[THƯƠNG MỤC] I.—Trầm cảm tôn giáo thể thiếu hụt; các đối tượng chịu ảnh hưởng, gồm phái Khoái lạc, phái Vô thần, kẻ đạo đức giả, người u mê tự mãn, tín đồ xác thịt; tất cả những kẻ bất kính, tội nhân bất hối, v.v.
Ở thái cực hoặc sự thiếu hụt còn lại này của tình yêu dành cho Thượng Đế, sự hiểu biết, niềm tin, nỗi sợ hãi, niềm hy vọng, v.v., đều là những thứ sai lầm cả về giáo lý lẫn hạnh kiểm, như phái Xad-u-sê, phái Hê-rô-đê, phái tự do phóng túng, những kẻ mưu mô chính trị; đủ mọi loại người vô thần, phái khoái lạc, kẻ ngoại đạo, những kẻ u mê tự mãn theo kiểu đã bị ruồng bỏ, hoàn toàn không sợ hãi Thượng Đế chút nào, và những kẻ quá đa nghi, sợ sệt như những người đã rơi vào cảnh tuyệt vọng. Tội lỗi tột cùng của sự vô thần hoặc bất kính ấy, [6617]Melancthon gọi là monstrosam melancholiam, tức chứng trầm cảm quái đản; hoặc venenatam melancholiam, tức chứng trầm cảm nhiễm độc. Một lũ Cyclops hoặc những gã khổng lồ dám gây chiến với các vị thần, như lời các nhà thơ thêu dệt, là những kẻ đi ngược lại với người Cơ Đốc, nhạo báng mọi tôn giáo, nhạo báng chính Thượng Đế, chối bỏ Ngài cùng mọi thuộc tính của Ngài, từ sự khôn ngoan, quyền năng, sự quan phòng, cho đến lòng thương xót và sự phán xét của Ngài.
[6618]Esse aliquos manes, et subterranea regna,
Et contum, et Stygio ranas in gurgite nigras,
Atque una transire vadum tot millia cymba,
Nec pueri credunt, nisi qui nondum aere lavantur.
Rằng có thiên đường hay địa ngục, có sự sống lại của người chết, có sự đau khổ, niềm hạnh phúc, hay thế giới mai sau, thì chỉ có người Do Thái Apella mới tin; còn với bọn chúng, chúng coi những điều ấy chẳng khác gì chuyện cổ tích của tụi làm thơ, là ông kẹ hù dọa, hay cuốn sách Alexander của Lucian; trong tín điều của chúng thì Môsê, Mahomet và Chúa Kitô thảy đều là một. Khi những cuộc chiến tranh đẫm máu ở Pháp vì chuyện tôn giáo (như lời [6619]Richard Dinoth kể lại) diễn ra vô cùng ác liệt giữa phái Huguenot và phái Giáo hoàng, có một nhóm những gã ăn chơi phè phỡn đã cười vào mặt tất cả bọn họ, vì cho rằng đó là những kẻ ngu ngốc mê tín đến mức đánh mất cả vợ con và gia tài, còn đức tin, tôn giáo, và sự bất tử của linh hồn thì chúng coi chẳng qua chỉ là trò nhảm nhí và ảo tưởng. Những tâm hồn lỏng lẻo, [6620]vô thần như thế đang chiếm ưu thế quá lớn ở mọi vương quốc. Cứ để mặc cho kẻ nào muốn tranh chấp, cầu nguyện, run rẩy hay tự rước lấy phiền muộn thì cứ việc, còn phần chúng, chúng chẳng sợ Chúa cũng chẳng sợ quỷ; mà giống như gã Cyclops trong kịch của Euripides,
Haud ulla numina expavescunt caelitum,
Sed victimas uni deorum maximo,
Ventri offerunt, deos ignorant caeteros.
Chúng chẳng sợ vị thần nào ngoài một vị duy nhất,
Chẳng cúng tế cho ai.
Ngoài cái bụng, và chỉ tôn thờ nó,
Bởi chẳng còn biết vị thần nào khác nữa.
“Chúa của chúng là cái bụng,” như lời Phaolô đã nói; Sancta mater saturitas;—quibus in solo vivendi causa palato est. Thần tượng mà chúng tôn kính và sùng bái chính là tình nhân của chúng; y như lời nhân vật trong kịch của Plautus, mallem haec mulier me amet quam dii, chúng thà được người đẹp ấy sủng ái còn hơn được các vị thần đoái hoài. Sa-tan là kẻ dẫn đường, xác thịt là thầy dạy, sự giả hình là mưu sĩ, thói hư vinh là bạn chiến đấu, ý muốn của bản thân là luật pháp, lòng tham vọng là thủ lĩnh, thói quen là khuôn vàng thước ngọc; sự liều lĩnh, táo tợn và trơ tráo là kỹ nghệ, những trò vô bổ là nghề buôn bán, còn sự đọa đày là cái kết cuối cùng. Mọi nỗ lực của chúng chỉ nhằm thỏa mãn dục vọng và ham muốn, tìm cách chiều chuộng bản năng và vui vẻ cho hiện tại, Ede, lude, bibe, post mortem nulla voluptas.[6621]“Số phận của con người và loài vật là giống nhau; con này chết thì con kia cũng chết,” sách Giảng Viên, chương iii, câu 19. Thế giới cứ thế quay vòng,
[6622]———truditur dies die,
Novaeque pergunt interire Lunae:
[6623]Xưa kia người ta đã ăn uống, cưới hỏi, chôn cất, mua bán, trồng trọt, xây cất, và nay vẫn cứ tiếp tục làm thế. [6624]“Đời người thật ngắn ngủi và đầy buồn chán, khi một người chết đi thì chẳng thể hồi sinh, cũng chẳng ai từng được biết có kẻ nào từ cõi chết quay về; bởi chúng ta sinh ra hoàn toàn tình cờ, rồi mai sau sẽ ra sao thì cũng giống như chưa từng tồn tại; vì hơi thở trong mũi chúng ta chẳng khác nào làn khói, v.v., và linh hồn rồi sẽ tan biến như ngọn gió nhẹ.” [6625]“Nào, hãy cùng nhau tận hưởng những lạc thú trước mắt, hãy hào hứng tận dụng tạo vật như khi tuổi trẻ, hãy lấp đầy thân mình bằng rượu ngon và dầu thơm, đừng để bông hoa đời trôi qua mất, hãy tự đội lên đầu những vòng hoa hồng trước khi chúng héo tàn,” v.v. [6626]Vivamus mea Lesbia et amemus, &c. [6627] “Nào, hãy cùng nhau đắm chìm trong tình yêu và những cuộc vui âu yếm, bởi đó là phần thưởng, là số phận dành cho chúng ta.”
