Người Thuê Nhà Ở Wildfell Hall

Lượt đọc: 283 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 44

❊ ❊ ❊

Ngày 24 tháng 10.—Tạ ơn Trời, cuối cùng tôi đã được tự do và bình an. Chúng tôi dậy từ rất sớm, nhanh chóng và lặng lẽ thay quần áo, rồi rón rén bước xuống sảnh, nơi Benson đã đứng đợi sẵn với một ngọn đèn trên tay để mở cửa và khóa lại sau khi chúng tôi đi. Chúng tôi buộc phải để một người biết bí mật của mình vì những chiếc hòm và nhiều thứ lỉnh kỉnh khác.

Tất cả gia nhân đều quá rõ về tư tính của chủ nhân, và dù là Benson hay John thì ai cũng sẵn lòng giúp đỡ tôi; nhưng vì Benson điềm đạm, lớn tuổi hơn lại thêm phần thân thiết với Rachel, dĩ nhiên tôi đã bảo Rachel chọn ông làm người phụ giúp và tâm phúc trong hoàn cảnh này, chừng nào sự việc còn đòi hỏi. Tôi chỉ cầu mong ông ấy không vì thế mà gặp rắc rối, và ước gì mình có thể đền đáp xứng đáng cho chuyến đi đầy nguy hiểm mà ông đã sẵn sàng gánh vác. Tôi nhét vội hai đồng guinea vào tay ông như một chút quà kỷ niệm, khi ông đứng bên khung cửa, giơ cao ngọn ngến soi đường cho chúng tôi đi, với một giọt lệ đọng trong ánh mắt hiền lành sắc xám và vô vàn lời chúc tốt đẹp hiện rõ trên gương mặt trang nghiêm. Hỡi ôi! Tôi chẳng thể biếu thêm gì nữa: số tiền còn lại vừa vặn đủ cho những chi phí dọc đường.

Biết bao niềm vui run rẩy khi chiếc cổng nhỏ khép lại sau lưng lúc chúng tôi bước ra khỏi công viên! Rồi trong giây lát, tôi dừng chân để hít hà một ngụm không khí mát lành, sảng khoái và ngoái lại nhìn ngôi nhà lần cuối. Mọi thứ chìm trong bóng tối và tĩnh mịch: không một đốm sáng lấp lánh qua khung cửa sổ, không một làn khói nào che khuất những vì sao đang rực sáng trên bầu trời băng giá. Khi cất lời vĩnh biệt nơi chừng ấy tội lỗi và đau khổ, tôi cảm thấy thật may mắn vì đã không rời đi sớm hơn, bởi giờ đây tôi hoàn toàn chắc chắn về sự đúng đắn của quyết định này—chẳng hề vương vấn chút ân hận nào cho kẻ mà tôi để lại phía sau. Chẳng có gì làm phai mờ niềm vui của tôi ngoại trừ nỗi sợ bị phát hiện; và mỗi bước chân đi lại kéo chúng tôi ra xa hơn khỏi nguy cơ ấy.

Chúng tôi đã bỏ lại Grassdale sau lưng hàng dặm đường trước khi mặt trời tròn và đỏ rực nhô lên chào đón sự giải thoát của mình; và nếu có người dân nào quanh vùng vô tình trông thấy chúng tôi lúc ấy, khi cả bọn đang ngồi chễm chệ trên nóc xe ngựa, chắc họ chẳng thể mảy may nghi ngờ thân phận thật của chúng tôi. Vì tôi dự định đóng giả làm một góa phụ, nên tôi nghĩ tốt hơn hết là nên bước vào chốn cư ngụ mới trong trang phục tang gia: do đó, tôi mặc một chiếc áo lụa đen trơn cùng áo khoác ngoài, đội một chiếc khăn voan đen (tôi cẩn thận che kín mặt suốt hai mươi hoặc ba mươi dặm đầu của chuyến đi), và chiếc mũ lụa đen mà tôi buộc phải mượn của Rachel, vì bản thân chẳng có món đồ nào như vậy. Dĩ nhiên nó không phải mốt mới nhất; nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, điều đó chẳng hề gì. Arthur mặc bộ quần áo giản dị nhất, được quấn trong một chiếc khăn len thô; còn Rachel thì quàng chiếc áo choàng xám cùng chiếc mũ trùm đầu đã cũ, khiến bà trông giống một bà lão bình thường nhưng có phần đoan trang hơn là một thị nữ của tiểu thư.

