Do Trung sĩ Cuff đóng góp.
Dorking, Surrey, Ngày 30 tháng 7 năm 1849. Kính gửi Ông Franklin Blake. Thưa ông,—Tôi xin cáo lỗi vì sự chậm trễ trong việc hoàn thành bản Báo cáo mà tôi đã nhận lời cung cấp cho ông. Tôi vẫn chờ đợi để có thể đưa ra một bản Báo cáo hoàn chỉnh nhất có thể; và trên con đường ấy, tôi đã vấp phải không ít chướng ngại vật mà chỉ có thể vượt qua bằng chút ít thời gian và sự kiên nhẫn.
Giờ đây, tôi hy vọng mục đích mà tôi tự đặt ra đã đạt được. Trong những trang này, ông sẽ tìm thấy câu trả lời cho phần lớn—nếu không muốn nói là toàn bộ—những thắc mắc về cố ông Godfrey Ablewhite, những điều đã xuất hiện trong tâm trí ông khi tôi có vinh hạnh diện kiến ông lần cuối.
Trước hết, tôi xin thuật lại những gì đã được sáng tỏ về nguyên nhân dẫn đến cái chết của biểu huynh ông; đồng thời đính kèm theo bản tường trình ấy những suy luận và kết luận mà chúng tôi xét thấy hoàn toàn có cơ sở (theo quan điểm của cá nhân tôi) để rút ra từ các sự kiện.
Thứ hai, tôi sẽ cố gắng cung cấp cho ông những phát hiện của tôi về hành tung của ông Godfrey Ablewhite, trước, trong và sau khoảng thời gian ông và ông ta cùng gặp mặt với tư cách là khách mời tại trang viên của cố phu nhân Verinder.
Trước hết, xin bàn về cái chết của biểu huynh ông.
Dường như đã có đủ bằng chứng xác thực ngoài mọi nghi ngờ hợp lý rằng ông ta đã bị sát hại (trong lúc đang ngủ hoặc ngay khi vừa tỉnh giấc) bằng cách bị lấy gối áp chặt vào mặt cho đến ngạt thở—rằng thủ phạm gây án chính là ba người Ấn Độ—và mục đích của tội ác này (đã được nhắm tới và thực hiện thành công) là để chiếm đoạt viên kim cương mang tên Mặt Trăng.
Những sự kiện để rút ra kết luận này xuất phát một phần từ việc khám nghiệm căn phòng tại quán trọ; và một phần từ những lời khai thu thập được tại cuộc điều tra của Giảo nghiệm tử thi.
Khi phá cửa xông vào căn phòng, người ta phát hiện vị khách quý đã qua đời, với chiếc gối trên giường phủ kín mặt. Vị y sĩ tiến hành khám nghiệm, sau khi được thông báo về tình tiết này, đã nhận định rằng các dấu hiệu tử thi hoàn toàn trùng khớp với nguyên nhân chết ngạt—nghĩa là vụ án mạng do một hoặc nhiều kẻ gây ra bằng cách dùng gối ấn chặt vào mũi và miệng nạn nhân cho đến khi tử vong vì sung huyết phổi.
Tiếp theo, xét về động cơ gây án.
Một chiếc hộp nhỏ, với mảnh giấy niêm phong có ghi chữ đã bị xé rách, được tìm thấy trong tình trạng mở nồng và trống không trên một chiếc bàn trong phòng. Bản thân ông Luker đã trực tiếp nhận diện chiếc hộp, con dấu và dòng chữ ghi trên đó. Ông ta xác nhận chiếc hộp đó thực sự từng đựng viên kim cương Mặt Trăng; đồng thời thừa nhận đã giao chiếc hộp (được niêm phong như vậy) cho ông Godfrey Ablewhite (lúc đó đang ngụy trang) vào chiều ngày hai mươi sáu tháng Sáu vừa qua. Suy luận hợp lý từ tất cả những điều này là: vụ cướp viên kim cương Mặt Trăng chính là động cơ của tội ác.
Kế đến, xét về phương thức thực hiện tội ác.