Tempora labuntur, tacitisque senescimus annis.[6628] Còn chuyện thiên đường hay địa ngục thế nào, cứ để trẻ con và những kẻ ngu ngốc mê tín tin điều đó đi; còn đối với chúng, chúng chẳng những không hề run rẩy trước ngày phán xét hãi hùng mà thậm chí còn ước ao giống như Nero: Me vivo fiat, mong sao nó cứ đến ngay trong đời chúng: chúng quá ư u mê tự mãn, quá tuyệt vọng, quá vô độ trong dục vọng và lạc thú, quá đỗi quen với việc trả thù đến mức, như Paterculus đã nói về một lũ khốn nạn thời đó ở Roma: Quod nequiter ausi, fortiter executi: bất cứ việc gì chúng nhúng tay vào, dẫu có mưu mô hiểm độc đến đâu thì khi thực hiện cũng liều lĩnh và táo tợn đến đó. Nếu không có ơn kìm hãm của Thượng Đế, không có sự sợ hãi và lòng hổ thẹn, hình phạt trần thế cùng chính tiếng xấu của chúng, thì chúng đã sớm xé xác nhau ra như Lycaon, nuốt chửng nhau như một lũ ăn thịt người, hay tàn sát lẫn nhau như đám lính của Cadmus rồi. Bọn chúng là những kẻ bất kính nhất, và thường là những kẻ công khai nhận mình vô thần, chẳng bao giờ thốt đến danh xưng của Thượng Đế trừ khi để thề thốt; trong lối sống, chúng chẳng bộc lộ điều gì ngoài chủ nghĩa khoái lạc hay sự giả hình; giống như Pentheus, chúng phớt lờ và khinh miệt những nghi lễ cùng tôn giáo của các vị thần; chúng muốn tự làm thần, hoặc ít nhất cũng là socii deorum. Divisum imperium cum Jove Caesar habet. “Caesar chia sẻ đế quyền cùng thần Jupiter.” Apryis, một bạo chúa Ai Cập, theo lời [6629]Herodotus kể lại, đã trở nên kiêu ngạo, xấc láo trong bất kính, và khinh miệt thần linh lẫn loài người đến mức hắn ta đinh ninh vương quốc của mình kiên cố đến độ ut a nemine deorum aut hominum sibi eripi posset, chẳng một vị thần hay con người nào có thể tước đoạt nó khỏi tay hắn. [6630]Một vị vua Tây Ban Nha nọ dám lộng ngôn báng bổ (như [6631]Lansius tường thuật) đã ban hành sắc lệnh cấm mọi thần dân trong mười năm trời không được tin tưởng, kêu cầu hay thờ phụng bất kỳ vị thần nào. Và như [6632]Jovius kể về “Mahomet Đệ Nhị, kẻ đã tàn phá thành Constantinople, cách hành xử của y là chẳng tin vào cả Chúa Kitô lẫn Mahomet; và chính vì thế nên y chỉ giữ lời hứa khi nào điều đó có lợi cho mình, đồng thời chẳng màng phạm bất cứ tội ác nào để thỏa mãn dục vọng.” Ta cũng có thể nói điều tương tự về rất nhiều vị quân vương, rất nhiều kẻ tiểu nhân (sử sách của chúng ta đầy rẫy những con người như thế) trong quá khứ lẫn thời hiện tại, những kẻ yêu mến, kính sợ, tuân thủ và làm mọi bổn phận dân sự cốt sao cho có lợi hoặc thiết thực cho mục đích riêng của chúng. Securi adversus Deos, securi adversus homines, votis non est opus, điều mà [6633]Tacitus đã viết về một số bộ tộc German rằng họ chẳng cần phải cầu nguyện, sợ hãi hay hy vọng chi cả, bởi trong thâm tâm họ cảm thấy vô cùng an toàn trước cả thần linh lẫn loài người. Bulco Opiliensis, có thời là Công tước xứ [6634]Silesia, chính là một kẻ y hệt như vậy; sống (theo lời [6635]Aeneas Sylvius) tại [6636]Vratislavia, “và hắn ta điên cuồng thỏa mãn dục vọng đến mức chẳng tin có thiên đường hay địa ngục, chẳng tin linh hồn là bất tử, mà cứ cưới vợ rồi ruồng bỏ tùy theo ý thích, đồng thời gây ra đủ mọi tội ác lẫn điều quái đản tùy hứng.” Vị công tước này có quá nhiều kẻ nối gót trong thời đại chúng ta: mặc cho các người nói gì chăng nữa, dẫu có can ngăn, khuyên bảo, hay thuyết phục theo chiều hướng ngược lại, thì chúng cũng chẳng hề mảy may dao động,—quam si dura, silex aut stet Marpesia cautes, cứ trơ ra như đá với gỗ; có đem chuyện thiên đường địa ngục ra nói với chúng thì cũng bằng thừa, laterem lavas, chúng sẽ đáp lại y hệt như Ataliba, vị hoàng đế da đỏ nọ, đã trả lời thầy tu Vincent, [6637]“khi vị thầy tu mang đến cho hắn một cuốn sách và bảo rằng mọi mầu nhiệm về sự cứu rỗi, thiên đường và địa ngục đều nằm trong đó: hắn nhìn vào cuốn sách rồi bảo chẳng thấy những điều ấy đâu cả, đồng thời vặn hỏi làm sao vị thầy tu lại biết được những chuyện đó”: chúng sẽ chỉ chế nhạo hoặc hoàn toàn bác bỏ mà thôi. Petronius trong tác phẩm của Tacitus, khi đang bị chảy máu đến chết theo lệnh của Nero, audiebat amicos nihil referentes de immortalitate animae, aut sapientum placitis, sed levia carmina et faciles versus; thay vì nghe những lời khuyên nhủ hay suy ngẫm thánh thiện, ông lại bắt bạn bè ngâm cho mình nghe những vần thơ đồi trụy và khúc ca lẳng lơ. Cứ để mặc cho kẻ nào muốn giành lấy thiên đường, xứ thiên đàng và hạnh phúc mai sau đi, bonum est esse hic, được sống ở hiện tại mới là tuyệt nhất: chẳng thể nào nói chuyện nổi với những con người như thế, chẳng có hy vọng gì về việc cải hóa họ, họ đã rơi vào trạng thái bị ruồng bỏ, hoàn toàn là những kẻ xác thịt, những con người mang tâm trí phàm tục, dẫu cho họ có thể được một vài kẻ nịnh hót ca tụng trong đời này và được coi là những kẻ khôn ngoan lọc lõi sự đời. [6638]“Họ đối với tôi có vẻ” (Melancthon nói) “điên cuồng chẳng khác nào Hercules khi hắn nổi cơn cuồng nộ sát hại vợ và các con mình.” Có một nhóm nhẹ nhàng hơn trong số những linh hồn vô thần này là những kẻ ngoài mặt vẫn tuyên bố tôn giáo, nhưng timide et haesitanter, bị cám dỗ bởi nỗi hoang mang kinh hoàng trước sự đa dạng của các tôn giáo đang và đã tồn tại trên thế giới này (một luận điểm mà