Tôi chỉ cần vài lời là có thể hoàn tất câu chuyện đã được thuật lại trong Nhật ký của Ezra Jennings.
Về phần mình, tôi chỉ xin kể rằng tôi thức dậy vào sáng ngày hai mươi sáu, hoàn toàn không biết gì về những điều mình đã nói và làm dưới ảnh hưởng của thuốc phiện — từ khoảnh khắc thứ thuốc ấy bắt đầu ngấm vào người cho đến lúc tôi mở mắt ra trong phòng khách của Rachel.
Về những chuyện xảy ra sau khi thức dậy, tôi thấy không cần thiết phải kể lại một cách chi tiết. Chỉ xin tóm gọn lại kết quả là Rachel và tôi đã hoàn toàn thấu hiểu nhau trước khi một lời giải thích nào được thốt ra từ đôi bên. Tôi từ chối giải thích, và Rachel cũng vậy, về sự hòa hợp phi thường và nhanh chóng đến kỳ lạ của chúng tôi. Thưa các ông các bà, xin hãy hoài niệm về thời gian khi hai người còn say đắm yêu nhau — và quý vị sẽ hiểu rõ chuyện gì đã xảy ra sau khi Ezra Jennings khép cửa phòng khách lại, chẳng kém gì chính tôi.
Tuy nhiên, tôi xin bổ sung thêm một điều rằng chắc chắn chúng tôi đã bị bà Merridew phát hiện nếu không có sự nhạy bén của Rachel. Cô nghe thấy tiếng sột soạt từ chiếc váy của cụ bà ở hành lang và ngay lập tức chạy ra đón; tôi nghe thấy bà Merridew cất tiếng hỏi: “Có chuyện gì thế cháu?”, rồi nghe Rachel đáp lại: “Có nổ lớn ạ!”. Bà Merridew liền để cho Rachel nắm cánh tay và dìu ra ngoài vườn, tránh xa chỗ nguy hiểm sắp xảy ra. Khi quay trở lại nhà, bà gặp tôi ở sảnh và tỏ vẻ vô cùng kinh ngạc trước sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kể từ thời bà còn là một nữ sinh. “Những vụ nổ bây giờ, thưa cậu Blake, nhẹ nhàng hơn trước nhiều lắm. Cậu cứ yên tâm, tôi ở ngoài vườn mà hầu như chẳng nghe thấy tiếng nổ của bác sĩ Jennings. Hơn nữa, khi bước chân vào nhà, tôi chẳng ngửi thấy chút mùi nào cả! Quả thực tôi phải xin lỗi người bạn bác sĩ của cậu mới phải. Cậu ấy đã xử lý mọi việc một cách quá ư tài tình!”
Thế là, sau khi hạ gục Betteredge và ông Bruff, Ezra Jennings lại chinh phục được cả bà Merridew. Hóa ra trên đời này vẫn còn rất nhiều tinh thần hào hiệp chưa được khai mở!
Vào bữa sáng, ông Bruff không hề giấu giếm lý do vì sao ông muốn tôi đi cùng ông về Luân Đôn trên chuyến tàu buổi sáng. Việc giám sát ngân hàng cùng kết quả có thể mang lại từ đó đã thu hút sự tò mò mãnh liệt của Rachel, khiến cô lập tức quyết định (nếu bà Merridew không phiền lòng) sẽ cùng chúng tôi trở lại thành phố — để có thể nắm bắt những tin tức sớm nhất về tiến trình vụ việc.
Bà Merridew tỏ ra vô cùng dễ dãi và rộng lượng, sau màn xử lý vụ nổ đầy khôn ngoan vừa rồi; và Betteredge theo đó được thông báo rằng cả bốn người chúng tôi sẽ cùng nhau đi chuyến tàu buổi sáng trở về. Tôi đinh ninh rằng ông cụ sẽ xin phép được đi theo chúng tôi. Nhưng Rachel đã vô cùng khôn ngoan khi giao cho người đầy tớ già trung thành của mình một công việc khiến ông bận tâm. Ông được giao trọng trách hoàn thiện việc bài trí lại ngôi nhà, và vì quá bận rộn với trách nhiệm gia đình nên ông không còn cảm thấy “cơn sốt thám tử” hành hạ như trong những hoàn cảnh khác.
Niềm tiếc nuối duy nhất của chúng tôi khi lên đường về Luân Đôn là phải chia tay Ezra Jennings một cách đường đột hơn mong muốn. Không tài nào thuyết phục được ông đi cùng chúng tôi. Tôi chỉ có thể hứa sẽ viết thư cho ông — và Rachel thì khăng khăng bắt ông phải đến thăm cô khi cô trở lại Yorkshire. Mọi triển vọng đều cho thấy chúng tôi sẽ sớm đoàn tụ chỉ sau vài tháng — thế nhưng vẫn có điều gì đó vô cùng buồn bã khi nhìn người bạn tốt đẹp và thân thiết nhất của mình đứng thui thủi một mình trên sân ga, trong lúc đoàn tàu từ từ chuyển bánh rời đi.
Khi chúng tôi đến Luân Đôn, ông Bruff được tiếp cận tại nhà ga bởi một cậu nhóc mặc bộ đồ vải đen đã sờn cũ, có điểm đặc biệt là đôi mắt lồi ra một cách kỳ lạ. Chúng nhô ra quá xa và đảo qua đảo lại lỏng lẻo đến mức khiến bạn cảm thấy bất an không hiểu vì sao chúng vẫn nằm yên trong hốc mắt. Sau khi nghe cậu bé nói chuyện, ông Bruff hỏi hai nữ quý tộc xem họ có phiền không nếu chúng tôi không thể đi cùng họ về Portland Place. Tôi vừa kịp hứa với Rachel rằng tôi sẽ quay lại để kể cho cô nghe mọi chuyện đã xảy ra, thì ông Bruff đã tóm lấy cánh tay tôi và kéo xồng xộc lên một chiếc xe ngựa. Cậu bé với đôi mắt lộn xộn leo lên chiếc ghế phía trước cạnh người đánh xe, và người đánh xe được lệnh lái thẳng đến Phố Lombard.
“Tin tức từ ngân hàng à?” tôi hỏi khi xe khởi bánh.
“Tin về ông Luker,” ông Bruff đáp. “Cách đây một tiếng, người ta thấy ông ta rời khỏi nhà ở Lambeth bằng xe ngựa, đi cùng hai người đàn ông được thuộc cấp của tôi nhận diện là cảnh sát mặc thường phục. Nếu nỗi sợ người Ấn Độ của ông Luker là nguyên nhân đằng sau sự cẩn trọng này, thì suy luận quá rõ ràng rồi. Ông ta định rút Viên Kim Cương khỏi ngân hàng.”
“Và chúng ta đến ngân hàng để xem chuyện gì sẽ xảy ra sao?”
“Đúng vậy — hoặc để nghe xem mọi chuyện đã ngã ngũ ra sao, nếu lúc này mọi thứ đã kết thúc. Cậu có để ý cậu nhóc của tôi ở trên xe không?”
“Tôi có để ý đôi mắt của nó.”
Ông Bruff cười lớn. “Ở văn phòng, người ta gọi tội nghiệp thằng bé là ‘Quả Lý Gai’,” ông nói. “Tôi dùng nó để sai vặt — và tôi chỉ ước gì mấy tay thư ký đã đặt biệt danh cho nó cũng đáng tin cậy như nó mà thôi. Quả Lý Gai là một trong những cậu bé sắc sảo nhất Luân Đôn đấy, thưa cậu Blake, bất chấp đôi mắt của nó.”
