và sự minh bạch, chính trực của những thế hệ tiếp nối lớn đến mức một văn khố (như tôi đã từng thấy rất nhiều lần) nhằm nhượng lại cả một thái ấp rộng lớn, được thu gọn một cách hàm súc chỉ trong khoảng chừng hai mươi dòng văn bản; hệt như tấm thẻ hoặc cây trượng lệnh Sytala Laconica từng nổi danh lừng lẫy thuở trước trong mọi giao ước — thứ mà [521]Cicero đã hết lời ca ngợi khi viết thư cho Atticus, Plutarch trong tác phẩm Lysander, Aristotle trong sách Chính trị học, Thucydides quyển I, Diodorus và Suidus đều đồng tình và ca tụng vì tính ngắn gọn kiểu Laconica trong cách làm này; và quả thực họ hoàn toàn có quyền làm thế, bởi theo [523]Tertullian, certa sunt paucis — sự chắc chắn luôn nằm trong những ngôn từ ngắn gọn. Và thuở trước mọi thứ đều diễn ra như thế; thế nhưng ngày nay, dường như bao nhiêu lớp da cừu thuộc da cũng chẳng đủ để viết giấy tờ; kẻ mua hay bán một ngôi nhà phải sở hữu cả một căn nhà ngập ngụa giấy tờ văn bản, với bấy nhiêu là tình tiết, bấy nhiêu là chữ nghĩa, bấy nhiêu lần lặp đi lặp lại những chi tiết vụn vặt đến nhàm chán (họ ngụy biện rằng làm thế để tránh cãi cọ); thế nhưng qua những trải nghiệm đớn đau của chính mình, chúng ta nhận ra rằng đối với những bộ óc ranh mãnh, đó lại là cội nguồn của biết bao tranh chấp và bất hòa, và chẳng có một bản hợp đồng nào dù được soạn thảo kỹ lưỡng đến đâu đi nữa mà kẻ khác lại không thể vạch ra một lỗ hổng hay tìm cớ bắt bẻ; chỉ cần sai sót một từ, lệch lạc một chút tiểu tiết thôi là mọi thứ đều bị vô hiệu hóa. Thứ gì là luật pháp ngày hôm nay thì ngày mai đã chẳng còn là luật; thứ gì được coi là đúng đắn dưới con mắt của kẻ này lại là thói hư tật xấu rành rành dưới góc nhìn của kẻ khác; tóm lại, chẳng có gì tồn tại giữa chúng ta ngoài những cuộc tranh chấp và sự hỗn loạn, chúng ta cứ mãi cấu xé và chống phá lẫn nhau. Và điều mà từ lâu [524]Plutarch từng phàn nàn về họ ở châu Á, nay hoàn toàn có thể ứng nghiệm vào thời đại chúng ta: “Những kẻ tụ tập nơi đây chẳng phải đến để dâng hiến vật tế cho các vị thần, để dâng lên Jupiter những hoa lợi đầu mùa, hay để hoan ca cùng Bacchus; mà là vì một căn bệnh hàng năm hoành hành châu Á đã lôi kéo họ đến đây, cốt để giải quyết những vụ kiện tụng và tranh chấp của mình.” Đó chính là multitudo perdentium et pereuntium — một lũ đàn áp và bị tàn diệt, chuyên đi tìm sự suy vong của kẻ khác. Phần lớn những nguyên đơn, khách trọ hay thân chủ ở các phiên tòa của chúng ta đều là như thế, mỗi ngày lại mọc lên những trò kích động mới, những sự hiểu lầm, sai sót, bắt bẻ, và ngay vào lúc này đây, như tôi được nghe kể ở một tòa án nào đó, có đến ngàn vạn vụ kiện đang chờ giải quyết: chẳng có ai là được an toàn, chẳng có tước hiệu nào là thực sự vững chãi, cùng với sự cay cú đến cùng cực trong cách theo đuổi vụ kiện, muôn vàn thủ đoạn, sự trì hoãn, ngụy tạo giấy tờ, chi phí khổng lồ (với những khoản tiền vô tận bị vung vãi một cách thiếu suy nghĩ), bạo lực và ác tâm — tôi cũng chẳng rõ lỗi lầm này thuộc về ai: luật sư, thân chủ, luật pháp, hay là tất cả bọn họ nữa; nhưng hệt như cách Phaolô từng quở trách những [525]tín đồ Cô-rinh-tô thuở trước, giờ đây tôi hoàn toàn có thể đanh thép đúc kết rằng: “Giữa các ngươi đã có sẵn sự sai quấy, và tôi nói điều đó để làm các ngươi hổ thẹn, chẳng lẽ trong các ngươi lại không tìm nổi lấy một [526]bậc hiền triết nào để phân xử giữa các anh em sao? Mà lại để người anh em đem kiện người anh em trước tòa?” Và lời khuyên của [527]Chúa Jesus về chuyện kiện tụng chưa bao giờ là thích hợp để khắc cốt ghi tâm hơn lúc này: [528]“Hãy sớm hòa giải với kẻ thù nghịch cùng ngươi,” v.v., sách Ma-thi-ơ, chương V, câu 25.