Ồ, thật hạnh phúc biết bao khi được ngồi ở trên cao, lắc lư dọc theo con đường rộng thênh thang ngập tràn ánh nắng, với làn gió sớm mai thổi lồng lộng vào mặt, xung quanh là một vùng đất lạ lẫm đang mỉm cười—rạng rỡ, ngập tràn nụ cười dưới ánh vàng rực rỡ của những tia nắng ban mai; với đứa con yêu quý trong vòng tay, hạnh phúc chẳng kém gì tôi, và người bạn trung thành ngồi bên cạnh: phía sau là ngục tù cùng sự tuyệt vọng, ngày càng lùi xa sau mỗi tiếng móng ngựa nện xuống; còn phía trước là tự do và hy vọng! Tôi suýt không kiềm chế được bản thân mà cất lời ca ngợi Chúa vì ơn giải thoát, hay làm cho các bạn đồng hành kinh ngạc bởi những tiếng cười khúc khích đầy phấn khích.

Nhưng cuộc hành trình hãy còn rất dài, và tất cả chúng tôi đều vô cùng mệt mỏi trước khi nó kết thúc. Đã tối muộn khi chúng tôi đến thị trấn L——, và vẫn còn cách đích đến bảy dặm đường nữa; chẳng còn chiếc xe ngựa nào, cũng chẳng thể thuê được phương tiện gì ngoài một chiếc xe bò thông thường, thế mà cũng phải chật vật lắm mới kiếm được, bởi một nửa thị trấn đã đi ngủ chăn êm nệm ấm. Và chặng cuối của chuyến đi ấy thật ảm đạm làm sao, khi chúng tôi vừa lạnh vừa mệt; phải ngồi trên những chiếc hòm, chẳng có gì để bám víu, chẳng có chỗ để tựa lưng, bị kéo đi lê lết và xóc nảy ê ẩm trên những con đường gập ghềnh đồi dốc. Nhưng Arthur đã ngủ say trên đùi Rachel, và nhờ hỗ trợ lẫn nhau, chúng tôi cũng xoay xở khá tốt để che chở cho thằng bé khỏi cái lạnh ban đêm.

Cuối cùng, chúng tôi bắt đầu đi lên một con ngõ dốc đứng và đầy đá sỏi, mà bất chấp bóng tối, Rachel bảo bà nhớ rất rõ: thuở nhỏ bà thường hay đi dạo ở đó cùng tôi trong tay, và chưa từng nghĩ sẽ có ngày quay lại đây sau bao nhiêu năm với hoàn cảnh như thế này. Khi Arthur bị đánh thức bởi những cú xóc nảy và những lần xe dừng lại, tất cả chúng tôi đều xuống xe và đi bộ. Chặng đường còn lại chẳng bao xa; nhưng nhỡ Frederick không nhận được thư của tôi thì sao? Hoặc nhỡ anh ấy chưa kịp chuẩn bị phòng ốc để đón tiếp, rồi chúng tôi sẽ phải đối mặt với cảnh tượng tối tăm, ẩm thấp, lạnh lẽo, không có lấy một chút thức ăn, củi lửa hay đồ đạc nào sau bao nhiêu vất vả?