Lúc đó là năm giờ kém hai mươi khi xe chúng tôi dừng lại trước ngân hàng ở Phố Lombard. Quả Lý Gai nhìn chủ nhân với ánh mắt đầy khao khát khi ông mở cửa xe.
“Cậu cũng muốn vào trong à?” ông Bruff ân cần hỏi. “Vậy thì vào đi, và cứ bám sát gót tôi cho đến khi có lệnh mới. Nó nhanh như chớp vậy,” ông Bruff vừa nói vừa thì thầm với tôi. “Chỉ cần nói hai câu với Quả Lý Gai là đủ, trong khi với đứa trẻ khác thì phải nói đến hai mươi câu.”
Chúng tôi bước vào ngân hàng. Phòng giao dịch bên ngoài — với chiếc quầy dài phía sau là các nhân viên thu ngân — đông nghẹt người; tất cả đều đang chờ đến lượt để rút tiền ra hoặc gửi tiền vào trước khi ngân hàng đóng cửa lúc năm giờ.
Hai người đàn ông trong đám đông tiến lại phía ông Bruff ngay khi ông xuất hiện.
“Thế nào?” viên luật sư hỏi. “Các anh đã thấy hắn chưa?”
“Hắn đi qua chỗ chúng tôi nửa tiếng trước rồi, thưa ngài, và đi thẳng vào phòng giao dịch phía trong.”
“Hắn vẫn chưa bước ra sao?”
“Dạ chưa, thưa ngài.”
Ông Bruff quay sang tôi. “Chúng ta hãy chờ,” ông nói.
Tôi đảo mắt nhìn quanh những người xung quanh để tìm ba người Ấn Độ. Chẳng có lấy một dấu bóng nào của họ. Người duy nhất có làn da ngăm đen nổi bật là một người đàn ông cao kều mặc áo khoác thủy thủ và đội mũ tròn, trông giống một tên thủy thủ. Liệu đây có phải là một kẻ trong số chúng đang cải trang? Không thể nào! Gã này cao hơn bất kỳ tên Ấn Độ nào; và khuôn mặt hắn, chỗ không bị bộ râu rậm rạp che khuất, rộng ít nhất gấp đôi mặt của bọn chúng.
“Chắc chắn chúng phải bố trí gián谍 ở đâu đó,” ông Bruff nói, quay sang nhìn gã thủy thủ da ngăm. “Và rất có thể hắn chính là kẻ đó.”
Trước khi ông kịp nói thêm điều gì, vạt áo của ông bị kéo một cách cung kính bởi cậu hầu nhỏ với đôi mắt quả lý gai. Ông Bruff nhìn theo hướng cậu bé đang nhìn. “Suỵt!” ông nói. “Kia là ông Luker!”
Gã cho vay nặng lãi bước ra từ khu vực bên trong của ngân hàng, theo sau là hai viên cảnh sát bảo vệ mặc thường phục.
“Hãy dán mắt vào hắn,” ông Bruff thì thầm. “Nếu hắn chuyển Viên Kim Cương cho bất kỳ ai, hắn sẽ chuyển ở đây.”
Không thèm để ý đến cả hai chúng tôi, ông Luker chậm rãi bước ra cửa — lúc qua đoạn đông đúc, lúc qua đoạn thưa thớt của đám đông. Tôi thấy rõ tay hắn khẽ chuyển động khi đi ngang qua một người đàn ông thấp đậm, ăn mặc lịch sự trong bộ đồ màu xám trang nhã. Người đó giật mình đôi chút và nhìn theo hắn. Ông Luker tiếp tục chậm rãi di chuyển qua đám đông. Ra đến cửa, lực lượng bảo vệ liền đứng tách ra hai bên hắn. Cả ba người bọn họ đều bị một trong những thuộc cấp của ông Bruff bám theo — và tôi không còn thấy họ nữa.
Tôi quay sang nhìn viên luật sư, rồi lại đưa ánh mắt đầy ẩn ý về phía người đàn ông mặc bộ đồ xám trang nhã. “Đúng vậy!” ông Bruff thì thầm, “Tôi cũng thấy thế!” Ông quay ngoắt lại để tìm người phụ giúp thứ hai. Nhưng người thứ hai đã biến đi đằng nào không rõ. Ông nhìn ra phía sau để tìm cậu hầu nhỏ. Quả Lý Gai đã biến mất.
“Quái quỷ gì thế này?” ông Bruff tức giận nói. “Cả hai đứa chúng nó đều bỏ rơi chúng ta đúng vào lúc chúng ta cần chúng nhất.”
Đã đến lượt người đàn ông mặc đồ xám giao dịch tại quầy. Ông ta nộp chi phiếu — nhận biên lai — rồi quay người bước ra ngoài.
“Phải làm sao đây?” ông Bruff hỏi. “Chúng ta không thể tự hạ thấp phẩm giá để bám theo hắn được.”
“Tôi thì có đấy!” tôi nói. “Tôi thà mất mười nghìn bảng chứ nhất quyết không rời mắt khỏi người đàn ông đó!”
“Nếu vậy,” ông Bruff đáp lời, “tôi cũng đành không rời mắt khỏi cậu, dù có phải đổi lấy gấp đôi số tiền ấy. Thật là một công việc tuyệt vời cho một người có địa vị như tôi,” ông lầm bầm với chính mình khi chúng tôi bước theo người lạ ra khỏi ngân hàng.
Người đàn ông mặc đồ xám bước lên một chiếc xe buýt đang hướng về phía tây. Chúng tôi cũng leo lên sau hắn. Vẫn còn ẩn chứa đâu đó chút thanh xuân sót lại trong người ông Bruff. Tôi dám khẳng định chắc chắn — khi ngồi xuống ghế trên xe buýt, ông ấy đã đỏ mặt!
Người đàn ông mặc đồ xám ra hiệu dừng xe buýt và bước xuống ở Phố Oxford. Chúng tôi lại bám theo hắn. Hắn bước vào một tiệm thuốc tây.
Ông Bruff giật mình. “Tiệm thuốc quen của tôi!” ông thốt lên. “E rằng chúng ta nhầm rồi.”
Chúng tôi bước vào tiệm. Ông Bruff và người chủ tiệm trao đổi với nhau vài câu riêng tư. Viên luật sư quay lại với tôi với bộ mặt vô cùng cụp tai cúi đầu.
“Thật là vẻ vang cho chúng ta quá đi mất,” ông vừa nói vừa níu lấy tay tôi dẫn ra ngoài — “được an ủi phần nào!”
“Điều gì vẻ vang cơ chứ?” tôi hỏi.
“Cậu Blake ạ! Cậu và tôi chính là hai thám tử nghiệp dư tồi tệ nhất từng bước chân vào nghề này. Người đàn ông mặc đồ xám ấy đã làm việc ở hiệu thuốc này được ba mươi năm rồi. Ông ta được cử đến ngân hàng để nộp tiền vào tài khoản cho chủ tiệm — và ông ta còn chẳng biết gì về Viên Đá Mặt Trăng hơn cả một đứa trẻ chưa ra đời.”
Tôi hỏi bước tiếp theo nên làm gì.
“Quay lại văn phòng của tôi,” ông Bruff nói. “Quả Lý Gai và người phụ giúp thứ hai của tôi chắc chắn đã bám theo ai đó khác. Mong là dẫu sao thì chúng nó cũng mở to mắt ra mà nhìn ngó!”
Khi chúng tôi đến Quảng trường Gray’s Inn, người phụ giúp thứ hai đã có mặt ở đó trước chúng tôi. Anh ta đã đợi hơn mười lăm phút rồi.
“Thế nào!” ông Bruff hỏi. “Có tin tức gì không?”
