Nguyệt Thạch

Lượt đọc: 436 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

Khi vị khách cuối cùng đã đánh xe đi, tôi quay trở lại sảnh trong và thấy Samuel đang đứng cạnh bàn phụ, pha chế brandy và nước soda. Quý bà và tiểu thư Rachel bước ra từ phòng khách, theo sau là hai vị quý ông. Ngài Godfrey dùng một ít brandy với nước soda, còn ngài Franklin thì không. Ngài ngồi xuống với vẻ mệt mỏi rã rời; có lẽ những lời qua tiếng lại trong dịp sinh nhật này đã quá sức đối với ngài.

Quý bà quay lại chúc họ ngủ ngon, ánh mắt đăm đăm nhìn vào món di vật của vị Đại tá độc ác đang lấp lánh trên chiếc váy của con gái mình.

“Rachel,” bà hỏi, “đêm nay con định cất Viên kim cương ở đâu?”

Tiểu thư Rachel đang rất hào hứng, rơi vào cái tâm trạng thích nói những điều vô lý và cứ bướng bỉnh bám lấy nó cứ như thể đó là chân lý — một điều mà thỉnh thoảng bạn có thể bắt gặp ở những cô thiếu nữ khi họ đang quá phấn khích vào cuối một ngày đầy sự kiện. Đầu tiên, cô tuyên bố mình không biết phải cất Viên kim cương ở đâu. Sau đó, cô bảo, “tất nhiên là trên bàn trang điểm, cùng với mấy thứ đồ khác của con rồi.” Rồi cô chợt nhớ ra rằng Viên kim cương có thể tự động phát sáng, với thứ ánh sáng ma quái tựa ánh trăng trong bóng tối — và điều đó sẽ làm cô hoảng sợ giữa đêm khuya. Tiếp đến, cô sực nhớ đến chiếc tủ sơn mài Ấn Độ đặt trong phòng sinh hoạt của mình; và lập tức quyết định cất viên kim cương Ấn Độ vào chiếc tủ Ấn Độ, với mục đích để cho hai sản phẩm bản xứ tuyệt đẹp có thể ngắm nhìn lẫn nhau. Sau khi để dòng suy nghĩ vô lý ấy trôi tuột đến mức đó, người mẹ liền lên tiếng chặn lại.

“Con yêu! Chiếc tủ Ấn Độ của con làm gì có ổ khóa,” quý bà nói.

“Lạy Chúa tôi, thưa mẹ!” tiểu thư Rachel kêu lên, “đây là khách sạn chắc? Trong nhà có trộm sao?”

Phớt lờ kiểu nói năng kỳ quặc ấy, quý bà chúc hai vị quý ông ngủ ngon. Bà quay sang tiểu thư Rachel và hôn cô. “Sao con không để mẹ giữ Viên kim cương giùm con đêm nay nhỉ?” bà hỏi.

Tiểu thư Rachel đón nhận lời đề nghị ấy chẳng khác nào cách cô có thể đã đón nhận một lời đề nghị bắt cô phải rời xa con búp bê mới hồi mười năm về trước. Quý bà hiểu rằng không thể lý luận gì với cô vào lúc đêm hôm đó. “Sáng mai, việc đầu tiên là con hãy sang phòng mẹ nhé,” bà nói. “Mẹ có chuyện muốn nói với con.” Nói những lời cuối cùng ấy, bà chậm rãi rời đi; trong đầu mang theo những suy nghĩ riêng, và bề ngoài thì có vẻ không mấy bằng lòng với hướng đi mà chúng đang dẫn dắt bà.

Tiểu thư Rachel là người tiếp theo chúc ngủ ngon. Cô bắt tay trước với ngài Godfrey, người đang đứng ở đầu bên kia của sảnh và ngắm một bức tranh. Sau đó, cô quay lại phía ngài Franklin, người vẫn đang ngồi mệt mỏi và lặng lẽ trong một góc.

Những lời nào đã được trao đổi giữa họ thì tôi không rõ. Nhưng khi đứng gần chiếc khung gỗ sồi cổ viền chiếc gương lớn của chúng tôi, tôi thấy bóng cô phản chiếu trong đó, đang lén lút rút chiếc mặt dây chuyền mà ngài Franklin đã tặng cô ra khỏi cổ áo, rồi đưa lên cho ngài xem trong chốc lát, với một nụ cười chắc chắn mang ý nghĩa khác thường trước khi cô tung tăng chạy về phòng ngủ. Sự việc này khiến tôi hơi dao động về sự tin tưởng mà trước đó tôi vẫn dành cho phán đoán của mình. Rốt cuộc, tôi bắt đầu nghĩ rằng Penelope có lẽ đã đúng về tình cảm của cô chủ.

Ngay khi tiểu thư Rachel khuất tầm mắt, ngài Franklin liền chú ý đến tôi. Tâm tính vốn dễ thay đổi của ngài, cứ xoay chuyển liên tục về mọi thứ, giờ đây đã xoay chiều đối với nhóm người Ấn Độ.

“Betteredge,” ngài nói, “tôi đâm ra nghi ngờ không biết mình đã quá coi trọng ngài Murthwaite khi chúng ta trò chuyện trong lùm cây hay không. Tự hỏi liệu ông ấy có đang đem mấy câu chuyện du ký của mình ra để bịp chúng ta không nhỉ? Anh có thực sự định thả rông lũ chó không?”

“Tôi sẽ tháo vòng cổ của chúng, thưa ngài,” tôi đáp, “và để chúng tự do đi lại trong đêm, nếu chúng đánh hơi thấy lý do gì.”

“Được rồi,” ngài Franklin nói. “Chúng ta sẽ xem ngày mai phải tính sao. Tôi hoàn toàn không muốn làm dì mình hoảng sợ, Betteredge, nếu không có lý do gì thực sự cấp bách. Chúc ngủ ngon.”

Ngài trông phờ phạc và tái nhợt làm sao khi gật đầu chào tôi và cầm nến đi lên lầu, đến mức tôi đánh bạo khuyên ngài nên làm một ngụm brandy pha nước cho dễ ngủ. Ngài Godfrey, từ đầu bên kia sảnh bước lại gần, liền hùa theo tôi. Ngài ân cần giục ngài Franklin uống chút gì đó trước khi lên giường.

Tôi chỉ ghi lại những tình tiết vụ vặt này, bởi vì sau tất cả những gì tôi đã thấy và nghe trong ngày hôm đó, tôi rất đỗi vui mừng khi thấy hai vị quý ông vẫn hòa thuận với nhau như trước. Cuộc khẩu chiến của họ (bị Penelope nghe thấy trong phòng khách) và sự ganh đua để chiếm lấy thiện cảm của tiểu thư Rachel dường như không tạo ra bất kỳ rạn nứt nghiêm trọng nào giữa họ. Mà này! Cả hai đều là người điềm đạm và từng trải. Hơn nữa, tầng lớp thượng lưu quả thực có một ưu điểm thế này, đó là họ không hề hay cãi cọ gắt gỏng với nhau như những kẻ chẳng có địa vị nào cả.

Ngài Franklin từ chối ly brandy pha nước rồi đi lên lầu cùng ngài Godfrey, phòng của họ nằm sát vách nhau. Tuy nhiên, khi đến chiếu nghỉ, hoặc là người anh họ đã thuyết phục được ngài, hoặc là ngài lại đổi ý như thường lệ. “Biết đâu đêm nay tôi lại cần đến nó,” ngài với giọng vọng xuống bảo tôi. “Hãy sai người mang một ly brandy pha nước lên phòng tôi nhé.”

Tôi sai Samuel mang ly brandy pha nước lên đó; rồi đi ra ngoài tháo vòng cổ cho lũ chó. Cả hai con đều ngơ ngác đến mức chẳng hiểu chuyện gì khi được thả ra vào giờ đó trong đêm, và cứ chồm lên người tôi như một cặp cún con! Tuy nhiên, cơn mưa chẳng mấy chốc đã làm dịu chúng lại: mỗi con liếm một ngụm nước rồi lủi thủi bò về chuồng. Khi bước vào nhà, tôi nhận thấy những dấu hiệu trên bầu trời báo hiệu thời tiết sắp chuyển biến tốt hơn. Hiện tại, trời vẫn mưa tầm tã và mặt đất thì nhão nhoét.