Cuối cùng, tòa nhà xám xịt và u ám cũng hiện ra trước mắt chúng tôi. Con ngõ dẫn chúng tôi vòng ra lối phía sau. Chúng tôi bước vào khoảng sân hiu quạnh, và với tâm trạng hồi hộp đến nghẹt thở, đưa mắt ngắm nhìn đống đổ nát ấy. Mọi thứ đều chìm trong bóng tối và hoang tàn ư? Không; một đốm sáng đỏ nhạt từ ô cửa sổ còn nguyên vẹn khung chấn song đã sưởi ấm tâm hồn chúng tôi. Cửa khóa kín, nhưng sau một hồi gõ cửa, chờ đợi và trao đổi vài lời với giọng nói vọng xuống từ cửa sổ tầng trên, chúng tôi đã được một bà lão—người được thuê để dọn dẹp thoáng khí và giữ nhà cho đến khi chúng tôi đến—mở cửa cho vào một căn phòng nhỏ khá ấm cúng, trước kia là phòng rửa bát của biệt thự, nay đã được Frederick cải tạo thành nhà bếp. Tại đây, bà thắp đèn, nhóm cho ngọn lửa bùng lên ấm áp, rồi nhanh chóng chuẩn bị một bữa ăn đạm bạc để chúng tôi lót dạ; trong lúc đó, chúng tôi cởi bỏ đồ đạc lỉnh kỉnh trên đường đi và sơ sủa quan sát chốn cư ngụ mới của mình. Ngoài nhà bếp ra, còn có hai phòng ngủ, một phòng khách rộng vừa phải, và một phòng nhỏ hơn mà tôi định dùng làm phòng vẽ; tất cả đều được thông gió tốt và trông có vẻ còn chắc chắn, nhưng mới chỉ được bày biện một vài món đồ cổ cũ kỹ, chủ yếu làm bằng gỗ sồi đen nặng nề, chính là những món đồ từng có ở đây trước kia, vốn được giữ lại như những kỷ vật cổ tại dinh thự hiện tại của anh tôi, và nay được vận chuyển gấp gáp trở lại.

Bà lão mang bữa tối của tôi và Arthur vào phòng khách, rồi thông báo một cách vô cùng trang trọng rằng “cậu chủ gửi lời thăm hỏi bà Graham, và cậu đã cố gắng chuẩn bị phòng ốc tươm tất nhất có thể trong thời gian ngắn ngủi; nhưng cậu sẽ ghé thăm bà vào ngày mai để tiếp nhận những chỉ thị tiếp theo.”

Tôi rất vui mừng khi được bước lên chiếc cầu thang đá mang vẻ mặt lạnh lùng, rồi ngả lưng xuống chiếc giường cổ kính, u ám bên cạnh bé Arthur. Thằng bé ngủ thiếp đi chỉ trong nháy mắt; nhưng dẫu mệt mỏi là thế, những cảm xúc phấn khích cùng dòng suy nghĩ miên man cứ giữ tôi thức trắng cho đến khi ánh ban mai bắt đầu vật lộn với màn đêm; dẫu vậy, giấc ngủ khi đến vẫn thật ngọt ngào, dễ chịu, và khoảnh khắc tỉnh giấc thì tuyệt diệu đến mức không lời nào diễn tả nổi. Chính bé Arthur đã đánh thức tôi bằng những nụ hôn dịu dàng của con. Thằng bé đây rồi, đang được ôm gọn an toàn trong vòng tay tôi, cách xa người cha tồi tệ kia đến cả ngàn dặm! Ánh ban mai ngập tràn căn phòng, bởi mặt trời đã lên cao tít trên bầu trời, dù vẫn bị che khuất bởi những đám mây thu đang cuồn cuộn trôi.

