Nguyệt Thạch

Lượt đọc: 436 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chapter Viii

❊ ❊ ❊

Muộn hôm đó, tôi bất ngờ nhận được chuyến ghé thăm của ông Bruff tại phòng trọ.

Thái độ của vị luật sư có sự thay đổi rõ rệt. Nó không còn vẻ tự tin và hào hứng thường thấy. Ông bắt tay tôi trong im lặng—lần đầu tiên trong đời ông làm điều đó.

“Anh có quay lại Hampstead không?” tôi hỏi, cốt để nói một câu gì đó.

“Tôi vừa rời Hampstead,” ông đáp. “Tôi biết, anh Franklin, rằng cuối cùng anh đã chạm tới sự thật. Nhưng tôi nói thẳng với anh thế này, nếu tôi có thể lường trước cái giá phải trả cho nó, tôi đã thà để anh tiếp tục mò mẫm trong bóng tối.”

“Anh đã gặp Rachel rồi sao?”

“Tôi đến đây sau khi đưa con bé trở về Portland Place; thật không thể để nó tự mình về bằng xe ngựa. Tôi khó lòng có thể coi anh là người chịu trách nhiệm—nếu xét việc anh đã gặp con bé ở nhà tôi và được sự cho phép của tôi—cho cú sốc mà cuộc gặp gỡ bất hạnh này đã giáng lên nó. Tất cả những gì tôi có thể làm là ngăn chặn không để tai họa lặp lại. Con bé còn trẻ—nó có một tinh thần kiên quyết—rồi nó sẽ vượt qua chuyện này, với thời gian và sự nghỉ ngơi giúp sức. Tôi muốn được chắc chắn rằng anh sẽ không làm gì để cản trở quá trình hồi phục của nó. Tôi có thể trông cậy vào việc anh sẽ không cố gắng gặp lại con bé lần thứ hai—trừ khi có sự cho phép và đồng thuận của tôi chứ?”

“Sau những gì con bé đã gánh chịu, và sau những gì tôi đã gánh chịu,” tôi nói, “anh có thể tin tưởng ở tôi.”

“Tôi có được lời hứa của anh chứ?”

“Anh có lời hứa của tôi.”

Ông Bruff có vẻ nhẹ nhõm hơn. Ông đặt chiếc mũ xuống, và kéo ghế xích lại gần ghế của tôi.

“Thế là xong!” ông nói. “Giờ thì, bàn về tương lai—tương lai của anh ý tôi là thế. Theo suy nghĩ của tôi, kết quả từ ngã rẽ bất thường mà sự việc vừa mới bước vào tóm lại là thế này. Trước hết, chúng ta chắc chắn rằng Rachel đã nói với anh toàn bộ sự thật, rõ ràng hết mức mà ngôn từ có thể diễn đạt. Thứ hai—dù chúng ta biết rằng chắc chắn có một sự hiểu lầm khủng khiếp nào đó ở đâu đây—chúng ta khó lòng trách con bé vì đã tin rằng anh có tội, dựa trên chính chứng cứ từ các giác quan của nó; lại thêm sự hậu thuẫn cho chứng cứ ấy bởi những hoàn cảnh thoạt nhìn trông có vẻ chống lại anh hoàn toàn.”

Đến đây tôi liền ngắt lời. “Tôi không trách Rachel,” tôi nói. “Tôi chỉ tiếc là lúc đó con bé đã không thể tự thuyết phục mình nói năng với tôi rõ ràng hơn.”

“Anh cũng có thể tiếc rằng Rachel không phải là một ai khác cho rồi,” ông Bruff đáp lời. “Và ngay cả khi ấy, tôi nghi ngờ liệu một cô tiểu thư nhã nhặn nào, với trái tim đã hướng về việc kết hôn với anh, lại có thể nhẫn tâm sỉ nhục anh ngay trước mặt là một kẻ trộm hay không. Dù sao đi nữa, bản tính của Rachel không đời nào làm thế. Trong một vấn đề hoàn toàn khác với rắc rối này của anh—mặc dù nó cũng đẩy con bé vào một hoàn cảnh không hoàn toàn khác biệt so với tình cảnh của nó đối với anh—tôi vô tình biết rằng con bé đã bị chi phối bởi một động cơ tương tự như động cơ thúc đẩy hành vi của nó trong trường hợp của anh. Hơn nữa, như chính con bé đã nói với tôi trên đường về thành phố tối nay, giả sử lúc đó con bé có nói thẳng ra đi chăng nữa, thì nó cũng sẽ chẳng đời nào tin lời phủ nhận của anh khi ấy, y như cách mà bây giờ nó vẫn không tin vậy. Anh có thể đưa ra câu trả lời nào cho điều đó? Chẳng có câu trả lời nào cho nó cả. Thôi nào, thôi nào, anh Franklin! Quan điểm của tôi về vụ việc này đã chứng minh là hoàn toàn sai lầm, tôi thừa nhận đấy—nhưng tình hình hiện tại là thế, dẫu vậy lời khuyên của tôi có lẽ vẫn còn có giá trị đấy chứ. Tôi nói thẳng với anh, chúng ta sẽ chỉ hoài phí thời gian và vắt óc suy nghĩ vô ích, nếu cứ cố gắng quay ngược thời gian và gỡ rối cái mớ bòng bong khủng khiếp này từ đầu. Chúng ta hãy kiên quyết khép lại tâm trí đối với tất cả những gì đã xảy ra vào năm ngoái tại dinh thự đồng quê của phu nhân Verinder; và hãy nhìn về những gì chúng ta có thể khám phá được trong tương lai, thay vì những gì chúng ta không thể khám phá ở quá khứ.”

“Chắc là anh quên mất,” tôi nói, “rằng toàn bộ sự việc này về bản chất thuộc về quá khứ—với tư cách cá nhân tôi mà xét?”