Tôi hoàn toàn có thể lặp lại rất nhiều nỗi khổ chung tương tự — những thứ đang làm chao đảo và rung chuyển một thân thể chính trị. Tóm lại một câu ngắn gọn, nơi nào có chính quyền tốt, có những vị minh quân khôn ngoan và sáng suốt, nơi đó vạn vật đều sinh sôi thịnh vượng, hòa bình và hạnh phúc ngự trị trên xứ sở ấy: còn ngược lại, mọi thứ sẽ trở nên nhếch nhác, hoang vu, dã man, vô văn hóa, và thiên đường sẽ bị biến thành chốn hoang mạc. Hòn đảo của chúng ta cùng với những người láng giềng sát vách là người Pháp và người Đức chính là những nhân chứng rõ mùng một cho thấy chỉ trong một thời gian ngắn, nhờ vào chính sách khôn ngoan của người La Mã, họ đã thoát khỏi cảnh dã man; hãy nhìn xem Caesar đã viết gì về chúng ta, và Tacitus đã miêu tả gì về những người Đức cổ đại ấy, họ từng hoang dã chẳng khác nào người da đỏ ở Virginia, thế nhưng nhờ vào việc lập ra các thuộc địa và những bộ luật tốt, họ đã lột xác từ những kẻ sống ngoài vòng pháp luật trở thành [529]những xứ sở ngập tràn các thành phố giàu có, đông đúc hệt như ngày nay, trở thành những vương quốc thịnh vượng bậc nhất. Cảnh ngộ đó hoàn toàn có thể xảy ra với Virginia và những đám dân Ireland hoang dã kia từ lâu rồi, nếu như trật tự ấy được thiết lập từ thuở trước hệt như những gì mà giờ đây người ta mới bắt đầu thực hiện, đó là lập các thuộc địa, v.v. Tôi đã từng đọc một [530]bài luận được ấn hành năm 1612 mang tựa đề: “Khám phá những nguyên nhân đích thực khiến Ireland chưa từng được khuất phục hoàn toàn hay chịu khuất phục dưới ách vâng phục của vương triều Anh, cho đến tận triều đại hạnh phúc của Đức Vua.” Thế nhưng nếu những lý lẽ trong đó được mổ xẻ tường tận bởi một nhà chính trị gia sắc sảo, tôi e rằng ông ta sẽ chẳng đời nào tán thành, và điều đó chỉ tổ mang lại nỗi hổ nhục cho quốc gia chúng ta khi để một vùng đất hoang hóa lâu đến thế. Phải, và nếu một vài du khách có dịp chứng kiến (để nói gần gũi hơn) những Vùng đất thấp trù phú và thống nhất của Holland, Zealand, v.v., nằm ngay bên kia eo biển; những thành phố tươm tất và thị trấn đông đúc ngập tràn những thợ thủ công cần cù chăm chỉ, [531]biết bao nhiêu phần đất đai được giành lại từ biển cả và được gìn giữ một cách đầy gian khổ bởi những phát minh nhân tạo, được ca ngợi một cách kỳ diệu hệt như vùng Bemster ở Holland, ut nihil huic par aut simile invenias in toto orbe, theo lời nhà địa lý học Bertius, cả thế giới này chẳng thể tìm đâu ra đối thủ xứng tầm, [532]biết bao nhiêu là kênh rạch có thể tàu bè qua lại được đào bới bởi đôi tay con người, v.v., để rồi quay đầu nhìn lại phía chúng ta xem: hàng ngàn mẫu đầm lầy ngập chìm trong nước, các thành phố thì thưa thớt, nghèo nàn và nhếch nhác đến độ chẳng dám nhìn nếu đem so với họ, thương mại lụi tàn, những con sông từng chảy xiết nay bị chặn dòng, và lợi ích to lớn từ việc vận tải đường thủy thì bị phớt lờ hoàn toàn, biết bao cảng biển vắng bóng tàu bè và những thị trấn tiêu điều, biết bao công viên và khu rừng bảo tồn để vui chơi, những vùng đất hoang cằn cỗi, bao ngôi làng tiêu điều hoang phế, v.v., tôi chắc chắn rằng ông ta sẽ phải tìm ra khối điều bất cập.