Campanella trong cuốn Atheismi Triumphati, chương 9, vừa đưa ra vừa giải đáp), chưa kể đến thói tham lam, sự lừa bịp và đồi bại của giới tu sĩ, quae faciunt (như [6630]Postellus nhận xét) ut rebus sacris minus faciant fidem; và chính những tôn giáo ấy, có thứ thì hoang đường, cực đoan, lại được duy trì một cách đầy bạo lực với sự kiên quyết và chắc chắn ngang bằng nhau; từ đó chúng suy ra rằng nếu có quá nhiều giáo phái tôn giáo như vậy và đều bị các giáo phái khác phủ nhận, thì tại sao tất cả bọn chúng lại không thể cùng giả dối? Hay tại sao giáo phái này hoặc giáo phái kia lại phải được ưu ái hơn những giáo phái còn lại? Những kẻ hoài nghi nêu lên lập luận này, và trong số những người khác, đó cũng chính là kết luận của Sextus Empiricus ở quyển 3, phần adversus Mathematicos: sau nhiều luận điểm và lý lẽ triết học ủng hộ lẫn phản đối việc có hay không có các vị thần, ông đã kết luận rằng: cum tot inter se pugnent, &c. Una tantum potest esse vera, như Tully cũng từng tranh biện: Người Cơ Đốc nói rằng chỉ có họ mới thờ phụng vị Thượng Đế chân thật, họ tỏ lòng thương xót với mọi giáo phái khác, than khóc cho số phận của họ; thế nhưng những người Hy Lạp và La Mã thời cổ đại vốn thờ phụng ma quỷ, cũng giống như người Trung Hoa ngày nay, aut deos topicos, thờ các vị thần địa phương của riêng họ; như Hoàng đế bội giáo Julian, [6640]Cecilius trong tác phẩm của Minutius, Celsus và nhà triết học Porphyrius đã phản bác; và như Machiavel lập luận, họ vốn cao quý hơn, hào hiệp hơn, bách chiến bách thắng hơn, có một nhà nước thịnh vượng hơn, những thành phố tốt đẹp hơn, những binh sĩ xuất sắc hơn, những học giả uyên bác hơn, và trí tuệ mẫn tiệp hơn. Các vị thần của họ đã đánh bại các vị thần của chúng ta, làm ra vô số phép lạ, v.v. Thánh Cyril, Arnobius, Minutius, cùng nhiều bậc cổ nhân khác và cả thời cận đại như Lessius, Morneus, Grotius trong tác phẩm De Verit. Relig. Christianae, Savanarola trong De Verit. Fidei Christianae, đều biện hộ rất sắc sảo; thế nhưng Zanchius, [6641]Campanella, Marinus Mersenius, Bozius và Gentillettus mới là những người phản bác tận gốc mọi luận điệu vô thần ấy một cách đầy đủ. Thế nhưng điều này lại một lần nữa làm phiền lòng nhiều người, rằng cũng như thuở xưa, lũ người gian ác nhìn chung vẫn phất lên, những kẻ công khai vô thần vẫn phất lên,
[6642]Nullos esse Deos, inane coelum,
Affirmat Selius: probatque, quod se
Factum, dum negat haec, videt beatum.
Chẳng có thần linh, trời đất chỉ là trò đùa,
Selius hiên ngang tuyên bố trước công chúng;
Và chứng minh rằng chừng nào hắn còn chối bỏ
Các vị thần linh ấy, đời hắn lại càng phất lên.
Đây là một luận điểm chủ chốt: và phần lớn những con người chân thành, chính trực, lương thiện và [6643]tốt đẹp nhất của các anh lại bị dồn nén, chà đạp, “Cuộc đua không dành cho kẻ chạy nhanh, chiến thắng không thuộc về kẻ mạnh” (sách Giảng Viên, ix. 11), “cũng chẳng có bánh mì cho kẻ khôn ngoan, chẳng có ân huệ hay sự giàu sang cho người hiểu biết, mà thời hiệu và vận rủi đến với tất cả mọi người.” Đã từng có một trận dịch hứa lớn ở Athens (như Thucydides đã kể lại ở quyển 2), trong đó cuối cùng ai nấy đều vô cùng buông thả, muốn làm gì thì làm, chẳng thèm đếm xỉa gì đến luật pháp của thần linh hay loài người. “Chẳng còn nỗi sợ Thượng Đế hay luật pháp loài người nào” (ông nói) “có thể uy hiếp được bất kỳ ai, bởi cơn dịch hứa quét sạch tất cả như một, kẻ tốt cũng như người xấu; từ đó họ kết luận rằng thờ phụng hay không thờ phụng các vị thần thì cũng rứa, bởi ai rồi cũng chết như nhau.” Một số kẻ bới lông tìm vết và hoài nghi chính Kinh Thánh: điều đó không thể đi đôi với lòng thương xót của Thượng Đế, khi có quá nhiều kẻ phải sa đọa, quá nhiều kẻ xấu, quá ít người tốt, khi người ta tranh chấp và bám lấy các tôn giáo, ai nấy đều cứng nhắc về phía phe phái của mình, bè phái như nhau, phất lên như nhau, thế nhưng lại cay đắng bức hại và nguyền rủa lẫn nhau; “Điều đó không thể đi đôi với sự nhân từ, sự bảo bọc và sự quan phòng của Thượng Đế” (như [6644]Thánh Chrysostom đã nói theo giọng điệu của những kẻ bất mãn như thế) “khi chứng kiến và dung túng cho một người bị què quặt, người thứ hai điên dại, người thứ ba nghèo hèn thảm hại suốt cả cuộc đời, người thứ tư bị bệnh tật và đau nhức hành hạ khổ sở cho đến tận hơi thở cuối cùng. Phải chăng đó là những dấu hiệu và công việc thể hiện sự quan phòng của Thượng Đế, khi để cho người này bị điếc, kẻ khác bị câm? Một gã lương thiện nghèo khó sống trong nỗi nhục nhã, khốn khổ và thiếu thốn, vô cùng đáng thương; trong khi một tên khốn ác độc lại ngập chìm trong sự dư dả của cải, nuôi gái điếm, kẻ nịnh hót, và bất cứ thứ gì hắn muốn:” Audis Jupiter haec? Cứ chắp nối vô số câu nói kiểu ấy lại, chúng thêu dệt nên một bài tràng giang đại hải chỉ trích sự quan phòng của Thượng Đế. [6645]Chúng cứ lầm bầm và phàn nàn như thế (hãy xem phần còn lại trong các luận điểm của chúng ở tác phẩm viết về Sáng Thế Ký của Mersenius và của Campanella, nơi đã bác bỏ chúng một cách triệt để), với biết bao lời vặn vẹo nhảm nhí quen thuộc, chẳng đáng để điểm lại hay đáp lời: dù chúng có mượn cớ gì đi nữa, thì suy cho cùng chúng cũng chẳng có tôn giáo nào, hoặc họa chăng chỉ có một chút ít mà thôi.
