Người Thuê Nhà Ở Wildfell Hall

Lượt đọc: 283 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chapter Xv

❊ ❊ ❊

Ngày hôm ấy vẫn mưa dầm dề như hôm trước; nhưng đến chập tối thì trời bắt đầu quang hẳn, và sáng hôm sau thì nắng ráo, sáng sủa. Tôi ra sườn đồi cùng những người gặt. Một làn gió nhẹ lướt qua cánh đồng ngô, và muôn vật đều như đang mỉm cười dưới ánh nắng ban mai. Chim sơn ca đang hót vang giữa những đám mây bạc lững lờ trôi. Cơn mưa chiều hôm trước đã làm không khí trong lành và tươi mát biết bao, gột rửa sạch sẽ vòm trời, để lại những hạt châu lấp lánh trên từng nhành cây ngọn cỏ, khiến chẳng một người nông dân nào nỡ lòng trách móc nó. Thế nhưng, chẳng một tia nắng nào có thể chạm đến trái tim tôi, chẳng ngọn gió nào có thể làm nó tươi lại; chẳng gì có thể lấp đầy khoảng trống mà niềm tin, hy vọng và niềm vui của tôi đặt nơi Helen Graham đã để lại, hay xua đi những nỗi ân hận nhức nhối cùng dư vị cay đắng của mối tình vương vấn vẫn đang đè nặng lòng tôi.

Trong lúc tôi đứng khoanh tay thẫn thờ ngắm nhìn những gợn sóng nhấp nhô của cánh đồng ngô, vốn chưa bị những người gặt làm xáo trộn, thì có cái gì đó khẽ kéo vạt áo tôi, và một giọng nói nhỏ bé mà tai tôi giờ đây chẳng hề mong muốn đã đánh thức tôi bằng câu nói đầy giật mình: —“Anh Markham, mẹ gọi anh kìa.”

—“Gọi tôi hả, Arthur?”

—“Vâng. Sao trông anh kỳ lạ thế?” —cậu bé vừa nói vừa nửa cười nửa sợ trước vẻ mặt bất ngờ của tôi khi đột ngột quay lại nhìn nó— “Và sao anh lại tránh mặt lâu thế? Nào! Anh có đến không?”

—“Bây giờ tôi đang bận,” —tôi đáp, hầu như chẳng biết phải trả lời thế nào.

Thằng bé ngước nhìn tôi với vẻ ngơ ngác trẻ thơ; nhưng trước khi tôi kịp nói thêm câu nào thì chính bóng hồng ấy đã đứng ngay bên cạnh.

—“Gilbert, em phải nói chuyện với anh!” —cô ấy nói bằng giọng nghẹn ngào đầy phẫn uất.

Tôi nhìn gò má tái nhợt và ánh mắt lấp lánh của cô ấy, nhưng chẳng đáp lời.

—“Chỉ một lát thôi,” —cô ấy nài nỉ— “Anh hãy bước sang cánh đồng bên kia kìa.” —Cô liếc nhìn những người gặt, một vài kẻ trong số họ đang đưa ánh mắt tò mò đầy khiếm nhã về phía cô— “Em không giữ anh đến một phút đâu.”

Tôi đi theo cô ấy qua khoảng hở trên hàng rào.

—“Arthur cưng, con chạy đi hái mấy bông hoa chuông kia đi,” —cô nói, chỉ tay về phía mấy bông hoa đang lấp lánh đằng xa dưới chân hàng rào nơi chúng tôi đi qua. Đứa trẻ chần chừ, như thể không muốn rời khỏi tôi.

—“Đi đi con!” —cô giục lại bằng giọng kiên quyết hơn, tuy không hề ác ý, nhưng đòi hỏi phải vâng lời ngay lập tức, và thằng bé đã tuân theo.

—“Nào, thưa bà Graham?” —tôi điềm tĩnh và lạnh lùng lên tiếng; bởi vì, dẫu thấy cô ấy đang đau khổ và chạnh lòng thương hại, tôi vẫn lấy làm đắc ý vì có trong tay quyền làm cô ấy dằn vặt.

Cô đăm đăm nhìn tôi bằng ánh mắt xoáy sâu vào tận tâm can; thế nhưng điều đó lại làm tôi mỉm cười.