“Thưa ngài, tôi rất tiếc phải báo cáo rằng tôi đã nhầm,” người đàn ông đáp. “Tôi dám thề là mình đã thấy ông Luker đưa vật gì đó cho một quý ông lớn tuổi mặc áo khoác nhẹ màu sáng. Hóa ra vị quý ông lớn tuổi đó lại là một chủ tiệm sắt vô cùng đáng kính ở Eastcheap.”
“Quả Lý Gai đâu rồi?” ông Bruff hỏi với vẻ đầy nhẫn nhịn.
Người đàn ông ngẩn người. “Tôi không biết, thưa ngài. Tôi không thấy tăm tích nó từ lúc rời ngân hàng.”
Ông Bruff cho người đàn ông đó lui. “Một trong hai khả năng xảy ra,” ông nói với tôi. “Hoặc là Quả Lý Gai đã trốn mất, hoặc nó đang tự hành động theo ý mình. Cậu nghĩ sao nếu chúng ta ăn tối ở đây, nhân tiện chờ xem liệu thằng bé có quay lại sau một hay hai tiếng nữa không? Hầm rượu nhà tôi còn vài chai vang ngon, và chúng ta có thể gọi một suất sườn nướng từ quán ăn.”
Chúng tôi ăn tối tại phòng làm việc của ông Bruff. Khi khăn trải bàn chưa kịp dọn đi, có tiếng thông báo rằng “có một người” muốn gặp viên luật sư. Đó có phải là Quả Lý Gai không? Không: chỉ là người được thuê bám theo ông Luker khi ông này rời ngân hàng.
Bản báo cáo trong trường hợp này chẳng có chi tiết nào lấy làm thú vị. Ông Luker đã quay về nhà riêng và giải tán lực lượng bảo vệ tại đó. Sau đó ông ta không đi đâu nữa. Khoảng chạng vạng, các khung cửa sổ đã được cài then và cửa cái đã được chốt chặt. Con phố trước nhà và con hẻm phía sau nhà đều được canh chừng cẩn mật. Không hề thấy bóng dáng người Ấn Độ nào. Cũng chẳng có bất kỳ ai lai vãng quanh khu nhà. Sau khi trình bày xong những sự việc đó, người đàn ông chờ xem có lệnh nào nữa không. Ông Bruff cho anh ta nghỉ đêm.
“Cậu có nghĩ ông Luker đã mang Viên Đá Mặt Trăng về nhà không?” tôi hỏi.
“Còn lâu nhé,” ông Bruff nói. “Ông ta sẽ không đời nào sa thải hai viên cảnh sát bảo vệ nếu còn phải gánh rủi ro giữ Viên Kim Cương trong nhà mình một lần nữa.”
Chúng tôi đợi thêm nửa tiếng nữa cho thằng bé, nhưng hoài công. Đến lúc đó thì ông Bruff phải đi Hampstead, còn tôi phải quay về với Rachel ở Portland Place. Tôi để lại danh thiếp nhờ người gác cổng văn phòng chuyển giúp, trên đó có viết thêm một dòng nhắn rằng tôi sẽ có mặt ở phòng trọ của mình vào lúc mười rưỡi tối nay. Tấm danh thiếp sẽ được giao cho thằng bé nếu nó quay lại.
Có những người có tài giữ đúng hẹn; nhưng cũng có những người có tài lỡ hẹn. Tôi thuộc nhóm người thứ hai. Thêm vào đó, tôi đã trải qua buổi tối ở Portland Place, ngồi cạnh Rachel trên chiếc ghế dài trong căn phòng dài bốn mươi thước, với bà Merridew ở tận đầu kia. Có ai ngạc nhiên khi tôi về đến nhà lúc mười hai giờ rưỡi thay vì mười rưỡi không? Con người đó mới nhẫn tâm làm sao! Và tôi khẩn thiết mong rằng mình sẽ chẳng bao giờ phải quen biết một kẻ như thế!
Người đầy tớ đưa cho tôi một mẩu giấy khi mở cửa cho tôi vào.
Tôi đọc những dòng chữ được viết bằng nét chữ ngay ngắn của dân pháp lý — “Thưa ngài, xin lỗi ngài vì tôi bắt đầu thấy buồn ngủ rồi. Sáng mai tôi sẽ quay lại vào khoảng từ chín đến mười giờ.” Gặng hỏi thì được biết một cậu bé với đôi mắt có vẻ ngoài vô cùng kỳ lạ đã đến ghé, đưa danh thiếp và lời nhắn của tôi, chờ suốt một tiếng đồng hồ, chẳng làm gì ngoài việc ngủ gật rồi tỉnh dậy, tự viết cho tôi vài dòng rồi đi về — sau khi căn dặn vị gia nhân với vẻ mặt cực kỳ nghiêm túc rằng “nó chẳng thể làm được việc gì hồn vía nếu không được ngủ bù trọn vẹn một đêm.”
Đúng chín giờ sáng hôm sau, tôi đã sẵn sàng đón tiếp vị khách của mình. Đến chín giờ rưỡi, tôi nghe tiếng bước chân ngoài cửa. “Vào đi, Quả Lý Gai!” tôi gọi lớn. “Cảm ơn ngài,” một giọng nói nghiêm nghị và ủ rũ vang lên. Cửa mở ra. Tôi giật mình bật dậy và đối mặt với... Thám tử Cuff!
“Tôi nghĩ mình nên ghé qua đây, thưa cậu Blake, nhân tiện xem cậu có đang ở thành phố không trước khi tôi viết thư về Yorkshire,” viên thám tử nói.
Ông ấy vẫn ảm đạm và gầy gò như ngày nào. Đôi mắt ông vẫn không bỏ được thói quen cũ (đã được miêu tả rất tinh tế trong Nhật ký của Betteredge) là “trông như thể đang chờ đợi ở bạn điều gì đó mà chính bạn còn chẳng biết.” Thế nhưng, nếu xét về mặt trang phục có thể làm thay đổi một con người, viên Cuff vĩ đại nay đã thay đổi đến mức không thể nhận ra. Ông đội một chiếc mũ trắng vành rộng, mặc chiếc áo khoác đi săn nhẹ nhàng, quần dài trắng và đi ủng da màu xám nhạt. Ông cầm một cây gậy sồi chắc nịch. Mục đích và tâm nguyện duy nhất của ông dường như là trông cho giống một người đã sống ở vùng nông thôn cả đời. Khi tôi ca ngợi màn hóa thân của ông, ông nhất quyết không coi đó là một trò đùa. Ông phàn nàn một cách hết sức nghiêm túc về những tiếng ồn và mùi hôi của Luân Đôn. Tôi dám cá là tôi chẳng dám chắc liệu ông ấy có nói với một chút giọng điệu nhà quê hay không!
Tôi mời ông dùng bữa sáng. Con người nhà quê ngây thơ ấy tỏ ra vô cùng sốc. Giờ ăn sáng của ông là sáu giờ rưỡi — và ông đi ngủ cùng gà gô gà nhà!
“Tôi vừa trở về từ Ireland tối qua,” viên thám tử nói, quay trở lại mục đích thiết thực của chuyến thăm với phong cách bất khả xâm phạm quen thuộc của ông. “Trước khi đi ngủ, tôi đã đọc bức thư của cậu kể về những gì đã xảy ra kể từ khi cuộc điều tra của tôi về Viên Kim Cương bị tạm hoãn vào năm ngoái. Về phía mình, tôi chỉ có một điều để nói. Tôi đã hoàn toàn đánh giá sai vụ án. Làm sao một người sống trên đời này có thể nhìn nhận sự việc dưới ánh sáng đích thực trong hoàn cảnh như tôi lúc bấy giờ cơ chứ, tôi chẳng dám nhận mình biết. Nhưng điều đó không làm thay đổi các sự kiện đang hiện hữu. Tôi thừa nhận mình đã làm hỏng bét mọi chuyện. Mà đó đâu phải là cú ngã đầu tiên làm rạng danh sự nghiệp chuyên môn của tôi, thưa cậu Blake! Chỉ trong sách vở thì các sĩ quan lực lượng thám tử mới vượt qua được cái sự yếu đuối là mắc sai lầm mà thôi.”
“Ông đã xuất hiện đúng lúc để lấy lại danh tiếng cho mình rồi đấy,” tôi nói.
“Xin lỗi cậu nhé, cậu Blake,” viên thám tử đáp lời. “Bây giờ tôi đã giải nghệ rồi, chẳng màng mảy may gì đến danh tiếng nữa đâu. Tạ ơn Chúa, tôi đã chấm dứt việc giữ gìn danh tiếng rồi! Tôi có mặt ở đây, thưa ngài, vì lòng biết ơn sâu sắc đối với sự hào phóng của cố phu nhân Verinder dành cho tôi. Tôi sẽ quay lại công việc cũ — nếu cậu cần tôi, và nếu cậu tin tưởng tôi — dựa trên cân nhắc đó, chứ không vì lý do nào khác. Sẽ không có một xu cắc nào chuyển từ cậu sang tôi đâu, xin vui lòng đấy. Nói vậy là danh dự nhé. Giờ hãy nói cho tôi nghe, thưa cậu Blake, tình hình vụ án ra sao kể từ lần cuối cậu viết thư cho tôi.”
Tôi kể cho ông nghe về cuộc thí nghiệm với thuốc phiện và những gì xảy ra sau đó tại ngân hàng ở Phố Lombard. Ông vô cùng kinh ngạc trước cuộc thí nghiệm — đó là điều hoàn toàn mới mẻ trong trải nghiệm của ông. Và ông đặc biệt hứng thú với lý thuyết của Ezra Jennings liên quan đến việc tôi đã làm gì với Viên Kim Cương sau khi rời khỏi phòng khách của Rachel vào đêm sinh nhật.
“Tôi không cho rằng cậu đã giấu Viên Đá Mặt Trăng như ông Jennings nghĩ,” Thám tử Cuff nói. “Nhưng tôi đồng tình với ông ấy rằng chắc chắn cậu đã mang nó về phòng mình.”
“Vậy ư?” tôi hỏi. “Và chuyện gì đã xảy ra tiếp theo?”
“Chẳng lẽ cậu không có chút nghi ngờ nào về những gì đã xảy ra sao, thưa ngài?”
“Hoàn toàn không.”
“Ông Bruff có nghi ngờ gì không?”
“Cũng chẳng hơn gì tôi.”
Thám tử Cuff đứng dậy, đi tới bàn viết của tôi. Ông quay lại với một phong thư đã được niêm phong. Trên đó ghi chữ “Riêng tư;” gửi cho tôi; và có chữ ký của viên thám tử ở góc.
“Năm ngoái tôi đã nghi ngờ nhầm người,” ông nói: “và bây giờ rất có thể tôi lại đang nghi ngờ nhầm người nữa. Hãy cứ đợi hẵng mở phong thư này ra, thưa cậu Blake, cho đến khi cậu chạm tay được vào chân tướng sự thật. Và rồi hãy đối chiếu tên của kẻ có tội với cái tên mà tôi đã viết trong bức thư niêm phong đó.”
Tôi đút bức thư vào túi — rồi hỏi ý kiến của viên thám tử về các biện pháp mà chúng tôi đã thực hiện tại ngân hàng.
“Ý đồ rất tốt, thưa ngài,” ông đáp, “và hoàn toàn là việc phải làm. Nhưng còn một người nữa cần phải được quan tâm theo dõi bên cạnh ông Luker.”
“Là người có tên trong bức thư ông vừa đưa cho tôi phải không?”
“Đúng vậy, thưa cậu Blake, là người có tên trong bức thư đó. Bây giờ thì đành chịu, không vãn hồi được nữa rồi. Tôi sẽ có vài điều đề xuất với cậu và ông Bruff, thưa ngài, khi thời cơ chín muồi. Trước tiên, hãy cứ chờ xem cậu nhóc có điều gì đáng nghe để kể cho chúng ta không đã.”
Đã gần mười giờ mà thằng bé vẫn chưa xuất hiện. Thám tử Cuff chuyển sang bàn những chuyện khác. Ông hỏi thăm về người bạn cũ Betteredge và kẻ thù cũ là ông làm vườn. Thêm một phút nữa thôi, chắc chắn ông sẽ lái câu chuyện sang niềm đam mê hoa hồng của mình, nếu như người đầy tớ không ngắt lời chúng tôi bằng thông báo rằng cậu bé đang đứng ở dưới nhà.
Khi được dẫn vào phòng, Quả Lý Gai dừng lại ở ngưỡng cửa và nhìn vị khách đang ở cùng tôi với ánh mắt đầy cảnh giác. Tôi bảo thằng bé tiến lại gần mình.
“Cậu có thể nói trước mặt quý ông này,” tôi nói. “Ông ấy ở đây để hỗ trợ tôi; và ông ấy biết hết mọi chuyện đã xảy ra. Thám tử Cuff,” tôi nói thêm, “đây là cậu bé đến từ văn phòng của ông Bruff.”
Trong hệ thống văn minh hiện đại của chúng ta, sự nổi tiếng (dù là dưới bất kỳ hình thức nào) chính là đòn bẩy lay chuyển được vạn vật. Tiếng tăm của viên Cuff vĩ đại thậm chí đã lọt đến tai của cậu nhóc Quả Lý Gai nhỏ bé. Đôi mắt lộn xộn của thằng bé đảo liên hồi khi tôi nhắc đến cái tên lừng lẫy ấy, khiến tôi tưởng chừng chúng sắp rơi tuột xuống thảm nhà.
“Lại đây nào cậu nhóc,” viên thám tử nói, “và hãy cho chúng tôi nghe xem cháu có gì để kể nào.”
Sự chú ý từ nhân vật vĩ đại — người anh hùng trong biết bao câu chuyện nổi tiếng ở mọi văn phòng luật sư tại Luân Đôn — dường như có sức hút kỳ lạ với đứa trẻ. Nó đứng phắt dậy trước mặt Thám tử Cuff, khoác tay ra sau theo đúng chuẩn mực của một tân tín đồ đang bị kiểm tra giáo lý.
“Tên cháu là gì?” viên thám tử cất tiếng hỏi, bắt đầu bằng câu hỏi đầu tiên trong sách giáo lý.
“Octavius Guy ạ,” thằng bé đáp. “Ở văn phòng người ta gọi cháu là Quả Lý Gai vì đôi mắt của cháu.”
“Octavius Guy, hay còn gọi là Quả Lý Gai,” viên thám tử tiếp lời với vẻ mặt vô cùng nghiêm túc, “hôm qua cháu đã vắng mặt ở ngân hàng. Cháu đã bận đi đâu thế?”
“Dạ thưa ngài, cháu đi bám theo một người đàn ông ạ.”
“Hắn là ai?”
“Một người đàn ông cao kều, thưa ngài, có bộ râu đen rậm, ăn mặc trông như thủy thủ.”
“Tôi nhớ gã đó!” tôi xen vào. “Ông Bruff và tôi tưởng hắn là gián điệp do bọn Ấn Độ thuê.”
Thám tử Cuff có vẻ không ấn tượng lắm với những gì tôi và ông Bruff đã nghĩ. Ông tiếp tục tra hỏi Quả Lý Gai.
“Được rồi,” ông nói — “và tại sao cháu lại bám theo tên thủy thủ đó?”