Bà con họ hàng gần với những kẻ này chính là rất nhiều nhà triết học vĩ đại và những người theo thuyết deism của chúng ta, dẫu cho họ có phần tiết chế hơn trong cuộc sống này, đưa ra nhiều lời răn đạo đức hay ho, có lối sống lương thiện, chính trực và điềm đạm, nhưng về bản chất thì họ cũng y hệt như vậy (coi như chẳng có học giả nào ra hồn mà lại không phải là kẻ vô thần), nimis altum sapiunt, học rộng quá hóa ra điên. Trong khi họ quy mọi thứ về các nguyên nhân tự nhiên, [6646]về sự ngẫu nhiên của vạn vật, như Melancthon gọi họ là Pertinax hominum genus, một giống người ương bướng, bị triết học và sự xúi giục của ma quỷ cùng sự mù lòa bẩm sinh của chính họ làm cho mê muội, nên cũng chối bỏ Thượng Đế chẳng kém gì những kẻ khác, coi toàn bộ tôn giáo chỉ là chuyện bị đặt ra, đi ngược lại với lý trí và triết học, dẫu rằng vì sợ các nhà cầm quyền, như [6647]Vaninus đã nói, nên họ không dám công khai tuyên bố điều đó. Khi hỏi một kẻ như thế rằng hắn theo tôn giáo nào, hắn liền cười nhạo đáp lại rằng mình là nhà triết học, là tín đồ của Galen, là một [6648]Averroist, và theo Rabelais thì hắn là thầy thuốc, là người theo phái Peripatetic, là môn đồ phái khoái lạc. Trong những vấn đề tâm linh, Thượng Đế phải chứng minh mọi thứ cho giác quan thấy rõ, phải để lại một vật làm tin cho họ, bằng không thì hãy đi tìm một chủ nợ khác. Họ công nhận Tự nhiên và Vận mệnh, chứ không chịu công nhận Thượng Đế: dẫu rằng trên thực tế họ thừa nhận cả hai: bởi như Scaliger định nghĩa, Tự nhiên tượng trưng cho quyền năng thông thường của Thượng Đế; hay như Calvin viết, Tự nhiên chính là trật tự của Thượng Đế, và vì thế những điều phi thường có thể được gọi là trái tự nhiên; Vận mệnh là ý muốn chưa được tỏ bày của Ngài; và do đó chúng ta gọi những thứ có thể thay đổi là những thứ nằm ngoài lý trí và sự kỳ vọng. Nhậm mục đích này, [6649]Minutius trong tác phẩm Octavius, và [6650]Seneca đã luận bàn rất hay với họ ở quyển 4, phần de beneficiis, chương 5, 6, 7. “Họ chẳng hiểu mình đang nói gì; Tự nhiên là gì nếu không phải là Thượng Đế? Muốn gọi Ngài là gì tùy ý anh, Tự nhiên hay Jupiter, Ngài có nhiều danh xưng cũng như nhiều chức năng vậy: suy cho cùng thì cũng thế cả, Thượng Đế là suối nguồn của muôn vật, là Đấng Ban Phát và Bảo Hộ đầu tiên, nơi mọi vật nương nhờ,” [6651]a quo, et per quem omnia, Nam quocunque vides Deus est, quocunque moveris, “Thượng Đế là tất cả trong mọi thứ, Thượng Đế ở khắp mọi nơi, ở bất cứ chốn nào.” Thế mà vị Seneca ấy, kẻ có thể bác bỏ và quở trách họ, lại hoàn toàn đáng bị quở trách và bác bỏ chính mình, bản thân ông ta cũng điên rồ chẳng kém; bởi ông ta ôm lấy thuyết fatum Stoicum, thứ Định mệnh tất yếu ở thái cực bên kia, y hệt như những nhà chiêm tinh xứ Chaldea thuở xưa, những kẻ mà tiên-tri Jeremiah đã gầm thét phản đối biết bao lần, cùng những nhà toán học ngoại giáo ấy, những Nigidius Figulus, các nhà ảo thuật và những tín đồ phái Priscillian, những kẻ mà thánh Augustin đã hăng hái bác bỏ, những nhà tranh biện Ả Rập, hội đồng Novem Judices, Albumazer, Dorotheus, v.v., và cả người đồng hương [6652]Estuidus của chúng ta nữa, những kẻ cả gan dựa vào các hiện tượng tụ họp lớn của các vì sao, cùng với Ptolomeus, để định đoạt chu kỳ của các vương quốc, của tôn giáo, của mọi tai ương mai sau, chiến tranh, dịch hứa, sự ly giáo, tà giáo, và đủ thứ chuyện trên đời; tất cả đều từ các vì sao, và những thứ mà, theo Maginus, Quae sibi et intelligentiis suis reservavit Deus, những điều mà Thượng Đế đã giữ lại cho riêng Ngài và các thiên thần của Ngài, thế mà bọn chúng lại cả gan đứng ra tiên tri, cứ như thể các vì sao là nguyên nhân trực tiếp và tất yếu của mọi tai họa trong tương lai. Caesar Vaninus, trong cuốn sách de admirandis naturae Arcanis, đối thoại 52 về các lời sấm truyền, đã tự do, dồi dào và cởi mở hơn trong việc giải thích học thuyết chiêm tinh này của Ptolemy so với bất kỳ nhà văn hiện đại nào của chúng ta, ngoại trừ Cardan, một môn đồ đích thực của người thầy Pomponatius; phỏng theo học thuyết của phái Peripatetic, hắn quy mọi hiện tượng hiển hiện, điềm gở, phép lạ, lời sấm, tai nạn, sự thay đổi của tôn giáo, v.v. (những điều khiến hắn bị Marinus Mersenius quất cho tơi bời, và quả thật hắn rất đáng bị như thế) về các nguyên nhân tự nhiên (vì hắn không chịu công nhận các linh hồn), về ánh sáng, chuyển động, ảnh hưởng của bầu trời và các vì sao, cùng các thực thể trí năng điều khiển các thiên cầu. Intelligentia quae, movet orbem mediante coelo, &c. Các thực thể trí năng làm tất cả: và sau một tràng dài bàn luận về các phép lạ thời xưa, si haec daemones possint, cur non et intelligentiae, coelorum motrices? Và khi những sự tụ họp lớn, những góc chiếu của các hành tinh bắt đầu hoặc kết thúc, thay đổi, nằm ở đỉnh điểm và chiếm ưu thế, thì các tôn giáo, nghi lễ và vương quốc cũng có sự khởi đầu, tiến trình, thời kỳ suy vong của chúng, in urbibus, regibus, religionibus, ac in particularibus hominibus, haec