—“Em không hỏi lý do của sự thay đổi này đâu, Gilbert,” —cô nói với vẻ bình thản đến xót xa— “Em thừa hiểu rõ nguyên nhân; thế nhưng, dẫu em có thể thấy mình bị mọi người nghi kỵ và kết án rồi điềm nhiên chịu đựng điều đó, em lại chẳng thể nhẫn nhịn nổi khi điều ấy xuất phát từ anh. —Tại sao hôm đó anh lại không đến nghe em giải thích vào đúng ngày em đã hẹn?”

—“Bởi vì trong khoảng thời gian ấy, tình cờ tôi đã biết được tất cả những gì cô định nói— thậm chí còn hơn thế một chút, tôi tưởng vậy.”

—“Không thể nào, vì em sẽ kể hết cho anh nghe cơ mà!” —cô phẫn uất kêu lên— “nhưng giờ thì em sẽ không nói nữa, bởi em thấy anh chẳng đáng để nghe điều đó!”

Và đôi môi tái nhợt của cô run rẩy vì xúc động.

—“Sao lại không, tôi xin phép được hỏi?”

Cô chặn đứng nụ cười nhạo báng của tôi bằng một cái nhìn đầy khinh miệt và giận dữ.

—“Bởi vì anh chưa bao giờ hiểu em, bằng không anh đã chẳng vội vàng lắng nghe những kẻ vu khống em như thế— sự tin tưởng của em đã đặt nhầm chỗ rồi— anh không phải là người như em từng nghĩ. Đi đi! Em mặc thây anh nghĩ gì về em.”

Cô quay lưng bỏ đi, và tôi cũng bước đi; vì tôi nghĩ làm thế sẽ khiến cô ta đau khổ chẳng kém gì bất cứ điều gì khác; và tôi tin mình đã đoán đúng; bởi vì chỉ một phút sau ngoảnh lại, tôi thấy cô chợt quay người nửa vòng, như thể đang hy vọng hay mong đợi vẫn thấy tôi đứng bên cạnh; rồi cô đứng sững lại, ngoái nhìn lại một lần nữa. Đó là ánh mắt ít mang vẻ tức giận hơn là nỗi thống khổ và tuyệt vọng cay đắng; nhưng tôi lập tức làm ra vẻ dửng dưng, ra điều vô tư ngó nghiêng xung quanh, và chắc là cô ấy đã đi tiếp; bởi sau khi chần chừ một lát để xem cô có quay lại hay gọi với theo không, tôi lại liếc nhìn thêm một lần nữa và thấy cô đã ở cách khá xa, đang bước đi thật nhanh trên cánh đồng cùng bé Arthur cứ lải nhải nói năng gì đó bên cạnh; thế nhưng cô vẫn quay mặt đi nơi khác, như để giấu đi một niềm cảm xúc không sao kìm nén nổi. Và tôi quay lại công việc của mình.

Thế nhưng chẳng mấy chốc tôi lại đâm ra hối hận vì sự bồng bột đã vội vã bỏ đi nhanh đến thế. Rõ ràng là cô ấy yêu tôi—có lẽ cô đã chán ngấy Mr. Lawrence và muốn đổi hắn lấy tôi; và giả sử lúc ban đầu tôi không yêu và tôn kính cô ấy đến thế, thì sự ưu ái đó hẳn đã khiến tôi thích thú và phổng mũi; nhưng giờ đây, sự tương phản giữa vẻ bề ngoài và tâm hồn cô ấy theo tôi tưởng tượng, giữa đánh giá trước đây và hiện tại của tôi về cô ấy, lại quá đỗi bóp nghẹt tâm can—quá nỗi dằn vặt cảm xúc của tôi, đến mức nó lấn át mọi bận tâm vụn vặt khác.