“Hãy trả lời tôi điều này,” ông Bruff vặn lại. “Viên đá Nguyệt Thạch có nằm ở gốc rễ của mọi tai họa hay không—hay là không?”

“Đương nhiên là có.”

“Rất tốt. Chúng ta tin rằng điều gì đã xảy ra với viên Nguyệt Thạch, khi nó được mang đến Luân Đôn?”

“Nó đã bị đem cầm cố cho ông Luker.”

“Chúng ta biết rằng anh không phải là người đã đem nó đi cầm. Thế chúng ta có biết ai đã làm việc đó không?”

“Không.”

“Chúng ta tin rằng hiện giờ viên Nguyệt Thạch đang ở đâu?”

“Được gửi giữ trong tay ngân hàng của ông Luker.”

“Chính xác. Giờ thì hãy chú ý đây. Chúng ta đã bước sang tháng Sáu rồi. Khoảng cuối tháng này (tôi không thể nói chính xác từng ngày) sẽ tròn một năm kể từ thời điểm chúng ta tin rằng viên bảo thạch đã bị đem cầm. Có một cơ hội—nói cho phải phép là thế—rằng kẻ đã đem nó đi cầm đồ có thể sẽ chuẩn bị chuộc lại nó khi thời hạn một năm trôi qua. Nếu hắn chuộc lại nó, bản thân ông Luker—theo các điều khoản trong thỏa thuận của chính ông ta—sức mấy mà chẳng phải lấy viên Kim Cương ra khỏi tay ngân hàng của mình. Trong hoàn cảnh đó, tôi đề xuất việc cắt cử người mai phục theo dõi tại ngân hàng khi tháng này dần trôi về cuối, và tìm xem kẻ nhận lại viên Nguyệt Thạch từ tay ông Luker là ai. Anh đã hiểu ý chưa?”

Tôi đành thừa nhận (có phần miễn cưỡng) rằng dẫu sao thì ý tưởng đó cũng hoàn toàn mới mẻ.

“Đó là ý tưởng của ông Murthwaite cũng nhiều như của tôi vậy,” ông Bruff nói. “Nó có lẽ đã chẳng bao giờ xuất hiện trong đầu tôi, nếu không nhờ một cuộc trò chuyện giữa chúng ta cách đây ít lâu. Nếu ông Murthwaite đúng, có khả năng đám người Ấn Độ cũng đang lảng vảng rình rập ở ngân hàng vào khoảng cuối tháng—và điều gì đó nghiêm trọng có thể sẽ phát sinh từ chuyện đó. Chuyện gì xảy ra đi nữa thì cũng chẳng can gì đến anh và tôi, ngoại trừ việc nó có thể giúp chúng ta tóm cổ cái Gã vô danh bí ẩn đã đem cầm viên Kim Cương. Anh có thể tin chắc rằng, kẻ đó chính là người chịu trách nhiệm (tôi không dám chắc bằng cách nào) cho hoàn cảnh khốn đốn của anh vào lúc này; và chỉ có một mình kẻ đó mới có thể minh oan cho anh trong mắt Rachel.”

“Tôi không thể phủ nhận,” tôi nói, “rằng kế hoạch anh đề ra giải quyết khó khăn theo một cách rất táo bạo, rất tài tình, và rất mới mẻ. Nhưng——”

“Nhưng anh lại có điều muốn phản đối chứ gì?”

“Vâng. Sự phản đối của tôi là, đề xuất của anh buộc chúng ta phải chờ đợi.”

“Đồng ý. Theo tôi tính toán thời gian, nó đòi hỏi anh phải đợi khoảng nửa tháng—hơn kém một chút. Khoảng thời gian đó dài lắm sao?”

“Đó là cả một đời người đấy, ông Bruff, trong một hoàn cảnh như của tôi. Sự tồn tại của tôi sẽ trở nên vô cùng bất kham, trừ khi tôi làm điều gì đó để rửa sạch thanh danh của mình ngay lập tức.”

“Thôi được, thôi được, tôi hiểu điều đó chứ. Anh đã nghĩ ra mình có thể làm gì chưa?”

“Tôi đã nghĩ đến việc đi thỉnh giáo Thám tử Cuff.”

“Ông ấy đã giải nghệ khỏi ngành cảnh sát rồi. Thật vô ích khi mong đợi ngài Thám tử giúp đỡ anh.”

“Tôi biết chỗ tìm ông ấy; và tôi cứ thử xem sao.”

“Cứ thử đi,” ông Bruff nói sau một thoáng suy nghĩ. “Vụ án đã mang một diện mạo quá đổi lạ lùng kể từ thời của Thám tử Cuff, biết đâu anh có thể khơi lại hứng thú của ông ấy đối với cuộc điều tra này. Cứ thử xem, rồi cho tôi biết kết quả nhé. Trong lúc này,” ông tiếp tục, đứng dậy, “nếu anh không có phát hiện nào từ giờ cho đến cuối tháng, liệu tôi có được tự do thử sức xem mình có thể làm gì bằng cách canh chừng tại ngân hàng hay không?”

“Chắc chắn rồi,” tôi đáp—“trừ phi tôi giải phóng anh khỏi mọi nhu cầu phải thử nghiệm việc đó trong khoảng thời gian này.”

Ông Bruff mỉm cười và cầm lấy chiếc mũ.

“Hãy nói với Thám tử Cuff,” ông nhắn nhủ, “rằng tôi cho rằng việc khám phá ra sự thật phụ thuộc vào việc tìm ra kẻ đã đem cầm viên Kim Cương. Và hãy cho tôi biết kinh nghiệm của ngài Thám tử nói gì về điều đó nhé.”

Thế là chúng tôi chia tay.

Sáng sớm hôm sau, tôi lên đường đến thị trấn nhỏ Dorking—nơi nghỉ hưu của Thám tử Cuff, theo chỉ dẫn mà Betteredge đã cung cấp cho tôi.