“Dạ thưa ngài, ông Bruff muốn biết liệu ông Luker có chuyển vật gì cho ai trên đường rời ngân hàng không. Cháu thấy ông Luker đưa thứ gì đó cho gã thủy thủ râu đen.”
“Sao cháu không nói cho ông Bruff biết những gì cháu đã thấy?”
“Cháu không kịp nói cho ai biết cả thưa ngài, gã thủy thủ chuồn đi vội quá.”
“Và cháu liền đuổi theo hắn — phải thế không?”
“Vâng, thưa ngài.”
“Quả Lý Gai,” viên thám tử vừa nói vừa xoa đầu thằng bé, “trong cái đầu nhỏ xíu này của cháu có sỏi đấy — chứ không phải bông gòn đâu. Cho đến lúc này thì ta rất hài lòng về cháu.”
Thằng bé đỏ bừng vì sung sướng. Thám tử Cuff tiếp tục.
“Thế nào? Và gã thủy thủ đã làm gì khi ra đến đường lớn?”
“Hắn gọi một chiếc xe ngựa, thưa ngài.”
“Còn cháu làm gì?”
“Bám víu đằng sau và chạy theo nó ạ.”
Trước khi viên thám tử kịp đặt câu hỏi tiếp theo, một vị khách nữa lại được thông báo — viên thư ký trưởng từ văn phòng của ông Bruff.
Cảm nhận được tầm quan trọng của việc không được làm gián đoạn cuộc thẩm vấn của Thám tử Cuff với cậu bé, tôi tiếp đón viên thư ký ở một căn phòng khác. Anh ta mang đến tin xấu về sáp chủ của mình. Sự kích động và hồi hộp trong hai ngày qua đã quá sức chịu đựng đối với ông Bruff. Sáng hôm nay ông thức dậy với một cơn gót chân hành hạ; ông bị giam chân ở phòng riêng tại Hampstead; và trong tình trạng nguy cấp hiện tại của chúng ta, ông vô cùng bất an khi bị buộc phải để tôi lại mà không có lời khuyên cũng như sự trợ giúp của một người có kinh nghiệm. Viên thư ký trưởng đã nhận lệnh sẵn sàng tuân theo sự điều động của tôi và sẵn sàng làm hết sức để thay thế vị trí của ông Bruff.
Tôi lập tức viết thư trấn an tinh thần vị lão ông, kể cho ông nghe về chuyến viếng thăm của Thám tử Cuff: đồng thời nói thêm rằng Quả Lý Gai lúc đó đang bị thẩm vấn; và hứa sẽ thông báo cho ông Bruff, trực tiếp hoặc bằng thư, về bất kỳ chuyện gì xảy ra sau đó trong ngày. Sau khi phái viên thư ký mang thư đi Hampstead, tôi quay trở lại căn phòng vừa rời đi và bắt gặp Thám tử Cuff đang đứng bên lò sưởi, chuẩn bị với tay giật chuông cửa.
“Xin lỗi cậu nhé, cậu Blake,” viên thám tử nói. “Tôi vừa định nhờ người truyền đạt qua chỗ gia nhân rằng tôi muốn nói chuyện với cậu. Tôi hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa rằng cậu bé này — một cậu bé vô cùng ưu tú,” viên thám tử vừa nói vừa vỗ đầu Quả Lý Gai, “đã bám theo đúng người. Chúng ta đã để lãng phí biết bao thời gian quý báu, thưa ngài, chỉ vì sự cố không có mặt ở nhà vào lúc mười rưỡi tối qua của cậu. Việc duy nhất phải làm bây giờ là gọi ngay một chiếc xe ngựa.”
Năm phút sau, tôi và Thám tử Cuff (với Quả Lý Gai ngồi trên nóc xe để chỉ đường cho người đánh xe) đang trên đường hướng về phía đông, tiến vào khu City.
“Có ngày,” viên thám tử vừa nói vừa chỉ tay qua khung cửa kính phía trước của xe ngựa, “cậu bé này sẽ làm nên những điều lớn lao trong nghề cũ của tôi. Nó là đứa trẻ sáng dạ và lanh lợi nhất mà tôi từng gặp trong suốt ngập tràn năm qua. Cậu sẽ được nghe tóm tắt, thưa cậu Blake, những gì nó đã kể cho tôi nghe trong lúc cậu ra ngoài phòng. Hình như lúc nó nhắc đến chuyện bám đít xe ngựa rồi chạy theo là cậu có ở đó chứ nhỉ?”
“Vâng.”
“Được rồi, thưa ngài, chiếc xe ngựa chạy từ Phố Lombard đến Bến tàu Tower. Gã thủy thủ râu đen bước xuống và nói chuyện với người quản lý tàu hơi nước Rotterdam, chuyến tàu sẽ khởi hành vào sáng hôm sau. Hắn hỏi liệu mình có được phép lên tàu ngay lập tức và ngủ qua đêm ở khoang của hắn không. Người quản lý bảo không. Toàn bộ các khoang, giường ngủ và chăn đệm đều sẽ được tổng vệ sinh vào tối hôm đó, và không hành khách nào được phép lên tàu trước buổi sáng. Gã thủy thủ quay người rời khỏi bến tàu. Khi vừa bước ra đường lớn, cậu bé lần đầu tiên để ý thấy một người đàn ông ăn mặc giống một thợ cơ khí đáng kính, đi ở phía bên kia đường và dường như đang bám sát gã thủy thủ trong tầm mắt. Gã thủy thủ dừng chân tại một quán ăn gần đó và bước vào. Thằng bé — lúc đó chưa quyết định dứt khoát được nên làm gì — bạt ngơ vơ vẩn giữa mấy đứa trẻ khác, ngắm nghía những món ăn ngon lành qua cửa sổ quán ăn. Nó để ý thấy gã thợ cơ khí cũng đang kiên nhẫn chờ đợi như nó — nhưng vẫn đứng ở bên kia đường. Chừng một phút sau, một chiếc xe ngựa chầm chậm chạy ngang qua và dừng lại đúng chỗ gã thợ cơ khí đang đứng. Cậu bé chỉ nhìn rõ một người trong xe, người đó nhoài người ra cửa sổ để nói chuyện với gã thợ cơ khí. Thằng bé miêu tả người đó, thưa cậu Blake, mà chẳng cần tôi gợi ý chút nào, là có khuôn mặt ngăm đen giống hệt mặt người Ấn Độ.”
Lúc này thì rõ như ban ngày là tôi và ông Bruff đã nhầm lẫn thêm lần nữa. Gã thủy thủ râu đen rõ ràng không phải là gián điệp phục vụ cho âm mưu của người Ấn Độ. Liệu hắn có bất kỳ khả năng nào chính là kẻ đã giữ Viên Kim Cương không?
“Một lúc sau,” viên thám tử tiếp tục, “chiếc xe ngựa từ từ di chuyển dọc theo con phố. Gã thợ cơ khí băng qua đường và bước vào quán ăn. Thằng bé đứng chờ ở bên ngoài đến lúc đói lả mỏi nhừ — rồi cuối cùng cũng nối gót bước vào quán ăn. Trong túi nó có sẵn một shilling; và nó kể rằng nó đã có một bữa tối thịnh soạn với dồi huyết đen, bánh nêm lươn và một chai nước gừng. Đứa trẻ con thì cái gì mà chẳng tiêu hóa nổi chứ? Món ăn siêu phàm ấy xưa nay chưa từng có thứ gì chịu khuất phục được bộ máy tiêu hóa của nó cả.”
“Nó đã thấy gì trong quán ăn thế?” tôi hỏi.