Qua khám nghiệm căn phòng (với trần nhà chỉ cao vỏn vẹn bảy thước), người ta phát hiện một cánh cửa sập trên trần dẫn thẳng lên mái nhà đang mở hé. Chiếc thang ngắn dùng để leo lên cửa sập (vốn được cất dưới gầm giường) đã được đặt sẵn ngay lỗ hổng, tạo sự thuận tiện cho bất kỳ ai muốn rời khỏi phòng. Ngay trên cánh cửa sập, người ta tìm thấy một ô vuông được cắt khoét trên gỗ, dường như bằng một dụng cụ cực kỳ sắc bén, nằm ngay phía sau chốt cài bên trong. Bằng cách này, bất kỳ kẻ nào từ bên ngoài đều có thể gạt chốt, mở cửa, rồi thả mình xuống phòng (hoặc được đồng phạm hạ xuống không một tiếng động)—vì chiều cao căn phòng, như đã lưu ý, chỉ có bảy thước. Việc có kẻ đã đột nhập theo con đường này dường như là điều hiển nhiên dựa trên sự tồn tại của ô cửa bị cắt. Về cách thức chúng leo lên được mái quán trọ, cần lưu ý rằng ngôi nhà thứ ba cách đó không xa trên cùng dãy phố đang bỏ trống và trong quá trình sửa chữa—rằng một chiếcếc thang dài đã bị các công nhân để lại, bắc từ vỉa hè lên tận mái nhà—và rằng, khi quay lại làm việc vào sáng ngày 27, những người thợ phát hiện tấm ván mà họ từng buộc chặt vào thang để ngăn người khác sử dụng trong lúc vắng mặt đã bị tháo rời và vứt dưới đất. Về khả năng leo lên bằng chiếc thang này, băng qua các mái nhà, rồi quay lại xuống đất mà không bị ai phát hiện—hồ sơ lấy lời khai từ viên cảnh sát tuần tra ban đêm cho thấy ông ta chỉ đi qua ngõ Shore Lane hai lần mỗi giờ khi đi tuần. Lời khai của những người sống trong khu phố cũng khẳng định rằng ngõ Shore Lane sau nửa đêm là một trong những nơi yên tĩnh và cô quạnh nhất Luân Đôn. Do đó, một lần nữa, có thể suy luận rằng—với sự cẩn trọng và tĩnh táo thông thường—bất kỳ ai cũng có thể leo lên bằng chiếc thang đó và tụt xuống mà không bị ai chú ý. Một khi đã đặt chân lên mái quán trọ, các cuộc thực nghiệm đã chứng minh rằng một kẻ có thể khoét thủng cửa sập ngay trong tư thế nằm rạp, và ở tư thế đó, bức tường chắn mái ở mặt tiền sẽ che khuất hoàn toàn tầm nhìn của bất kỳ ai đi qua đường.
Cuối cùng, xét về kẻ hoặc những kẻ đã thực hiện tội ác.
Người ta được biết rằng: (1) Nhóm người Ấn Độ có động cơ rõ ràng trong việc muốn chiếm đoạt viên Kim cương. (2) Rất có thể kẻ trông giống người Ấn Độ mà Octavius Guy nhìn thấy ở cửa sổ chiếc xe cho thuê, đang nói chuyện với một tên ăn mặc như thợ máy, chính là một trong ba kẻ đồng lõa người Hindu. (3) Chắc chắn rằng chính tên ăn mặc như thợ máy này đã bị phát hiện theo dõi sát sao ông Godfrey Ablewhite suốt buổi tối ngày 26, và được tìm thấy ẩn nấp trong phòng ngủ (trước khi ông Ablewhite được đưa vào phòng) với những tình tiết khiến người ta nghi ngờ hắn đang thám thính căn phòng. (4) Một mẩu chỉ vàng bị xé đứt đã được nhặt lên trong phòng ngủ, mà các chuyên gia trong lĩnh vực này khẳng định là hàng thủ công Ấn Độ, thuộc loại chỉ vàng không hề có ở Anh. (5) Vào buổi sáng ngày 27, ba người đàn ông có nhân dạng khớp với mô tả về nhóm người Ấn Độ đã được nhìn thấy ở phố Lower Thames, bị bám đuôi tới bến tàu Tower Wharf, và được ghi nhận đã rời khỏi Luân Đôn trên chuyến tàu thủy đi Rotterdam.
Tới đây, chúng ta đã có đủ bằng chứng về mặt đạo đức, nếu chưa muốn nói là về mặt pháp lý, rằng vụ án mạng do những người Ấn Độ thực hiện.
