SỰ CAN THIỆP VÀ HIỆN TƯỢNG LỢN LÀNH CHỮA THÀNH LỢN QUÈ

Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7sự Can Thiệp Ngây Thơ
Chương 7sự Can Thiệp Ngây Thơ

❊ ❊ ❊

Phẫu thuật cắt amiđan để giết thời gian - Không bao giờ làm ngay hôm nay những gì có thể để đến mai - Hãy dự đoán các cuộc nổi dậy sau khi đã xảy ra - Bài học trong chơi bài xì dách

Ta hãy xem nhu cầu “phải làm gì đó” thông qua một ví dụ minh họa. Vào thập niên 1930, có 389 em bé được đưa đến các bác sĩ ở thành phố New York. Trong số đó có 174 em được khuyên nên cắt bỏ amiđan. 215 em còn lại được đưa đi bác sĩ một lần nữa, và lại có 99 em được cho là cần làm phẫu thuật. Khi 116 em còn lại được đưa đến một tập hợp các bác sĩ thứ ba, có 52 em được khuyên nên phẫu thuật. Lưu ý tỷ lệ rủi ro từ 2 đến 4 phần trăm trong tổng số ca (bây giờ, chứ không phải ngày ấy, vì rủi ro phẫu thuật thời đó rất xấu) và cứ khoảng 15.000 ca phẫu thuật như vậy lại có một ca tử vong, để bạn có ý tưởng về điểm hòa vốn giữa lợi ích và thiệt hại y khoa.

Câu chuyện này giúp ta chứng kiến sự giết người theo xác suất. Mỗi đứa trẻ trải qua một cuộc phẫu thuật không cần thiết sẽ làm rút ngắn tuổi thọ của em. Ví dụ này không chỉ cho ta ý tưởng về thiệt hại gây ra bỏi những người can thiệp, mà tệ hơn, nó còn minh họa cho tình trạng thiếu ý thức về nhu cầu tìm kiếm một điểm hòa vốn giữa lợi ích và thiệt hại.

Ta hãy gọi sự mong muốn giúp đỡ này là “sự can thiệp ngây tho’”. Tiếp theo ta sẽ xem xét những tổn hại của nó.

Trong trường hợp phẫu thuật cắt bỏ amiđan, thiệt hại đối với những đứa trẻ bị phẫu thuật một cách không cần thiết cũng đi kèm với lợi ích được rêu rao ầm ĩ của một vài người khác. Hiện tượng này, hiện tượng điều trị dẫn đến tổn thất ròng (nghĩa là những tổn thất ngầm ẩn hay chưa xảy ra ngay) thậm chí còn nhiều hơn so với lợi ích, được gọi là hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què, hay thiệt hại do can thiệp gây ra (iatrogenics), dịch sát nghĩa là “do người điều trị gây ra”, iatros nghĩa là người điều trị trong tiếng Hy Lạp. Trong chương 21, chúng ta sẽ thừa nhận rằng mỗi khi bạn đi bác sĩ và nhận được một phương thức điều trị, bạn sẽ chịu rủi ro về những thiệt hại y học như vậy, và điều này sẽ được phân tích giống như cách chúng ta phân tích những sự đánh đổi khác: lợi ích xác suất so với chi phí xác suất.

Tìm hiểu những ví dụ kinh điển về hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què, ta hãy xem cái chết của George Washington36 vào tháng 12 năm 1799: chúng ta có đủ bằng chứng cho thấy rằng các bác sĩ của ông đã tận tình cứu giúp, hay chí ít cũng tận tình đẩy nhanh hơn sự qua đời của ông nhờ vào phương pháp điều trị tiêu chuẩn thời bấy giờ, bao gồm việc trích máu (khoảng từ 2 đến 4 kg máu).

Những rủi ro do người điều trị gây ra có thể bị xem nhẹ đến nỗi việc điều trị từng có một bảng cân đối lợi ích-chi phí có giá trị âm rõ ràng, đi bác sĩ có thể làm tăng khả năng tử vong của bạn, tùy mức độ bạn trông cậy vào bác sĩ, mãi cho đến khi người ta tìm ra thuốc penicillin. Và cũng khá thuyết phục khi nói rằng hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què đã tăng lên theo thời gian, cùng với tri thức, lên đến đỉnh điểm đâu đó vào cuối thế kỷ 19. Xin cảm ơn tính hiện đại: chính nhờ “tiến bộ khoa học”, nhờ sự ra đời của các dưỡng đường và sự thay thế cho điều trị ngoại trú mà tỷ lệ tử vong tăng vọt, chủ yếu do cái mà thời đó gọi là “cơn sốt bệnh viện” - Leibniz gọi những bệnh viện này là seminaria mortis, có nghĩa là vườn ươm tử thần. Bằng chứng của sự gia tăng tỷ lệ tử vong thể hiện rõ ràng, vì mọi nạn nhân giờ đây đều được tập trung vào một noi: người ta nằm hấp hối trong các bệnh viện trong khi lẽ ra họ có thể sống sót bên ngoài. Vị bác sĩ Áo-Hung nổi tiếng bị ngược đãi Ignaz Semmelweis37 quan sát thấy rằng phụ nữ chết khi sinh con trong bệnh viện thậm chí còn nhiều hơn so với khi sinh trên đường phố. Ông gọi các bác sĩ trong bệnh viện là một lũ tội phạm, bao gồm những bác sĩ tiếp tục giết bệnh nhân vì không thể chấp nhận thực tế ông nêu ra hay có hành động đáp ứng trước thực tế đó, vì ông “không có lý thuyết” cho những quan sát của mình. Semmelweis rơi vào trạng thái trầm uất, vô vọng ngăn chặn những gì ông xem là giết người, ghê tởm thái độ của các bác sĩ bệnh viện. Ông qua đời trong một dưỡng trí viện, trớ trêu thay, cũng bởi cùng một con sốt bệnh viện mà ông đã từng cảnh báo chống đối.