Samuel và tôi đi khắp nhà để khóa cửa cẩn thận như mọi khi. Lần này tôi tự mình kiểm tra mọi thứ, không giao phó gì cho cấp dưới cả. Mọi ngóc ngách đều an toàn và chắc chắn khi tôi đặt những thớ xương già lên giường, vào khoảng thời gian giữa nửa đêm và một giờ sáng.

Có lẽ những lo lắng trong ngày đã quá sức đối với tôi. Dù sao đi nữa, đêm đó tôi cũng mắc phải chứng bệnh của ngài Franklin. Mãi đến tận lúc rạng đông tôi mới chìm được vào giấc ngủ. Suốt khoảng thời gian nằm thức trắng, ngôi nhà tĩnh lặng như tờ. Không một tiếng động nào ngoài tiếng mưa rơi lộp bộp và tiếng gió thở dài rười rượi qua những tán cây khi một luồng gió mới thổi lên cùng buổi sớm.

Khoảng bảy giờ rưỡi tôi thức dậy, mở cửa sổ đón ánh nắng ngày mới đẹp trời. Đồng hồ đã điểm tám giờ, và tôi vừa định bước ra ngoài xích lại lũ chó thì nghe thấy tiếng váy áo sột soạt gấp gáp trên cầu thang phía sau lưng.

Tôi quay người lại, và kìa Penelope đang lao xuống tìm tôi như phát điên. “Cha ơi!” con bé hét lên, “lên lầu ngay đi, vì ơn Chúa! Mất Viên kim cương rồi!”

“Con mất trí rồi à?” tôi hỏi nó.

“Mất rồi!” Penelope nói. “Mất rồi, chẳng ai biết bằng cách nào! Lên đó mà xem.”

Con bé kéo thốc tôi đi theo vào phòng sinh hoạt của cô chủ, nơi thông thẳng với phòng ngủ của cô. Kia rồi, ngay ngưỡng cửa phòng ngủ, tiểu thư Rachel đang đứng, khuôn mặt tái xanh gần bằng chiếc áo choàng tắm màu trắng mà cô đang mặc. Ở đó cũng mở toang hai cánh cửa của chiếc tủ Ấn Độ. Một trong những chiếc ngăn kéo bên trong bị kéo ra hết cỡ.

“Nhìn kìa!” Penelope nói. “Chính tay con đã thấy tiểu thư Rachel cất Viên kim cương vào ngăn kéo đó tối qua.” Tôi tiến lại chiếc tủ. Ngăn kéo trống không.

“Có thật không vậy, thưa tiểu thư?” tôi hỏi.

Với một ánh mắt không giống ngày thường, với một giọng nói không phải của chính mình, tiểu thư Rachel trả lời y hệt như con gái tôi:

“Viên kim cương mất rồi!”

Nói xong những lời đó, cô lùi vào trong phòng ngủ, đóng sầm cửa lại và khóa trái.

Khi chúng tôi còn chưa biết phải xoay sở thế nào tiếp theo, quý bà bước vào; nghe thấy tiếng tôi trong phòng con gái và lấy làm lạ không biết chuyện gì đã xảy ra. Tin tức về việc mất Viên kim cương dường như làm bà chết trân tại chỗ. Bà đi thẳng đến phòng ngủ của tiểu thư Rachel và nằng nặc đòi vào. Tiểu thư Rachel đã mở cửa cho bà.

Sự hoảng loạn lan truyền trong nhà nhanh như lửa bén, tiếp tục tóm lấy hai vị quý ông.

Ngài Godfrey là người đầu tiên bước ra khỏi phòng. Tất cả những gì ngài làm khi nghe tin dữ là giơ hai tay lên với vẻ hoang mang tột độ, điều chẳng lấy gì làm minh chứng cho sự vững vàng trong tâm lý của ngài. Ngài Franklin, người mà một cái đầu nhạy bén của ngài từng khiến tôi đặt trọn niềm tin vào việc đưa ra lời khuyên, lúc nghe tin lại tỏ ra bất lực chẳng kém gì người anh họ. Lạ lùng thay, cuối cùng ngài cũng có một đêm ngon giấc; và cái sự xa xỉ chưa từng có của một giấc ngủ sâu, như chính ngài tự nhận, hình như đã làm đầu óc ngài đờ đẫn đi. Tuy nhiên, sau khi ngài nuốt xong tách cà phê — thứ mà theo thói quen phương Tây, ngài luôn uống vài giờ trước khi ăn sáng — trí óc ngài liền minh mẫn trở lại; khía cạnh sắc sảo trong con người ngài trỗi dậy, và ngài đã tiếp quản sự việc một cách quả quyết và khôn ngoan, đại loại như sau:

Đầu tiên, ngài cho gọi các gia nhân đến và dặn họ cứ giữ nguyên toàn bộ các cửa ra vào lẫn cửa sổ ở tầng dưới (ngoại trừ cửa chính mà tôi đã mở) đúng y như tình trạng lúc chúng ta khóa cửa đi ngủ tối qua. Kế đến, ngài đề nghị anh họ và tôi hãy kiểm tra thật kỹ trước khi tiến thêm bất kỳ bước nào, để chắc chắn rằng Viên kim cương không hề vô tình bị rơi đi đâu khuất tầm mắt — chẳng hạn như phía sau tủ, hay lọt xuống gầm chiếc bàn kê tủ. Sau khi tìm kiếm ở cả hai nơi mà chẳng thấy gì — lại tiếp tục gặng hỏi Penelope và không thu được gì ngoài chút ít thông tin con bé đã kể từ trước — ngài Franklin đề nghị mở rộng việc dò la sang phía tiểu thư Rachel, và sai Penelope đến gõ cửa phòng ngủ của cô.

Quý bà đáp lại tiếng gõ và khép cửa lại đằng sau lưng. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, chúng tôi nghe tiếng chốt khóa được cài từ bên trong bởi chính tiểu thư Rachel. Bà chủ của chúng tôi bước ra với vẻ mặt vô cùng bối rối và ưu tư. “Việc mất Viên kim cương dường như đã làm suy sụp hoàn toàn tinh thần của Rachel,” bà nói với ngài Franklin. “Nó lảng tránh một cách kỳ lạ việc nhắc đến chuyện này, ngay cả với tôi. Hiện tại các anh không thể gặp nó được đâu.”

Sau khi làm tăng thêm sự bối rối của chúng tôi bằng lời kể về tiểu thư Rachel, quý bà mất một lát lấy lại bình tĩnh quen thuộc, rồi hành động với sự quả đoán thường thấy.

“Ta đoán là chẳng còn cách nào khác nhỉ?” bà nói điềm đạm. “Ta đoán là mình chẳng còn lựa chọn nào ngoài việc gọi cảnh sát?”

“Và việc đầu tiên cảnh sát cần làm,” ngài Franklin tiếp lời, nhanh chóng bắt nhịp, “là tóm cổ đám tu sĩ mãi võ người Ấn Độ đã biểu diễn ở đây tối qua.”

Cả quý bà lẫn ngài Godfrey (vì không biết những gì ngài Franklin và tôi đã biết) đều giật mình và tỏ vẻ ngạc nhiên.

“Tôi không thể dừng lại để giải thích bây giờ được,” ngài Franklin nói tiếp. “Tôi chỉ có thể nói với các vị rằng đám người Ấn Độ chắc chắn đã đánh cắp Viên kim cương. Hãy đưa cho tôi một lá thư giới thiệu,” ngài nói, hướng về phía quý bà, “gửi một vị thẩm phán ở Frizinghall — chỉ cần nói rằng tôi đại diện cho lợi ích và mong muốn của ngài, rồi để tôi phi ngựa đi ngay lập tức. Cơ hội tóm được lũ trộm có thể phụ thuộc vào việc chúng ta không để phí một phút thừa thãi nào.” (Xin lưu ý rằng: Dù là phần lý trí kiểu Pháp hay kiểu Anh của ngài Franklin đang lấn lướt, thì phần đúng đắn có vẻ đang chiếm thượng phong vào lúc này. Chỉ là không biết nó sẽ kéo dài được bao lâu?)