“À, thưa cậu Blake, nó thấy gã thủy thủ đang đọc báo ở một chiếc bàn, còn gã thợ cơ khí thì đọc báo ở bàn khác. Trời đã chạng vạng tối khi gã thủy thủ đứng lên rời khỏi đó. Hắn liếc nhìn xung quanh với vẻ đa nghi khi bước ra đường. Thằng bé — vì là trẻ con — nên cứ thế qua mặt chẳng ai để ý. Gã thợ cơ khí thì vẫn chưa chịu xuất hiện. Gã thủy thủ tiếp tục cất bước, vừa đi vừa ngó nghiêng ngơ ngác, có vẻ không chắc chắn lắm về điểm đến tiếp theo của mình. Gã thợ cơ khí lại một lần nữa xuất hiện ở phía bên kia đường. Gã thủy thủ đi mãi cho đến khi tới Phố Shore, con phố dẫn ra Phố Lower Thames. Ở đó hắn dừng lại trước một quán rượu mang tấm biển ‘Bánh Xe Vận Mệnh’, và sau khi săm soi khung cảnh bên ngoài, hắn bước vào. Quả Lý Gai cũng theo chân bước vào. Trong quán có rất đông khách, phần lớn là những kẻ tử tế đứng ở quầy bar. ‘Bánh Xe Vận Mệnh’ là một quán rượu rất đàng hoàng, thưa cậu Blake; nổi tiếng với bia đen và bánh nướng nhân thịt heo.”
Những lời lẽ lan man của viên thám tử làm tôi phát bực. Ông nhận ra điều đó; và khi kể tiếp, ông đành tuân thủ ngặt nghèo hơn những lời khai của Quả Lý Gai.
“Gã thủy thủ,” ông tiếp tục thuật lại, “hỏi xem hắn có thể thuê một phòng ngủ được không. Chủ quán đáp ‘Không; phòng đầy cả rồi.’ Cô nhân viên pha chế sửa lời chủ quán, bảo rằng ‘Phòng Số Mười vẫn còn trống.’ Một gã hầu bàn được gọi ra để dẫn gã thủy thủ về Phòng Số Mười. Ngay trước lúc đó, Quả Lý Gai đã để ý thấy gã thợ cơ khí lẩn khuất giữa đám đông ở quầy bar. Nhưng trước khi người hầu bàn kịp đáp lời gọi, gã thợ cơ khí đã biến mất tăm. Gã thủy thủ được đưa về phòng mình. Chẳng biết phải làm gì tiếp theo, Quả Lý Gai khôn ngoan đứng chờ xem có chuyện gì xảy ra hay không. Và quả thực có chuyện xảy ra. Chủ quán được gọi lên lầu. Những tiếng cãi vã tức giận vọng xuống. Gã thợ cơ khí bất ngờ xuất hiện trở lại, bị chủ quán túm cổ áo và bày ra — khiến Quả Lý Gai vô cùng kinh ngạc — toàn bộ những biểu hiện và dấu hiệu của một kẻ đang say mèm. Chủ quán tống cổ hắn ra cửa và dọa sẽ gọi cảnh sát nếu hắn bén mảng quay lại. Qua những lời qua tiếng lại trong lúc sự việc diễn ra, hóa ra gã này đã bị bắt quả tang đang lảng vảng trong Phòng Số Mười, và với vẻ ngang bướng của kẻ say xỉn, hắn khăng khăng tuyên bố rằng chính hắn đã thuê căn phòng đó. Quả Lý Gai bị ấn tượng mạnh trước cơn say đột ngột của một kẻ vốn dĩ tỉnh táo lúc trước, đến nỗi nó không kiềm chế được mà chạy thốc tháo ra đường bám theo gã thợ cơ khí. Chừng nào còn nằm trong tầm mắt của quán rượu, gã đó vẫn lảo đảo bước đi một cách vô cùng kệ cỡm. Nhưng ngay vừa lúc rẽ ngoặt qua góc phố, hắn lấy lại thăng bằng ngay tức khắc và biến thành một công dân tỉnh táo nhất mà ngài từng muốn nhìn thấy. Quả Lý Gai quay lại ‘Bánh Xe Vận Mệnh’ với tâm trí hoàn toàn rối bời. Nó lại quanh quẩn chờ đợi nhân cơ hội có chuyện xảy ra. Chẳng có gì xảy ra cả; và cũng chẳng còn thấy tăm tích hay nghe ngóng gì thêm về gã thủy thủ. Quả Lý Gai quyết định quay về văn phòng. Ngay khi nó vừa đinh ninh như vậy, thì ai lại xuất hiện ở phía bên kia đường quen thuộc nếu không phải là gã thợ cơ khí chứ! Hắn ngước nhìn lên một ô cửa sổ cụ thể ở tầng trên cùng của quán rượu, đó là ô cửa duy nhất có ánh đèn hắt ra. Ánh đèn dường như làm hắn trút được gánh nặng trong lòng. Hắn rời đi ngay lập tức. Thằng bé liền quay về Gray’s Inn — lấy danh thiếp và lời nhắn của cậu — ghé qua — nhưng không tìm thấy cậu. Hiện trạng vụ án là thế đấy, thưa cậu Blake, tính đến thời điểm hiện tại.”
“Ý kiến của riêng ông về vụ án này thế nào, Thám tử Cuff?”
“Tôi cho rằng nó nghiêm trọng đấy, thưa ngài. Căn cứ vào những gì cậu bé nhìn thấy, bọn người Ấn Độ đã dính líu vào đây ngay từ phút đầu.”
“Đúng vậy. Và gã thủy thủ rõ ràng là kẻ đã nhận Viên Kim Cương từ tay ông Luker. Thật kỳ lạ khi tôi, ông Bruff và người nhân viên của ông ấy lại đều nhầm lẫn về việc ai mới thực sự là kẻ đó.”
“Hoàn toàn không đâu, thưa cậu Blake. Xét đến mức độ rủi ro mà người đó phải gánh chịu, rất có thể ông Luker đã cố tình đánh lạc hướng các cậu theo một thỏa thuận từ trước giữa bọn họ.”
“Ông có hiểu nổi những rắc rối diễn ra ở quán rượu không?” tôi hỏi. “Gã ăn mặc như thợ cơ khí rõ ràng hành động theo lệnh của người Ấn Độ. Nhưng tôi vẫn bối rối chẳng kém gì Quả Lý Gai khi lý giải việc hắn bỗng dưng giả vờ say xỉn.”
“Tôi nghĩ mình có thể đoán được ý nghĩa của chuyện đó, thưa ngài,” viên thám tử nói. “Nếu ngẫm lại, cậu sẽ thấy gã đó chắc chắn đã nhận được những chỉ thị vô cùng nghiêm ngặt từ phía người Ấn Độ. Bản thân bọn chúng quá dễ bị chú ý để có thể liều lĩnh xuất hiện ở ngân hàng hay quán rượu — bọn chúng buộc phải ủy thác mọi việc cho tên tay sai. Rất tốt. Tên tay sai nghe được một con số cụ thể được gọi lên trong quán rượu, đó là số phòng mà gã thủy thủ sẽ ở lại qua đêm — đồng thời cũng là căn phòng (trừ khi nhận định của chúng ta hoàn toàn sai lầm) mà Viên Kim Cương sẽ trú ngụ qua đêm ở đó. Trong hoàn cảnh ấy, các cậu cứ tin đi, bọn người Ấn Độ nhất định sẽ đòi hỏi phải có một bản mô tả chi tiết về căn phòng — vị trí của nó trong ngôi nhà, khả năng tiếp cận từ bên ngoài ra sao, v.v. Tên tay sai phải làm gì với những mệnh lệnh kiểu này đây? Y hệt những gì hắn đã làm! Hắn chạy ù lên lầu để thám thính căn phòng trước khi gã thủy thủ được đưa vào đó. Hắn bị bắt quả tang đang dò la — và hắn giả vờ say xỉn như là cách dễ dàng nhất để thoát khỏi tình cảnh oái oăm đó. Tôi giải mã câu đố là như thế đấy. Sau khi bị tống cổ khỏi quán rượu, hắn có lẽ đã mang bản báo cáo đến nơi đồng bọn đang đợi sẵn. Và chủ nhân của hắn, không chừng, lại sai hắn quay trở lại để chắc chắn rằng gã thủy thủ thực sự yên vị ở quán rượu cho đến sáng hôm sau. Còn về những gì đã xảy ra tại ‘Bánh Xe Vận Mệnh’ sau khi thằng bé rời đi — đáng lẽ chúng ta phải tìm ra từ tối qua rồi. Bây giờ đã là mười một giờ sáng. Chúng ta buộc phải hy vọng vào điều tốt nhất và tự mình tìm hiểu xem có thể moi móc được gì.”