Việc kẻ đóng giả thợ máy có phải là đồng phạm trong vụ án hay không là điều không thể khẳng định chắc chắn. Dù vậy, khả năng một mình hắn thực hiện vụ án mạng dường như là điều khó xảy ra. Nếu hành động một mình, hắn khó lòng có thể ra tay sát hại ông Ablewhite—vốn là người cao lớn và khỏe mạnh hơn—mà không để xảy ra giằng co hay tiếng kêu la. Một cô hầu gái ngủ ở căn phòng bên cạnh không nghe thấy gì cả. Chủ quán trọ ngủ ở tầng dưới cũng không nghe thấy gì. Mọi chứng cứ đều dẫn đến kết luận rằng có nhiều hơn một kẻ nhúng tay vào tội ác này—và như tôi đã nhắc lại, các tình tiết hoàn toàn đủ cơ sở đạo đức để khẳng định chính nhóm người Ấn Độ đã gây ra án mạng.
Tôi chỉ xin bổ sung thêm rằng, phán quyết của phiên tòa giảo nghiệm tử thi là Giết người có trù tính nhằm vào một hoặc nhiều đối tượng chưa xác định danh tính. Gia đình ông Ablewhite đã treo giải thưởng lớn, và mọi nỗ lực đều được dốc cạn để tìm ra thủ phạm. Tên ăn mặc giống thợ máy đã lẩn trốn mọi cuộc truy tìm. Những kẻ người Ấn Độ thì đã bị lần ra dấu vết. Về triển vọng tóm gọn nhóm người sau cùng này, tôi sẽ có đôi lời trình bày với ông ở phần cuối của bản Báo cáo này.
Trong lúc này, sau khi đã trình bày đầy đủ những điều cần thiết về cái chết của ông Godfrey Ablewhite, tôi xin chuyển sang tường thuật về hành tung của ông ta trước, trong và sau khoảng thời gian ông và ông ta gặp nhau tại tư dinh của cố phu nhân Verinder.
Liên quan đến vấn đề đang xem xét, ngay từ đầu tôi xin khẳng định rằng cuộc đời của ông Godfrey Ablewhite có hai mặt hoàn toàn đối lập.
Mặt hướng ra ánh sáng trước công chúng phô bày hình ảnh của một quý ông có tiếng tăm lẫy lừng với tư cách diễn giả tại các buổi hội thảo từ thiện, đồng thời sở hữu năng lực điều hành xuất chúng mà ông ta cống hiến cho nhiều Hội từ thiện khác nhau, phần lớn do phụ nữ quản lý. Mặt khuất tối tránh khỏi sự chú ý chung lại phơi bày chính con người này trong một thân phận hoàn toàn khác: một kẻ ham mê hưởng lạc, sở hữu một căn biệt thự ở ngoại ô không đứng tên thật của mình, cùng một người phụ nữ sống trong biệt thự ấy cũng không mang danh nghĩa chính thức của ông ta.
Những cuộc điều tra của tôi tại căn biệt thự đã hé lộ nhiều bức tranh và bức tượng tuyệt mỹ; đồ đạc trong nhà được chọn lựa tao nhã và chế tác tinh xảo; cùng một nhà kính trồng những loài hoa quý hiếm bậc nhất mà toàn cõi Luân Đôn khó lòng tìm được đối thủ. Cuộc điều tra về người phụ nữ nọ cũng mang lại kết quả là sự xuất hiện của những món trang sức xứng tầm sánh ngang với những đóa hoa kia, cùng xe ngựa và tuấn mã từng tạo nên tiếng vang hoàn toàn xứng đáng tại Công viên Hyde, dưới ánh mắt đánh giá tinh tường của những kẻ sành sỏi về kỹ thuật đóng xe lẫn giống ngựa.
Tất cả những điều này, xét cho cùng, cũng là chuyện thường tình. Căn biệt thự và người phụ nữ đó là những hình ảnh quá quen thuộc trong đời sống Luân Đôn, đến mức tôi phải cất lời xin lỗi vì đã bận lòng ông bằng chúng. Nhưng điều không tầm thường và không hề quen thuộc (dựa trên trải nghiệm của tôi) là tất cả những món đồ xa hoa ấy không chỉ được đặt mua, mà đã được thanh toán sòng phẳng. Tranh ảnh, tượng điêu khắc, hoa tươi, trang sức, xe cộ và ngựa chiến—những cuộc điều tra đã khiến tôi kinh ngạc khôn tả khi biết rằng không hề có lấy một đồng xu nợ đọng nào trên bất kỳ món nào trong số đó. Riêng căn biệt thự đã được mua đứt và sang tên hẳn cho người phụ nữ ấy.
Tôi có lẽ đã cố gắng tìm lời giải cho câu đố này trong vô vọng—nếu không vì cái chết của ông Godfrey Ablewhite, thứ đã châm ngòi cho một cuộc điều tra về tình hình tài chính của ông ta.