Khi hỏi thăm tại khách sạn, tôi nhận được những chỉ dẫn cần thiết để tìm đến ngôi nhà tranh của ngài Thám tử. Nơi đó được tiếp cận bằng một con đường nhỏ yên tĩnh, cách xa thị trấn một quãng ngắn, và nằm ấm cúng ở giữa mảnh vườn riêng của nó, được bảo vệ bởi một bức tường gạch kiên cố ở phía sau và hai bên, cùng một hàng rào cây xanh cao ở phía trước. Cổng vào, được trang trí ở phần trên bằng những khung mắt cáo sơn vẽ khang trang, đã bị khóa. Sau khi kéo chuông, tôi nhòm qua khung mắt cáo, và thấy loài hoa yêu thích của ngài Cuff vĩ đại xuất hiện ở khắp nơi; đang nở rộ trong khu vườn của ông, leo lùm quanh khung cửa, dòm vào những khung cửa sổ. Tránh xa những tội ác và những điều bí ẩn của thành phố lớn, vị thám tử lừng danh đang bình thản sống những năm tháng hưởng lạc cuối đời của mình, đắm chìm giữa các khóm hoa hồng!

Một người phụ nữ lớn tuổi lịch sự ra mở cổng cho tôi, và ngay lập tức dập tắt mọi hy vọng mà tôi đã dựng xây về việc tranh thủ sự hỗ trợ của Thám tử Cuff. Ông ấy đã lên đường, mới từ ngày hôm trước, trong một chuyến đi đến Ireland.

“Ông ấy đến đó vì công chuyện phải không?” tôi hỏi.

Người phụ nữ mỉm cười. “Bây giờ ngài ấy chỉ có mỗi một công chuyện thôi thưa ngài,” bà nói; “và đó là hoa hồng. Người làm vườn của một nhân vật lớn nào đó ở Ireland đã phát hiện ra điều gì đó mới mẻ trong việc trồng hoa hồng—và ngài Cuff đã đi để tìm hiểu về nó.”

“Bà có biết khi nào ông ấy sẽ về không?”

“Hoàn toàn không chắc chắn đâu thưa ngài. Ngài Cuff nói ngài sẽ về ngay lập tức, hoặc đi vắng một thời gian, tùy thuộc vào việc ngài thấy phát hiện mới đó chẳng có giá trị gì, hay là đáng để tìm hiểu thêm. Nếu ngài có lời nhắn nào muốn để lại cho ngài ấy, thưa ngài, tôi sẽ đảm bảo ngài ấy nhận được.”

Tôi đưa cho bà ta danh thiếp của mình, sau khi đã viết nguệch ngoạc bằng bút chì lên đó: “Tôi có vài điều muốn nói về viên Nguyệt Thạch. Hãy cho tôi hay tin ngay khi ông về tới.” Làm xong việc đó, chẳng còn cách nào khác ngoài việc đành chịu phó mặc cho hoàn cảnh, và quay trở lại Luân Đôn.

Trong tâm trạng cáu kỉnh của tôi vào thời điểm tôi đang viết đây, kết quả công cốc từ chuyến đi đến ngôi nhà tranh của ngài Thám tử chỉ càng làm trầm trọng thêm sự thúc bách bồn chồn muốn làm một cái gì đó trong tôi. Vào ngày tôi từ Dorking trở về, tôi đã quyết định rằng sáng hôm sau tôi sẽ lao vào một nỗ lực mới nhằm phá vỡ mọi trở ngại, đi từ bóng tối ra ánh sáng.

Thí nghiệm tiếp theo của tôi sẽ mang hình thức gì đây?

Nếu người tốt bụng Betteredge có mặt lúc tôi đang cân nhắc câu hỏi đó, và nếu ông ấy được cho biết bí mật về những suy nghĩ của tôi, chắc chắn ông ấy sẽ tuyên bố rằng khía cạnh Đức quốc trong con người tôi lúc này mới là khía cạnh lấn át hơn cả. Nói một cách nghiêm túc, có lẽ sự huấn luyện theo kiểu Đức của tôi phần nào phải chịu trách nhiệm cho mê cung những phỏng đoán vô tích sự mà tôi đã tự dấn thân vào lúc này. Hầu như suốt cả đêm hôm đó, tôi ngồi hút thuốc và dựng lên các giả thuyết hết cái nọ đến cái kia, cái sau càng khó có khả năng xảy ra hơn cái trước. Khi tôi thực sự chìm vào giấc ngủ, những hoang tưởng ban ngày cứ bám đuổi tôi trong những giấc mơ. Tôi thức dậy vào sáng hôm sau, với tư duy Khách quan-Chủ quan và Chủ quan-Khách quan vướng víu chặt chẽ vào nhau trong tâm trí; và tôi bắt đầu ngày mới—ngày sẽ chứng kiến nỗ lực hành động thiết thực tiếp theo nào đó của tôi—bằng việc hoài nghi xem liệu mình có chút quyền hạn nào (trên các cơ sở thuần túy triết học) để coi bất cứ thứ gì (kể cả viên Kim Cương) là thực sự tồn tại hay không.

Tôi có thể đã mãi chìm đắm trong sương mù của chính những lý thuyết siêu hình của mình trong bao lâu nữa, nếu cứ để tự mình gỡ rối, thì tôi chịu không thể nói được. Như sự kiện đã chứng minh, tai nạn đã đến giải cứu tôi và cứu rỗi tôi một cách hạnh phúc. Hôm đó, tình cờ tôi mặc chiếc áo khoác y hệt chiếc tôi đã mặc vào ngày có cuộc gặp gỡ với Rachel. Khi lục tìm thứ gì đó trong một chiếc túi, tôi chạm phải một mảnh giấy nhàu nát, và khi lấy nó ra, tôi nhận ra lá thư đã bị bỏ quên của Betteredge đang nằm trong tay mình.

Thật tệ nếu cứ để người bạn già tốt bụng của mình mà không có lấy một lời hồi đáp. Tôi bước đến bàn viết và đọc lại bức thư của ông.