Tuy nhiên, tôi vẫn tò mò muốn biết cô ấy định giải thích ra sao—hoặc bây giờ sẽ giải thích thế nào nếu tôi nài nỉ—cô ta sẽ thú nhận đến mức nào, và sẽ tìm cách bào chữa ra sao. Tôi khao khát muốn biết điều gì ở cô đáng khinh bỉ, điều gì đáng ngưỡng mộ; điều gì nên thương hại, điều gì nên căm ghét;—và hơn thế nữa, nhất định tôi phải tìm cho ra lẽ. Tôi sẽ gặp lại cô ấy một lần nữa, để tự minh định rõ ràng nên nhìn nhận cô ấy dưới ánh sáng nào trước khi đôi ngả chia ly. Tất nhiên là tôi đã mất cô ấy vĩnh viễn rồi; thế nhưng tôi vẫn không sao chịu nổi ý nghĩ rằng chúng tôi lại chia tay nhau lần cuối trong cảnh oán hận và đau khổ ngập tràn từ cả hai phía. Ánh mắt cuối cùng ấy đã khắc sâu vào tim tôi; tôi chẳng tài nào quên được. Nhưng sao mà tôi ngốc nghếch thế chứ! Chẳng phải cô ta đã lừa dối tôi, tổn thương tôi—hủy hoại hạnh phúc cả đời tôi đó sao? “Thôi được, dẫu sao thì ta cũng sẽ gặp lại cô ta,” —đó là quyết định cuối cùng của tôi— “nhưng không phải hôm nay: hôm nay và đêm nay hãy để cô ta ngẫm nghĩ về tội lỗi của mình, và đau khổ tùy thích đi: ngày mai ta sẽ gặp lại cô ta một lần nữa và tìm hiểu thêm đôi điều về cô ta. Cuộc gặp gỡ ấy có ích cho cô ta hay không thì chưa biết. Dẫu sao đi nữa, nó cũng sẽ thổi một luồng sinh khí vào cuộc đời mà cô ta đã tự chuốc lấy sự tĩnh lặng đến chết lặng này, và biết đâu sẽ làm dịu đi bằng sự thật một số tâm tư đang thổn thức.”

Hôm sau tôi đã đến thật, nhưng phải tận chập tối, sau khi công việc trong ngày đã xong xuôi, nghĩa là khoảng sáu đến bảy giờ; và ánh mặt trời ngả về tây đang ánh lên sắc đỏ rực trên tòa Dinh thự cổ, hắt thứ ánh sáng rực rỡ qua những khung cửa sổ có chấn song, mang lại cho nơi đây một vẻ vui tươi vốn không thuộc về nó. Tôi không cần phải dài dòng kể lại tâm trạng của mình khi đến chốn linh thiêng của nữ thần lòng tôi thuở trước—nơi ngập tràn ngàn kỷ niệm tươi đẹp và những giấc mơ huy hoàng—giờ đây đều đã bị phủ bóng bởi một sự thật phũ phàng.

Rachel cho tôi vào phòng khách và đi gọi chủ nhân, vì cô không có ở đó; nhưng chiếc bàn làm việc của cô vẫn để mở trên chiếc bàn tròn nhỏ cạnh chiếc ghế tựa lưng cao, bên trên có đặt một cuốn sách. Bộ sưu tập sách tuy ít ỏi nhưng tuyển chọn của cô vốn quen thuộc với tôi chẳng kém gì sách của chính tôi; thế nhưng tập sách này thì tôi chưa từng thấy trước đây. Tôi cầm nó lên. Đó là cuốn “Những ngày cuối đời của một nhà triết học” của Sir Humphry Davy, và trên trang đầu tiên có đề dòng chữ: “Frederick Lawrence.” Tôi gấp cuốn sách lại, nhưng vẫn cầm trên tay, đứng quay mặt về phía cửa, lưng quay về phía lò sưởi, bình thản chờ đợi cô bước vào; vì tôi chẳng mảy nghi ngờ việc cô sẽ xuất hiện. Và chẳng mấy chốc tôi đã nghe tiếng bước chân cô ngoài hành lăng. Trái tim tôi bắt đầu đập rộn lên, nhưng tôi tự kìm lại bằng một lời quở trách thầm kín, và giữ vững sự điềm tĩnh—ít ra là bề ngoài. Cô bước vào, bình thản, tái nhợt, điềm đạm.

—“Tôi lấy làm vinh hạnh gì mà được ông Markham chiếu cố ghé thăm thế này?” —cô nói với một vẻ uy nghiêm vừa lạnh lùng vừa điềm tĩnh đến mức suýt làm tôi lúng túng; nhưng tôi mỉm cười đáp lại, trơ tráo chẳng kém gì,—

—“À, tôi đến để nghe lời giải thích của cô đây.”

—“Tôi đã bảo là tôi không giải thích đâu,” —cô đáp— “Tôi đã nói là ông không xứng đáng nhận được sự tin tưởng của tôi cơ mà.”

—“Ồ, vậy thì thôi vậy,” —tôi đáp, bước về phía cửa.

—“Đứng lại một lát đã,” —cô nói— “Đây là lần cuối cùng tôi gặp ông: đừng đi vội thế chứ.”