Câu chuyện về Semmelweis thật buồn: một người bị ngược đãi, sỉ nhục, và thậm chí qua đời vì công bố sự thật để cứu những người khác. Sự ngược đãi tồi tệ nhất là tình trạng vô vọng của ông khi đứng trước rủi ro và bất công. Nhưng đó cũng là một câu chuyện vui: sự thật cuối cùng cũng phoi bày, và thông điệp của ông đã được đáp ứng cho dù có đôi chút chậm trễ. Và bài học sau cùng là: người ta không nên trông chờ được ban thưởng vì tiết lộ sự thật.

Y khoa xem ra cũng là một tin tốt lành khác, có lẽ là tin tức tốt lành duy nhất trên phương diện gây hại khi cố gắng giúp đỡ. Chúng ta giờ đây đã nhận thức được vấn đề này bởi vì mọi việc đã bắt đầu được kiểm soát, cũng hệt như cái mà chúng ta vừa gọi là chi phí làm kinh doanh, mặc dù các sai lầm y khoa hiện vẫn đang giết người nhiều gấp ba đến 10 lần so với tai nạn ô tô ở Hoa Kỳ (con số 3 là con số mà các bác sĩ chấp nhận!). Nói chung người ta đã thừa nhận rằng thiệt hại do các bác sĩ gây ra - chưa kể những rủi ro từ vi trùng bệnh viện - là nguyên nhân của nhiều ca tử vong hơn bất kỳ một loại bệnh ung thư nào. Phương pháp luận được các cơ sở y tế sử dụng để ra quyết định vẫn còn thiếu hiểu biết về các nguyên tắc quản lý rủi ro thỏa đáng, nhưng y học hiện đang trở nên tốt hơn. Chúng ta phải lo lắng về việc khuyến khích kê đơn quá đáng từ phía các công ty dược, những kẻ vận động hành lang, và các nhóm lợi ích đặc biệt, và phải lo lắng về việc gây ra những thiệt hại không lộ rõ tức thời và không bị cho là “sai lầm”. Ngành dược đang chơi trò lợn lành chữa thành lợn què ngầm ẩn và phát tán, và ngành này càng ngày càng tăng trưởng. Đánh giá thiệt hại gây ra khi bác sĩ phẫu thuật cắt nhầm chân hay mổ nhầm một quả thận, hay khi bệnh nhân chết vì phản ứng thuốc thì rất dễ. Nhưng khi bạn chẩn đoán một đứa trẻ bị một chứng bệnh tâm lý tưởng tượng như ADHD (rối loạn tăng động giảm chú ý) hay trầm cảm chẳng hạn, thay vì chỉ cần tháo cũi xổ lồng cho em, thì mối nguy hại dài hạn đã không được tính đến. Hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què còn trở nên sâu sắc hơn bởi tình trạng xung đột lợi ích giữa người ủy quyền và người đại diện, xảy ra khi một bên (người đại diện) có quyền lợi cá nhân khác với quyền lợi của người sử dụng dịch vụ của mình (người ủy quyền). Ví dụ, vấn đề xung đột quyền lợi xảy ra giữa người môi giới chứng khoán hay bác sĩ của bạn - mà quyền lợi tối hậu của họ rõ ràng nằm ở tài khoản ngân hàng của họ chứ không phải ở tình trạng tài chính hay sức khỏe của bạn - và những người tư vấn cho bạn những điều giúp gia tăng lợi ích của chính họ, hay những chính khách vốn chỉ hành động vì sự nghiệp của họ.