Một bức thư chẳng có lấy một chút nội dung quan trọng nào thì không phải lúc nào cũng dễ đáp lời. Lần giao tiếp hiện tại của Betteredge với tôi lại rơi vào loại này. Trợ lý của ông Candy, hay nói cách khác là Ezra Jennings, đã nói với chủ rằng ông ta đã nhìn thấy tôi; và đổi lại, ông Candy muốn gặp tôi và nói với tôi vài điều vào lần tới khi tôi có dịp đến vùng lân cận Frizinghall. Phải đáp lại điều đó thế nào cho đáng giá với tờ giấy viết đây? Tôi thừ người ngồi phác họa lại từ trí nhớ hình ảnh người trợ lý có ngoại hình kỳ lạ của ông Candy lên chính tờ giấy mà tôi đã tự thề dâng hiến cho Betteredge—cho đến khi tôi chợt nhận ra rằng gã Ezra Jennings cứ bám dai như đỉa này lại đang ngáng đường tôi lần nữa! Tôi ném ít nhất là một tá bức chân dung của gã đàn ông có mái tóc đốm màu (với mái tóc trong bức họa nào cũng giống y chang một cách kỳ lạ) vào sọt rác—và ngay tại chỗ đó, tôi viết thư trả lời Betteredge. Đó chỉ là một bức thư hoàn toàn bình thường—nhưng nó lại mang lại cho tôi một tác dụng tuyệt vời. Sự cố gắng viết ra vài câu bằng thứ tiếng Anh giản dị đã hoàn toàn tẩy sạch khỏi tâm trí tôi đám bọt bèo vô nghĩa đầy mây mù đã lấp đầy nó kể từ ngày hôm trước.

Lại một lần nữa cống hiến hết mình cho việc giải mã câu đố không tài nào thấu nổi mà hoàn cảnh của chính tôi bày ra trước mắt, giờ đây tôi cố gắng đối mặt với khó khăn bằng cách nghiên cứu nó từ một góc độ thực tế rạch ròi. Các sự kiện của đêm đáng nhớ ấy vẫn còn là một ẩn số đối với tôi, tôi bèn nhìn ngược về phía trước một chút và lục lọi ký ức của mình về những giờ đầu tiên của ngày sinh nhật để tìm bất kỳ sự cố nào có thể chứng tỏ sự giúp đỡ nào đó cho tôi trong việc tìm ra manh mối.

Đã có chuyện gì xảy ra trong lúc Rachel và tôi hoàn thiện bức cửa được sơn? hay sau đó, khi tôi cưỡi ngựa sang Frizinghall? hoặc sau nữa, khi tôi quay về cùng Godfrey Ablewhite và các chị em của anh ta? hay muộn hơn nữa, khi tôi trao viên Nguyệt Thạch vào tay Rachel? hay muộn hơn thế nữa, khi các vị khách đến và tất cả chúng ta cùng quây quần bên bàn ăn tối? Ký ức của tôi giải quyết chuỗi câu hỏi đó khá dễ dàng, cho đến khi tôi chạm đến câu hỏi cuối cùng. Nhìn lại sự kiện xã giao là bữa tối sinh nhật, tôi thấy mình bị chặn đứng ngay từ bước khởi đầu của cuộc điều tra. Thậm chí tôi còn không đủ sức nhớ chính xác số lượng các vị khách đã ngồi cùng bàn với tôi.

Cảm giác thấy mình hoàn toàn bế tắc ở điểm này, và do đó đi đến kết luận rằng các sự kiện của bữa tối có lẽ sẽ đền đáp xứng đáng cho công sức điều tra chúng, đã trở thành những phần trong cùng một quá trình tư duy nơi tôi. Tôi tin rằng những người khác, trong một hoàn cảnh tương tự, cũng sẽ suy luận giống như tôi. Khi việc theo đuổi lợi ích của chính mình khiến chúng ta trở thành đối tượng để chính ta tra vấn, chúng ta vốn dĩ mang sẵn sự nghi ngờ đối với những gì mình không biết. Một khi đã nắm trong tay tên của những vị khách có mặt tại bữa tối, tôi quyết định—như một phương tiện để làm phong phú thêm nguồn lực nghèo nàn của trí nhớ chính mình—sẽ kêu gọi trí nhớ của những vị khách còn lại; viết ra tất cả những gì họ có thể hồi tưởng về các sự kiện xã giao của ngày sinh nhật; và kiểm tra kết quả thu được bằng ánh sáng của những gì đã xảy ra sau đó, khi đám đông khách khứa đã rời khỏi nhà.

Thí nghiệm mới nhất và muộn màng nhất trong số rất nhiều thí nghiệm về nghệ thuật điều tra mà tôi từng ấp ủ này—điều mà Betteredge có lẽ sẽ quy cho khía cạnh minh mẫn, hay khía cạnh Pháp quốc của tôi đang lấn át vào khoảnh khắc đó—hoàn toàn có quyền ghi danh vào đây dựa trên những giá trị tự thân của nó. Dù có vẻ khó xảy ra đến đâu, thì giờ đây tôi thực sự đã mày mò tìm được đến tận gốc rễ của vấn đề. Tất cả những gì tôi cần chỉ là một gợi ý để dẫn đường cho tôi đi đúng hướng ngay từ vạch xuất phát. Trước khi một ngày nữa trôi qua đời tôi, gợi ý đó đã được trao cho tôi bởi một trong những vị khách từng có mặt tại bữa tiệc sinh nhật!

Với kế hoạch tiến hành mà tôi hiện đang vạch ra trong đầu, điều đầu tiên cần thiết là phải có được danh sách đầy đủ các vị khách. Tôi có thể dễ dàng lấy được điều này từ Gabriel Betteredge. Tôi quyết định sẽ quay lại Yorkshire vào ngày hôm đó, và bắt đầu cuộc điều tra đã dự tính của mình vào sáng hôm sau.