vera ac manifesta, sunt, ut Aristoteles innuere videtur, et quotidiana docet experientia, ut historias perlegens videbit; quid olim in Gentili lege Jove sanctius et illustrius? quid nunc vile magis et execrandum? Ita coelestia corpora pro mortalium beneficio religiones aedificant, et cum cessat influxus, cessat lex,[6653] &c. Và bởi vì, theo học thuyết của họ, thế giới là vĩnh hằng, các thực thể trí năng là vĩnh hằng, ảnh hưởng của các vì sao là vĩnh hằng, nên các vương quốc, tôn giáo và sự biến đổi cũng sẽ vĩnh hằng như thế, và cứ quay vòng sau nhiều thời đại; Atque iterum ad Troiam magnus mittetur Achilles; renascentur religiones, et ceremoniae, res humanae in idem recident, nihil nunc quod non olim fuit, et post saeculorum revolutiones alias est, erit,[6654]&c. idem specie, Vaninus nói, non individuo điều mà Plato đã ám chỉ. Đây là những sắc lệnh của phái Peripatetic (nhà [6655]sử học của tôi nói), những sắc lệnh mà dù tôi có viện dẫn ra đây, in obsequium Christianae fidei detestor, thì với tư cách là một người Cơ Đốc, tôi vẫn căm ghét và phỉ báng chúng. Phái Peripatetic và các nhà chiêm tinh từng giữ quan điểm như vậy trong quá khứ, và theo hướng này ở Roma thuở xưa, theo lời Dionysius Halicarnassus ở sách 7, khi những hiện tượng sao băng và điềm gở xuất hiện trên bầu trời sau khi Coriolanus bị lưu đày, [6656]“Lòng dạ con người dao động theo nhiều cách: có kẻ bảo đó là những phán xét công minh của Thượng Đế vì đã hành quyết con người tốt đẹp ấy, kẻ khác quy mọi thứ về nguyên nhân tự nhiên, người thì quy cho các vì sao, người lại cho rằng chúng đến một cách ngẫu nhiên, kẻ khác nữa thì cho rằng chúng xảy ra do sự tất yếu đã được định đoạt ab inito và không thể thay đổi được.” Hai ý kiến sau cùng về sự tất yếu và sự ngẫu nhiên có lẽ là những quan điểm nổi bật hơn cả.
[6657]Sunt qui in Fortunae jam casibus omnia ponunt,
Et mundum credunt nullo rectore moveri,
Natura, volvente vices, &c.
Về vế đầu tiên nói về sự ngẫu nhiên, như [6658]Sallust cũng cho chúng ta biết, người La Mã thời xưa nói chung đều tiếp thu quan điểm đó; “Họ cho rằng chỉ có vận mệnh mới ban phát vương quốc và đế chế, của cải, chức tước, địa vị: và điều này xuất phát từ hai nguyên nhân; thứ nhất, bởi vì bất kỳ tên khốn nạn đê tiện bất xứng nào cũng được cất nhắc, trở nên giàu có và quyền thế, v.v.; thứ thứ hai, bởi vì sự bấp bênh của chúng, dẫu có tốt đẹp đến mấy thì cũng chẳng có lấy một ai được hưởng thụ chúng lâu dài; nhưng sau đó, nhờ suy nghĩ thấu đáo hơn, họ bắt đầu có cái nhìn khác, rằng mỗi người tự tạo ra vận mệnh cho chính mình.” Vế thứ hai về Sự tất yếu chính là học thuyết của Seneca, cho rằng Thượng Đế bị alligatus causis secundis, bị trói buộc chặt chẽ vào các nguyên nhân thứ cấp, vào thứ Định mệnh nghiệt ngã đến mức Ngài chẳng thể thay đổi bất cứ điều gì đã được định đoạt một khi; sic erat in fatis, mọi chuyện không thể khác đi được, semel jussit, semper paret Deus, nulla vis rumpit, nullae preces, nec ipsum fulmen, Thượng Đế đã phán một lần là nó đứng vững đời đời, không lời cầu nguyện nào, không lời đe dọa nào, không quyền năng nào, và ngay cả sấm sét cũng chẳng thể thay đổi được nó. Zeno, Chrysippus và những tín đồ phái khắc kỷ khác, như bạn có thể đọc trong tác phẩm De divinatione của Tully, phần 2, hay Gellius, sách 6, chương 2, v.v., cũng duy trì quan điểm tương tự. Trong mọi thời đại, vẫn luôn có những kẻ như thế, hoặc chối bỏ hoàn toàn Thượng Đế, hoặc chối bỏ một phần; có kẻ chế nhạo Ngài, cho rằng tự chúng có thể tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn và cai trị nó ngăn nắp hơn, bọn chúng báng bổ Ngài, tùy tiện tước đoạt công trạng của Ngài. Chuyện đó đã từng xảy ra vào thời của [6659]Plato, “Có kẻ nói chẳng có thần linh nào cả, kẻ khác lại bảo các vị thần chẳng màng đến con người, còn tầng lớp ở giữa thì công nhận cả hai.” Si non sit Deus, unde mala? si sit Deus, unde mala? Cotta lập luận như thế trong tác phẩm của Tully, tại sao Ngài không tạo ra toàn bộ mọi thứ đều tốt đẹp, hoặc ít nhất là không chăm lo cho sự an sinh của những kẻ lương thiện? Giống như người phụ nữ đã nói với Alexander rằng, nếu ông ta không có thời gian để nghe thấu các vụ kiện và phân xử chúng, thì tại sao ông ta lại còn làm vua làm chúa làm gì? [6620]Sextus Empiricus có rất nhiều luận điểm tương tự. Những kẻ ngang ngược cứ hay vặn vẹo như thế. Muôn đời vẫn thế thôi, lúc nào cũng có đủ các loại người, tốt, xấu, lửng lơ, chân thật, giả dối, cuồng tín, hai mặt, trung lập, ấm ớ, phóng túng, vô thần, v.v. Chúng phải nhìn thấy những kẻ tôn sùng giáo phái này đồng ý với nhau, hòa giải với nhau cái đã, rồi chúng mới chịu tham gia hoặc tin theo bất kỳ ai: trong thời gian đó, chúng nghĩ rằng (điều mà [6622]Celsus đã nêu ra, và được Origen bác bỏ), “Chúng ta, những tín đồ Cơ Đốc, tôn súng một con người bị [6662]xử tử chẳng vì lý do gì hợp lý hơn việc những kẻ man rợ xứ Gete thờ phụng Zamolxis, người Cilicia thờ Mopsus, người Thebes thờ Amphiaraus, và người Lebadia thờ Trophonius; tôn giáo nào thì cũng đúng như nhau cả thôi, đều là những mớ mẹo mực mới mẻ, tất cả chỉ vì những toan tính phàm trần mà ra”; các tác phẩm của nhà triết học uyên bác Aristotle cũng có giá trị xác thực đối với chúng ngang bằng Kinh Thánh, những bức thư của nhà triết học tinh tế Seneca cũng có tính kinh điển ngang với thư của thánh Phaolô, những bài ca của Pindarus cũng hay chẳng kém gì thánh vịnh của vua David, và cuốn Cẩm nang của Epictetus thì tương đương với Châm ngôn của vị vua khôn ngoan Solomon. Chúng nói ra những điều này một cách công khai và táo bạo, thậm chí còn hơn thế nữa, ở khắp mọi nơi và trong mọi hội nhóm. [6663]“Hoàng đế Claudius đã nổi giận với Thiên đàng vì ở đó có sấm sét, và thách thức thần Jupiter ra chiến trận; thật là điên rồ làm sao!” Seneca thốt lên; “ông ta tưởng rằng Jupiter không thể làm hại mình, nhưng mình lại có thể làm hại Jupiter.” Diagoras, Demonax, Epicurus, Pliny, Lucian, Lucretius,—Contemptorque Deum Mezentius, “toàn là những kẻ công khai vô thần” trong thời đại của họ: dẫu rằng cũng không hẳn là những kẻ vô thần đơn thuần, như Cicogna đã chứng minh ở quyển 1, chương 1, họ chỉ chế nhạo các vị thần ngoại giáo, sự đa thần của họ, cũng như những chức năng đê tiện và giả dối của các vị thần đó mà thôi. Gilbertus Cognatus đã tốn rất nhiều công sức, và Erasmus cũng vậy, nhằm minh oan cho Lucian khỏi những tiếng xấu, và cũng có những người đứng ra biện hộ cho Epicurus, nhưng tất cả đều vô ích; Lucian chế nhạo tất cả, Epicurus chối bỏ tất cả, và đồ đệ của ông ta là Lucretius thì đứng ra bênh vực thầy trong chuyện đó:
[6664]Humana ante oculua foede cum vita jaceret
In terris oppressa gravi cum religione,
Quae caput a coeli regionibus ostendebat,
Horribili super aspectu mortalibus instans, &c.
Khi loài người chìm ngập trong sự mê tín đê tiện,
Với dáng vẻ gớm ghiếc trên cao, khiến con người kinh hãi, v.v.
Chỉ một mình ông ta, giống như một vị Hercules khác, đã giải thoát thế giới khỏi con quái vật ấy. Người bác [6665]Pliny, ở quyển 2, chương 7 về lịch sử tự nhiên, và quyển 7, chương 55, đã dùng những từ ngữ rõ ràng để chối bỏ sự bất tử của linh hồn. [6666]Seneca cũng làm điều chẳng kém gì là bao, ở quyển 7, bức thư số 55 gửi Lucilius, và tác phẩm bàn về sự an ủi gửi Marcia, hay nói đúng hơn là còn làm nhiều hơn thế nữa. Một vài nhà chú giải người Hy Lạp còn định tròng điều đó lên đầu Gióp, rằng ông ta cũng chối bỏ sự sống lại, v.v., và Pineda đã phản bác họ rất dồi dào ở chương 7 sách Gióp, câu 9. Aristotle cũng bị một số người, cả các nhà thần học lẫn triết học, chỉ trích nặng nề. Thánh Justin trong tác phẩm Peraenetica ad Gentes, Gregory of Nazianzus trong các cuộc tranh biện chống lại Eunomius, Theodoret ở sách 5 về việc chữa lành những căn bệnh của người Hy Lạp, Origen trong tác phẩm De principiis. Pomponatius đã biện hộ trong tiểu luận của ông (ít nhất là được đặt tên như vậy) mang tựa đề De immortalitate Animae, Scaliger (người mà Patritius nói sẵn sàng thề thốt bất cứ lúc nào để bênh vực cho người thầy vĩ đại Aristotle của mình), và Dandinus ở quyển 3 bàn về linh hồn, đều công nhận điều tương tự. Averroes phản đối mọi linh hồn và quyền năng tối cao; gần đây thì Brunus (infelix Brunus, [6667]Kepler gọi ông ta như vậy), Machiavel, Caesar Vaninus (kém đây vừa bị thiêu sống ở Toulouse, Pháp) và Pet. Aretine, đã công khai duy trì những nghịch lý vô thần như thế, [6668]cùng với tay người Ý Boccaccio với câu chuyện ngụ ngôn về ba chiếc nhẫn, v.v., ex quo infert haud posse internosci, quae sit verior religio, Judaica, Mahometana, an Christiana, quoniam eadem signa, &c., “từ đó hắn suy ra rằng không thể phân biệt được đâu là tôn giáo chân chính, đạo Do Thái, đạo Hồi hay đạo Cơ Đốc,” v.v. [6669]Marinus Mersenius hoài nghi Cardan vì những sự tinh vi của ông ta, nghi ngờ Campanella, cùng cuốn sách Bàn về sự khôn ngoan của Charron, và một vài tiểu luận khác mang hơi hướng [6670]vô thần: thế nhưng trong số những cuốn khác, có cuốn sách độc hại de tribus mundi impostoribus, quem sine horrore (inquit) non legas, et mundi Cymbalum dialogis quatuor contentum, anno 1538, auctore Peresio, Parisiis excusum, [6671]&c. Và cũng như trong mọi thời đại đều có những linh hồn báng bổ như thế, thì cũng chưa bao giờ thiếu những kẻ bảo trợ, che chở, đệ tử và tín đồ của họ. Chưa bao giờ ở Ý và Đức lại có nhiều kẻ vô thần đến thế, [6672]Colerus nói: Mersenius cũng đưa ra lời phàn nàn tương tự ở Pháp, với 50.000 kẻ ở riêng cái thành phố Paris ấy. Hoàng đế Frederic, theo ghi chép của [6673]Matthew Paris licet non sit recitabile (tôi dùng chính từ ngữ của ông) được cho là đã nói rằng: Tres praestigiatores, Moses, Christus, et Mahomet, uti mundo dominarentur, totum populum sibi contemporaneum se duxisse. (Henry, Bá tước xứ Hesse, đã tận tai nghe ông ta nói câu đó.) Si principes imperii institutioni meae adhaererent, ego multo meliorem modum credendi et vivendi ordinarem.