Người ta đã biết về hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què chí ít từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên. Primum non concere (nghĩa là “trước hết, không gây hại”) là nguyên tắc đầu tiên được cho là của Hippocrates và được đưa vào Lời thề Hippocrates mà mỗi bác sĩ y khoa phải thề vào ngày ra trường. Ngành y phải mất khoảng 24 thế kỷ mới thi hành thỏa đáng ý tưởng sáng suốt này. Bất chấp việc học thuộc lòng lời thề không gây hại đã được tiến hành qua nhiều thời đại, thuật ngữ “do người điều trị gây ra” (iatrogenics) chỉ mới được sử dụng thường xuyên rất gần đây, vài thập niên trước - sau khi đã gây ra quá nhiều thiệt hại. Về phần mình, tôi cũng không biết chính xác từ này mãi cho đến khi tác giả Bryan Appleyard cho tôi biết (trước đó tôi vẫn sử dụng cụm từ “tác dụng phụ có hại không định trước”). Vì thế tạm thời ta hãy dừng lĩnh vực y học (ta sẽ quay lại trong nhiều chương sau), và áp dụng khái niệm ra đời trong lĩnh vực y khoa này cho những lĩnh vực khác trong cuộc sống. Vì nếu không can thiệp thì có nghĩa là không có những mối nguy hại do người can thiệp gây ra, nên nguồn gốc của thiệt hại nằm ở việc chối bỏ khả năng cải thiện nghịch cảnh, với ấn tượng cho rằng con người chúng ta cần phải thúc đẩy sự việc vận hành.

Tuân thủ ý thức về hiện tượng “lợn lành chữa thành lợn què” cần được ưu tiên hàng đầu. Khái niệm “thiệt hại do người can thiệp gây ra” hoàn toàn không có trong mọi lý thuyết bên ngoài lĩnh vực y khoa (mà nhắc lại, chính bản thân lĩnh vực y khoa cũng đã nhận thức muộn rồi). Nhưng cũng hệt như khái niệm màu xanh, có một từ ngữ để diễn đạt điều gì đó sẽ giúp người ta mở mang ý thức về vấn đề đó. Chúng ta sẽ thúc đẩy ý niệm về thiệt hại do người can thiệp gây ra này trong khoa học chính trị, kinh tế, quy hoạch đô thị, giáo dục, và nhiều lĩnh vực khác. Không một nhà tư vấn và học giả nào trong những lĩnh vực này mà tôi từng thử thảo luận biết về điều tôi đang nói tới, mặc dù họ có thể là cội nguồn của một thiệt hại nào đó. Quả thật, khi bạn tiếp cận những người đang hoạt động trong lĩnh vực của họ với tinh thần hoài nghi như vậy, họ có xu hướng nói rằng bạn đang “đi ngược lại tiến bộ khoa học.”

Nhưng ta có thể tìm thấy khái niệm này trong sách vở tôn giáo. Kinh Koran nói: “Người ta sai lầm khi tự cho rằng mình đúng.”

Tóm lại, bất cứ lĩnh vực nào trong đó có sự can thiệp ngây thơ, hay chỉ đơn thuần có can thiệp, đều sẽ có hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què.

Trái ngược của hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què

Trong khi ta đã có một từ để mô tả hiện tượng gây hại khi đang cố gắng giúp đỡ, ta không có một từ để diễn tả tình huống ngược lại, rằng ai đó đang cố gắng gây hại nhưng cuối cùng hóa ra lại có ích. Chỉ cần nhớ rằng, việc tấn công vào khả năng cải thiện nghịch cảnh sẽ có tác dụng ngược. Ví dụ, các tin tặc làm cho hệ thống mạnh lên. Hay như trong trường hợp của tác giả Ayn Rand, sự chỉ trích dữ dội và ám ảnh càng làm cho một quyển sách lan truyền nhiều hơn.

Sự bất tài có hai mặt. Trong bộ phim của Mel Brooks, The Producers, hai anh chàng đạo diễn nhà hát gặp rắc rối vì đạt được thành công trong khi họ cố tình muốn thất bại. Họ bán cùng một số cổ phần của một vở kịch Broadway cho nhiều nhà đầu tư cùng một lúc, định bụng rằng nếu vở kịch thất bại, họ sẽ giữ số tiền ăn gian - âm mưu của họ sẽ không bị phát hiện nếu các nhà đầu tư không có lợi nhuận từ số tiền đầu tư. Vấn đề là ở chỗ họ cố gắng hết sức để có một vở kịch dở - tựa là Mùa xuân cho Hitler - và họ thực hiện ý định đó kém cỏi đến mức vở kịch hóa ra lại thành công rực rỡ. Không còn bị ràng buộc bỏi những thành kiến chung, họ xoay xở để dựng lên những vở kịch thú vị. Tôi cũng thấy một điều trớ trêu tương tự trong hoạt động giao dịch chứng khoán: một anh chàng thất vọng với số tiền thưởng cuối năm của mình đến mức anh bắt đầu đánh cược thật lớn với danh mục đầu tư của công ty mình làm việc, và cuối cùng anh kiếm được một số tiền rất lớn; mà nếu như anh cố gắng đầu tư một cách có chủ định thì không chắc đã được nhiều như thế.

