Khi mọi người đã đi hết, tôi mới hay tin lời phỉ báng đê tiện ấy quả thực đã loan truyền khắp cả hội, ngay trước mặt nạn nhân. Tuy nhiên, Rose khẳng định cô ấy không và sẽ không bao giờ tin điều đó, mẹ tôi cũng tuyên bố như vậy, dẫu rằng, tôi e là, sự hoài nghi của bà không hoàn toàn chân thành và kiên định đến thế. Câu chuyện ấy dường như cứ quanh quẩn mãi trong tâm trí bà, và bà cứ chốc chốc lại làm tôi phát bực với những lời lẽ kiểu như: —“Trời đất ơi, ai mà ngờ được cơ chứ!—Chà! Mẹ vẫn luôn thấy cô ta có gì đó kỳ lạ.—Con thấy chưa, hậu quả của việc đàn bà cứ thích làm ra vẻ khác người là thế đấy.” Và có lần còn là,—
“Ta đã nghi ngờ cái vẻ huyền bí ấy ngay từ phút đầu—ta biết chẳng có gì tốt đẹp từ đó mà ra đâu; nhưng quả đây là một chuyện buồn, rất buồn đấy nhé!”
“Ơ hay, mẹ, mẹ đã bảo là mẹ không tin mấy câu chuyện nhảm nhí đó cơ mà,” Fergus nói.
“Thì mẹ có tin đâu, con yêu; nhưng rồi con biết đấy, sự việc nào cũng phải có nguyên cội của nó chứ.”
“Cội nguồn của nó nằm ở sự độc ác và gian xảo của thói đời,” tôi nói, “và ở chỗ người ta đã thấy ông Lawrence lui tới lối ấy một hai lần vào buổi chiều tối—rồi đám bà tám trong làng đồn rằng ông ấy đến để tán tỉnh người phụ nữ lạ mặt kia, và những kẻ chuyên bới móc chuyện scandal đã vồ lấy tin đồn đó một cách háu hức để dựng lên cái lâu đài tội lỗi của riêng chúng.”
“Thì đúng, nhưng này Gilbert, hẳn thái độ của cô ta phải có điều gì đó tạo cớ cho những lời đồn đại ấy chứ.”
“Mẹ có thấy điều gì trong thái độ của cô ấy không?”
“Không, chắc chắn là không; nhưng rồi con biết đấy, mẹ vẫn luôn bảo cô ta có cái gì đó lạ lùng cơ mà.”
Tôi tin rằng chính vào buổi tối hôm đó, tôi đã liều lĩnh xâm nhập Wildfell Hall một lần nữa. Kể từ bữa tiệc của chúng tôi, tính ra đã hơn một tuần, tôi vẫn hằng ngày tìm cách chạm mặt nữ chủ nhân của nơi này trong những buổi dạo chơi của cô ấy; và lần nào cũng ôm nỗi thất vọng tràn trề (chắc chắn nàng đã chủ ý xoay sở để tránh mặt), để rồi đêm nào tôi cũng trằn trọc nghĩ ra đủ thứ lý do củ chuối cho một chuyến ghé thăm nữa. Cuối cùng, tôi kết luận rằng không thể chịu đựng thêm cảnh xa cách này được nữa (đến lúc này thì bạn cũng thấy đấy, tôi đã lún sâu lắm rồi); và cầm lấy từ tủ sách một cuốn sách cũ mà tôi nghĩ nàng có thể hứng thú, dẫu rằng vì bề ngoài nhếch nhác và có phần rách rưới của nó, tôi vẫn chưa dám đem ra mời nàng đọc, tôi vội vã lên đường,—nhưng lòng không khỏi dấy lên bao mối lo âu về việc nàng sẽ tiếp đón mình ra sao, hay làm thế nào tôi có thể gom đủ dũng khí để xuất hiện với một cái cớ mỏng manh đến thế. Nhưng biết đâu, tôi có thể gặp nàng ngoài đồng hoặc trong vườn, và khi ấy mọi chuyện sẽ chẳng còn mấy khó khăn: chính cái việc gõ cửa trang trọng, với viễn cảnh được Rachel nghiêm nghị dẫn bước vào diện kiến một nữ chủ nhân ngỡ ngàng và lạnh nhạt, mới là điều khiến tôi lo lắng khôn nguôi.