Tôi đứng lại, chờ đợi những lời tiếp theo của cô.

—“Hãy nói cho tôi biết,” —cô tiếp lời— “dựa vào căn cứ nào mà ông lại tin những điều bịa đặt đó về tôi; ai đã nói với ông; và họ đã nói những gì?”

Tôi khựng lại một lát. Cô nhìn thẳng vào mắt tôi không một chút nao núng, cứ như thể cõi lòng đã được tôi luyện bằng sự trong sạch đầy quả quyết. Cô quyết tâm phải biết rõ điều tồi tệ nhất, và cũng sẵn sàng đương đầu với nó. “Ta có thể đập nát cái tinh thần ngạo mạn ấy,” —tự thầm nghĩ. Nhưng trong lúc thầm đắc ý với quyền lực của mình, tôi lại muốn vờn vò nạn nhân của mình giống như một con mèo. Giơ cuốn sách vẫn cầm trên tay cho cô thấy, chỉ vào tên người đề trên trang lót, nhưng dán chặt mắt vào khuôn mặt cô, tôi hỏi: —“Cô có biết vị quý ông này không?”

—“Tất nhiên là tôi biết,” —cô đáp; và một cơn đỏ bừng chợt thoáng qua nét mặt—không biết là vì xấu hổ hay giận dữ: trông nó có vẻ giống cái sau hơn— “Còn gì nữa không, thưa ông?”

—“Lần cuối cô gặp hắn ta là từ bao giờ?”

—“Ai cho ông cái quyền tra khảo tôi về chuyện này hay bất cứ chủ đề nào khác chứ?”

—“À, chẳng ai cả!—tùy cô có muốn trả lời hay không thôi. Và bây giờ, cho tôi hỏi—cô đã nghe chuyện gì xảy ra gần đây với người bạn này của cô chưa?—bởi vì, nếu cô chưa biết—”

—“Tôi sẽ không để ông lăng mạ đâu, ông Markham!” —cô kêu lên, gần như phát điên vì thái độ của tôi— “Tốt hơn hết là ông nên rời khỏi nhà ngay lập tức, nếu ông đến chỉ vì điều đó.”

—“Tôi không đến để lăng mạ cô: tôi đến để nghe cô giải thích.”

—“Và tôi bảo là tôi không giải thích đâu!” —cô vặn lại, đi đi lại lại trong phòng với trạng thái vô cùng kích động, hai bàn tay siết chặt lấy nhau, thở gấp, và từ đôi mắt bắn ra những tia lửa giận dữ— “Tôi không thèm hạ mình đi giải thích với một kẻ có thể đem những nghi ngờ kinh khủng như vậy ra làm trò cười, lại còn dễ dãi tin theo đến thế.”

—“Tôi không hề đem chúng ra làm trò cười đâu, thưa bà Graham,” —tôi đáp, buông ngay giọng điệu mỉa mai cay độc xuống— “Tôi thực lòng ước gì mình có thể coi chúng là chuyện đùa. Còn chuyện dễ dãi hoài nghi á, có Chúa mới biết được suốt thời gian qua tôi đã là một kẻ ngốc quáng quáng, hoài nghi đến mức nào, cứ kiên trì nhắm mắt bịt tai trước mọi thứ đe dọa làm lung lay niềm tin của tôi ở cô, cho đến tận lúc chính bằng chứng rành rành đã đánh gục sự mê muội của tôi!”

—“Bằng chứng nào, thưa ông?”

—“Được rồi, tôi sẽ nói cho cô biết. Cô còn nhớ buổi tối hôm đó khi tôi đến đây không?”

—“Tôi nhớ.”

—“Ngay cả lúc ấy cô cũng đã thả ra dăm ba câu bóng gió đủ sức mở mắt cho một kẻ khôn ngoan hơn; nhưng chúng chẳng hề có tác dụng gì với tôi cả: tôi vẫn tiếp tục tin tưởng, nuôi hy vọng giữa chốn tuyệt vọng, và tôn sùng những điều mình chẳng thể thấu hiểu. Thế nhưng sự thể là sau khi rời khỏi cô, tôi đã quay lại—bởi vì lòng đồng cảm sâu sắc và tình cảm nồng nhiệt thôi thúc—không dám đường hoàng hiện diện trước mặt cô, nhưng lại không chế nổi cám dỗ ghé nhìn qua cửa sổ một chút xem cô thế nào thôi: vì lúc nãy tôi vừa rời đi khi cô đang chìm trong nỗi buồn đau tột cùng, và tôi ít nhiều tự trách sự thiếu kiềm chế cũng như kém khôn ngoan của mình là nguyên nhân gây ra điều đó. Nếu tôi làm sai, thì chỉ có tình yêu là động lực, và hình phạt giáng xuống cũng đủ đắng cay rồi; bởi vì đúng lúc tôi vừa tới cái cây kia, thì cô cùng người bạn của mình bước ra khu vườn. Không muốn tự bộc lộ trong hoàn cảnh đó, tôi đứng im trong bóng râm cho đến khi cả hai người đi khuất.”