Ngài đặt bút mực và giấy trước mặt bác gái, người (theo tôi thấy) có vẻ hơi miễn cưỡng viết bức thư ngài cần. Nếu có thể bỏ qua một sự kiện như việc mất vòn trân châu trị giá hai mươi nghìn bảng Anh, thì tôi tin rằng — với quan điểm của quý bà về người em trai quá cố cùng sự hoài nghi của bà đối với món quà sinh nhật đó — trong thâm tâm bà sẽ cảm thấy nhẹ nhõm biết bao nếu để mặc bọn trộm cao chạy xa bay cùng Viên Huyết Nguyệt mà chẳng gặp phiền phức gì.

Tôi bước ra chuồng ngựa cùng ngài Franklin, nhân cơ hội hỏi ngài làm thế nào mà đám người Ấn Độ (những kẻ mà dĩ nhiên tôi cũng nghi ngờ chẳng kém gì ngài) lại có thể đột nhập vào nhà.

“Một trong số chúng có thể đã lẻn được vào sảnh trong lúc hỗn loạn khi khách khứa ra về,” ngài Franklin nói. “Tên đó có thể đã nấp dưới sô-pha trong lúc bác tôi và Rachel đang bàn xem nên cất Viên kim cương ở đâu vào ban đêm. Hắn chỉ việc chờ đến khi nhà cửa im ắng, rồi món đồ nằm ngay trong tủ, cứ thế mà lấy đi thôi.” Nói đoạn, ngài gọi người gác cổng mở cửa rồi quất ngựa phi đi mất.

Đây quả là lời giải thích hợp lý duy nhất. Nhưng bằng cách nào tên trộm lại có thể trốn thoát khỏi ngôi nhà? Cửa chính lúc tôi dậy mở vẫn khóa và cài then y như lúc tôi để nó vào ban đêm. Còn các cửa ra vào và cửa sổ khác thì vẫn ở đó, hoàn toàn nguyên vẹn và chắc chắn để tự làm chứng. Cả lũ chó nữa? Giả sử tên trộm tẩu thoát bằng cách tụt xuống từ một cửa sổ trên lầu, làm sao hắn tránh được lũ chó? Phải chăng hắn đã chuẩn bị sẵn thịt tẩm thuốc mê cho chúng? Khi mối nghi ngờ ấy vừa xẹt qua đầu, chính lũ chó đã lao bổ vào tôi từ một góc khuất, lăn kềnh đè lên nhau trên thảm cỏ ướt với một vẻ đầy sức sống và tinh nghịch đến mức tôi phải rất vất vả mới chấn chỉnh lại được và xích chúng vào. Càng ngẫm nghĩ, lời giải thích của ngài Franklin lại càng tỏ ra ít thỏa đáng hơn.

Chúng ta vẫn phải ăn sáng — dù trong nhà có chuyện gì xảy ra đi nữa, trộm cắp hay án mạng, thì bữa sáng vẫn phải được dọn. Khi dùng bữa xong, quý bà cho gọi tôi lên; và tôi buộc phải kể cho bà nghe toàn bộ những gì nãy giờ mình vẫn giấu kín liên quan đến nhóm người Ấn Độ cùng âm mưu của chúng. Vốn là một phụ nữ can đảm, bà nhanh chóng vượt qua cú sốc ban đầu trước những điều tôi thông báo. Tâm trí bà dường như bận tâm về cô con gái nhiều hơn là về đám tiểu nhân ngoại đạo cùng âm mưu của chúng. “Anh biết Rachel kỳ cục thế nào và đôi khi nó hành xử khác biệt ra sao so với những cô gái khác,” quý bà nói với tôi. “Nhưng trong suốt ngần ấy năm trải đời, chưa bao giờ tôi thấy nó lạ lùng và kín đáo như lúc này. Việc mất viên ngọc dường như sắp làm nó mất trí đến nơi rồi. Ai mà ngờ được Viên kim cương quái gở đó lại có thể bám rễ sâu vào tâm trí nó trong một thời gian ngắn như vậy cơ chứ?”

Quả thực rất kỳ lạ. Nói về đồ chơi hay nữ trang nói chung, tiểu thư Rachel vốn chẳng hề cuồng nhiệt chúng như phần lớn các thiếu nữ khác. Thế mà giờ đây, cô lại tự giấu mình trong phòng ngủ với nỗi buồn không gì khuây khỏa. Cũng công bằng khi nói thêm rằng cô không phải là người duy nhất trong nhà bị đảo lộn nhịp sống thường ngày. Ngài Godfrey chẳng hạn — dẫu về mặt nghề nghiệp vốn là một kiểu chuyên gia xoa dịu chung — lại tỏ ra lúng túng không biết tìm kiếm nguồn năng lượng của chính mình ở đâu. Không có khách khứa để giải trí, lại chẳng có cơ hội thử xem kinh nghiệm đối phó với những phụ nữ đang đau khổ của mình có thể giúp ích gì trong việc an ủi tiểu thư Rachel, ngài cứ lang thang hết từ nhà ra vườn với vẻ vô định và bứt rứt. Ngài đắn đo giữa hai luồng suy nghĩ về việc mình nên làm sau tai họa vừa giập xuống gia đình. Liệu ngài có nên giải tỏa gánh nặng cho gia đình trong hoàn cảnh hiện tại bằng cách rời đi với tư cách một vị khách, hay nên tiếp tục ở lại với hy vọng dù chỉ là những dịch vụ khiêm tốn của mình cũng có thể hữu ích phần nào? Cuối cùng ngài quyết định phương án sau có lẽ là cách ứng xử thông thường và chu đáo nhất trong một trường hợp tai họa gia đình đặc biệt như thế này. Hoàn cảnh thử thách bản chất thực sự của một con người. Ngài Godfrey, qua thử thách của hoàn cảnh, đã tự bộc lộ bản chất yếu mềm hơn tôi tưởng. Còn về các nữ gia nhân — ngoại trừ Rosanna Spearman vốn hay lủi thủi một mình — họ bắt đầu túm tụm thì thầm ở các góc tối và liếc nhìn mọi thứ với vẻ đầy nghi kỵ, đúng theo bản tính của nửa thế giới yếu đuối ấy khi có điều gì bất thường xảy ra trong nhà. Bản thân tôi cũng tự nhận thấy mình đang bứt rứt và cáu kỉnh. Viên Huyết Nguyệt chết tiệt đã đảo lộn tất cả chúng ta.

Hơi trước mười một giờ, ngài Franklin quay trở lại. Phía kiên quyết trong con người ngài hình như đã sụp đổ trong khoảng thời gian rời đi, chịu áp lực đè nặng lên đôi vai. Lúc đi, ngài phi ngựa như bay; lúc về, ngài thả ngựa đi bước một. Khi đi, ngài cứng cỏi như sắt. Khi về, ngài mềm nhũn như bông, ủ rũ hết chỗ nói.

“Nào,” quý bà cất tiếng, “cảnh sát tới chưa?”

“Rồi ạ,” ngài Franklin đáp; “họ bảo sẽ đi xe ngựa theo sau tôi. Thanh tra Seegrave, thuộc lực lượng cảnh sát địa phương của chúng ta, cùng hai cận vệ. Chỉ là thủ tục cho có lệ! Vụ này vô phương rồi.”

“Sao cơ! Bọn người Ấn Độ tẩu thoát rồi hả thưa ngài?” tôi hỏi.

“Những kẻ tội nghiệp bị đối xử bất công ấy đã bị tống vào tù một cách oan uổng,” ngài Franklin nói. “Họ vô tội như những đứa trẻ mới sinh. Suy đoán của tôi về việc một tên trong số chúng ẩn nấp trong nhà cuối cùng cũng tan thành mây khói y như tất cả những suy đoán khác. Mọi chuyện đã được chứng minh,” ngài Franklin nói, tỏ ra rất hả hê trước sự bất tài của chính mình, “là hoàn toàn bất khả thi.”

Sau khi làm chúng tôi kinh ngạc khi thông báo một diễn biến hoàn toàn mới trong vụ Viên Huyết Nguyệt, vị công tử nhà ta theo lời đề nghị của bác gái bèn ngồi xuống và giải thích sự tình.