Cuộc điều tra đã mang lại những sự thật sau đây:—
Rằng ông Godfrey Ablewhite được giao trọng trách quản lý số tiền hai mươi ngàn bảng Anh—với tư cách là một trong hai Ủy viên Quản tài cho một thanh niên vẫn chưa đến tuổi thành niên vào năm một ngàn tám trăm bốn mươi tám. Rằng ủy thác này sẽ đáo hạn, và người thanh niên đó sẽ nhận được trọn vẹn số tiền hai mươi ngàn bảng vào ngày anh ta tròn tuổi trưởng thành, tức là vào tháng Hai năm một ngàn tám trăm năm mươi. Rằng trong thời gian chờ đợi thời hạn ấy, một khoản thu nhập sáu trăm bảng Anh sẽ được hai Ủy viên Quản tài chi trả định kỳ nửa năm một lần—vào dịp Lễ Giáng sinh và Lễ Giữa hè. Rằng khoản thu nhập này vẫn được chi trả đều đặn bởi vị quản tài trực tiếp điều hành là ông Godfrey Ablewhite. Rằng toàn bộ số tiền hai mươi ngàn bảng Anh (được cho là nguồn phát sinh khoản thu nhập kia) đã bị rút sạch từng xu ra khỏi các quỹ công trái qua nhiều đợt, kết thúc vào cuối năm một ngàn tám trăm bốn mươi bảy. Rằng giấy ủy quyền cho phép các chủ ngân hàng bán cổ phiếu, cùng các văn bản chỉ định hạn mức bán ra, đều được ký kết hợp lệ bởi cả hai Ủy viên Quản tài. Rằng chữ ký của vị Ủy viên Quản tài thứ hai (một sĩ quan quân đội đã về hưu, sống ở vùng quê) thực chất là chữ ký bị giả mạo hoàn toàn trong mọi trường hợp bởi vị quản tài trực tiếp—tức ông Godfrey Ablewhite.
Chính trong những sự thật này ẩn giấu lời giải thích cho hành vi có vẻ cao thượng của ông Godfrey khi trả hết các khoản nợ cho người phụ nữ và căn biệt thự—và (như ông sẽ thấy ngay sau đây) còn nhiều điều hơn thế nữa.
Giờ đây, chúng ta có thể bước tới thời điểm ngày sinh nhật của cô Verinder (vào năm một ngàn tám trăm bốn mươi tám)—ngày hai mươi mốt tháng Sáu.
Vào ngày hôm trước, ông Godfrey Ablewhite đã đến tư dinh của cha mình và ngỏ ý vay ba trăm bảng Anh (điều này tôi biết được chính từ cha ruột của ông ta, cụ Ablewhite lớn). Xin hãy ghi nhớ con số ấy; và đồng thời hãy nhớ rằng khoản chi trả định kỳ nửa năm cho người thanh niên kia sẽ đến hạn vào ngày hai mươi tư trong tháng. Thêm nữa, toàn bộ gia tài của người thanh niên đó đã bị vị quản tài của anh ta tiêu sạch từ cuối năm bốn mươi bảy.
Cụ Ablewhite lớn đã từ chối cho con trai vay dù chỉ một xu.
Hôm sau, ông Godfrey Ablewhite cùng ông cưỡi ngựa đến trang viên của phu nhân Verinder. Vài giờ sau đó, chính ông Godfrey (như ông từng kể với tôi) đã ngỏ lời cầu hôn cô Verinder. Tại đây, ông ta hẳn đã nhìn thấy lối thoát—nếu được chấp thuận—cho mọi nỗi lo âu tài chính trước mắt cũng như tương lai. Nhưng ngặt nỗi, sự thật diễn ra lại thế nào? Cô Verinder đã từ chối ông ta.
Do đó, vào đêm sinh nhật, tình trạng tài chính của ông Godfrey Ablewhite rơi vào bế tắc như sau: Ông ta buộc phải xoay sở ba trăm bảng vào ngày hai mươi tư của tháng, và hai mươi ngàn bảng vào tháng Hai năm một ngàn tám trăm năm mươi. Nếu không thể huy động được những khoản tiền này vào các thời hạn đó, ông ta sẽ thân bại danh liệt.
Trong hoàn cảnh ấy, chuyện gì tiếp theo đã xảy ra?