Có lẽ ý tưởng tiềm ẩn trong chủ nghĩa tư bản là sự trái ngược với hiện tượng gây hại do can thiệp, những hệ quả tuy bất ngờ nhưng không bất ngờ cho lắm: đó là một hệ thống tạo điều kiện thuận lợi cho sự chuyển biến từ mục đích vị kỷ (hay đúng hơn, không nhất thiết vì lợi ích chung) ở cấp độ cá nhân trở thành kết quả có lợi cho tập thể.

Thiệt hại do can thiệp gây ra ở địa vị cao

Có hai lĩnh vực bị nhiễm độc do thiếu ý thức về sự gây hại do can thiệp: đòi sống kinh tế xã hội và cơ thể con người (như ta vừa thấy trong câu chuyện về Semmelweis), những lĩnh vực trong đó ta vẫn có truyền thống kết họp giữa năng lực ở trình độ thấp với mức độ can thiệp cao, không tôn trọng những hoạt động tự phát và cơ chế tự chữa lành, ấy là còn chưa nói tới sự tăng trưởng và cải thiện.

Như ta đã thấy trong chương 3, có sự phân biệt giữa các tổ chức hữu cơ (sinh vật hay phi sinh vật) với những cỗ máy. Con người có trí tuệ định hướng thiết kế sẽ có xu hướng xem xét mọi thứ quanh mình như một vấn đề về thiết kế, nhưng khi chăm sóc một chú mèo, thuê bác sĩ thú y thì tốt hơn là kỹ sư điện, hoặc tốt hơn nên để con vật yêu của bạn tự chữa lành.

Bảng 3 trình bày một cái nhìn thoáng qua về những nỗ lực “cải thiện vấn đề” trong các lĩnh vực và hậu quả của chúng. Lưu ý điều hiển nhiên sau đây: trong mọi trường họp, những nỗ lực này đều tương ứng với việc chối bỏ khả năng cải thiện nghịch cảnh.

BẢNG 3. SỰ CAN THIỆP GÂY RA TÌNH TRẠNG MỎNG MANH VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ TRONG CÁC LĨNH VỰC KHÁC NHAU

LĨNH VỰC

VÍ DỤ VỀ SỰ CAN THIỆP

THIỆT HẠI DO CAN THIỆP

Y học, sức khỏe

Điều trị quá mức

Cho ăn đều đặn, ổn định

nhiệt độ vv… - phủ nhận tính ngẫu nhiên của cơ thể con người

Thêm thuốc, thay vì bớt thuốc

Tính mỏng manh

Sai lầm y học

Con người ốm yếu hơn (nhưng sống lâu hơn), ngành dược giàu hơn, vi khuẩn kháng thuốc

LĨNH VỰC

VÍ DỤ VỀ SỰ CAN THIỆP

THIỆT HẠI DO CAN THIỆP

Sinh thái

Quản lý cháy rừng vi mô

Làm trầm trọng hơn rủi ro tổng thể; những trận cháy rừng lớn sẽ lớn hơn

Chính trị

Lập kế hoạch tập trung

Mù mờ về thông tin

Sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đối với những chế độ mục nát “vì mục đích bình ổn”

Tình trạng rối loạn sau khi các phong trào đối lập nổi dậy

Kinh tế

“Không còn bạo phát và bạo tàn” (xoa dịu chu kỳ kinh tế) [Greenspan (Mỹ), Đảng Lao động (Anh)], Sự điều hòa vĩ đại (Bernanke)

Chủ nghĩa can thiệp của nhà nước

Tính mỏng manh

Khủng hoảng sẽ sâu sắc hơn khi xảy ra

Tối ưu hóa

Ảo tưởng về việc định lượng những biến cố hiếm hoi, các phương pháp định lượng rủi ro, ảo tưởng về lợi thế kinh tế theo quy mô, không nhìn thấy những tác dụng phụ về lâu dài

Hỗ trợ những công ty kỳ cựu, có quan hệ mật thiết với nhà nước, cản trở các nghiệp chủ

Dễ bị tổn thương, sự hiệu quả giả hiệu

Bùng nổ lớn hơn

Kinh doanh

Những lời tư vấn tích cực (của những kẻ bất tài lừa bịp), tập trung vào lợi nhuận chứ không phải rủi ro (điều nên tránh)

Làm giàu cho những kẻ bất tài lừa bịp; các doanh nghiệp phá sản

Quy hoạch đô thị

Quy hoạch thành phố

Làm hỏng đô thị, các khu nội ô, trầm cảm, tội phạm

Dự báo

Dự báo trong lĩnh vực Thiên Nga Đen (góc tọa độ thứ 4) bất chấp thành tích quá khứ tệ hại

Những rủi ro ngầm ẩn (người ta chấp nhận nhiều rủi ro hơn khi được cung cấp các giá trị dự báo)

Văn học

Các biên tập viên cố gắng thay đổi bài viết của bạn

Nhạt nhẽo hơn, phong cách viết hàng hóa theo kiểu báo New York Times

Làm cha mẹ

Những bà mẹ bảo bọc con thái quá, loại bỏ mọi yếu tố ngẫu nhiên trong cuộc sống của con cái

Lên kế hoạch cho tư duy trẻ em

Giáo dục

Toàn bộ khái niệm được đặt cơ sở trên chủ nghĩa can thiệp

Sự biến đổi bộ não của trẻ em

Công nghệ

Chứng cuồng hiện đại

Tính mỏng manh, xa cách, cuồng khoa học

Phương tiện truyền thông

Những thông tin vô ích với tần suất cao

Phá hỏng cơ chế lọc độ nhiễu và tín hiệu

Chủ nghĩa can thiệp

Cá voi có thể bay như đại bàng được không?