—“Và ông đã nghe được bao nhiêu trong cuộc trò chuyện của chúng tôi?”

—“Tôi đã nghe đủ lắm rồi, Helen ạ. Và thật may cho tôi vì đã nghe được; bởi chẳng gì khác có thể chữa dứt cơn mê muội của tôi. Tôi vẫn luôn nói và nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ tin một lời nào chống lại cô, trừ khi chính miệng cô thốt ra. Mọi lời bóng gió hay quả quyết của kẻ khác đều chỉ là những lời vu khống độc ác, vô căn cứ; những lời cô tự nhận tội, tôi tin là đã bị nói quá lên; và mọi điều tưởng chừng khó hiểu trong hoàn cảnh của cô, tôi đều tin là cô có thể giải thích được nếu muốn.”

Mrs. Graham đã ngừng đi lại. Cô tựa người vào một đầu của bệ lò sưởi, đối diện với chỗ tôi đang đứng, cằm chống lên bàn tay đang nắm chặt, đôi mắt—không còn sục sôi giận dữ nữa, mà đang ánh lên nỗi khích động bứt rứt—lúc thì liếc nhìn tôi khi tôi nói, lúc lại lướt theo bức tường đối diện, hoặc dán chặt vào tấm thảm.

—“Lẽ ra ông vẫn phải đến gặp tôi sau tất cả những chuyện đó,” —cô nói— “và nghe tôi bày tỏ những lời tự biện hộ. Thật là bất nhân và sai trái khi ông lại lẩn tránh một cách lén lút và đột ngột như thế, ngay sau những lời tỏ tình nồng cháy, mà chẳng thèm đưa ra một lý do nào cho sự thay đổi ấy. Lẽ ra ông phải nói cho tôi biết tất cả—dù có cay đắng đến đâu chăng nữa. Vẫn còn hơn là giữ sự im lặng này.”

—“Tôi làm thế để làm gì chứ? Cô có thể nào làm tôi sáng tỏ thêm về vấn đề duy nhất liên quan đến tôi đâu; cô cũng chẳng thể làm tôi ngơ đi trước những bằng chứng sờ sờ đập vào mắt. Tôi muốn mối quan hệ thân thiết giữa chúng ta chấm dứt ngay lập tức, đúng như cô từng thừa nhận là khả năng sẽ xảy ra nếu tôi biết hết sự tình; nhưng tôi không hề muốn quở trách cô,—dù (như cô cũng đã thừa nhận) cô đã gây ra cho tôi một tổn thương sâu sắc. Phải, cô đã giáng cho tôi một vết thương chẳng bao giờ có thể bù đắp nổi—và chẳng ai khác có thể làm được—cô đã tàn phá tuổi thanh xuân ngập tràn hứa hẹn và biến cuộc đời tôi thành một vùng hoang mạc! Tôi có sống đến trăm tuổi đi nữa, cũng chẳng tài nào hồi phục nổi sau cú đánh chí mạng này—và chẳng thể nào quên được! Từ nay về sau—Cô cười đấy à, Mrs. Graham,” —tôi chợt khựng lại, bị những cảm xúc khôn tả chặn ngang bài diễn văn đầy phẫn uất khi thấy cô thực sự đang mỉm cười trước bức tranh đổ nát mà chính tay cô đã gây ra.

—“Tôi cười sao?” —cô ngẩng lên nhìn với vẻ nghiêm túc— “Tôi không hề hay biết đấy. Nếu có, thì đó chắc chắn không phải vì vui sướng trước ý nghĩ về tai họa mà tôi đã giáng lên đầu ông đâu; Chúa biết rằng tôi đã phải dằn vặt đủ đường trước khả năng mỏng manh ấy rồi; tôi mỉm cười là vì mừng rỡ khi thấy rốt cuộc ông vẫn có chiều sâu tâm hồn và cảm xúc, đồng thời hy vọng rằng mình đã không đặt nhầm niềm tin hoàn toàn vào phẩm giá của ông. Thế nhưng nụ cười và giọt nước mắt đối với tôi vốn giống nhau lắm, chẳng cái nào bị giới hạn bởi một thứ cảm xúc cụ thể nào cả: tôi thường khóc khi hạnh phúc, và mỉm cười lúc buồn đau.”