Lúc đó đã vừa quá muộn để khởi hành bằng chuyến tàu rời Luân Đôn trước buổi trưa. Không còn cách nào khác ngoài việc phải đợi gần ba tiếng đồng hồ cho đến giờ xuất phát của chuyến tàu kế tiếp. Liệu có việc gì tôi có thể làm ở Luân Đôn để tận dụng khoảng thời gian trống này một cách hữu ích không?

Suy nghĩ của tôi lại ngoan cố quay trở lại bữa tối sinh nhật.

Mặc dù tôi đã quên mất số lượng, và trong nhiều trường hợp là cả tên của các vị khách, nhưng tôi nhớ rõ ràng rằng phần lớn áp đảo trong số họ đến từ Frizinghall, hoặc từ vùng lân cận của nó. Nhưng phần lớn không có nghĩa là tất cả. Một vài người trong số chúng tôi không phải là cư dân thường trú ở vùng quê. Bản thân tôi là một trong số ít đó. Ông Murthwaite là người thứ hai. Godfrey Ablewhite là người thứ ba. Ông Bruff—không: tôi sực nhớ ra rằng công chuyện đã ngăn cản ông Bruff không thể trở thành một trong số những vị khách hôm đó. Có bất kỳ vị nữ khách nào hiện diện mà nơi cư trú thường xuyên là ở Luân Đôn không? Tôi chỉ có thể nhớ mỗi cô Clack là nằm trong diện này. Dù sao đi nữa, dẫu sao thì đây cũng là ba vị khách mà rõ ràng tôi nên gặp trước khi rời khỏi thành phố. Tôi lập tức lái xe thẳng đến văn phòng của ông Bruff; vì không biết địa chỉ của những người tôi đang tìm kiếm, và nghĩ rằng có lẽ ông ấy sẽ chỉ đường cho tôi tìm ra họ.

Hóa ra ông Bruff quá bận rộn để có thể cho tôi quá một phút quỹ thời gian quý báu của ông. Tuy nhiên, trong đúng một phút đó, ông đã xoay sở để tống khứ—theo cách nản lòng nhất có thể—tất cả những câu hỏi mà tôi định đặt ra cho ông.

Trước hết, ông coi phương pháp tìm kiếm manh mối mới được phát hiện của tôi chỉ là một thứ quá viển vông để có thể đem ra bàn thảo một cách nghiêm túc. Thứ hai, thứ ba, và thứ tư, ông Murthwaite hiện đang trên đường quay lại nơi diễn ra những cuộc phiêu lưu trước đây của ông; cô Clack đã gánh chịu những mất mát, và đã định cư ở Pháp vì lý do tiết kiệm; còn ông Godfrey Ablewhite có thể có, hoặc có thể không có mặt đâu đó ở Luân Đôn để mà tìm. Hay là tôi thử dò hỏi ở câu lạc bộ của anh ta xem sao? Và hay là tôi thứ lỗi cho ông Bruff, nếu ông quay trở lại với công việc của mình và chúc tôi một buổi sáng tốt lành?

Lĩnh vực điều tra ở Luân Đôn lúc này đã bị thu hẹp đến mức chỉ còn bao gồm mỗi một nhu cầu thiết yếu là tìm ra địa chỉ của Godfrey, tôi liền nghe theo gợi ý của vị luật sư và lái xe thẳng đến câu lạc bộ của anh ta.

Ở sảnh đợi, tôi gặp một thành viên vốn là bạn cũ của người anh họ tôi, và đồng thời cũng là người quen của chính tôi. Quý ông này, sau khi khai sáng cho tôi về vấn đề địa chỉ của Godfrey, đã kể cho tôi nghe về hai sự kiện gần đây trong cuộc đời anh ta, vốn mang tầm quan trọng nhất định tự thân chúng, và trước đó chưa từng lọt đến tai tôi.

Hóa ra Godfrey, chẳng những không hề nản lòng trước việc Rachel rút lại hôn ước với anh ta, mà lại còn đánh tiếng cầu hôn chẳng bao lâu sau đó với một tiểu thư khác, nổi tiếng là một đại tiểu thư thừa kế gia tài kếch xù. Cuộc theo đuổi của anh ta đã suôn sẻ, và cuộc hôn nhân của họ từng được xem là chuyện ván đã đóng thuyền chắc chắn. Thế nhưng, một lần nữa ở đây, hôn ước lại bất ngờ bị hủy bỏ—theo lời đồn đại, nhân dịp này là do một sự bất đồng quan điểm nghiêm trọng giữa chú rể và thân phụ của cô dâu về vấn đề phân chia tài sản.

Như một sự bù đắp cho thảm họa hôn nhân thứ hai này, chẳng bao lâu sau, Godfrey thấy mình trở thành đối tượng được tưởng nhớ đầy ân tình về mặt tiền bạc từ phía một trong số rất nhiều nữ ngưỡng mộ của anh ta. Một bà lão giàu có—rất được kính trọng tại Hội Cải hoán Quần áo Nhỏ cho Trẻ mồ côi của các Bà mẹ, và là bạn thân của cô Clack (người mà bà chẳng để lại gì ngoài một chiếc nhẫn tang)—đã để lại cho anh chàng Godfrey đáng kính và có công trạng một khoản di sản trị giá năm nghìn bảng Anh. Sau khi nhận được khoản bổ sung hậu hĩnh này vào nguồn tài chính khiêm tốn của riêng mình, người ta đã nghe thấy anh ta thổ lộ rằng anh ta cảm thấy cần phải nghỉ ngơi đôi chút khỏi những lao động từ thiện của mình, và bác sĩ của anh ta đã kê đơn "một chuyến đi chơi sang Lục địa, có lẽ sẽ đem lại nhiều lợi ích lớn cho sức khỏe trong tương lai." Nếu tôi muốn gặp anh ta, tốt nhất là nên khẩn trương thực hiện chuyến viếng thăm đã dự tính của mình.