Các nhà khoa học xã hội và các nhà kinh tế học không tự ý thức về hiện tượng gây hại do can thiệp, và lẽ dĩ nhiên cũng không có tên gọi cho hiện tượng này. Khi tôi quyết định dạy một lớp học về sai số mô hình trong kinh tế học và tài chính, không ai cho rằng tôi hay ý tưởng đó là nghiêm túc, và vài người cố gắng ngăn cản tôi, hỏi về một “lý thuyết” (như trong câu chuyện của Semmelweis) mà không nhận ra rằng đó chính là những sai số lý thuyết mà tôi đang đề cập tới và liệt kê, cũng như chính ý tưởng sử dụng một lý thuyết mà không xem xét đến tác động của những sai số khả dĩ của lý thuyết.

Vì lý thuyết là một thứ hết sức nguy hiểm.

Và lẽ dĩ nhiên, người ta có thể làm khoa học nghiêm túc mà không cần có lý thuyết. Các nhà khoa học gọi Hiện tượng học là việc quan sát sự việc diễn ra đều đặn mà không có một lý thuyết dễ thấy về nó. Trong Bảng Bộ Ba, tôi xếp lý thuyết vào mục mỏng manh và xếp Hiện tượng học vào mục mạnh mẽ. Các lý thuyết chỉ có bề ngoài hời hợt, đến rồi đi, rồi lại đến rồi đi, cứ thế tiếp diễn; Hiện tượng học sẽ ở lại, và tôi không tin người ta không nhận thấy rằng Hiện tượng học là “mạnh mẽ” và khả dụng, còn lý thuyết tuy được tán tụng quá mức nhưng không đáng tin cậy để ra quyết định - ngoài lĩnh vực vật lý.

Vật lý có đặc quyền, vật lý là ngoại lệ, khiến cho sự bắt chước của các ngành khác trở nên hệt như nỗ lực làm cho một con cá voi bay lên như đại bàng. Sai lầm trong vật lý càng lúc càng trở nên nhỏ hơn khi đi từ lý thuyết này đến lý thuyết khác - cho nên nếu ta nói “Newton đã sai” chẳng qua là để thu hút sự chú ý, tốt cho nghề làm báo chí khoa học, nhưng suy cho cùng là xuyên tạc; sẽ trung thực hơn nhiều khi nói rằng “Lý thuyết của Newton không chính xác trong một vài trường hợp cụ thể.” Những dự đoán bằng cơ học Newton thì chính xác một cách kinh ngạc ngoại trừ đối với những vật thể di chuyển gần bằng vận tốc ánh sáng, những thứ mà bạn không kỳ vọng sẽ làm trong kỳ nghỉ sắp tới. Chúng ta cũng đọc thấy những điều vô nghĩa qua các tiêu đề như Eistein “sai lầm” về vận tốc ánh sáng - và những công cụ sử dụng để chứng minh ông sai lầm thì phức tạp và chính xác đến mức chúng cũng chứng minh rằng một luận điểm như thế sẽ chẳng liên quan gì đến tôi và bạn trong tương lai gần và tương lai xa.

Mặt khác, khoa học xã hội xem ra càng trở nên phân hóa khi đi từ lý thuyết này sang lý thuyết khác. Trong thời chiến tranh lạnh, trường Đại học Chicago đề cao các lý thuyết thị trường tự do, trong khi Đại học Matxcova giảng dạy chính xác điều ngược lại - nhưng bộ môn vật lý của hai trường vẫn hội tụ với nhau, nếu không muốn nói là hoàn toàn nhất trí với nhau. Đó là lý do tôi xếp các lý thuyết khoa học xã hội vào cột bên trái của Bảng Bộ Ba, như một thứ gì đó vô cùng mỏng manh đối với các quyết định đời thường và không thể sử dụng để phân tích rủi ro. Thậm chí việc gọi đây là các “lý thuyết” đã gây ra đau khổ rồi. Trong khoa học xã hội, chúng ta nên gọi các kết cấu này là các “ảo tưởng” (chimera) thì đúng hơn là lý thuyết.