Hóa ra phần kiên quyết trong con người ngài chỉ trụ được đến tận Frizinghall. Ngài đã trình bày rõ ràng toàn bộ sự việc trước vị thẩm phán, và ông lập tức cho gọi cảnh sát tới. Những cuộc điều tra đầu tiên tiến hành về nhóm người Ấn Độ cho thấy chúng thậm chí chưa từng có ý định rời khỏi thị trấn. Những câu hỏi tiếp theo đặt ra cho cảnh sát chứng minh rằng cả ba tên cùng đứa bé đi theo đều đã được nhìn thấy đang quay trở lại Frizinghall trong khoảng từ mười đến mười một giờ đêm qua — điều này (xét về thời gian và khoảng cách) cũng chứng minh rằng chúng đã đi bộ thẳng một mạch về sau khi biểu diễn trên sân hiên nhà chúng ta. Muộn hơn nữa, vào lúc nửa đêm, cảnh sát nhân lục soát khu nhà trọ bình dân nơi chúng trú ngụ thì lại nhìn thấy cả ba và đứa bé như thường lệ. Ngay sau nửa đêm thì chính tay tôi đã khóa cửa nhà an toàn. Chẳng thể có bằng chứng nào rõ ràng hơn thế để minh oan cho nhóm người Ấn Độ. Vị thẩm phán bảo rằng thậm chí chưa có nổi một cơ sở tình nghi nào đối với họ vào lúc này. Nhưng vì khi cảnh sát tiến hành điều tra sâu hơn, biết đâu sẽ có những phát hiện mới liên quan đến đám mãi võ, nên ông sẽ tìm cách tạm giam họ với tội danh lang thang vô gia cư, để giữ họ dưới sự kiểm soát của chúng ta trong vòng một tuần dưới khóa bả cẩn thận. Chúng đã vô tình làm điều gì đó (tôi quên mất rồi) ở trong thị trấn, vừa đủ để vướng vào vòng pháp luật. Mọi thể chế nhân gian (kể cả công lý) đều có thể co giãn một chút, miễn là bạn kéo nó đúng hướng. Vị thẩm phán đáng kính vốn là bạn cũ của quý bà, và đám người Ấn Độ đã bị “tống giam” một tuần ngay khi tòa mở cửa vào sáng hôm đó.

Đó là bản tường thuật của ngài Franklin về các sự kiện tại Frizinghall. Đầu mối từ nhóm người Ấn Độ cho bí ẩn về viên ngọc bị mất giờ đây xem như đã đứt phăng trong tay chúng ta. Nếu đám mãi võ hoàn toàn vô tội, vậy thì nài cho phật lòng, ai đã lấy Viên Huyết Nguyệt ra khỏi ngăn kéo của tiểu thư Rachel chứ?

Mười phút sau, tới sự nhẹ nhõm vô bờ bến của chúng tôi, thanh tra Seegrave đã tới nơi. Ông báo cáo rằng đã chạm trán ngài Franklin trên sân hiên, đang ngồi phơi nắng (tôi đoán là phần tính cách kiểu Ý đang chiếm thượng phong) và cảnh báo cảnh sát khi họ đi ngang qua rằng cuộc điều tra này chỉ toàn là vô vọng, trước cả khi nó kịp bắt đầu.

Đối với một gia đình ở hoàn cảnh của chúng ta, vị thanh tra cảnh sát Frizinghall quả là viên quan dễ chịu nhất mà bạn muốn gặp. Ngài Seegrave cao lớn, đẫy đà, phong thái ra dáng quân nhân. Ông có một giọng nói vang dội đầy quyền uy, ánh nhìn kiên quyết mạnh mẽ, cùng chiếc áo khoác dài sang trọng cài cúc gọn gàng đến tận chiếc cổ áo bằng da. “Tôi chính là người các vị đang cần!” hiển hiện rõ rành rành trên gương mặt ông; và ông sai bảo hai tên cảnh sát cấp dưới nghiêm khắc đến mức thuyết phục được tất cả chúng ta rằng không thể đùa giỡn với ông được đâu.

Ông bắt đầu bằng việc đi một vòng quanh cơ ngơi, cả trong lẫn ngoài; kết quả của cuộc khảo sát đó chứng minh cho ông thấy rằng không có tên trộm nào đột nhập từ bên ngoài vào, và do đó vụ trộm hẳn phải do một kẻ nào đó trong nhà thực hiện. Tôi xin nhường phần tưởng tượng cho bạn về tâm trạng của lũ gia nhân khi thông báo chính thức này lọt vào tai họ lần đầu tiên. Viên thanh tra quyết định bắt đầu bằng việc khám xét phòng riêng của tiểu thư, và sau đó sẽ thẩm vấn gia nhân. Cùng lúc, ông cắt cử một cận vệ đứng canh ngay chiếu nghỉ dẫn lên phòng ngủ của người hầu, với chỉ thị không cho bất cứ ai trong nhà bước qua mặt ông cho đến khi có lệnh mới.

Nghe đến động thái sau này, một nửa thế giới yếu đuối liền phát cuồng ngay tại chỗ. Họ từ các góc phòng chồm ra, ào cả lên lầu tiến thẳng vào phòng tiểu thư Rachel (lần này có cả Rosanna Spearman bị cuốn theo dòng người), xồng xộc xông vào chỗ thanh tra Seegrave và, với vẻ mặt ai nấy đều trông có vẻ tội lỗi như nhau, hách dịch đòi ông chỉ mặt điểm tên xem ông đang nghi ngờ ai trong số họ.

Ngài thanh tra tỏ ra vô cùng bản lĩnh trước tình huống đó; ông nhìn họ bằng ánh mắt quả quyết và khuất phục họ bằng giọng nói ra lệnh của nhà binh.

“Nào, tất cả các cô, xuống lầu hết cho tôi. Tôi không muốn các cô lảng vảng ở đây. Nhìn kìa!” thanh tra chợt chỉ tay vào một vết nhòe nhỏ của lớp sơn trang trí ngay mép ngoài cửa phòng tiểu thư Rachel, sát dưới ổ khóa. “Xem mấy cái váy vóc của các cô vừa gây ra hậu quả gì kìa. Biến đi! Xéo mau!” Rosanna Spearman, người đứng gần ông nhất và cũng gần vết nhòe trên cửa nhất, đã làm gương cho sự vâng lời và thoắt cái chuồn ngay xuống chỗ làm việc của mình. Những người còn lại lẽo đẽo theo sau. Vị thanh tra hoàn tất việc khám xét căn phòng, và chẳng thu được gì khả quan, bèn hỏi tôi ai là người đầu tiên phát hiện ra vụ trộm. Con gái tôi là người đầu tiên phátته. Con gái tôi được triệu tập.

Ngài thanh tra tỏ ra hơi gay gắt với Penelope ngay từ khúc dạo đầu. “Này cô gái, tập trung nghe tôi đây, và nhớ là phải nói sự thật đấy.” Penelope lập tức nổi đóa. “Tôi chưa từng được dạy nói dối hỡi ngài cảnh sát!—và nếu cha tôi có thể đứng đó nghe tôi bị buộc tội dối trá lẫn trộm cắp, rồi phòng ngủ của tôi bị khóa trái, danh tiếng của tôi bị tước đoạt, trong khi đó là tất cả những gì một cô gái nghèo còn lại, thì ông ấy không phải là người cha tốt như tôi vẫn tưởng!” Một lời đúng lúc của tôi đã đưa Công lý và Penelope trở lại bầu không khí dễ chịu hơn. Những câu hỏi và trả lời diễn ra trôi chảy nhưng chẳng đi đến đâu đáng kể. Con gái tôi đã thấy tiểu thư Rachel cất Viên kim cương vào ngăn tủ vào lúc muộn nhất tối hôm đó. Con bé mang tách trà vào phòng tiểu thư Rachel lúc tám giờ sáng hôm sau thì thấy ngăn tủ mở toang và trống rỗng. Ngay lập tức, nó hô hoán cả nhà — và thế là hết phần khai báo của Penelope.

Ngài thanh tra tiếp theo đòi gặp chính tiểu thư Rachel. Penelope truyền đạt yêu cầu qua cánh cửa. Câu trả lời vọng ra theo đúng con đường ấy: “Tôi không có gì để nói với cảnh sát cả — tôi không gặp ai hết.” Viên cảnh sát kỳ cựu của chúng ta trông vừa ngạc nhiên vừa chướng tai khi nghe câu trả lời đó. Tôi thưa rằng cô chủ đang ốm, và nài xin ông hãy đợi một lát rồi gặp cô sau. Thế là chúng tôi lại đi xuống lầu, và bắt gặp ngài Godfrey cùng ngài Franklin đang bước qua sảnh.