Quả thực, phong cảnh tự thân nó chẳng có gì là vui vẻ cho mấy, dù là ở trong hay ngoài nhà. Căn phòng lớn trống trải với những món đồ nội thất cổ kính u ám, những ô cửa sổ nhỏ có chấn song hé lộ bầu trời xám xịt buồn tẻ bên trên và vùng hoang dã tiêu điều bên dưới—nơi những bức tường đá sậm màu cùng cánh cổng sắt, thảm cỏ dại mọc um tùm cùng những bụi cây xanh quanh năm cứng cáp với hình thù quái dị là những thứ duy nhất còn sót lại để kể rằng nơi đây từng có một khu vườn—cùng những cánh đồng hiu quạnh, cằn cỗi xa xa có lẽ đã đủ sức làm tôi thấy ảm đạm vào một thời điểm khác; nhưng giờ đây, từng sự vật riêng lẻ dường như đang vang vọng lại cảm giác hy vọng và tự do tràn đầy hứng khởi trong tôi: những giấc mơ mơ hồ về quá khứ xa xôi cùng niềm háo hức mong chờ tương lai dường như đang chào đón tôi ở mọi ngã rẽ. Dĩ nhiên tôi sẽ có thể an tâm vui mừng hơn biết mấy nếu có cả đại dương bao la trải dài ngăn cách giữa chốn ở hiện tại và nơi ở cũ; nhưng chắc chắn ở chốn thâm sơn cùng cốc này, tôi có thể sống ẩn dật mà không bị ai phát hiện; và rồi tôi lại có anh trai ở đây để bầu bạn, xua tan nỗi cô quạnh bằng những chuyến ghé thăm thỉnh thoảng.

Anh ấy đã đến vào sáng hôm đó; và từ bấy đến nay tôi đã gặp anh vài lần; nhưng anh buộc phải hết sức thận trọng về thời điểm cũng như cách thức ghé qua; ngay cả gia nhân hay những người bạn thân thiết nhất của anh cũng không được phép biết về những chuyến viếng thăm Wildfell—ngoại trừ những dịp mà một chủ nhà đến thăm khách thuê trọ thông thường—kẻo lại khơi gợi sự nghi ngờ đối với tôi, dù là về sự thật hay những lời đồn đại vu khống nào đó.

Tính đến nay tôi đã ở đây gần hai tuần, và ngoại trừ một nỗi lo lắng bứt rứt khôn nguôi là nỗi sợ bị phát hiện, tôi đã ổn định cuộc sống khá thoải mái trong ngôi nhà mới: Frederick đã cung cấp cho tôi đầy đủ đồ đạc và họa dụng cần thiết; Rachel đã đem bán hầu hết quần áo cũ của tôi ở một thị trấn xa xôi để sắm cho tôi một tủ quần áo phù hợp hơn với hoàn cảnh hiện tại; tôi có một cây đàn piano cũ và một tủ sách khá đầy đủ trong phòng khách; còn căn phòng kia của tôi đã mang đậm dáng dấp chuyên nghiệp và bận rộn ngay từ cái nhìn đầu tiên. Tôi đang làm việc cật lực để trả lại cho anh trai mọi chi phí mà anh đã bỏ ra vì tôi; không phải vì việc đó thực sự cần thiết, mà bởi vì tôi thích làm như vậy: tôi sẽ cảm thấy hứng thú hơn rất nhiều trong công việc, trong những đồng tiền kiếm được, trong bữa ăn đạm bạc và cách quản lý chi tiêu gia đình, khi biết rằng mình đang sống bằng sức lao động chân chính, những gì ít ỏi tôi sở hữu thực sự là của riêng mình; và không có ai phải gánh chịu hậu quả vì sự dại dột của tôi—ít nhất là về mặt tiền bạc. Tôi sẽ bắt anh ấy nhận từng xu cuối cùng tôi còn nợ, nếu có thể làm được mà không khiến anh quá phật lòng. Tôi đã hoàn thành một vài bức tranh, bởi tôi đã dặn Rachel gói ghém tất cả những gì tôi có; và bà ấy đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc đến mức—trong số đó, bà lại gói cả bức chân dung Mr. Huntingdon mà tôi đã vẽ vào năm đầu tiên kết hôn. Khoảnh khắc lôi nó ra khỏi chiếc hòm và bắt gặp ánh mắt ấy đang đăm đăm nhìn mình với nụ cười nhạo báng, như thể vẫn đang đắc ý vì quyền lực thao túng số phận tôi và chế giễu những nỗ lực trốn chạy của tôi, đã khiến tôi bàng hoàng hoảng sợ.