Chúng ta sẽ phải xây dựng một phương pháp luận để xử lý những khiếm khuyết này. Chúng ta không thể chờ đợi thêm 24 thế kỷ nữa. Không như y học, trong đó hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què được phân phối trong toàn thể dân chúng (và vì thế có hiệu ứng Ngẫu nhiên bình thường), trong khoa học xã hội và chính sách, do có sự tập trung quyền lực, nên hiện tượng này có thể làm nổ tung tất cả chúng ta (vì thế có hiệu ứng Ngẫu nhiên cực độ).

Chẳng phái là không làm gì cà

Nguồn gốc chính của khủng hoảng kinh tế bắt đầu vào năm 2007 nằm ở chuyện gây hại do cố gắng giúp đỡ, hay là nỗ lực của fragilista Alan Greenspan, chắc chắn là kẻ can thiệp mà gây tác hại kinh tế hàng đầu của mọi thời đại; đó là nỗ lực nhằm ủi cho thẳng chu kỳ kinh tế khiến cho mọi rủi ro chạy trốn dưới tấm thảm rồi chồng chất ở đó cho tới khi làm nổ tung cả nền kinh tế. Phần đáng buồn nhất trong câu chuyện Greenspan nằm ở chỗ, đó là một người tự do chủ nghĩa và dường như tin vào ý tưởng là để cho hệ thống tự vận hành; người ta có thể mãi mãi tự đánh lừa mình. Chính chủ nghĩa can thiệp ngây thơ này cũng được chính phủ Anh của fragilista Gordon Brown áp dụng, một học trò của thời đại Khai sáng mà sứ mệnh to tát công khai của ông ta là “làm triệt tiêu” chu kỳ kinh tế. Fragilista Thủ tướng Brown là người can thiệp gây hại bậc thầy tuy gần như không cùng hội cùng thuyền với Greenspan, hiện đang ra sức rao giảng với thế giới về “luân thường đạo lý” và tài chính “bền vững”, nhưng chính sách tập trung hóa công nghệ thông tin của ông (dẫn đến phát sinh chi phí quá mức và thực hiện chậm trễ) thay vì phân quyền cho các đơn vị nhỏ, xem ra thật khó cứu vãn. Quả thật, dịch vụ y tế nước Anh đang hoạt động theo nguyên tắc sao cho một chiếc kim gút rơi xuống ở một bệnh viện xa xôi nào đó cũng được nghe thấy trên phố Whitehall (con phố ở Luân Đôn nơi tập trung các tòa nhà chính phủ). Lập luận toán học về những mối nguy hiểm của tập trung hóa sẽ được trình bày trong chương 18.

Những nỗ lực làm triệt tiêu chu kỳ kinh tế này là cội nguồn của mọi tình huống mỏng manh. Cũng hệt như đốt rừng chủ động từng khoảnh nhỏ ở nơi này rồi đến nơi khác giúp dọn sạch những vật liệu dễ cháy trong một cánh rừng, đôi chút thiệt hại ở chỗ này hay chỗ khác trong một nền kinh tế giúp sớm quét sạch những công ty dễ bị tổn thương để họ có thể kết thúc sớm (và có thể bắt đầu lại) và tối thiểu hóa thiệt hại dài hạn của hệ thống.

Có một vấn đề đạo đức phát sinh khi ai đó được đưa lên để phụ trách công việc. Hành động của Greenspan là có hại, nhưng ngay cả nếu ông biết điều đó, thì cũng cần phải có chút lòng can đảm để giải thích cho việc không làm gì cả trong một nền dân chủ mà động cơ là luôn luôn phải hứa hẹn một kết quả tốt hơn so người khác, bất chấp tổn thất thực tế về sau như thế nào.

Chủ nghĩa can thiệp ngây thơ tràn ngập trong mọi ngành nghề. Hệt như với việc phẫu thuật cắt amiđan, nếu bạn đưa bài viết cho một nhà biên tập điển hình, ông ta sẽ đề nghị một vài chỗ hiệu đính, khoảng năm chỗ sửa đổi trên một trang. Bây giờ bạn chấp nhận sự “sửa sai” đó của ông ta và đưa bài viết này cho một nhà biên tập khác giả sử cũng có cùng mức độ can thiệp bình quân như thế (các nhà biên tập thường khác nhau về mức độ can thiệp) và bạn sẽ thấy gã này cũng đề nghị một số lần sửa chữa tương đương, đôi khi còn đảo ngược lại chỗ sửa chữa của người biên tập trước. Thử tìm một người biên tập thứ ba xem, cũng hệt thế.