Tôi không hề phủ nhận rằng quốc gia chúng ta bene audire apud exteros — nổi danh là một vương quốc vô cùng cao quý và thịnh vượng dưới sự đồng thuận của tất cả các nhà [533]địa lý học, sử gia và chính trị gia, nó giống như unica velut arx — một pháo đài độc nhất vô nhị; [534]và câu nói của Quintius trong sử liệu của Livy về cư dân vùng Peloponnesus hoàn toàn có thể áp dụng thật chuẩn xác cho chúng ta: chúng ta giống như testudines testa sua inclusi — những chú rùa thu mình trong mai, được bảo vệ một cách an toàn bởi một vùng biển đầy giận dữ bao bọc tứ bề hệt như một bức tường thành. Hòn đảo của chúng ta sở hữu biết bao lời ca tụng danh giá; và hệt như một đồng hương uyên bác của chúng ta từng đúc kết, [535]“Kể từ khi người Norman lần đặt chân đến nước Anh cho đến nay, quốc gia này, dù là trong các vấn đề quân sự hay mọi mặt văn minh khác, vẫn luôn sánh ngang với những vương quốc thịnh vượng bậc nhất của châu Âu và thế giới Cơ Đốc giáo chúng ta,” một xứ sở diễm phúc, giàu có và là một trong những hòn đảo may mắn; và về một số phương diện, nó còn [536]vượt trội hơn hẳn các quốc gia khác nhờ những thủy thủ lão luyện, những chuyến thám hiểm đầy gian khổ, nghệ thuật hàng hải siêu đẳng và những thương gia chân chính, họ hoàn toàn lấn át tất cả các quốc gia khác, kể cả người Bồ Đào Nha và người Hà Lan; [537]“chẳng hề sợ hãi,” theo lời Boterus, “họ rẽ sóng đại dương suốt bốn mùa đông hạ, và hai vị thuyền trưởng của họ với lòng dũng cảm cùng vận may không kém cạnh ai đã từng giương buồm đi vòng quanh thế giới.” Chúng ta còn sở hữu biết bao ơn phước riêng có mà những người láng giềng phải thèm khát: Tin Lành được ra giảng một cách chân chính, kỷ luật nhà thờ được thiết lập vững vàng, sự hòa bình và yên ổn kéo dài không bị quấy rầy bởi sưu thuế, nỗi sợ ngoại bang, những cuộc xâm lược hay bạo loạn trong nước, đất đai được cày cấy chăm bón kỹ lưỡng, [539]được bảo vệ vững chắc bởi cả nghệ thuật lẫn thiên nhiên, và giờ đây lại vô cùng hạnh phúc trong liên minh diễm phúc giữa Anh và Scotland — thứ mà tổ tiên chúng ta từng chật vật tìm kiếm và hằng ao ước được nhìn thấy. Thế nhưng dẫu có lắm hoa hồng thì vẫn có những cọng gai, vẫn xuất hiện những thứ cỏ dại và tệ nạn gặm nhấm làm chao đảo sự bình yên của thân thể chính trị này, làm lu mờ vinh quang và ánh hào quang của nó, những thứ cần phải được nhổ tận gốc và cải cách với tốc độ nhanh nhất có thể.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.