Thế là tôi đến thẳng nơi để thực hiện cuộc ghé thăm đó.

Chính thứ định mệnh trớ trêu đã khiến tôi đến chậm mất đúng một ngày khi ghé thăm Thám tử Cuff, lại một lần nữa khiến tôi chậm mất một ngày khi đến tìm Godfrey. Anh ta đã rời Luân Đôn vào sáng hôm trước, trên chuyến tàu thủy theo thủy triều, để đến Dover. Anh ta sẽ vượt biển sang Ostend; và người hầu của anh ta tin rằng anh ta sẽ đi tiếp đến Bruxelles. Thời gian trở về của anh ta khá bấp bênh; nhưng tôi có thể chắc chắn là anh ta sẽ vắng mặt ít nhất là ba tháng.

Tôi quay trở lại phòng trọ với tâm trạng có phần chùng xuống. Ba trong số các vị khách tại bữa tối sinh nhật—và cả ba người đó đều là những con người cực kỳ thông minh—đều nằm ngoài tầm với của tôi, đúng ngay vào thời điểm mà việc có thể liên lạc với họ là quan trọng nhất. Những hy vọng cuối cùng của tôi giờ đây đặt trọn vào Betteredge, và vào những người bạn của cố phu nhân Verinder mà tôi vẫn có thể tìm thấy đang sinh sống ở vùng lân cận dinh thự đồng quê của Rachel.

Trong dịp này, tôi đi thẳng đến Frizinghall—thị trấn hiện là tâm điểm trong vùng tìm kiếm của tôi. Tôi đến nơi vào buổi chiều tối quá muộn để có thể liên lạc với Betteredge. Sáng hôm sau, tôi cử một người mang thư đi, yêu cầu ông ấy đến hội ngộ với tôi tại khách sạn vào lúc sớm nhất có thể.

Do đã cẩn thận—một phần để tiết kiệm thời gian, một phần để tạo sự thuận tiện cho Betteredge—gửi người đưa thư đi bằng một chiếc xe ngựa cho thuê, tôi có một viễn cảnh hợp lý là sẽ gặp lại ông lão chưa đầy hai tiếng đồng hồ kể từ lúc tôi phái người đi gọi, miễn là không có sự cố chậm trễ nào xảy ra. Trong khoảng thời gian này, tôi sắp xếp để tự bận rộn bằng cách bắt đầu cuộc điều tra đã dự tính của mình giữa các vị khách có mặt tại bữa tối sinh nhật vốn là những người quen cũ cá nhân và ở ngay trong tầm với của tôi. Đó chính là những họ hàng của tôi, gia đình nhà Ablewhite, và ông Candy. Vị bác sĩ đã bày tỏ một mong muốn đặc biệt được gặp tôi, và nhà vị bác sĩ lại nằm ở con phố bên cạnh. Thế là tôi đi tìm ông Candy trước tiên.

Sau những gì Betteredge đã kể cho tôi, tôi dĩ nhiên lường trước việc sẽ tìm thấy những dấu vết của cơn bạo bệnh mà ông đã phải chịu đựng hằn in trên khuôn mặt vị bác sĩ. Nhưng tôi hoàn toàn không chuẩn bị tinh thần cho một sự thay đổi lớn đến thế ở ông khi ông bước vào phòng và bắt tay tôi. Đôi mắt ông mờ đục; mái tóc đã bạc trắng hoàn toàn; khuôn mặt hóp lại; vóc dáng teo tóp. Tôi nhìn vị bác sĩ nhỏ con từng rất hoạt bát, bắng nhúng, hài hước—người mà trong ký ức của tôi gắn liền với việc phạm phải những sự thiếu tế nhị xã giao không tài nào sửa chữa được và vô số những trò đùa giỡn như thời niên thiếu—và tôi chẳng thấy còn sót lại chút gì ở ông của con người trước kia nữa, ngoại trừ xu hướng cũ là sự chưng diện phô trương đến mức phàm tục trong cách ăn mặc. Con người đó nay chỉ còn là một cái xác xơ xác; nhưng trang phục và đồ trang sức của ông—như một sự chế giễu tàn nhẫn đối với sự thay đổi nơi ông—vẫn rực rỡ và lòe loẹt như ngày nào.

“Tôi vẫn thường hay nghĩ đến anh, anh Blake,” ông nói; “và tôi vô cùng vui mừng cuối cùng lại được gặp lại anh. Nếu có bất cứ điều gì tôi có thể làm cho anh, xin hãy cứ sai bảo dịch vụ của tôi, thưa anh—xin cứ sai bảo dịch vụ của tôi!”

Ông thốt ra những lời xã giao cụt lủn ấy với một vẻ vội vã và háo hức chẳng mấy cần thiết, cùng với một sự tò mò muốn biết điều gì đã đưa tôi đến Yorkshire, thứ mà ông hoàn toàn—tôi có thể nói là một cách ngây thơ trẻ con—bất lực trong việc che giấu khỏi ánh mắt người ngoài.

Với mục tiêu mà tôi đang hướng tới, tôi dĩ nhiên đã lường trước sự cần thiết phải đi sâu vào một số lời giải thích cá nhân nào đó, trước khi có thể hy vọng thu hút sự quan tâm của những con người đa phần là xa lạ đối với tôi trong việc dốc sức hỗ trợ cuộc điều tra của mình. Trên chuyến hành trình đến Frizinghall, tôi đã sắp xếp sẵn lời giải thích của mình sẽ ra sao—và tôi chớp lấy cơ hội hiện ra trước mắt để thử nghiệm hiệu quả của nó lên ông Candy.