Ông đã chọc giận ông bác sĩ Candy bằng cách đụng chạm đến lòng tự ái nghề nghiệp của ông ta; và để trả đũa, ông ta đã chơi một vố đau bằng một liều thuốc phiện laudanum. Ông ta giao phó việc cho uống liều thuốc ấy, được đựng trong một chiếc lọ nhỏ, cho ông Godfrey Ablewhite—người sau này đã tự thú nhận phần vai trò của mình trong vụ việc, dưới những tình tiết sẽ sớm được tường thuật lại với ông. Ông Godfrey càng sẵn lòng nhúng tay vào âm mưu này hơn, bởi bản thân ông ta cũng từng nếm trải lưỡi gác sắc bén của ông trong suốt buổi tối hôm đó. Ông ta hùa theo Betteredge để thuyết phục ông uống một chút rượu mạnh pha nước trước khi đi ngủ. Sau đó, ông ta lén lút nhỏ liều laudanum vào cốc rượu lạnh của ông. Và ông đã uống cạn ly thuốc đó.
Giờ đây, xin phép ông, chúng ta hãy chuyển bối cảnh sang ngôi nhà của ông Luker tại Lambeth. Và xin phép được nói trước một lời rằng, tôi và ông Bruff đã cùng nhau tìm ra cách ép tên cho vay nặng lãi phải khai sạch mọi chuyện. Chúng tôi đã sàng lọc kỹ càng bản tường trình mà hắn gửi cho chúng tôi; và bây giờ nó xin được phục vụ ông.
Vào tối muộn ngày thứ Sáu, ngày 23 tháng Sáu (năm bốn mươi tám), ông Luker đã vô cùng sửng sốt trước vị khách ghé thăm bất ngờ: ông Godfrey Ablewhite. Và sự sửng sốt ấy còn dâng cao hơn nữa khi ông Godfrey bày ra viên kim cương Mặt Trăng. Theo kinh nghiệm của ông Luker, chưa từng có một viên Kim cương nào tầm cỡ như vậy nằm trong tay tư nhân bất kỳ ở châu Âu.
Ông Godfrey Ablewhite đưa ra hai đề xuất nhún nhường liên quan đến viên bảo vật lừng lẫy này. Thứ nhất, liệu ông Luker có nhã ý mua lại nó không? Thứ hai, liệu ông Luker (nếu thấy việc mua đứt không khả thi) có đồng ý nhận bán đấu giá hưởng hoa hồng, và ứng trước một khoản tiền dựa trên kết quả dự kiến hay không?
Ông Luker đã tiến hành kiểm định, cân trọng lượng và ước tính giá trị của viên Kim cương trước khi thốt ra nửa lời. Con số ông ta ước tính (có tính đến vết nứt trên viên đá) là ba mươi ngàn bảng Anh.
Sau khi đạt được con số đó, ông Luker mới hé môi và đặt một câu hỏi: “Anh kiếm đâu ra thứ này thế?” Chỉ có sáu từ! Nhưng chứa đựng biết bao tầng ý nghĩa trong đó!
Ông Godfrey Ablewhite bắt đầu bịa ra một câu chuyện. Ông Luker lại hé môi, và lần này chỉ thốt ra ba từ: “Thế thì hỏng ăn!”
Ông Godfrey Ablewhite bèn bắt đầu một câu chuyện khác. Ông Luker không muốn phí lời với hắn nữa. Ông đứng dậy, giật chuông gọi người hầu ra tiễn khách.
Trước áp lực đó, ông Godfrey đành cố gắng nghĩ lại, và tung ra một phiên bản mới đã được trau chuốt hơn về sự việc, với nội dung như sau.
Sau khi lén lút nhỏ thuốc laudanum vào cốc rượu của ông, ông ta chúc ông ngủ ngon và bước về phòng mình. Đó là căn phòng nằm sát vách phòng của ông, và giữa hai phòng có một cánh cửa thông nhau. Khi bước vào phòng, ông Godfrey (theo như ông ta tưởng tượng) đã khép cửa lại. Những rắc rối tiền bạc cứ bủa vây khiến ông ta mất ngủ. Ông ta ngồi trong áo choàng tắm và đi giày đi trong nhà gần một tiếng đồng hồ, trằn trọc suy nghĩ về tình cảnh của mình. Đúng lúc ông ta chuẩn bị lên giường, ông bỗng nghe thấy ông đang lẩm bẩm một mình trong phòng, bèn tiến lại phía cửa thông và phát hiện ra mình chưa hề khép cửa lại như tưởng tượng.
Ông ta ngó sang phòng ông để xem có chuyện gì xảy ra. Và bắt gặp ông đang cầm ngọn nến trên tay, vừa hay chuẩn bị bước ra khỏi phòng ngủ. Ông ta nghe thấy ông tự lẩm bẩm với một giọng hoàn toàn khác lạ: “Làm sao mình biết được chứ? Bọn người Ấn Độ có lẽ đang ẩn nấp trong ngôi nhà này.”