Chừng một phần tư giờ sau, chiếc xe ngựa dừng lại ở Phố Shore và Quả Lý Gai mở cửa cho chúng tôi bước xuống.
“Ổn cả chứ?” viên thám tử hỏi.
“Ổn cả ạ,” thằng bé đáp.
Ngay khoảnh khắc chúng tôi bước vào “Bánh Xe Vận Mệnh”, dù với đôi mắt thiếu kinh nghiệm của tôi cũng có thể nhận thấy rõ ràng là có điều gì đó bất ổn đang xảy ra trong ngôi nhà.
Người duy nhất đứng sau quầy phục vụ đồ uống là một cô hầu bàn đang ngơ ngác, hoàn toàn chẳng biết gì về công việc kinh doanh. Một vài khách hàng đang chờ đợi ly rượu buổi sáng của họ, gõ những đồng tiền lên quầy một cách đầy thiếu kiên nhẫn. Cô nhân viên pha chế xuất hiện từ khu vực phòng khách phía trong, với vẻ mặt đầy kích động và lo lắng. Cô ta gạt phăng câu hỏi của Thám tử Cuff về người chủ quán bằng câu trả lời cộc lốc rằng ông chủ đang ở trên lầu và không muốn bị ai làm phiền cả.
“Đi theo tôi, thưa ngài,” Thám tử Cuff điềm tĩnh dẫn đường bước lên lầu, đồng thời ra hiệu cho cậu bé đi theo sau.
Cô nhân viên pha chế gọi với theo chủ quán, cảnh báo rằng có người lạ đang tự ý xông vào nhà. Đến tầng một, chúng tôi đụng độ ngay chủ quán đang hầm hầm hầm hực bước xuống với vẻ mặt vô cùng cáu kỉnh để xem chuyện gì đang xảy ra.
“Mấy người là cái thá gì? Lên đây có mục đích gì?” ông ta hậm hực hỏi.
“Cứ bình tĩnh nào,” viên thám tử điềm đạm nói. “Trước tiên tôi sẽ giới thiệu xem mình là ai. Tôi là Thám tử Cuff đây.”
Cái tên lừng lẫy ngay lập tức phát huy tác dụng. Người chủ quán đang tức giận liền tung cửa một căn phòng khách và khẩn khoản xin lỗi vị thám tử.
“Tôi đang bực mình và phát điên lên đây, thưa ngài — sự thật là thế đấy,” ông ta nói. “Sáng nay có chuyện chẳng lành xảy ra trong nhà. Kẻ làm ăn như tôi có hàng đống thứ làm tụt huyết áp, Thám tử Cuff ạ.”
“Chắc chắn là vậy rồi,” viên thám tử nói. “Nếu ngài cho phép, tôi xin đi thẳng vào lý do chúng tôi có mặt ở đây. Vị quý ông này và tôi muốn làm phiền ngài với vài câu hỏi về một vấn đề đang gây hứng thú cho cả đôi bên.”
“Liên quan đến việc gì vậy, thưa ngài?” chủ quán hỏi.
“Liên quan đến một gã đàn ông da ngăm đen, ăn mặc như thủy thủ, đã ngủ ở đây đêm qua.”
“Lạy Chúa! Đó chính là kẻ đang làm đảo lộn cả cái nhà này lúc này đây!” chủ quán thốt lên. “Cậu, hoặc vị quý ông này, biết gì về hắn ta à?”
“Chúng tôi chưa thể chắc chắn cho đến khi được tận mắt nhìn thấy hắn,” viên thám tử đáp.
“Nhìn thấy hắn á?” chủ quán lặp lại. “Đó là điều duy nhất mà chẳng một ai làm nổi từ hồi bảy giờ sáng nay. Đó là lúc hắn dặn dò tối qua rằng sẽ gọi thức dậy vào giờ đó. Người ta lên gọi hắn — thế nhưng chẳng tài nào gõ cửa bắt hắn trả lời hay mở cửa xem có chuyện gì xảy ra được cả. Bọn họ lại thử lần nữa vào lúc tám giờ, rồi lại thử lúc chín giờ. Vô ích! Cánh cửa cứ khóa im ỉm như thế — và trong phòng chẳng phát ra một tiếng động nào! Tôi vừa ra ngoài sáng nay — và chỉ mới về đây cách đây mười lăm phút. Chính tôi đã đập cửa ầm ầm — mà cũng chẳng ăn thua gì. Thằng nhỏ sai vặt đã đi gọi thợ mộc rồi. Nếu các ngài chờ được vài phút, chúng tôi sẽ phá cửa ra và xem rốt cuộc là có chuyện quái quỷ gì.”
“Gã đó tối qua có say không?” Thám tử Cuff hỏi.
“Tỉnh như sáo, thưa ngài — nếu không thì đời nào tôi cho hắn ngủ lại nhà mình.”
“Hắn có trả tiền phòng trước không?”
“Không.”
“Hắn có thể rời khỏi phòng theo cách nào khác mà không cần đi qua cửa chính không?”
“Căn phòng đó là một gác mái,” chủ quán nói. “Nhưng trên trần nhà có một ô cửa sập dẫn thẳng lên mái — và cách đó không xa dưới phố có một căn nhà hoang đang sửa chữa. Thử hỏi xem, thưa Thám tử Cuff, có phải cái đồ khốn nạn đó đã tẩu thoát bằng con đường đó mà chưa trả tiền phòng không?”
“Một gã thủy thủ,” Thám tử Cuff nhận xét, “thì hoàn toàn có thể làm được điều đó — vào sáng sớm, khi đường phố chưa xôn xao người qua lại. Hắn ta quen trèo leo rồi, và sẽ chẳng bao giờ sợ hãi khi đứng trên mái nhà đâu.”
Vừa lúc ông nói dứt câu thì thợ mộc đến nơi. Tất cả chúng tôi liền kéo nhau lên thẳng tầng trên cùng. Tôi để ý thấy viên thám tử trầm ngâm hơn hẳn thường ngày. Điều khiến tôi thấy lạ lùng nữa là ông bảo cậu bé (sau khi đã khuyến khích nó đi theo chúng tôi từ trước) hãy đứng đợi ở căn phòng dưới lầu cho đến khi chúng tôi quay xuống.
Búa và đục của người thợ mộc đã giải quyết xong sự chống cự của cánh cửa chỉ trong vài phút. Nhưng có món đồ nội thất nào đó đã được chặn bên trong như một dạng vật cản chiến lũy. Dùng sức đẩy cánh cửa, chúng tôi xô lệch vật cản đó sang một bên và cứ thế lọt được vào phòng. Chủ quán bước vào đầu tiên; viên thám tử thứ hai; và tôi là người thứ ba. Những người còn lại theo sát phía sau chúng tôi.