“Hôm nọ tôi có ở Yorkshire, và giờ tôi lại ở Yorkshire vì một sứ mệnh có phần lãng mạn,” tôi nói. “Đó là một vấn đề, thưa ông Candy, mà tất cả những người bạn của cố phu nhân Verinder đều có chung sự quan tâm. Chắc ông vẫn nhớ vụ mất tích bí ẩn của viên Kim Cương Ấn Độ, nay đã gần tròn một năm rồi chứ? Gần đây có những hoàn cảnh xảy ra dẫn đến hy vọng rằng nó vẫn có thể được tìm thấy—và với tư cách là một thành viên trong gia đình, tôi đang tự mình quan tâm đến việc thu hồi nó. Nằm trong số những trở ngại trên con đường của tôi, là sự cần thiết phải thu thập lại toàn bộ các chứng cứ đã được khám phá vào thời điểm đó, và nếu có thể thì nhiều hơn thế nữa. Có những điểm đặc thù trong vụ án này khiến cho việc khơi gợi lại trí nhớ của tôi về mọi thứ đã xảy ra trong nhà vào buổi tối ngày sinh nhật của tiểu thư Verinder trở nên đáng khao khát. Và tôi mạo muội kêu gọi những người bạn của cố phu nhân từng có mặt vào dịp đó, ban ơn cho tôi sự trợ giúp từ ký ức của họ——”

Tôi mới chỉ diễn tập được đến chừng đó trong các cụm từ giải thích của mình, thì bỗng bị khựng lại khi nhìn thấy rõ mồn một trên nét mặt ông Candy rằng cuộc thử nghiệm của tôi trên người ông đã thất bại hoàn toàn.

Vị bác sĩ nhỏ con cứ ngồi bứt rứt cấu véo các đầu ngón tay suốt khoảng thời gian tôi đang nói. Đôi mắt mờ đục đẫm nước của ông dán chặt vào mặt tôi với một biểu hiện tra vấn ngẩn ngơ và đượm buồn trông đến là đau lòng. Không tài nào đoán được ông đang suy nghĩ cái gì. Điều duy nhất có thể nhìn thấy rõ là tôi đã thất bại, ngay từ hai hay ba từ đầu tiên, trong việc thu hút sự tập trung của ông. Cơ hội duy nhất để kéo ông trở lại với thực tại dường như nằm ở việc thay đổi chủ đề. Tôi lập tức thử ngay một đề tài mới.

“Bấy nhiêu đó thôi,” tôi vui vẻ nói, “cho lý do đưa tôi đến Frizinghall! Giờ thì, thưa ông Candy, đến lượt ông. Ông đã gửi cho tôi một lời nhắn qua tay Gabriel Betteredge——”

Ông ngừng cấu véo các ngón tay, và bỗng chốc rạng rỡ hẳn lên.

“Đúng! Đúng! Đúng!” ông hào hứng kêu lên. “Đúng rồi đấy! Tôi đã gửi lời nhắn cho anh!”

“Và Betteredge đã truyền đạt lại chu đáo bằng thư từ,” tôi nói tiếp. “Ông có điều muốn nói với tôi vào lần tới khi tôi có dịp ghé qua vùng lân cận của ông. Chà, thưa ông Candy, tôi đây rồi!”

“Anh đây rồi!” vị bác sĩ phụ họa. “Và Betteredge đã hoàn toàn đúng. Tôi có chuyện muốn nói với anh. Đó chính là lời nhắn của tôi. Betteredge là một con người tuyệt vời. Thật là một trí nhớ siêu phàm! Ở độ tuổi của ông ấy, thế mà lại có một trí nhớ siêu phàm!”

Ông lại chìm vào im lặng, và bắt đầu cấu véo các ngón tay trở lại. Nhớ lại những gì tôi đã nghe từ Betteredge về tác động của cơn sốt đối với trí nhớ của ông, tôi tiếp tục cuộc trò chuyện với hy vọng có thể giúp ông bắt nhịp từ đầu.

“Đã lâu lắm rồi chúng ta không gặp nhau,” tôi nói. “Lần cuối chúng ta nhìn thấy nhau là tại bữa tiệc sinh nhật cuối cùng mà người dì tội nghiệp của tôi tổ chức.”

“Đúng thế!” ông Candy kêu lên. “Bữa tối sinh nhật!” Ông bất giác vùng dậy khỏi chỗ ngồi và nhìn tôi. Một cơn đỏ bừng bất chợt lan tỏa khắp khuôn mặt đã phai tàn của ông, và ông đột ngột ngồi phịch xuống lại, như thể nhận thức được rằng mình vừa để lộ ra một điểm yếu mà ông rất muốn giấu giếm. Thật hiển nhiên, một cách đáng thương hại là đằng khác, rằng ông hoàn toàn ý thức được khiếm khuyết về trí nhớ của chính mình, và ông đang quyết tâm che giấu nó khỏi sự quan sát của bạn bè.

Cho đến lúc này, ông mới chỉ khơi gợi lòng trắc ẩn của tôi mà thôi. Nhưng những lời ông vừa thốt ra—dù ít ỏi biết bao—đã ngay lập tức kích thích sự tò mò của tôi lên đến đỉnh điểm. Bữa tối sinh nhật đã trở thành sự kiện độc nhất trong quá khứ mà tôi nhìn lại với những cảm xúc pha trộn kỳ lạ giữa hy vọng và sự hoài nghi. Và đây rồi, bữa tối sinh nhật đã không thể nhầm lẫn tự tuyên bố mình chính là chủ đề mà ông Candy có điều quan trọng muốn nói với tôi!

Tôi lại thử giúp ông một tay lần nữa. Nhưng lần này, chính lợi ích cá nhân của tôi mới là động cơ thúc đẩy lòng trắc ẩn của tôi, và chúng giục giã tôi tiến tới một cách hơi quá vội vã hướng tới cái đích mà tôi đang nhắm đến.

“Đã gần một năm rồi,” tôi nói, “kể từ khi chúng ta ngồi bên chiếc bàn dễ chịu đó. Ông có ghi chép lại điều gì không—trong nhật ký, hay cách nào khác—về những điều ông muốn nói với tôi?”

Ông Candy đã hiểu được gợi ý đó, và cho tôi thấy rằng ông hiểu nó như một sự sỉ nhục.