Cho đến thời điểm đó, ông ta vẫn nghĩ rằng (khi đưa thuốc laudanum cho ông) mình chỉ đang góp phần tạo nên một trò đùa vô hại. Giờ đây, ông ta chợt nhận ra rằng thuốc laudanum đã phát huy tác dụng nào đó mà vị bác sĩ lẫn chính bản thân ông ta đều không lường trước được. Vì sợ xảy ra tai họa, ông ta rón rén bám theo để xem ông định làm gì.
Ông ta bám theo ông đến phòng khách của cô Verinder, và chứng kiến ông bước vào. Ông đã để ngỏ cửa. Ông ta nhìn qua khe hở giữa cánh cửa và khung cửa trước khi đánh bạo bước vào phòng.
Ở vị trí đó, ông ta không chỉ bắt quả tang ông đang lấy viên Kim cương ra khỏi ngăn kéo—mà còn nhìn thấy cô Verinder đang lặng lẽ dõi theo ông từ phòng ngủ qua cánh cửa đang mở. Chính mắt ông ta đã chứng kiến cô ấy cũng thấy ông lấy viên Kim cương.
Trước khi ông rời khỏi phòng khách, ông đã chần chừ đôi chút. Ông Godfrey đã tận dụng sự chần chừ ấy để chuồn về phòng ngủ trước khi ông bước ra và phát hiện ra hắn. Hắn vừa kịp lẩn về phòng thì ông cũng quay trở lại. Ông đã chạm mặt hắn (theo phỏng đoán của ông ta) đúng lúc hắn đang bước qua cánh cửa thông. Dù thế nào đi nữa, ông đã cất tiếng gọi hắn bằng một giọng kỳ lạ, ngù ngờ.
Hắn quay lại gặp ông. Ông nhìn hắn bằng ánh mắt đờ đẫn, ngái ngủ. Ông đặt viên Kim cương vào tay hắn. Ông bảo hắn rằng: “Hãy mang nó trả lại ngân hàng của cha anh đi, Godfrey. Ở đó an toàn—ở đây không an toàn đâu.” Ông loạng choạng quay đi, mặc chiếc áo choàng tắm vào, rồi ngồi thụp xuống chiếc ghế bành lớn trong phòng. Ông nói: “Tôi không thể mang nó quay lại ngân hàng được. Đầu tôi nặng tựa chì—và tôi chẳng còn cảm nhận được đôi chân mình nữa.” Đầu ông ngả ra lưng ghế—ông thở dài sườn sượt—và chìm vào giấc ngủ.
Ông Godfrey Ablewhite cầm viên Kim cương quay về phòng mình. Lời khai của hắn khẳng định rằng lúc đó hắn chưa đưa ra bất kỳ quyết định nào—ngoại trừ việc sẽ chờ xem chuyện gì xảy ra vào sáng hôm sau.
Khi trời sáng, ngôn từ và hành động của ông cho thấy ông hoàn toàn mù tịt về những gì mình đã nói và làm trong đêm hôm trước. Cùng lúc đó, thái độ và hành vi của cô Verinder cũng chứng tỏ cô ấy quyết định giữ im lặng (vì lòng trắc ẩn dành cho ông) về phần mình. Nếu ông Godfrey Ablewhite chọn cách giữ lại viên Kim cương, hắn hoàn toàn có thể làm điều đó mà không sợ bị trừng phạt. Viên Mặt Trăng đứng giữa hắn và sự sụp đổ. Hắn bèn đút viên Kim cương vào túi.
Đó là câu chuyện mà biểu huynh của ông đã khai ra (dưới sức ép của hoàn cảnh) với ông Luker.
Ông Luker tin rằng câu chuyện đó là sự thật ở những điểm cốt lõi nhất—với lý do rằng ông Godfrey Ablewhite quá ngốc nghếch để có thể tự bịa ra nó. Cả ông Bruff và tôi đều đồng tình với ông Luker khi đánh giá rằng phép thử độ tin cậy này hoàn toàn xác đáng.
Vấn đề tiếp theo là ông Luker sẽ xử lý thế nào đối với viên Kim cương Mặt Trăng. Hắn đưa ra những điều kiện sau đây như là điều kiện duy nhất để hắn đồng ý nhúng tay vào một giao dịch vốn dĩ (ngay cả trong lĩnh vực của hắn) đầy mập mờ và nguy hiểm.