Hai vị quý ông, với tư cách là những người cư ngụ trong nhà, được triệu tập để xem họ có thể cung cấp chút ánh sáng nào cho vụ việc hay không. Cả hai chẳng biết gì sất. Họ có nghe thấy âm thanh đáng ngờ nào trong đêm qua không? Chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng mưa lộp bộp. Còn tôi, kẻ thức khuya hơn cả hai người họ, có nghe thấy gì không? Chẳng có gì! Khi được giải phóng khỏi việc thẩm vấn, ngài Franklin, vẫn bám chặt vào góc nhìn bất lực về rắc rối của chúng ta, thì thầm với tôi: “Gã đó chẳng có tích sự gì trên đời này cho chúng ta đâu. Thanh tra Seegrave là một thằng đần.” Tới lượt mình được tha ra, ngài Godfrey lại thì thầm với tôi — “Rõ ràng là một người vô cùng có năng lực. Betteredge, tôi đặt niềm tin tuyệt đối vào ông ấy!” Lắm thầy nhiều ma, như người xưa từng nói từ trước thời của tôi.

Động thái tiếp theo của ngài thanh tra đưa ông quay lại “phòng riêng” một lần nữa, với cha con tôi bám gót phía sau. Mục đích của ông là tìm xem có món đồ đạc nào bị dịch chuyển khỏi vị trí thường ngày trong đêm qua hay không — bởi vì cuộc khám xét trước đó của ông trong căn phòng hình như vẫn chưa đủ độ sâu để làm thỏa mãn tâm trí ông về điểm này.

Trong lúc chúng tôi vẫn đang lúi húi lục lọi giữa những chiếc ghế và cái bàn, cánh cửa phòng ngủ bỗng bật mở. Sau khi đã từ chối tiếp tất cả mọi người, tiểu thư Rachel, trước sự kinh ngạc của chúng tôi, tự ý bước thẳng ra giữa mọi người. Cô nhặt chiếc mũ làm vườn trên ghế lên, rồi tiến thẳng đến chỗ Penelope với câu hỏi này:—

“Sáng nay ngài Franklin Blake đã sai cô mang tin nhắn đến cho tôi phải không?”

“Dạ phải, thưa tiểu thư.”

“Ngài ấy muốn nói chuyện với tôi, phải không?”

“Dạ phải, thưa tiểu thư.”

“Bây giờ ngài ấy đâu?”

Nghe tiếng người nói ngoài hiên bên dưới, tôi nhìn qua cửa sổ và thấy hai vị quý ông đang cùng nhau đi dạo qua lại. Thay mặt con gái, tôi đáp: “Ngài Franklin đang ở trên sân hiên, thưa tiểu thư.”

Không nói thêm lời nào, chẳng thèm đếm xỉa đến ngài thanh tra đang cố bắt chuyện với mình, với khuôn mặt tái nhợt như chết và chìm đắm kỳ lạ trong những suy nghĩ riêng, cô rời khỏi phòng và đi xuống dưới hiên gặp hai người anh họ.

Đó là một hành động thiếu tôn trọng, là sự vi phạm phép lịch sự tối thiểu về phía tôi, nhưng dù có chết đi sống lại tôi cũng không thể cưỡng lại việc nhìn qua cửa sổ khi tiểu thư Rachel chạm mặt hai vị quý ông bên ngoài. Cô tiến thẳng về phía ngài Franklin mà dường như không thèm để ý đến ngài Godfrey, khiến ông này vội lùi lại để mặc không gian riêng cho họ. Những gì cô nói với ngài Franklin có vẻ được thốt ra bằng một giọng điệu đầy phẫn nộ. Nó chỉ kéo dài trong chốc lát, và qua những gì tôi nhìn thấy trên khuôn mặt ngài qua khung cửa sổ, nó dường như khiến ngài kinh ngạc đến mức câm nín không nói nên lời. Trong lúc họ vẫn còn ở bên nhau, quý bà xuất hiện trên sân hiên. Tiểu thư Rachel nhìn thấy mẹ — thốt nhanh vài câu cuối với ngài Franklin — rồi đột ngột quay trở lại nhà trước khi bà kịp đến nơi. Bản thân quý bà cũng ngạc nhiên, và nhận thấy sự kinh ngạc trên nét mặt ngài Franklin, bèn cất tiếng hỏi ngài. Ngài Godfrey cũng nhập bọn và tham gia câu chuyện. Ngài Franklin bước đi chừng vài bước giữa hai người họ, chắc là đang thuật lại những gì đã xảy ra, bởi cả hai người đều khựng lại sững sờ sau khi đi được vài bước. Tôi vừa kịp chứng kiến đến đó thì cánh cửa phòng sinh hoạt bị đẩy tung một cách bạo lực. Tiểu thư Rachel sải bước nhanh qua để vào phòng ngủ, cuồng loạn và tức giận với đôi mắt sắc lẹm cùng đôi má bừng bừng lửa giận. Ngài thanh tra một lần nữa định tra khảo cô. Cô xoay phắt lại ngay cửa phòng ngủ. “Tôi đâu có mời ông tới!” cô hét lên đầy phẫn nộ. “Tôi không cần ông. Viên kim cương của tôi mất rồi. Cả ông hay bất cứ ai khác cũng đừng hòng tìm lại được nó!” Nói đoạn cô bước vào trong, sập cửa khóa cái rầm trước mũi chúng tôi. Penelope, người đứng gần cửa nhất, nghe rõ tiếng côòa khóc nức nở ngay khoảnh khắc cô chỉ có một mình.

Lúc thì nổi giận đùng đùng, lúc lại đầm đìa nước mắt! Điều đó có nghĩa là gì chứ?

Tôi thanh minh với viên thanh tra rằng điều đó có nghĩa là tâm tính tiểu thư Rachel đang bị xáo trộn bởi sự mất mát của viên ngọc quý. Vì lo cho danh dự gia đình, tôi cảm thấy đau lòng khi chứng kiến cô chủ quên mất phép tắc — ngay cả với một sĩ quan cảnh sát — và do đó tôi đành tìm mọi cách chữa cháy tốt nhất có thể. Còn trong thâm tâm, tôi bối rối trước ngôn từ và hành xử kỳ quặc của tiểu thư Rachel hơn bất cứ từ ngữ nào có thể diễn tả. Lấy những lời cô thốt ra ở cửa phòng ngủ làm kim chỉ nam để đoán định, tôi chỉ có thể kết luận rằng cô vô cùng phẫn nộ trước việc chúng ta gọi cảnh sát, và sự kinh ngạc của ngài Franklin ngoài sân hiên là do cô đã trút những lời đó lên đầu ngài (với tư cách là kẻ chủ mưu đi gọi cảnh sát). Nếu phỏng đoán này đúng, vậy thì — một khi đã mất Viên kim cương — tại sao cô lại phản đối sự hiện diện trong nhà của chính những kẻ có trách nhiệm tìm lại nó cho cô? Và làm sao, lạy Chúa tôi, cô lại có thể biết chắc rằng Viên Huyết Nguyệt sẽ không bao giờ được tìm thấy nữa chứ?

Tình hình hiện tại là chẳng thể hy vọng có được câu trả lời cho những câu hỏi đó từ bất kỳ ai trong nhà. Ngài Franklin có vẻ coi đó là vấn đề danh dự khi từ chối lặp lại với một gia nhân — ngay cả với một gia nhân lâu năm như tôi — những gì tiểu thư Rachel đã nói với ngài ngoài sân hiên. Ngài Godfrey, với tư cách là một quý tộc và người họ hàng, có lẽ đã được ngài Franklin tin tưởng chia sẻ, nên cũng tôn trọng sự tin tưởng đó đúng như lẽ phải. Quý bà, người chắc chắn cũng nằm trong vòng bí mật và là người duy nhất có quyền tiếp cận tiểu thư Rachel, cũng thẳng thừng thừa nhận rằng bà chẳng thể moi được gì từ con bé. “Mấy người làm tôi phát điên lên khi cứ mở miệng ra là nói về Viên kim cương!” Toàn bộ uy quyền của người mẹ không tài nào vắt kiệt từ cô nổi một lời nào khác ngoài câu đó.