Tuy nhiên, nguyện vọng của tôi đã không thành hiện da. Bản thân Mrs. Graham không thấy bóng dáng đâu; nhưng chỉ có Arthur đang chơi đùa cùng chú chó nhỏ tinh nghịch trong vườn. Tôi nghếch đầu qua cổng và gọi thằng bé lại gần. Nó nài nỉ tôi bước vào; nhưng tôi bảo rằng mình không thể vào nếu chưa được sự cho phép của mẹ nó.
“Em sẽ đi hỏi mẹ,” đứa trẻ nói.
“Không, không, Arthur, cháu không được làm thế; nhưng nếu cô ấy không bận gì, hãy bảo cô ấy ra đây một lát. Nói với cô ấy là ta có chuyện muốn nói.”
Nó chạy đi thực hiện mệnh lệnh của tôi, và nhanh chóng quay lại cùng mẹ. Trông nàng mới đáng yêu làm sao với những lọn tóc xoăn đen buông lơi trong làn gió hạ nhẹ nhàng, đôi má trắng ngần ửng hồng phớt, và gương mặt bừng sáng những nụ cười. Arthur yêu quý ơi! Tôi nợ em biết bao cho lần hội ngộ này và mọi lần hội ngộ hạnh phúc khác? Nhờ có thằng bé mà tôi được giải thoát khỏi mọi sự câu nệ, sợ hãi và gượng gạo trong chớp mắt. Trong chuyện tình cảm, chẳng có vị sứ giả nào sánh được với một đứa trẻ vui vẻ, ngây thơ—luôn sẵn sàng hàn gắn những trái tim rạn nứt, bắc nhịp cầu qua vực sâu xa lạ của lề thói, làm tan chảy lớp băng giá của sự lạnh lùng dè dặt, và đánh sập những bức tường cách ngăn của nỗi sợ sấy câu nệ cùng niềm kiêu hãnh.
“Ồ, anh Markham, có chuyện gì thế ạ?” trẻ tuổi người mẹ cất lời, chào đón tôi bằng một nụ cười vui vẻ.
“Tôi muốn cô xem qua cuốn sách này, và nếu được, xin hãy nhận lấy nó, và thong thả nghiền ngẫm lúc nhàn rỗi. Tôi chẳng buồn xin lỗi vì đã gọi cô ra vào một buổi chiều đẹp trời thế này, dẫu rằng nó chẳng vì một việc gì to tát hơn thế.”
“Bảo chú ấy vào nhà đi mẹ,” Arthur nói.
“Anh có muốn vào nhà không?” nàng hỏi.
“Có chứ; tôi rất muốn xem những cải tạo của cô trong khu vườn đấy.”
“Và xem mấy khóm cây của em chị đã sinh sôi nảy nở ra sao dưới sự chăm sóc của tôi,” nàng nói thêm khi đẩy cánh cổng mở ra.
Thế là chúng tôi thong thả dạo bước qua khu vườn, trò chuyện về những đóa hoa, những tán cây, về cuốn sách, rồi lan sang cả những chuyện khác. Buổi chiều thật dịu dàng và ấm áp, người đồng hành của tôi cũng vậy. Dần dần, tôi trở nên nồng nhiệt và đắm đuối hơn, có lẽ là hơn bất cứ lúc nào trước đây; nhưng tôi vẫn chẳng nói điều gì rõ ràng, và nàng cũng chẳng hề có ý định đẩy lui, cho đến khi, đi ngang qua một khóm hồng leo mà tôi đã mang đến cho nàng từ mấy tuần trước nhân danh em gái tôi, nàng ngắt một nụ hoa hãy còn nửa hé nở tuyệt đẹp và giục tôi mang nó về cho Rose.
“Tôi không thể giữ lấy nó hay sao?” tôi hỏi.
“Không; nhưng đây là một bông khác dành cho anh.”