Ông Luker đồng ý cho ông Godfrey Ablewhite vay số tiền hai ngàn bảng Anh, với điều kiện viên Kim cương Mặt Trăng phải được thế chấp lại cho hắn. Nếu sau thời hạn một năm kể từ ngày đó, ông Godfrey Ablewhite trả cho ông Luker ba ngàn bảng, hắn sẽ trao trả lại viên Kim cương như một vật cầm cố được chuộc về. Nếu hắn không thể giao nộp số tiền khi hết hạn một năm, vật thế chấp (tức viên Mặt Trăng) sẽ bị coi là thuộc quyền sở hữu của ông Luker—và trong trường hợp này, ông ta sẽ rộng lượng tặng lại cho ông Godfrey một số giấy nhận nợ (li quan đến các giao dịch trước đây) hiện đang nằm trong tay tên cho vay nặng lãi.
Khỏi phải nói, ông Godfrey đã phẫn nộ từ chối nghe những điều kiện quái gở này. Do đó, ông Luker liền trả lại viên Kim cương cho hắn và chúc ngủ ngon.
Biểu huynh của ông tiến ra cửa, rồi lại quay bước trở lại. Làm sao hắn có thể chắc chắn rằng cuộc trò chuyện tối nay sẽ được giữ kín tuyệt đối giữa người bạn của hắn và chính hắn?
Ông Luker không hề nhận mình biết cách làm thế nào. Nếu ông Godfrey chấp nhận điều kiện của hắn, ông Godfrey đã biến hắn thành đồng phạm và có thể đinh ninh về sự im lặng của hắn như một điều hiển nhiên. Nhưng sự tình đã thế này, ông Luker phải đặt lợi ích của bản thân lên trên hết. Nếu những câu hỏi oái ăm được đặt ra, làm sao người ta có thể bắt ông hy sinh vì một kẻ đã từ chối làm ăn với mình chứ?
Nhận được câu trả lời này, ông Godfrey Ablewhite đã làm đúng những gì mọi loài động vật (cả con người lẫn loài vật khác) đều làm khi rơi vào bẫy: hắn ngó nghiêng xung quanh trong sự tuyệt vọng vô bờ. Ngày trong tháng, được ghi trên một tấm thẻ nhỏ gọn gàng đặt trong chiếc hộp trên lò sưởi của tên cho vay, tình cờ đập vào mắt hắn. Hôm đó là ngày hai ba tháng Sáu. Ngày hai tư, hắn phải trả ba trăm bảng cho người thanh niên mà hắn làm người quản tài, và chẳng còn chút hy vọng xoay tiền nào khác ngoài con đường mà ông Luker vừa bày ra. Nếu không vì chướng ngại vật khốn khổ này, hắn đã có thể mang viên Kim cương sang Amsterdam và biến nó thành một mặt hàng có giá trị thương mại bằng cách đẽo gọt thành những viên nhỏ. Xét tình hình hiện tại, hắn chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc nuốt trọn điều kiện của ông Luker. Dù sao đi nữa, hắn vẫn có trọn một năm để xoay xở ba ngàn bảng—và một năm là khoảng thời gian rất dài.
Ông Luker thảo ngay các giấy tờ cần thiết tại chỗ. Khi mọi chữ ký đã hoàn tất, ông ta trao cho ông Godfrey Ablewhite hai tấm séc. Một tấm đề ngày 23 tháng Sáu, trị giá ba trăm bảng. Tấm thứ hai đề lùi lại một tuần, trị giá phần còn lại là một ngàn bảy trăm bảng.
Việc viên Kim cương Mặt Trăng được giao phó cho các chủ ngân hàng của ông Luker như thế nào, và nhóm người Ấn Độ đã đối xử ra sao với ông Luker cùng ông Godfrey (sau khi việc đó hoàn tất) thì hẳn ông đã rõ.
Sự kiện tiếp theo trong cuộc đời biểu huynh của ông lại xoay quanh cô Verinder. Hắn ngỏ lời cầu hôn cô lần thứ hai—và (sau khi đã được chấp thuận) hắn lại đồng ý theo thỉnh cầu của cô, coi như hủy bỏ hôn ước. Một trong những lý do khiến hắn nhượng bộ như vậy đã bị ông Bruff thấu suốt. Cô Verinder chỉ có quyền thụ hưởng sinh thời đối với tài sản của mẹ cô—và chẳng thể nào moi ra nổi hai mươi ngàn bảng Anh từ khối tài sản ấy.