Thế là chúng ta đã lâm vào cảnh bế tắc về tiểu thư Rachel — và cả bế tắc về Viên Huyết Nguyệt. Ở trường hợp thứ nhất, quý bà hoàn toàn bất lực trong việc giúp đỡ chúng ta. Ở trường hợp thứ hai (như bạn sẽ sớm phán đoán thôi), ngài Seegrave đang nhanh chóng tiệm cận trạng thái của một vị thanh tra cạn kiệt trí khôn.

Sau khi sục sạo khắp “phòng riêng” mà chẳng thu được phát hiện nào giữa đám đồ đạc, viên cảnh sát kỳ cựu của chúng ta quay sang hỏi tôi xem liệu các gia nhân nói chung có biết chỗ cất Viên kim cương đêm qua hay không.

“Tôi biết chỗ nó được cất, thưa ngài,” tôi thưa, “đầu tiên là thế. Samuel, cậu chân dài, cũng biết — vì nó có mặt ở sảnh khi mọi người bàn về nơi giữ Viên kim cương tối hôm đó. Con gái tôi biết, như nó đã trình bày với ngài. Nó hoặc Samuel có thể đã vô tình nhắc đến với những người khác — hoặc các gia nhân khác có thể đã nghe lỏm được cuộc trò chuyện qua cánh cửa phụ của sảnh, vốn có thể mở thông ra cầu thang phụ. Theo những gì tôi biết, có lẽ mọi người trong nhà đều đã biết viên ngọc được cất ở đâu vào tối hôm qua.”

Câu trả lời của tôi vô tình mở ra một phạm vi quá rộng lớn cho những nghi ngờ của ngài thanh tra vùng vẫy, nên ông liền thu hẹp nó lại bằng cách hỏi sang lý lịch của các gia nhân.

Tôi nghĩ ngay đến Rosanna Spearman. Nhưng đó không phải là vị trí cũng chẳng phải là mong muốn của tôi khi chĩa mũi nhọn nghi ngờ vào một cô gái nghèo, người mà lòng trung thực vốn không có gì phải bàn cãi suốt bao năm tôi biết cô. Bà quản lý tại Trại Cải tạo từng báo cáo với quý bà rằng đó là một thiếu nữ thực tâm hối cải và hoàn toàn đáng tin cậy. Nhiệm vụ của thanh tra là tự tìm ra lý do để nghi ngờ cô trước — rồi sau đó, chứ không phải trước đó, mới là lúc tôi có trách nhiệm kể cho ông nghe cô vào làm việc cho quý bà bằng cách nào. “Tất cả người làm của chúng tôi đều có lý lịch xuất sắc,” tôi nói. “Và tất cả đều xứng đáng với niềm tin mà bà chủ đã đặt vào họ.” Sau đó, ngài Seegrave chỉ còn lại một việc duy nhất phải làm — đó là xắn tay áo lên và tự mình giải quyết lý lịch của đám gia nhân.

Hết người này đến người khác bị đem ra thẩm vấn. Hết người này đến người khác chứng minh được rằng họ chẳng có gì để nói — và (đối với mấy người phụ nữ) họ đã nói điều đó một cách rất dài dòng cùng sự tức giận sục sôi trước lệnh cấm bén mảng đến phòng ngủ của họ. Phần còn lại được đuổi về chỗ làm việc dưới lầu, riêng Penelope được triệu tập để thẩm vấn riêng lần thứ hai.

Cơn nổi giận nhỏ của con bé trong “phòng riêng” cùng thái độ sẵn sàng tự nhận mình bị tình nghi dường như đã để lại ấn tượng không mấy tốt đẹp trong lòng thanh tra Seegrave. Việc nó là người cuối cùng nhìn thấy Viên kim cương vào ban đêm hình như cũng cứ vương vấn mãi trong đầu ông. Khi buổi tra khảo thứ hai kết thúc, con bé hớt hải chạy về tìm tôi trong cơn cuồng nộ. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa — viên cảnh sát suýt chút nữa đã nói thẳng toẹt nó là tên trộm! Tôi suýt chẳng thể tin nổi (nếu áp dụng góc nhìn của ngài Franklin) ông ta lại là một thằng đần đến mức độ đó. Dù ông ta chẳng thốt ra lời nào, nhưng cái cách ông liếc nhìn con gái tôi quả thực chẳng có chút thiện cảm nào. Tôi đùa cợt cho qua chuyện với tội nghiệp Penelope, bảo rằng đó là một chuyện quá đỗi nực cười không đáng để bận tâm — mà quả thực nó đúng là thế. Nhưng trong thâm tâm, tôi e rằng mình cũng đủ ngớ ngẩn để mà nổi giận. Quả thực là rất bực mình — đúng là thế đấy. Con bé ngồi thụp xuống góc phòng, lấy tạp dề trùm kín đầu với trái tim tan nát. Bạn sẽ bảo nó thật ngớ ngẩn. Nó hoàn toàn có thể đợi đến khi hắn buộc tội công khai. Ờ thì, với tư cách là một người có cái đầu lạnh tương đương, tôi thừa nhận điều đó. Dù vậy, ngài thanh tra cũng nên nhớ lấy — thôi quên cái thứ mà ông ta nên nhớ đi. Quỷ tha ma bắt ông ta!

Bước đi tiếp theo và cũng là cuối cùng trong cuộc điều tra đã đẩy sự việc tới cái gọi là cao trào. Viên cảnh sát có một cuộc gặp riêng (có sự hiện diện của tôi) với quý bà. Sau khi thông báo rằng Viên kim cương chắc chắn đã bị lấy cắp bởi một kẻ nào đó trong nhà, ông ngỏ ý xin phép được cùng các cận vệ lục soát phòng ốc và rương hòm của gia nhân ngay lập tức. Bà chủ nhân hậu của chúng tôi, giống như người phụ nữ quý phái hào phóng mà bà vốn là, từ chối để chúng tôi bị đối xử như những tên trộm. “Tôi sẽ không bao giờ đồng ý trả ơn như vậy,” bà nói, “cho tất cả những gì tôi nợ các gia nhân trung thành đang làm việc trong nhà mình.”

Ngài thanh tra cúi đầu chào, với một ánh nhìn liếc về phía tôi như muốn nói rõ: “Sao lại thuê tôi làm gì, nếu bà cứ trói tay tôi thế này?” Với tư cách là người đứng đầu đám gia nhân, tôi hiểu ngay rằng vì công lý cho tất cả các bên, chúng ta không được phép lợi dụng sự rộng lượng của bà chủ. “Chúng tôi vô cùng biết ơn hạ sạ,” tôi nói; “nhưng chúng tôi xin phép được làm điều đúng đắn trong chuyện này bằng cách giao nộp chìa khóa. Khi Gabriel Betteredge đã làm gương,” tôi nói, chặn ngang ngài thanh tra ngay cửa, “thì những người còn lại sẽ làm theo, tôi hứa với các ngài đấy. Kia là chùm chìa khóa của tôi, mở màn trước nhé!” Quý bà nắm lấy tay tôi, cảm ơn với giấn lệ rưng rưng trên mi. Lạy Chúa! Lúc đó tôi thà đổi bất cứ thứ gì để có đặc quyền đấm cho ngài thanh tra Seegrave một cú lăn quay!

Đúng như tôi đã hứa thay cho họ, những gia nhân khác làm theo gương tôi, dĩ nhiên là vô cùng miễn cưỡng, nhưng đều đồng tình với quan điểm của tôi. Mấy bà phụ nữ trông thật là thảm họa trong lúc cảnh sát đang lục lọi đồ đạc của họ. Bà đầu bếp trông cứ như thể muốn nướng sống ngài thanh tra trên lò than, còn những người khác thì hầm hực như muốn ăn tươi nuốt sống ông ta khi ông ta xong việc.

Cuộc khám xét kết thúc và dĩ nhiên chẳng tìm thấy Viên kim cương hay bất cứ dấu vết nào của nó ở bất cứ đâu, thanh tra Seegrave bèn lui về căn phòng nhỏ của tôi để tự suy ngẫm xem bước tiếp theo mình nên làm gì. Ông ta cùng thuộc hạ đã quần quật trong nhà hàng giờ đồng hồ mà chẳng tiến thêm được bước nào tới việc khám phá ra cách thức Viên Huyết Nguyệt bị lấy đi, hay nên nghi ngờ ai là thủ phạm.