Cô lại nhìn tôi, dường như đang chờ đợi câu trả lời; nhưng tôi vẫn im lặng.

—“Ông có vui mừng lắm không,” —cô tiếp lời— “nếu phát hiện ra rằng mình đã sai lầm trong kết luận đó?”

—“Sao em lại hỏi thế, Helen?”

—“Em không dám nói là mình có thể hoàn toàn thanh minh,” —cô nói nhanh và thấp giọng, trong khi trái tim đập phập phồng rõ mồn một và lồng ngực phập phồng vì xúc động,—“nhưng ông có vui mừng nếu khám phá ra rằng em tốt đẹp hơn những gì ông vẫn nghĩ không?”

—“Bất cứ điều gì có thể dù chỉ phần nào giúp khôi phục lại ấn tượng trước đây của tôi về cô, biện minh cho tình cảm mà tôi vẫn dành cho cô, và xoa dịu những nỗi niềm hối hận khôn nguôi đi kèm theo đó, đều sẽ được đón nhận quá đỗi vui mừng, quá đỗi thiết tha!” Gò má cô bừng cháy, và toàn thân cô giờ đây run lên vì quá đỗi xúc động. Cô không nói gì nữa, mà lao vội về phía bàn làm việc, vơ lấy thứ trông giống như một cuốn sổ tay dày hay một tập bản thảo, vội vàng xé đi vài tờ ở phần cuối rồi nhúm phần còn lại vào tay tôi, nói: “Ông không cần phải đọc hết đâu, cứ mang về nhà đi,” rồi bước vội ra khỏi phòng. Nhưng khi tôi đã rời khỏi nhà và đang đi dọc lối đi, cô liền mở cửa sổ gọi giật tôi lại. Hóa ra cô chỉ muốn dặn: —“Đọc xong nhớ mang trả nhé; và đừng hé răng nửa lời về những gì trong đó cho bất kỳ ai nghe thấy. Em đặt niềm tin vào danh dự của ông đấy.”

Trước khi tôi kịp đáp lời, cô đã khép cửa sổ lại và quay đi. Tôi thấy cô ngả người ra chiếc ghế gỗ sồi cổ, hai tay che lấy khuôn mặt. Cảm xúc của cô đã bị đẩy lên đến cao trào khiến cô buộc phải tìm kiếm sự giải thoát trong những giọt nước mắt.

Nôn nóng thở không ra hơi, và chật vật kìm nén những tia hy vọng đang dâng trào, tôi vội vã rảo bước về nhà, phi thẳng lên phòng riêng của mình sau khi đã với lấy một cây nến dẫu trời vừa mớiâm sẩm tối—rồi đóng sầm và cài then cửa lại, quyết tâm không để bất cứ thứ gì làm gián đoạn; và ngồi phịch xuống trước bàn, mở món báu vật của mình ra rồi hoàn toàn đắm chìm vào việc đọc nó—đầu tiên là lướt nhanh qua các trang sách túm lấy dăm ba câu rải rác đây đó, rồi mới thực sự tĩnh tâm đọc ngấu nghiến từ đầu đến cuối.

Bây giờ thì tôi đang đặt nó ngay trước mặt đây; và dẫu cho bạn có lẽ chẳng thể nào đọc nó với một nửa sự hứng thú như tôi từng trải qua, tôi biết bạn cũng sẽ chẳng mảy may thỏa mãn với một bản tóm tắt nội dung của nó đâu, thế nên tôi sẽ trao tận tay bạn toàn bộ cuốn sổ, ngoại trừ có lẽ là một vài đoạn rải rác đây đó chỉ mang tính chất thời điểm đối với tác giả, hoặc những đoạn chỉ làm câu chuyện thêm phần rườm rà chứ chẳng giúp làm sáng tỏ thêm điều gì. Nó bắt đầu có phần hơi đột ngột như thế này—nhưng chúng ta hãy để dành phần mở đầu ấy cho chương kế tiếp.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anne Brontë

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.