“Tôi chẳng cần đến ghi chép nào đâu, thưa anh Blake,” ông cứng nhắc đáp. “Tôi chưa đến nỗi già khú đế như thế—và trí nhớ của tôi (tạ ơn Chúa) hoàn toàn có thể tin cậy được!”

Thật không cần phải nói thêm rằng tôi từ chối việc hiểu rằng ông đang cảm thấy bị xúc phạm bởi tôi.

“Ước gì tôi cũng có thể nói được điều tương tự về trí nhớ của mình,” tôi đáp. “Khi tôi cố gắng suy ngẫm về những vấn đề đã cách nay một năm, hiếm khi tôi thấy trí nhớ của mình còn được sống động như điều tôi hằng mong ước. Lấy bữa tối tại nhà phu nhân Verinder làm ví dụ chẳng hạn——”

Ông Candy lại bừng sáng ngay khoảnh khắc câu ám chỉ vừa lướt qua môi tôi.

“À! Bữa tối, bữa tối tại nhà phu nhân Verinder chứ gì!” ông thốt lên, hào hứng hơn bao giờ hết. “Tôi có điều muốn nói với anh về chuyện đó đấy.”

Đôi mắt ông lại nhìn tôi với biểu hiện đau đớn của sự tra vấn, đầy đượm buồn, đầy ngẩn ngơ, đầy thảm hại và bất lực trong việc dò xét. Rõ ràng là ông đang cố gắng hết sức, nhưng hoàn toàn vô ích, để khôi phục lại ký ức đã mất. “Đó là một bữa tối rất tuyệt,” ông bỗng thốt lên đột ngột, với vẻ như đang nói đúng những gì ông muốn nói. “Một bữa tối rất tuyệt phải không anh Blake?” Ông gật đầu và mỉm cười, và có vẻ như nghĩ rằng, tội nghiệp anh ta, bản thân mình đã thành công trong việc che giấu sự thất bại hoàn toàn của trí nhớ bằng một sự tự chủ đúng lúc.

Mọi chuyện thật quá đau lòng đến nỗi tôi lập tức chuyển hướng câu chuyện—dù cho tôi có quan tâm sâu sắc đến mức nào đi nữa việc ông khôi phục lại ký ức đã mất—sang những đề tài mang tính chất địa phương.

Ở đây, ông bắt nhịp trôi chảy hơn hẳn. Những vụ bê bối và cãi vã vặt vãnh vớ vẩn trong thị trấn, một số trong số đó đã kéo dài tới cả tháng trời, dường như lại hiện về trong trí nhớ ông một cách dễ dàng. Ông huyên thuyên trò chuyện, với một chút sự trôi chảy tán gẫu suôn sẻ như trước kia. Thế nhưng vẫn có những khoảnh khắc, ngay cả trong dòng chảy dạt dào của sự lắm lời đó, khi ông bất chợt ngập ngừng—nhìn tôi một thoáng với ánh mắt dò hỏi ngẩn ngơ thêm lần nữa—rồi tự nén lại—và lại tiếp tục nói. Tôi kiên nhẫn chịu đựng màn tra tấn của mình (chẳng phải đây là một sự tra tấn đối với một kẻ mang tư tưởng đồng điệu toàn cầu khi phải tiếp thu trong sự im lặng cam chịu những tin tức từ một thị trấn tỉnh lẻ hay sao?) cho đến khi chiếc đồng hồ trên lò sưởi báo cho tôi biết rằng chuyến viếng thăm của mình đã kéo dài quá nửa tiếng đồng hồ. Giờ đây đã có chút quyền được coi sự hy sinh là đã hoàn tất, tôi đứng dậy xin phép ra về. Khi chúng tôi bắt tay nhau, ông Candy lại tự ý quay trở lại với lễ hội sinh nhật.

“Tôi rất vui vì chúng ta lại được gặp nhau,” ông nói. “Tôi cứ canhánh cánh trong lòng—thực sự là tôi cứ canh cánh trong lòng điều đó, thưa anh Blake, muốn được nói chuyện với anh. Về bữa tối ở nhà phu nhân Verinder ấy nhỉ? Một bữa tối tuyệt—thực sự là một bữa tối tuyệt phải không nào?”

Khi lặp lại cụm từ đó, ông có vẻ không còn cảm thấy chắc chắn lắm về việc liệu mình có ngăn chặn được việc tôi nghi ngờ sự suy giảm trí nhớ của ông hay không, giống như cảm giác của ông trong lần đầu tiên. Vẻ mặt đượm buồn lại bao phủ lấy khuôn mặt ông; và sau khi thoạt trông có vẻ định tiễn tôi ra tới cửa đường phố, ông bỗng thay đổi ý định, bấm chuông gọi người hầu, và ở lại phòng khách.

Tôi chậm rãi bước xuống những bậc cầu thang của vị bác sĩ, mang theo một nỗi niềm xác tín đầy nản lòng rằng ông thực sự có điều gì đó quan trọng muốn nói mà việc được nghe nó là tối quan trọng đối với tôi, thế nhưng ông lại hoàn toàn bất lực về mặt đạo đức trong việc thốt ra điều đó. Sự nỗ lực nhớ ra rằng mình muốn nói chuyện với tôi, có lẽ quá hiển nhiên, là nỗ lực duy nhất mà trí nhớ suy tàn của ông giờ đây có thể đạt được.

Ngay lúc tôi đặt chân tới thềm cuối của cầu thang, và rẽ qua một góc trên đường hướng ra sảnh ngoài, một cánh cửa khẽ mở ra đâu đó ở tầng trệt của ngôi nhà, và một giọng nói nhẹ nhàng vang lên sau lưng tôi:—

“Tôi e rằng, thưa anh, anh thấy ông Candy đã thay đổi đi rất nhiều phải không?”

Tôi quay người lại, và thấy mình đang đối mặt với Ezra Jennings.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Wilkie Collins

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.