Trong lúc viên cảnh sát vẫn đang trầm ngâm cô độc, tôi được gọi vào thư viện gặp ngài Franklin. Đến sự kinh ngạc khôn tả của tôi, ngay lúc tay tôi vừa chạm tới tay nắm cửa, nó đột ngột được mở tung từ bên trong, và Rosanna Spearman bước ra!

Sau khi phòng thư viện đã được quét dọn sạch sẽ vào buổi sáng, cả người hầu phòng thứ nhất lẫn thứ hai đều không có việc gì phải bén mảng đến căn phòng đó vào bất kỳ thời điểm nào sau đó trong ngày. Tôi chặn Rosanna Spearman lại và lập tức buộc tội cô vi phạm kỷ luật gia đình.

“Cô muốn gì ở phòng thư viện vào giờ này hả?” tôi hỏi.

“Ngài Franklin Blake đánh rơi một chiếc nhẫn trên lầu,” Rosanna đáp; “và cháu vào thư viện để đưa lại cho ngài ấy.” Khuôn mặt con bé đỏ bừng khi đưa ra câu trả lời đó; và nó hất hàm bước đi với vẻ tự đắc mà tôi hoàn toàn không tài nào lý giải nổi. Những diễn biến trong nhà chắc ít nhiều đã làm đảo lộn tâm lý tất cả các nữ gia nhân; nhưng chẳng ai trong số họ lại hoàn toàn đánh mất bản tính tự nhiên như cách mà Rosanna vừa thể hiện.

Tôi tìm thấy ngài Franklin đang ngồi viết bên bàn làm việc trong thư viện. Ngài yêu cầu chuẩn bị xe ra ga ngay khi tôi vừa bước chân vào phòng. Âm thanh đầu tiên cất lên từ giọng nói của ngài cho tôi biết rằng phần tính cách kiên quyết của ngài đã quay trở lại chiếm thượng phong. Gã làm bằng bông đã biến mất; và người đàn ông đúc bằng sắt lại ngồi trước mặt tôi.

“Đi London hả thưa ngài?” tôi hỏi.

“Đi gửi điện tín về London,” ngài Franklin đáp. “Tôi đã thuyết phục được bác tôi rằng chúng ta cần một cái đầu mẫn tiệt hơn thanh tra Seegrave để giúp đỡ; và tôi đã xin phép bà gửi bức điện tín cho cha tôi. Ông ấy quen Ủy viên Cảnh sát Trưởng, và vị Ủy viên có thể tìm đúng người để giải mã bí ẩn về Viên kim cương. Nhân tiện nói về những điều kỳ bí,” ngài Franklin hạ thấp giọng nói, “tôi còn một điều muốn trao đổi với anh trước khi anh ra chuồng ngựa. Đừng hở môi nửa lời với bất cứ ai nhé; nhưng hoặc là cái đầu của Rosanna Spearman có vấn đề, hoặc là tôi e rằng cô ta biết nhiều về Viên Huyết Nguyệt hơn mức cô ta nên biết.”

Tôi khó lòng nói nổi mình kinh ngạc hay đau lòng hơn khi nghe ngài nói vậy. Nếu trẻ tuổi hơn, có lẽ tôi đã thú nhận điều đó với ngài Franklin. Nhưng khi đã già, bạn sẽ tích lũy được một thói quen tuyệt vời. Trong những trường hợp bạn không nhìn rõ con đường phía trước, tốt nhất là hãy ngậm chặt miệng.

“Cô ta bước vào đây với chiếc nhẫn tôi đánh rơi trong phòng ngủ,” ngài Franklin tiếp lời. “Sau khi cảm ơn, dĩ nhiên tôi chờ cô ta đi ra. Thế mà thay vào đó, cô ta đứng đối diện với tôi bên bàn, nhìn tôi bằng ánh mắt kỳ lạ nhất — nửa sợ sệt, nửa suồng sã — tôi chẳng thể hiểu nổi. ‘Chuyện về Viên kim cương thật là kỳ lạ phải không thưa ngài,’ cô ta nói với một giọng điệu đột ngột và vội vã một cách kỳ quặc. Tôi đáp, ‘Đúng thế,’ và tự hỏi không biết cô ta định nói gì tiếp theo. Thật danh dự đấy, Betteredge, tôi nghĩ chắc con bé này có vấn đề về thần kinh rồi! Cô ta nói, ‘Họ sẽ không bao giờ tìm thấy Viên kim cương đâu thưa ngài, phải không? Không! Cả kẻ lấy nó cũng vậy — cháu xin cam đoan đấy.’ Cô ta thực sự đã gật đầu và mỉm cười với tôi! Trước khi tôi kịp hỏi ý cô ta là gì, chúng ta đã nghe tiếng bước chân của anh bên ngoài. Chắc cô ta sợ anh bắt gặp ở đây. Dù sao đi nữa, mặt cô ta biến sắc và chuồn khỏi phòng. Chuyện này quỷ quái gì thế chứ?”

Ngay cả lúc đó, tôi cũng không tài nào thốt lên nổi câu chuyện của con bé. Làm vậy chẳng khác nào điểm mặt chỉ tên nó là kẻ trộm. Hơn nữa, ngay cả khi tôi đã dốc sạch ruột gan ra kể, và giả sử nó thực sự là kẻ trộm đi nữa, thì lý do vì sao nó lại đi hé lộ bí mật của mình cho ngài Franklin — trong số tất cả mọi người trên thế giới — vẫn là một ẩn số chẳng khác gì việc mò kim đáy bể.

“Tôi không đành lòng đẩy tội cho con bé tội nghiệp, chỉ vì tính tình nó bay bổng và hay ăn nói kỳ quặc,” ngài Franklin tiếp tục. “Và thế nhưng nếu nó nói với viên thanh tra những gì nó đã nói với tôi, dẫu ông ta có đần độn thế nào đi nữa, tôi e rằng……” Ngài dừng lại ở đó và để lửng phần còn lại.

“Cách tốt nhất, thưa ngài,” tôi nói, “là để tôi nhân cơ hội đầu tiên thầm thì vài câu với bà chủ về chuyện này. Quý bà có thiện cảm đặc biệt với Rosanna; và biết đâu con bé chỉ bỗng dưng bạo miệng và ngốc nghếch mà thôi. Khi trong nhà xảy ra chuyện lộn xộn nào đó, thưa ngài, đám nữ gia nhân rất thích nhìn vào mặt tối của vấn đề — nó mang lại cho những kẻ khốn khổ ấy một thứ tầm quan trọng trong mắt chính họ. Nếu có ai đó ngã bệnh, cứ tin tưởng đám phụ nữ trong việc tiên tri rằng người đó sẽ chết. Còn nếu mất trộm trang sức, cứ tin tưởng họ sẽ tiên tri rằng món đồ đó sẽ không bao giờ được tìm thấy nữa.”

Góc nhìn này (mà tôi buộc phải thừa nhận là sau khi ngẫm nghĩ lại, tôi thấy nó khá hợp lý) dường như trút bỏ được gánh nặng lớn cho ngài Franklin: ngài gấp bức điện tín lại và gác lại câu chuyện. Trên đường ra chuồng ngựa để đặt chiếc xe ngựa nhỏ, tôi ghé qua phòng ăn của gia nhân, nơi họ đang dùng bữa. Rosanna Spearman không có mặt ở đó. Khi dò hỏi, tôi phát hiện ra cô ta bỗng dưng đổ bệnh và đã lên lầu về phòng riêng nằm nghỉ.

“Lạ thật! Lúc tôi gặp khi nãy trông con bé vẫn khỏe mạnh chán mà,” tôi nhận xét.

Penelope lẽo đẽo theo sau tôi ra ngoài. “Cha đừng nói thế trước mặt mọi người chứ,” con bé trách. “Cha chỉ làm cho họ đối xử tệ hơn với Rosanna thôi. Con bé tội nghiệp đang tan nát cõi lòng vì ngài Franklin Blake đấy.”