Tâm trạng của tôi khi vẽ bức chân dung ấy mới khác biệt làm sao so với lúc ngắm nhìn nó bây giờ! Tôi đã từng nghiên cứu và miệt mài biết bao để tạo ra một tác phẩm xứng đáng với nguyên mẫu! Biết bao cảm xúc lẫn lộn giữa niềm vui và sự bất mãn đan xen trong thành quả lao động của tôi!—vui vì đã bắt trúng thần thái; bất mãn vì chưa làm cho nó đủ đẹp trai. Giờ đây, tôi chẳng thấy nó đẹp chút nào—chẳng có điểm nào dễ chịu trong biểu cảm ấy; thế mà nó vẫn đẹp hơn và dễ chịu hơn rất nhiều—hoặc đúng hơn là đỡ ghê tởm hơn—so với hắn ở hiện tại: bởi sáu năm qua đã tạo ra một sự thay đổi lớn chẳng kém gì những biến động trong lòng tôi đối với hắn. Dù sao thì khung tranh vẫn rất đẹp; nó sẽ hữu ích cho một bức tranh khác. Bản thân bức tranh thì tôi không phá hủy nó như dự định ban đầu; tôi đã cất nó đi; có lẽ không phải vì chút tình cảm vương vấn nào dành cho ký ức về mối tình xưa, cũng chẳng phải để nhắc nhở bản thân về sự dại dột thuở trước, mà chủ yếu là để tôi có thể so sánh các nét trên khuôn mặt con trai mình với bức tranh này khi thằng bé lớn lên, từ đó có thể đánh giá xem con giống cha nhiều hay ít—nếu tôi còn được phép giữ con lại bên mình và không bao giờ phải nhìn thấy gương mặt người cha ấy nữa—một ân huệ mà tôi hầu như không dám mong mỏi.

Xem chừng Mr. Huntingdon đang làm mọi cách để tìm ra nơi ẩn náu của tôi. Hắn đã trực tiếp đến Staningley để đòi lại công bằng cho bản thân—với hy vọng sẽ nghe ngóng tung tích những nạn nhân của mình, nếu không muốn nói là tìm thấy họ ở đó—và đã thốt ra vô số lời dối trá với một vẻ mặt tỉnh bơ đến trơ trẽn, khiến chú tôi tin sái cổ và kịch liệt ủng hộ việc tôi quay về bên hắn để làm hòa. Nhưng thím tôi thì khôn ngoan hơn: thím quá điềm tĩnh, cẩn trọng, lại hiểu rõ tính cách của cả chồng tôi lẫn tôi nên chẳng đời nào bị lừa phỉnh bởi những lời bị đặt khéo léo của hắn. Nhưng hắn không muốn tôi quay về; hắn muốn đứa con trai của tôi; và ngầm ra hiệu cho những người thân của tôi rằng nếu tôi thích sống ly thân, hắn sẽ chiều theo ý tôi và để tôi sống yên ổn, thậm chí sẽ chu cấp cho tôi một khoản tiền hợp lý, miễn là tôi giao nộp ngay con trai hắn. Nhưng hỡi Chúa xin cứu rỗi tôi! Tôi không đời nào đem con mình ra để đổi lấy vàng bạc, dẫu cho cả hai mẹ con có phải chết đói đi chăng nữa: thà rằng con chết cùng tôi còn hơn là sống với người cha ác độc ấy.