Tất cả chúng tôi cùng hướng mắt về phía chiếc giường, và ai nấy đều giật nảy mình.
Gã đó vẫn chưa rời khỏi phòng. Hắn nằm dài trên giường, mặc nguyên quần áo — với một chiếc gối trắng phủ lên mặt, che khuất hoàn toàn tầm nhìn.
“Thế này là thế nào?” chủ quán vừa nói vừa chỉ tay về phía chiếc gối.
Thám tử Cuff đi thẳng đến bên giường mà không trả lời, rồi nhấc chiếc gối ra.
Khuôn mặt ngăm đen của gã đàn ông trông vô cùng bình thản và tĩnh lặng; mái tóc đen và bộ râu chỉ hơi rối loạn một chút, rất nhẹ nhàng. Đôi mắt hắn trừng trừng mở lớn, vô hồn và trống rỗng nhìn trân trân lên trần nhà. Ánh nhìn đục ngầu cùng vẻ mặt bất động của hắn khiến tôi hoảng sợ. Tôi quay ngoắt đi và bước ra ô cửa sổ đang mở. Những người còn lại vẫn đứng ngây người tại chỗ của Thám tử Cuff bên chiếc giường.
“Hắn ta bị lên cơn động kinh rồi!” tôi nghe thấy chủ quán kêu lên.
“Hắn chết rồi,” viên thám tử đáp. “Hãy đi gọi bác sĩ gần đây nhất và gọi cả cảnh sát nữa.”
Gã hầu bàn được phái đi làm cả hai việc. Có một thứ sức hút kỳ lạ nào đó dường như giữ chân Thám tử Cuff bên chiếc giường. Và cũng có một sự tò mò kỳ quái nào đó khiến những người còn lại đứng chờ để xem bước tiếp theo viên thám tử sẽ làm gì.
Tôi lại quay người nhìn ra cửa sổ. Ngay khoảnh khắc đó, tôi cảm thấy vạt áo mình bị kéo nhẹ và một giọng nói nhỏ xíu thì thầm: “Nhìn này ngài ơi!”
Quả Lý Gai đã lẻn theo chúng tôi vào phòng. Đôi mắt lộn xộn của nó đảo cuồng loạn — không phải vì sợ hãi, mà vì phấn khích tột độ. Nó đã tự mình khám phá ra được một phát hiện trinh thám. “Nhìn này ngài ơi,” nó lặp lại — rồi dẫn tôi tới chiếc bàn ở góc phòng.
Trên bàn đặt một chiếc hộp gỗ nhỏ, đang mở nắp và trống không. Phía một bên chiếc hộp là ít bông gòn chuyên dùng của tiệm kim hoàn. Phía bên kia là một mảnh giấy trắng bị xé rách, có đóng dấu triện bị phá hủy một phần, kèm theo một dòng chữ viết tay vẫn còn đọc được rất rõ ràng. Nội dung dòng chữ ấy như sau:
“Gửi lưu giữ tại hãng Bushe, Lysaught, và Bushe, bởi ông Septimus Luker, ngụ tại Phố Middlesex, Lambeth, một chiếc hộp gỗ nhỏ, được niêm phong trong phong bì này, bên trong chứa một vật có giá trị vô cùng lớn. Chiếc hộp, khi đến nhận lại, chỉ được phép trao ra bởi hãng Bushe và Cty theo yêu cầu trực tiếp của cá nhân ông Luker.”
Những dòng chữ đó đã đập tan mọi nghi ngờ còn sót lại về ít nhất một vấn đề. Gã thủy thủ đích thị đã giữ Viên Đá Mặt Trăng trong tay khi rời khỏi ngân hàng ngày hôm trước.
Tôi lại cảm thấy vạt áo mình bị kéo. Quả Lý Gai vẫn chưa buông tha cho tôi.
“Vụ trộm cắp!” thằng bé thì thầm, chỉ tay về phía chiếc hộp trống không với vẻ hoan hỉ tột cùng.
“Bảo cháu đứng đợi ở dưới lầu cơ mà,” tôi nói. “Cút ra ngoài kia!”
“Và cả Giết người nữa!” Quả Lý Gai bổ sung, chỉ tay về phía cái xác trên giường với niềm phấn khích còn lớn hơn bội phần.
Có điều gì đó thật ghê tởm trong cái cách thằng bé tận hưởng sự kinh hoàng của cảnh tượng này, khiến tôi phải tóm lấy hai bvai nó và đẩy ra khỏi phòng.
Đúng vào khoảnh khắc tôi bước qua ngưỡng cửa, tôi nghe thấy giọng Thám tử Cuff gọi hỏi tôi đang ở đâu. Ông gặp tôi khi tôi quay lại phòng, và ép tôi phải đi cùng ông trở lại bên giường bệnh.
“Cậu Blake!” ông nói. “Hãy nhìn vào khuôn mặt gã này đi. Đó là một gương mặt được ngụy trang — và đây chính là bằng chứng!”
Ông dùng ngón tay vạch nhẹ một đường màu trắng bệch chạy ngược từ trán của xác chết, lẩn khuất giữa làn da ngăm đen và mái tóc đen đang hơi rối tung. “Hãy xem bên dưới lớp này có gì nào,” viên thám tử nói, đột ngột túm lấy mái tóc đen với một nắm tay chắc nịch.
Hệ thần kinh của tôi không đủ mạnh mẽ để chịu đựng cảnh đó. Tôi lại quay mặt đi chỗ khác khỏi chiếc giường.
Cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt tôi ở đầu bên kia căn phòng chính là Quả Lý Gai không thể kiềm chế được bản thân, đang trèo chỏng chéo lên một chiếc ghế, ngóng cổ với vẻ hồi hộp đến nghẹt thở qua đầu những người lớn tuổi hơn để xem các thao tác của viên thám tử.
“Hắn đang lột tóc giả đấy ngài ạ!” Quả Lý Gai thì thầm, tỏ vẻ thông cảm cho hoàn cảnh của tôi vì là người duy nhất trong phòng chẳng nhìn thấy gì.
Có một khoảng lặng — rồi tiếng kêu kinh ngạc vang lên từ những người vây quanh chiếc giường.
“Hắn vừa lột cả râu ra rồi!” Quả Lý Gai ré lên.
Lại có một khoảng lặng nữa — Thám tử Cuff đòi lấy thứ gì đó. Chủ quán chạy tới bàn rửa mặt và quay lại giường với một chậu nước cùng chiếc khăn bông.
Quả Lý Gai nhảy cẫng lên vì phấn khích trên chiếc ghế. “Lên đây với cháu đi ngài ơi! Hắn đang kỳ cọ rửa sạch cả lớp da ngăm giả mạo kìa!”
Viên thám tử đột ngột rẽ đám đông vây quanh mình, lao thẳng đến chỗ tôi đang đứng với vẻ mặt hằn in nỗi kinh hoàng.
“Quay lại giường đi cậu!” ông cất lời. Ông nhìn kỹ hơn vào mặt tôi và khựng lại. “Thôi khỏi!” ông nói tiếp. “Hãy mở bức thư niêm phong trước đi — bức thư tôi đưa cho cậu sáng nay.”
Tôi mở bức thư ra.
“Đọc cái tên mà tôi đã viết bên trong đi, thưa cậu Blake.”
Tôi đọc cái tên mà ông đã viết. Đó là — Godfrey Ablewhite.
“Bây giờ,” viên thám tử nói, “hãy đi cùng tôi và nhìn kỹ gã đàn ông trên chiếc giường kia.”
Tôi đi cùng ông và nhìn gã đàn ông trên giường.
GODFREY ABLEWHITE!