Thay vì đón lấy nó một cách ngoan ngoãn, tôi liền nắm lấy luôn bàn tay đang đưa ra ấy và nhìn thẳng vào khuôn mặt nàng. Nàng để mặc tôi giữ lấy bàn tay ấy trong giây lát, và tôi nhìn thấy một tia sáng ngây ngất lóe lên trong đôi mắt nàng, một ánh hân hoan rực rỡ bừng lên trên khuôn mặt—tôi tưởng chừng giờ phút chiến thắng của mình đã điểm—nhưng ngay lập tức, một hồi ức đau đớn dường như vụt qua tâm trí nàng; một đám mây u buồn tối sầm lại trên vương trán, một sắc thái trắng bệch như cẩm thạch nhạt nhòa trên má và bờ môi; dường như có một khoảnh khắc đấu tranh nội tâm, và với một nỗ lực đột ngột, nàng rụt tay lại, lùi về phía sau một hai bước.
“Bây giờ thì, anh Markham,” nàng nói, với một vẻ bình thản đến tuyệt vọng, “tôi phải nói thẳng với anh rằng tôi không thể chịu đựng nổi thế này. Tôi thích sự hiện diện của anh, bởi vì tôi ở đây một mình, và những câu chuyện của anh làm tôi vui thú hơn bất kỳ ai khác; nhưng nếu anh không thể bằng lòng coi tôi như một người bạn—một người bạn bình thường, lạnh lùng, tựa người mẹ hay người chị—tôi buộc phải xin anh hãy rời khỏi đây lúc này, và từ nay về sau hãy để tôi yên: thực chất, từ nay chúng ta phải xem nhau như những người xa lạ.”
“Tôi sẽ—làm bạn, hoặc làm anh trai của cô, hay bất cứ gì cô muốn, miễn là cô chịu để tôi tiếp tục được gặp cô; nhưng hãy nói cho tôi biết tại sao tôi không thể là điều gì hơn thế?”
Có một khoảng lặng bối rối và đầy suy tư.
“Có phải vì một lời thề ngốc nghếch nào đó không?”
“Đại loại là thế,” nàng đáp. “Có ngày nào đó tôi sẽ kể cho anh nghe, nhưng tốt hơn hết là lúc này anh nên rời đi; và Gilbert, đừng bao giờ đẩy tôi vào cái thế bắt buộc phải lặp lại những điều tôi vừa nói với anh nữa nhé,” nàng khẩn khoản nói thêm, trao cho tôi bàn tay với một vẻ chân tình nghiêm nghị. Giọng gọi tên tôi mới ngọt ngào và du dương làm sao khi thốt ra từ đôi môi ấy!
“Tôi sẽ không thế đâu,” tôi đáp. “Nhưng cô tha thứ cho lỗi lầm này chứ?”
“Với điều kiện là anh không bao giờ lặp lại nó.”
“Và tôi có thể đến thăm cô thỉnh thoảng chứ?”
“Có lẽ—đôi khi; với điều kiện anh không bao giờ lạm dụng đặc ân đó.”
“Tôi không hứa suông đâu, rồi cô sẽ thấy.”
“Khoảnh khắc anh làm thế cũng là lúc sự thân thiết của chúng ta chấm dứt, thế thôi.”
“Và cô sẽ luôn gọi tôi là Gilbert chứ? Nghe có vẻ giống anh em hơn, và nó sẽ giúp tôi ghi nhớ bản giao kèo của chúng ta.”
Nàng mỉm cười, và một lần nữa giục tôi ra về; cuối cùng tôi cũng tự nhủ vâng lời cho phải lẽ, thế là nàng quay lại vào trong nhà còn tôi bước xuống đồi. Nhưng khi tôi đang đi thì tiếng móng ngựa vang lên bên tai, phá vỡ sự tĩnh mịch của buổi chiều đẫm sương; và ngước nhìn về phía con ngõ nhỏ, tôi thấy một kỵ sĩ đơn độc đang đi tới. Trập trùng chập tối là thế, nhưng thoạt nhìn tôi đã nhận ra ngay: đó chính là ông Lawrence trên con ngựa xám của ông ta. Tôi phi qua cánh đồng, nhảy qua hàng rào đá, rồi rảo bước xuống ngõ để đón đường ông ta. Vừa thấy tôi, ông ta liền giật mạnh dây cương chú ngựa nhỏ, và có vẻ như muốn quay đầu ngựa lại, nhưng nghĩ lại thì hình như ông ta thấy cứ tiếp tục đi theo lộ trình cũ vẫn hơn. Ông ta chào tôi bằng một cái gật đầu nhẹ, rồi lách sát vào bức tường để tìm cách vượt qua; nhưng tôi nào có chịu thế. Chụp lấy dây cương ngựa của ông ta, tôi kêu lên,—“Nào, Lawrence, tôi phải bắt cái bí ẩn này được giải thích rõ ràng! Nói cho tôi biết anh đang đi đâu, và anh định làm gì—ngay lập tức, và cho rành mạch vào!”