Lại thêm một góc nhìn khác về hành vi của con bé. Nếu Penelope đúng, thì lời giải thích cho ngôn từ và thái độ kỳ quặc của Rosanna có lẽ nằm ở chỗ này — rằng cô ta chẳng màng mình nói gì, miễn là có thể khiến ngài Franklin ngạc nhiên và cất lời bắt chuyện với cô ta. Giả thiết đó là lời giải cho câu đố, thì nó có lẽ đã giải thích được cho thái độ hất hàm, tự đắc của cô khi đi ngang qua tôi ở sảnh. Dù ngài chỉ thốt ra có ba từ, nhưng cô ta đã đạt được mục đích, và ngài Franklin đã chịu nói chuyện với cô ta.

Tôi tận tay phụ trách việc đóng yên cương cho con ngựa nhỏ. Giữa mạng lưới nhện rợn ngợp của những bí ẩn và sự bất định đang vây quanh chúng ta lúc này, tôi xin thề là việc được nhìn thấy những chiếc khóa và dây đai hiểu ý nhau đến thế nào quả thực là một sự giải tỏa! Khi bạn tận mắt chứng kiến con ngựa lùi vào giữa cặp càng xe, bạn biết chắc chắn mình đang nhìn thấy một thứ rõ ràng. Và thưa các vị, điều đó đang trở thành một thứ xa xỉ hiếm có trong gia đình chúng tôi.

Đánh xe vòng ra cửa trước, tôi thấy không chỉ ngài Franklin mà cả ngài Godfrey cùng thanh tra Seegrave cũng đang chờ sẵn trên bậc thềm.

Những suy ngẫm của vị thanh tra (sau khi không tìm thấy Viên kim cương trong phòng hay rương hòm của gia nhân) hình như đã đưa ông ta đến một kết luận hoàn toàn mới. Vẫn bám lấy quan điểm sơ khai rằng có kẻ trong nhà đã trộm viên ngọc, viên cảnh sát kỳ cựu của chúng ta giờ đây cho rằng tên trộm (ông ta quá khôn ngoan để không nêu tên tội nghiệp Penelope, dù trong thâm tâm ông ta nghĩ gì về nó đi nữa!) đã cấu kết với nhóm người Ấn Độ; và do đó ông đề nghị chuyển hướng điều tra sang đám mãi võ đang bị giam trong nhà tù Frizinghall. Nghe đến bước đi mới này, ngài Franklin tình nguyện đưa thanh tra quay lại thị trấn, từ đó ông có thể gửi điện tín về London dễ dàng hệt như từ ga của chúng ta. Ngài Godfrey, vẫn thành kính tin tưởng ngài Seegrave và rất hứng thú muốn chứng kiến màn thẩm vấn đám người Ấn Độ, bèn xin phép được tùng tiệm theo vị thanh tra về Frizinghall. Một trong hai tên cảnh sát cấp dưới được để lại canh nhà phòng khi có biến. Tên còn lại sẽ quay về thị trấn cùng thanh tra. Thế là bốn chỗ ngồi trên xe ngựa vừa vặn lấp đầy.

Trước khi cầm dây cương cất bước, ngài Franklin kéo tôi ra xa vài bước ngoài tầm tai của những người khác.

“Tôi sẽ hoãn việc gửi điện tín về London,” ngài nói, “cho đến khi xem kết quả buổi thẩm vấn đám người Ấn Độ ra sao. Xác tín của tôi là vị cảnh sát địa phương u mê này cũng đang mù tịt chẳng kém gì trước, và chỉ đang cố câu giờ mà thôi. Ý tưởng về việc có gia nhân nào đó cấu kết với nhóm người Ấn Độ theo tôi là một sự ngớ ngẩn lố bịch. Hãy quanh quẩn quanh nhà nhé, Betteredge, cho đến khi tôi quay lại, và thử xem anh có moi được gì từ Rosanna Spearman không. Tôi không đòi hỏi anh phải làm gì tổn hại đến lòng tự trọng hay nhẫn tâm với con bé cả. Tôi chỉ nhờ anh quan sát kỹ càng hơn thường lệ một chút thôi. Chúng ta sẽ làm lơ đi trước mặt bác tôi — nhưng đây là một vấn đề quan trọng hơn anh tưởng đấy.”

“Đó là vấn đề của hai mươi nghìn bảng Anh đấy thưa ngài,” tôi nhắc lại giá trị của Viên kim cương.

“Đó là vấn đề ổn định tâm lý cho Rachel,” ngài Franklin đáp với giọng nghiêm túc. “Tôi vô cùng lo lắng cho con bé.”

Ngài đột ngột quay lưng bước đi; như thể muốn cắt đứt mọi cuộc trò chuyện thêm với tôi. Tôi nghĩ mình hiểu lý do. Thêm lời nào nữa có lẽ sẽ làm lộ ra bí mật về những gì tiểu thư Rachel đã nói với ngài trên sân hiên.

Thế là họ đánh xe đi Frizinghall. Bản thân tôi hoàn toàn sẵn sàng, vì lợi ích của chính con bé, có một buổi trò chuyện riêng với Rosanna. Nhưng cơ hội cần thiết ấy lại chẳng chịu xuất hiện. Phải đến giờ trà con bé mới chịu bước xuống lầu. Khi xuất hiện, nó lại có vẻ bay bổng và kích động, trải qua một cơn hoảng loạn kiểu hysteria, uống một liều tinh dầu amoni theo lệnh quý bà và bị tống về giường nằm nghỉ.

Ngày trôi qua thật ảm đạm và khốn khổ, tôi phải thú thật với bạn như vậy. Tiểu thư Rachel vẫn cố thủ trong phòng, tuyên bố rằng cô quá mệt để xuống ăn tối cùng mọi người. Quý bà chìm trong tâm trạng u sầu tột độ vì con gái, đến mức tôi không đành lòng làm bà thêm lo lắng bằng cách báo cáo lại những gì Rosanna Spearman đã nói với ngài Franklin. Penelope cứ khăng khăng tin rằng nó sắp bị đem ra xét xử, tuyên án và đày đi biệt xứ vì tội trộm cắp. Mấy bà gia nhân còn lại thì vùi đầu vào Kinh thánh cùng sách thánh thi, mặt nặng mày nhẹ cau có với đống sách vở — một kết quả mà tôi nhận thấy trong tầng lớp xã hội của mình, thường xuất hiện sau những hành động sùng đạo vào những thời điểm bất thường trong ngày. Còn về phần tôi, đến cả tâm trí mở cuốn Robinson Crusoe ra đọc tôi còn chẳng có nổi. Tôi lủi thủi ra sân, và vì quá khát khao một chút bầu không khí vui vẻ, tôi bèn kéo ghế ra ngồi cạnh chuồng chó và trò chuyện với lũ cún.

Nửa tiếng trước giờ ăn tối, hai vị quý ông từ Frizinghall trở về, sau khi đã thỏa thuận với thanh tra Seegrave rằng ông sẽ quay lại với chúng ta vào ngày hôm sau. Họ đã ghé qua chỗ ngài Murthwaite, nhà thám hiểm Ấn Độ, tại nơi ở hiện tại của ông gần thị trấn. Theo thỉnh cầu của ngài Franklin, ông đã ân cần giúp đỡ họ sử dụng vốn hiểu biết về ngôn ngữ để thẩm vấn hai trong số ba tên người Ấn Độ không biết tiếng Anh. Cuộc thẩm vấn được tiến hành tỉ mỉ và kéo dài cuối cùng chẳng mang lại kết quả gì; chẳng có lấy một bóng dáng lý do nào được tìm thấy để nghi ngờ đám mãi võ đã thông đồng với gia nhân của chúng ta. Đạt được kết luận đó, ngài Franklin liền gửi bức điện tín về London, và mọi chuyện đành gác lại chờ ngày mai tới.

Đó là toàn bộ câu chuyện về ngày tiếp nối ngày sinh nhật. Cho đến nay, chẳng có lấy một tia sáng nhỏ nhoi nào rọi vào chúng ta. Tuy nhiên, một hoặc hai ngày sau đó, bóng tối cũng đã quang đãng đi đôi chút. Bằng cách nào và với kết quả ra sao, các bạn sẽ sớm được chứng kiến ngay đây.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Wilkie Collins

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.