Nhưng ông sẽ bảo, nếu kết hôn, hắn có thể tiết kiệm ba trăm bảng để chuộc lại viên Kim cương thế chấp chứ. Hắn có thể làm thế thật—với giả thiết là cả người vợ tương lai lẫn các giám hộ và quản tài của cô ấy không phản đối việc hắn ứng trước hơn một nửa số thu nhập trong tầm tay cho một mục đích mờ ám nào đó ngay trong năm đầu kết hôn. Nhưng ngay cả khi vượt qua được chướng ngại này, vẫn có một trở ngại khác đang rình rập phía sau. Người phụ nữ ở căn biệt thự đã hay tin về đám cưới sắp diễn ra của hắn. Một người phụ nữ kiêu kỳ, thưa ông Blake, kiểu phụ nữ không thể đem ra đùa giỡn—kiểu người với làn da trắng ngần và chiếc mũi dọc dừa. Cô ta căm phẫn ông Godfrey Ablewhite tột độ. Đó sẽ là sự khinh bỉ câm lặng nếu hắn chu cấp cho cô ta một khoản tiền hậu hĩnh. Bằng không, đó sẽ là sự khinh bỉ phun châu nhả ngọc. Quyền thụ hưởng sinh thời của cô Verinder không mang lại cho hắn chút hy vọng nào trong việc xoay xở khoản “tiền chu cấp” ấy, cũng như việc kiếm ra hai mươi ngàn bảng vậy. Hắn không thể kết hôn—thực sự hắn không thể kết hôn dưới mọi hoàn cảnh ấy.
Việc hắn lại thử vận may với một người phụ nữ khác, rồi cuộc hôn nhân đó cũng đổ vỡ vì vấn đề tiền bạc ra sao, hẳn ông đã biết. Ông cũng tường tận về khoản di sản năm ngàn bảng Anh để lại cho hắn ngay sau đó bởi một trong số vô vàn bóng hồng mà gã đàn ông quyến rũ này đã trổ tài chinh phục trái tim. Khoản di sản ấy (như thực tế đã chứng minh) đã đẩy hắn đến cái chết.
Tôi đã xác minh được rằng khi hắn ra nước ngoài sau khi nhận được năm ngàn bảng, điểm đến của hắn là Amsterdam. Tại đó, hắn đã sắp xếp mọi bề để cưa nhỏ viên Kim cương thành các viên riêng biệt. Sau đó, hắn quay về (trong bộ dạng ngụy trang) và chuộc lại viên Mặt Trăng đúng hạn định. Vài ngày tiếp theo được để trôi qua (như một biện pháp thận trọng được cả hai bên đồng thuận) trước khi bảo vật thực sự được rút khỏi ngân hàng. Nếu hắn mang được nó đến Amsterdam trót lọt, khoảng thời gian từ tháng 7 năm 49 đến tháng 2 năm 50 (khi cậu thanh niên đến tuổi trưởng thành) vừa vặn đủ để cắt nhỏ viên Kim cương, biến những viên rời ấy thành hàng hóa có giá trị thị trường (dù đã mài giũa hay chưa). Từ đó, xin hãy tự phán đoán xem hắn có động cơ lớn dường nào để liều lĩnh đánh cược mạng sống. Đó là ván bài “được ăn cả ngã về không” đối với hắn—nếu quả thực từng có một gã đàn ông nào lâm vào bước đường cùng như thế.
Trước khi khép lại bản Báo cáo này, tôi chỉ muốn nhắc nhở ông rằng vẫn còn cơ hội tóm gọn nhóm người Ấn Độ và thu hồi viên Kim cương Mặt Trăng. Hiện tại họ (có mọi lý do để tin rằng) đang trên đường tới Bombay trên một con tàu của Công ty Đông Ấn. Con tàu này (nếu không có tai nạn bất ngờ) sẽ không ghé bất kỳ cảng nào khác trên hải trình; và các nhà chức trách tại Bombay (đã được liên lạc bằng thư gửi đường bộ) sẽ sẵn sàng lên tàu kiểm tra ngay khoảnh khắc nó cập bến.
Tôi kính thư, thưa ông, người đầy tớ tuân lệnh ông, RICHARD CUFF (cựu trung sĩ thuộc Lực lượng Điều tra Hình sự, Scotland Yard, Luân Đôn).*
* CHÚ THÍCH.—Bất cứ khi nào bản Báo cáo đề cập đến các sự kiện trong ngày sinh nhật, hoặc ba ngày sau đó, xin hãy đối chiếu với Thuật lý của Betteredge, từ chương viii đến chương xiii.