“Anh có bỏ tay ra khỏi dây cương không?” ông ta điềm tĩnh nói,—“anh đang làm đau miệng con ngựa của tôi đấy.”
“Mày và con ngựa của mày hãy—”
“Sao anh lại thô lỗ và cộc cằn thế hả, Markham? Tôi thực sự thấy xấu hổ thay cho anh đấy.”
“Anh hãy trả lời các câu hỏi của tôi—trước khi bước chân khỏi chỗ này! Tôi muốn biết anh có ý gì với sự hai mặt bội bạc này!”
“Tôi sẽ chẳng trả lời câu hỏi nào cho đến khi anh buông dây cương ra đâu—cho dù anh có đứng đó đến sáng.”
“Thế thì,” tôi nói, buông tay ra nhưng vẫn đứng chắn ngay trước mặt ông ta.
“Hãy hỏi tôi vào lúc khác, khi nào anh có thể nói chuyện như một người tử tế,” ông ta đáp lại, rồi ra sức tìm cách vượt qua tôi một lần nữa; nhưng tôi nhanh chóng tóm lại được con ngựa, ngạc nhiên chẳng kém gì chủ nhân của nó trước cách hành xử vô phép tắc nhường ấy.
“Thực sự là thế này thì quá đáng lắm rồi đấy, anh Markham!” người sau thốt lên. “Chẳng lẽ tôi không thể đến thăm người tá điền của mình vì chuyện làm ăn, mà lại bị hành hung theo kiểu này bởi một kẻ—?”
“Đây không phải lúc bàn chuyện làm ăn, thưa ông!—Bây giờ tôi sẽ nói cho ông biết tôi nghĩ gì về tư cách của ông.”
“Tốt hơn là anh nên hoãn lại cái ý kiến đó vào một dịp tiện lợi hơn,” ông ta ngắt lời bằng một giọng trầm thấp,—“mục kìa.” Và quả thực, ngài mục sư đang lững thững đi ngay phía sau tôi, lủi thủi bước về nhà từ một góc xó xỉnh nào đó trong giáo xứ của ông. Tôi lập tức buông viên sĩ phu ra; và ông ta tiếp tục hành trình của mình, cất tiếng chào ngài Millward khi đi ngang qua.
“Ơ hay! Lại cãi nhau đấy à, Markham?” ngài mục sư cất giọng gọi với theo, hướng về phía tôi,—“và chắc lại vì cái cô góa phụ trẻ tuổi kia chứ gì?” ông nói thêm, ra vẻ khiển trách mà lắc đầu. “Nhưng để ta bảo cho cậu trẻ hay” (đến đây ông sát mặt vào tôi với một vẻ quan trọng, đầy tin cậy), “cô ta không đáng để làm thế đâu!” và ông bồi thêm một cái gật đầu đầy vẻ nghiêm trang để khẳng định lời quả quyết ấy.
“NGÀI MILLWARD,” tôi thốt lên, bằng một giọng giận dữ đầy đe dọa khiến vị linh mục nọ phải ngoái nhìn lại—chữ chữ kinh hoàng—sửng sốt trước sự xấc xược bất thường ấy, rồi trợn tròn mắt nhìn thẳng vào mặt tôi, với một vẻ mặt rõ mười mươi đang nói rằng, “Cái gì, dám đối xử với ta thế này ư!” Nhưng tôi quá đỗi bất bình nên chẳng thèm xin lỗi hay thốt thêm nửa lời với ông ta: tôi quay phắt đi, sải những bước dài vội vã rảo về nhà, băng qua con ngõ dốc đứng gồ ghề và mặc kệ ông ta muốn lủi thủi theo sau thế nào thì tùy.