Thật tình cờ, những người làm quá nhiều ở chỗ này lại làm quá ít ở chỗ khác, và công việc biên tập cho ta thấy một ví dụ khá phù hợp. Trong sự nghiệp viết lách của mình, tôi nhận thấy những người có xu hướng biên tập quá nhiều sẽ có xu hướng bỏ sót những lỗi in ấn thật sự (và ngược lại). Có lần tôi đã lôi về một bài dành đăng trên trang op-ed38 (tạm dịch: trang ý kiến) từ tờ Washington Post do vô số những chỗ biên tập hoàn toàn không cần thiết, cứ như thể mọi từ ngữ đều được thay thế bằng một từ đồng nghĩa trong tự điển. Thay vào đó, tôi đưa bài báo cho tờ Financial Times. Nhà biên tập ở đó chỉ sửa một lỗi duy nhất: năm 1989 thành năm 1990. Tờ Washington Post đã cố gắng hết sức đến mức bỏ sót cái lỗi thích hợp duy nhất. Và như ta sẽ thấy, chủ nghĩa can thiệp hủy hoại nguồn lực tinh thần và kinh tế; và sự can thiệp hiếm khi sẵn sàng những khi ta cần đến nó nhất. (Nhớ lưu ý điều bạn muốn: sự quản lý quy mô nhỏ cuối cùng có thể hữu hiệu hơn trong bất kỳ việc gì cần làm). Giảm quy mô và phạm vi có thể làm cho sự việc ngấm sâu hơn so với quản lý quy mô lớn.

Chủ nghĩa can thiệp không ngây thơ

Cho phép tôi cảnh báo việc giải thích sai thông điệp ở đây. Lập luận của tôi không chống lại khái niệm can thiệp; mà thật ra trên đây tôi đã bày tỏ mối lo lắng như nhau về việc can thiệp quá ít những khi thật sự cần thiết. Tôi chỉ cảnh báo chống lại sự can thiệp ngây thơ ấu trĩ thiếu ý thức và không chấp nhận những thiệt hại do can thiệp gây ra.

Chắc chắn sẽ có lúc nào đó thông điệp bị giải thích sai. Khi tôi viết quyển sách Fooled by Randomness, trong đó lập luận tương tự như thông điệp ở đây rằng, chúng ta có xu hướng ước lượng quá thấp vai trò của tính ngẫu nhiên trong sự đời, tóm lại là “sự đời ngẫu nhiên nhiều hơn bạn tưởng”, thì thông điệp trên các phương tiện truyền thông trở thành “sự đời hoàn toàn là ngẫu nhiên” hoặc “hoàn toàn là chuyện tình cờ may rủi”: đây lại là ví dụ minh họa cho chiếc giường Procrustes, gọt chân cho vừa giày, thay đổi bằng cách cắt giảm. Trong một buổi phỏng vấn truyền thanh, khi tôi cố gắng giải thích cho phóng viên sắc thái và sự khác nhau giữa hai nhận định trên, họ bảo là tôi “phức tạp quá”; vì thế tôi chỉ đơn giản bước ra khỏi phòng, đành bỏ rơi họ trong con hoạn nạn. Điều đáng buồn là những người gây ra những sai lầm này lại là những phóng viên có trình độ được ủy thác để trình bày sự việc với những người không hiểu chuyện chúng ta. Ở đây, tất cả những gì tôi muốn nói là ta cần nhìn thấy khả năng cải thiện nghịch cảnh tự nhiên của hệ thống, hệ thống có khả năng tự chăm sóc mình, và chống lại xu hướng gây hại và làm cho hệ thống trở nên mỏng manh bằng cách không để cho hệ thống có cơ hội tự lo liệu.

Như ta thấy với nhà biên tập ghen tị quá đáng, sự can thiệp quá nhiều xảy ra cùng với sự can thiệp quá ít. Thật vậy, cũng như trong y học, chúng ta có xu hướng can thiệp quá nhiều với những lợi ích tối thiểu (và những rủi ro to lớn) đồng thời lại can thiệp quá ít trong những lĩnh vực mà sự can thiệp là cần thiết, như các trường hợp cấp cứu. Vì thế, thông điệp ở đây thiên về sự can thiệp đáng tin cậy trong một vài lĩnh vực như sinh thái để hạn chế sự biến dạng kinh tế và tâm lý ỷ lại gây ra bởi các công ty lớn.

Chúng ta nên kiểm soát những gì? Như một quy tắc, hãy can thiệp để hạn chế quy mô (của các công ty, sân bay, hay các nguồn ô nhiễm), sự tập trung hóa, và nhanh chóng giảm thiểu rủi ro Thiên Nga Đen. Những hành động này xem ra không có hiện tượng thiệt hại do can thiệp gây ra, nhưng thật khó mà thuyết phục chính phủ hạn chế quy mô của chính phủ. Ví dụ, hồi thập niên 1970 người ta đã lập luận rằng việc hạn chế tốc độ trên xa lộ (và thực thi điều này) dẫn đến tăng an toàn cực kỳ hữu hiệu. Điều này xem ra hợp lý bỏi vì rủi ro tai nạn tăng lên theo tốc độ một cách không cân xứng (nghĩa là phi tuyến tính), và con người không được tổ tiên truyền lại trực giác để cảm nhận điều này. Ai đó lái bạt mạng một chiếc xe khổng lồ trên đường xa lộ sẽ đe dọa sự an toàn của bạn và cần bị chặn lại trước khi gã tông vào chiếc Mini mui xếp của bạn, hay rơi vào tình trạng chính anh ta sẽ ròi khỏi nguồn gene di truyền chứ không phải bạn. Tốc độ xuất phát từ tính hiện đại, và tôi luôn luôn nghi ngỡ tính mỏng manh ngầm ẩn phát sinh trong thời đại hậu tự nhiên - chúng ta sẽ chứng minh toán học điều này trong chương 18 và 19.