Frederick đã cho tôi xem bức thư anh nhận được từ gã đàn ông đó, bức thư tràn ngập sự trơ trẽn đến mức có thể làm bất cứ ai không rành về hắn phải kinh ngạc, nhưng tôi tin chắc rằng chẳng ai có cách đáp trả xuất sắc hơn anh trai tôi. Anh không kể chi tiết về bức thư phúc đáp, chỉ nói rằng anh đã không thừa nhận việc biết nơi tôi ẩn náu, mà thay vào đó để họ tự suy đoán rằng anh hoàn toàn không hay biết gì, bằng cách tuyên bố rằng việc tìm đến anh hay bất kỳ người họ hàng nào khác để hỏi han thông tin là vô ích, bởi có vẻ như tôi đã bị dồn vào đường cùng nên đã giấu kín chốn dung thân ngay cả với những người thân thiết nhất; nhưng giả sử anh có biết, hoặc bất cứ lúc nào nắm được thông tin đó, thì chắc chắn Mr. Huntingdon sẽ là người cuối cùng mà anh thông báo; và rằng hắn chẳng cần phải bận tâm ngã giá làm gì về đứa bé, vì anh (Frederick) tin rằng mình đủ hiểu đứa em gái để khẳng định rằng dù tôi có ở đâu hay trong hoàn cảnh nào đi nữa, không một thế lực nào có thể ép tôi giao nộp thằng bé.

Ngày 30.—Hỡi ôi! Những người hàng xóm tử tế của tôi quyết không buông tha cho tôi. Bằng cách nào đó, họ đã dò la ra tung tích của tôi, và tôi đã phải tiếp chuyện ba gia đình khác nhau, ai nấy đều ít nhiều nung nấu ý định tìm hiểu xem tôi là ai, từ đâu tới, và tại sao lại chọn một chốn hoang vu thế này để làm nhà. Nói giảm nói tránh thì sự hiện diện của họ là hoàn toàn thừa thãi đối với tôi, còn sự tò mò của họ lại khiến tôi lo lắng và sợ hãi: nếu tôi thỏa mãn sự hiếu kỳ ấy, nó có thể dẫn đến sự sụp đổ của con trai tôi; còn nếu tôi tỏ ra quá bí hiểm, nó sẽ chỉ kích thích sự nghi ngờ của họ, khơi mào cho những lời đồn đoán, thúc đẩy họ lùng sục ráo riết hơn—và rất có thể sẽ là nguyên nhân lan truyền tiếng tăm của tôi từ giáo xứ này sang giáo xứ khác, cho đến khi lọt đến tai một kẻ nào đó đem tin này về cho Lãnh chúa vùng Grassdale Manor.

Tôi sẽ phải đáp lễ các chuyến ghé thăm của họ, nhưng nếu qua thăm dò, tôi phát hiện ra nhà nào ở quá xa để Arthur có thể đi cùng, thì họ đành phải công cốc một thời gian dài, bởi tôi không nỡ rời xa con, ngoại trừ lúc đi lễ nhà thờ, và tôi còn chưa dám làm điều đó lần nào: vì—đó có lẽ là sự yếu đuối ngốc nghếch, nhưng tôi luôn mang nỗi sợ thường trực rằng con mình sẽ bị cướp mất, nên tôi chẳng bao giờ thấy yên lòng khi không có con bên cạnh; và tôi sợ rằng những nỗi sợ hãi thần kinh này sẽ phá hỏng hoàn toàn sự tập trung của tôi trong các buổi lễ, khiến tôi chẳng thu được ích lợi gì khi đến đó. Tuy nhiên, tôi dự định sẽ thử nghiệm vào Chủ nhật tới, và tự ép mình giao con cho Rachel chăm sóc trong vài tiếng đồng hồ. Đó sẽ là một thử thách khó khăn, nhưng chắc chắn chẳng có gì là bất cẩn cả; và vị mục sư đã đến để quở trách tôi vì tội lơ là các nghi lễ tôn giáo. Tôi chẳng có lý do chính đáng nào để biện hộ, và đã hứa rằng nếu mọi chuyện suôn sẻ, ngài sẽ thấy tôi ngồi trong ghế băng của mình vào Chủ nhật tới; bởi tôi không muốn bị coi là kẻ vô thần; hơn nữa, tôi biết mình sẽ nhận được sự an ủi và ích lợi lớn lao từ việc thỉnh thoảng tham dự các buổi thờ phượng chung, giá mà tôi có đủ đức tin và sự kiên định để tĩnh tâm phù hợp với bầu không khí trang nghiêm ấy, ngăn không cho tâm trí cứ mãi quẩn quanh đứa con vắng bóng cùng viễn cảnh kinh hoàng rằng lúc trở về sẽ không thấy con đâu nữa; và chắc chắn Chúa trong lòng xót thương sẽ gìn giữ tôi khỏi thử thách cay đắng ấy: vì chính tương lai của con, nếu không phải vì tôi, Ngài sẽ không để con bị cướp đi.