Bên cạnh những kẻ công khai vô thần này, chúng ta hoàn toàn có thể kể thêm cái lũ bất kính và xác thịt gồm toàn những con người mang tâm trí phàm tục, những tội nhân bất hối, những kẻ đang dấn thân xuống địa ngục trong một giấc ngủ lịm hay trong một giấc mơ; dẫu cho họ mang danh là tín đồ Cơ Đốc, thế nhưng họ lại chẳng hề nulla pallescere culpa, chẳng mảy bận tâm đến lương tâm trong bất cứ việc gì họ làm, lương tâm của họ đã bị nung cháy bằng sắt đỏ, và quả thực họ đã rơi vào trạng thái bị ruồng bỏ, “đã mất hết mọi cảm giác, tự hiến thân mình cho sự phóng đãng, để làm đủ mọi thứ nhơ nhớp thậm chí với lòng tham lam vô độ,” thư Phaolô gửi tín hữu Ê-phê-sô, iv. 19. Họ thừa biết có một Thượng Đế, có một ngày phán xét đang chờ đón phía trước, thế nhưng bất chấp tất cả những điều đó, như Hugo đã nói, ita comedunt ac dormiunt, ac si diem judicii evasissent; ita ludunt ac rident, ac si in coelis cum Deo regnarent: họ vẫn phè phỡn vui vẻ mặc cho muôn vàn sầu muộn, cứ như thể họ đã thoát khỏi mọi hiểm nguy và hiện đang ngự trị trên thiên đường rồi vậy:
[6674]———Metus omnes, et inexorabile fatum
Subjecit pedibus, strepitumque Acherontis avari.
Mọi nỗi sợ hãi và định mệnh nghiệt ngã
Đều bị y giẫm đạp dưới chân, mặc cho tiếng gầm rú của dòng Acheron tham lam.
Những kẻ ngu dốt thô lỗ và dốt nát ấy, những kẻ phớt lờ và khinh miệt phương tiện cứu rỗi của mình, có thể bước đi chung đường với bọn chúng; thế nhưng trên hết thảy những kẻ khác, chính là đám chính trị gia thời cơ kiểu Hê-rô-đê, những kẻ mưu mô theo chủ nghĩa Machiavell và những kẻ đạo đức giả, những kẻ ngoài mặt ra vẻ tôn giáo nhưng trong thâm tâm lại cười nhạo nó. Simulata sanctitas duplex iniquitas; họ mang một tội lỗi kép, những kẻ “hùa theo thói đời này,” điều mà [6675]Phaolô đã cấm đoán, và cũng giống như hành tinh Mercury, gặp người tốt thì tốt, gặp kẻ xấu thì hóa xấu. Khi ở Rome, chúng làm theo những gì chúng thấy người ta làm ở đó, nhập gia tùy tục, ở với phái Thanh giáo thì ra vẻ thanh giáo, ở với phe Giáo hoàng thì ra vẻ người của Giáo hoàng; omnium horarabum homines, những kẻ sống theo thời, kẻ ba phải, hai mặt, những tín đồ Laodiceam lửng lơ con cá vàng. [6676]Mọi tâm huyết của chúng chỉ để làm vừa lòng người khác, và chúa của chúng chính là mối lợi của bản thân, công sức của chúng bỏ ra là để thỏa mãn dục vọng, và mọi nỗ lực đều hướng về mục đích ích kỷ của riêng mình. Dù chúng có ngụy trang thế nào, hay ngoài mặt ra vẻ làm gì đi nữa, [6677]“Trong tim, chúng cũng lẩm bẩm như gã khờ rằng chẳng có Thượng Đế nào cả.” Heus tu—de Jove quid sentis? “Này anh bạn! anh nghĩ thế nào về một vị Jupiter?” Lời nói của chúng ngọt ngào như dầu dưa, thế nhưng trong lòng lại ngập tràn cay đắng; giống như [6678]Alexander VI, chúng là những kẻ giả hình tinh vi đến mức nghĩ gì thì chẳng bao giờ thốt ra miệng. Nhiều kẻ trong số chúng kín kẽ đến nỗi anh khó lòng mà nhận ra hay tìm được lý do chính đáng để bắt bẻ chúng; chúng không phải là những kẻ bè phái, không phải là những kẻ áp bức bóc lột như phần lớn thiên hạ, không nhận hối lộ, không dính vào các hợp đồng mua bán chức tước thánh simony, không phải là những kẻ tham vọng hay dâm ô như một số kẻ khác, không nát rượu, sobrii solem vident orientem, sobrii vident occidentem, chúng tỉnh táo đón mặt trời mọc và cũng tỉnh táo lên giường đi ngủ, là những con người ăn ngay ở thẳng, chính trực, lương thiện, chẳng làm điều gì sai trái với bất kỳ ai, và ít nhất là được thiên hạ đánh giá rất cao, vô cùng số sắng trong tôn giáo, rất từ thiện, mềm mỏng, khiêm nhường, ưa chuộng hòa bình, chu toàn mọi bổn phận, rất sùng đạo, trung thực, ăn nói nhã nhặn, được mọi người yêu mến: thế nhưng Đấng biết rõ cách phán xét hơn, Đấng thấu suốt tâm can, lại phán rằng chúng chỉ là những kẻ đạo đức giả, Cor dolo plenum; sonant vitium percussa maligne, bề ngoài lành lặn nhưng bên trong đã mục rữa. Giống như tình trạng của các nhà văn [6679]nhiều khi vẫn gặp phải: Plus sanctimoniae in libello, quam libelli auctore, sự thánh thiện nằm trong cuốn sách nhiều hơn là ở tác giả viết ra nó: tình trạng của bọn chúng cũng y hệt như vậy: rất nhiều kẻ đến nhà thờ mang theo những cuốn Kinh Thánh dày cộm (mà Cardan bảo rằng ông nhìn thấy là không thể nào nhịn được cười), thỉnh thoảng cũng dám dare operam Augustino, đọc sách của thánh Augustin, chăm chỉ đến nghe giảng đạo, thế nhưng thực chất lại là những kẻ cho nặng lãi chuyên nghề hút máu, tota vitae ratio epicurea est; toàn bộ lối sống của chúng chỉ là chủ nghĩa khoái lạc và vô thần, ban ngày đến nhà thờ mà ban đêm lại ôm ấp đĩ điếm. Qui curios simulant et Bacchanalia vivunt, chúng mang đôi tay của Esau nhưng lại cất lên giọng nói của Gia-cóp: phải, và rất nhiều vị tu sĩ thánh thiện, những con người được ban ơn phước ấy nữa, Cappam, theo lời Hierom, et cilicium induunt, sed intus latronem tegunt. Bọn chúng là sói giả dạng cừu, Introrsum turpes, speciosi pelle decora, “Bề ngoài thì tốt đẹp, bên trong nhơ nhớp vô cùng.” [6680]Latet plerumque sub tristi amictu lascivia, et deformis horror vili veste tegitur; rất nhiều lần dưới bộ y phục tang tóc lại ẩn chứa chính sự dâm ô, và những thói hư tật xấu khủng khiếp được ngụy trang dưới một tấm áo rách rưới bần tiện. Thế nhưng