Ngày 3 tháng 11.—Tôi đã có thêm vài mối quan hệ xã giao với hàng xóm láng giềng. Chàng công tử hào hoa và là kẻ bảnh chọe nhất giáo xứ cùng vùng lân cận (ít nhất là trong tưởng tượng của hắn) là một thanh niên. . . .

* * * * *

Câu chuyện dừng lại ở đó. Phần còn lại đã bị xé rách. Thật tàn nhẫn làm sao, đúng ngay lúc cô ấy chuẩn bị nhắc đến tôi! Bởi tôi chẳng mảy may nghi ngờ rằng chính là tôi, người đầy tớ hèn mọn của cô ấy, đang sắp được nhắc tới, dĩ nhiên là với giọng điệu chẳng mấy tốt đẹp gì. Tôi có thể đoán được điều đó, qua mấy từ ngắn ngủi ấy cũng như qua ký ức về toàn bộ diện mạo và thái độ của cô ấy dành cho tôi hồi mới quen. Chà! Tôi hoàn thành có thể tha thứ cho định kiến của cô ấy đối với tôi, cũng như những suy nghĩ cay nghiệt của cô ấy về phái nam nói chung, khi tận mắt chứng kiến những mẫu người kiệt xuất mà trải nghiệm của cô từng giới hạn trong đó.

Tuy nhiên, về phần tôi, cô ấy đã sớm nhận ra sai lầm của mình, và có lẽ lại rơi vào một thái cực đối lập khác: bởi nếu lúc đầu, đánh giá của cô về tôi còn thấp hơn mức tôi xứng đáng, thì tôi tin chắc rằng giờ đây giá trị của tôi lại thấp hơn cả sự đánh giá của cô; và nếu phần đầu của cuốn nhật ký tiếp nối này đã bị xé đi để tránh làm tổn thương cảm xúc của tôi, thì có lẽ phần sau đã bị giật phăng đi vì sợ nuông chiều quá mức lòng tự phụ của tôi. Dù thế nào đi nữa, tôi vẫn sẵn sàng đánh đổi rất nhiều thứ để được đọc trọn vẹn—để chứng kiến sự thay đổi dần dần, theo dõi tiến trình sự tôn trọng và tình bạn của cô ấy dành cho tôi, cùng bất kỳ tình cảm nồng nàn nào khác; để thấy được tình yêu trong ánh nhìn của cô ấy lớn lên nhường nào, và nó đã nảy nở bất chấp những quyết tâm đạo đức cùng những nỗ lực kìm nén của cô ấy để—nhưng không, tôi nào có quyền được thấy: tất cả những điều ấy quá đỗi thiêng liêng đối với bất kỳ đôi mắt nào ngoại trừ chính cô ấy, và cô đã làm đúng khi giấu nó đi trước mặt tôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anne Brontë

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.