ai có thể tra xét hết thảy mọi loại người đạo đức giả ấy, hay lặn lội thấu tận tâm can của họ? Nếu chúng ta có thể đoán biết cái cây qua quả của nó, thì chưa bao giờ số lượng kẻ đạo đức giả lại đông đảo như trong thời đại này; hãy tìm cho tôi xem có bóng dáng một con người ăn ngay ở thẳng, chân thật lương thiện nào: Et pudor, et probitas, et timor omnis abest. Kẻ nào chỉ cần nhìn vào cuộc sống của chúng, và chứng kiến những thói hư tật xấu tày trời ấy, những con người quá ư vô độ trong dục vọng, căm thù không sao tả xiết, hung hăng trong thị nộ, nịnh hót và giả hình (tất cả chỉ vì mục đích riêng của chúng), chắc chắn sẽ nghĩ rằng họ chẳng hề có đạo giáo chân chính gì sảng, mà có một trái tim chai sạn, phần lớn là đã rơi vào trạng thái bị ruồng bỏ, y như trong thời đại này vậy. Thế nhưng mặc cho chúng có che đậy thế nào đi nữa trong hiện tại, có giả hình giỏi đến đâu chăng nữa, thì rồi sẽ đến một ngày chúng phải chịu trát đòi hầu tòa, chứng trầm cảm của chúng đang đến sát bên, chúng tự chuốc lấy tai họa và lời nguyền rủa đổ lên đầu chính mình, thesaurisant iram Dei. Ngoài tất cả những kẻ deos contumeliosi, những kẻ báng bổ, khinh miệt, phớt lờ Thượng Đế, hoặc chế nhạo Ngài, giống như các nhà thơ thêu dệt về Salmoneus, kẻ đã cả gan nhại lại tiếng sấm của Jupiter để làm trò cười và kết quả là bị sét đánh rơi đài, Jupiter intonuit contra, &c., chắc chắn chúng cũng sẽ phải trả giá đắng cay vào phút cuối ([6681]in se spuit, qui in coelum spuit), hình phạt của chúng đã kề cận, và địa ngục đang sẵn sàng mở cửa đón lấy chúng.
Một số người cho rằng việc tranh cãi với những kẻ mang tâm tưởng vô thần như thế vào lúc này là hoàn toàn vô ích, và đó không phải là cách hay nhất để đưa họ quay đầu. Chủ nghĩa vô thần, thờ thần tượng, tà giáo, thói đạo đức giả, dẫu cho chúng đều có chung một cội nguồn, đó là sự nuông chiều những dục vọng đồi bại, thế nhưng sự phát triển của chúng lại khác nhau, chúng có những triệu chứng, nguyên nhân riêng và vì thế phải có những phương pháp chữa trị cũng như bài thuốc khác nhau. Quả thực có kẻ chối bỏ sự tồn tại của Thượng Đế, có kẻ thừa nhận nhưng lại chẳng tin; loại thứ ba thì vừa thừa nhận vừa tin, nhưng lại nhất quyết không chịu sống theo luật pháp của Ngài, không chịu thờ phụng và tuân lệnh Ngài; những kẻ khác lại công nhận Thượng Đế và các tiểu thần dưới quyền, chứ không công nhận một vị Thượng Đế duy nhất, không có một vị Thượng Đế chung chung như thế, non talem deum, mà là những vị thần địa phương khác nhau cho những vùng đất khác nhau, và theo quan điểm của Socinus thì những vị thần ấy không nên bức hại lẫn nhau vì bất kỳ sự khác biệt nào, mà trái lại nên yêu thương và trân trọng nhau.
Để mô tả tường tận về bọn chúng, để đưa ra những lập luận và lý lẽ của họ, sẽ cần đến cả một cuốn sách dày cộp, vì thế tôi xin giới thiệu những ai đang mong đợi một câu trả lời thỏa đáng hơn đến với những chuyên khảo tinh vi và công phu, những bài viết sùng đạo và nổi tiếng của các nhà thần học uyên bác của chúng ta (gồm cả các học giả kinh viện và các chuyên gia về casuistry) những người có thừa lý lẽ để chứng minh sự tồn tại của Thượng Đế, sự bất tử của linh hồn, v.v., bằng sức mạnh của trí tuệ và triết học để mang lại những luận điểm không thể chối cãi cho những ai ngay thẳng và có thiện chí; ít nhất là đáp trả mọi sự vặn vẹo và phản đối nhằm bác bỏ sự ngu xuẩn cùng điên rồ của chúng, đồng thời đưa họ quay về, si fieri posset, ad sanam mentem, hướng tới một tâm trí đúng đắn hơn, dẫu cho nhiều khi chẳng mang lại kết quả là bao. Trong số những tác giả khác, bạn có thể tham khảo Julius Caesar Lagalla, giáo sư triết học tại Rome, người gần đây đã viết một tập sách dày để bác bỏ những kẻ vô thần; về sự bất tử của linh hồn, hãy đọc Hierom. Montanus de immortalitate Animae; Lelius Vincentius viết về cùng chủ đề; Thomas Giaminus và Franciscus Collius de Paganorum animabus post mortem, một bậc thầy lừng danh tại Đại học Ambrosian ở Milan. Giám mục Fotherby trong tác phẩm Atheomastix của ông, Bác sĩ Dove, Bác sĩ Jackson, Abernethy, Corderoy, đều đã viết rất hay về chủ đề này bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng ta; còn bằng tiếng Latinh, hãy tìm đọc Colerus, Zanchius, Palearius, Illyricus, [6682]Philippus, Faber Faventinus, v.v. Thế nhưng instar omnium, nhà bác học vạch trần chủ nghĩa vô thần một cách cặn kẽ nhất chính là Marinus Mersenius trong các bài bình luận của ông về sách Sáng Thế Ký: [6683]cùng với cuốn Atheismus Triumphatus của Campanella. Ông đã vạch ra tường tận các nguyên nhân dẫn đến thói cuồng si đần độn này (tôi nhớ là có tới mười bảy nguyên nhân) và đáp trả mọi lập luận cũng như ngụy biện của chúng, những thứ được ông quy về hai mươi sáu mục, đồng thời chứng minh khẳng định của chính mình: “Có một vị Thượng Đế, một vị Thượng Đế như thế, đích thực và duy nhất,” bằng ba mươi lăm lý lẽ. Lời kết của ông bàn về cách chống lại và trấn áp chủ nghĩa vô thần, và nhằm mục đích đó, ông bổ sung bốn phương pháp hoặc con đường đặc biệt, những ai muốn tìm hiểu có thể đọc qua để thu về những lợi ích thiết thực.
[THƯƠNG MỤC] II.—Sự tuyệt vọng. Những trạng thái tuyệt vọng, cách nói lấp lửng, định nghĩa, các phe phái và những bộ phận chịu ảnh hưởng.