Nhưng tôi cũng đưa ra lập luận ngược lại rằng các biển báo điều tiết giao thông xem ra không làm giảm rủi ro; ngườĩ lái xe trở nên điềm tĩnh hơn. Thực nghiệm cho thấy sự cảnh giác sẽ yếu đi khi người ta phó mặc việc kiểm soát cho hệ thống (một lần nữa, cũng do thiếu sự căng thẳng nên không thể dẫn đến nỗ lực và kết quả vượt bậc). Các tay lái cần có những yếu tố căng thẳng và sự căng thẳng đến từ cảm giác nguy hiểm để nuôi dưỡng sức chú ý và việc kiểm soát rủi ro của họ, chứ không phải từ hệ thống điều tiết bên ngoài: khách bộ hành chết vì băng qua đường bất chợt ít hơn so với khi băng qua đường tại các giao lộ có điều tiết. Những người có tư tưởng tự do sử dụng ví dụ về Drachen, một thành phố ở Hà Lan, nơi người ta đã tiến hành một thực nghiệm mơ ước. Mọi biển báo giao thông đều được gỡ bỏ. Việc không điều tiết dẫn đến gia tăng an toàn, qua đó xác nhận khả năng cải thiện nghịch cảnh của sự chú ý vào công việc, được kích thích bỏi ý thức về mối nguy hiểm và trách nhiệm. Như một hệ quả, nhiều thành phố ở Đức và Hà Lan đã giảm bớt số biển báo giao thông. Chúng ta đã thấy một dạng của hiệu ứng Drachen trong chương 2 khi thảo luận về việc tự động hóa máy bay, gây ra tác động ngược lại so với những gì người ta dự trù, do hệ thống làm cho phi công mất cảnh giác. Nhưng ta cần cẩn thận đừng khái quát hóa quá đáng hiệu ứng Drachen, vì điều đó không đơn thuần ngụ ý sự hữu hiệu của việc tháo gỡ mọi quy tắc luật lệ của xã hội. Như tôi vừa nói trên đây, tốc độ trên xa lộ phản ứng trước một hệ thống động học khác và rủi ro của nó cũng khác.

Than ôi, thật khó lòng đưa ý tưởng về tính mỏng manh và khả năng cải thiện nghịch cảnh này vào dòng thảo luận chính trị Hoa Kỳ hiện nay, cái hệ thống hóa thạch kép quái đản đó. Gần như lúc nào cũng vậy, phe Cộng hòa luôn ủng hộ siêu can thiệp, điều tiết vô điều kiện, và chính phủ quy mô lớn, trong khi phe Dân chủ yêu thích những công ty lớn, bãi bỏ điều tiết vô điều kiện, và chủ nghĩa quân phiệt - đối với tôi cả hai đều như nhau. Họ thậm chí còn hệt như nhau trong vấn đề nợ, vì cả hai phe đều có xu hướng khuyến khích tình trạng mang công mắc nợ của người dân, công ty và chính phủ (mang lại tính mỏng manh và giết chết khả năng cải thiện nghịch cảnh). Tôi tin rằng cả thị trường và chính phủ đều không còn sáng suốt khi xảy ra các biến cố Thiên Nga Đen. Dù vậy, một lần nữa, điều này không xảy ra với Mẹ Thiên Nhiên, nhờ vào cấu trúc của Mẹ, mà cũng không xảy ra với các loại thị trường cổ xưa hơn (như các khu chợ Hồi giáo), không như kiểu thị trường mà ta có bây giờ.

Cho phép tôi đơn giản hóa quan điểm của tôi về sự can thiệp. Đối với tôi, vấn đề là có một định thức thống nhất để xác định khi nào nên can thiệp và khi nào cứ để mặc cho các hệ thống tự lo liệu. Và chúng ta có thể cần can thiệp để kiểm soát hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què của tính hiện đại, nhất là kiểm soát những thiệt hại quy mô lớn đối với môi trường và mức độ tập trung của mối nguy hại tiềm ẩn (chưa biểu hiện), kiểu nguy hại mà ta chỉ nhận ra khi đã quá muộn. Những ý tưởng đưa ra ở đây không phải ý tưởng chính trị, mà là dựa vào quản lý rủi ro. Tôi không có quan hệ hay lòng trung thành chính trị đối với một đảng cụ thể nào; mà đúng hơn, tôi chỉ đang đưa ý tưởng về sự thiệt hại và tính mỏng manh vào ngôn ngữ diễn đạt để chúng ta có thể xây dựng những chính sách thích hợp nhằm bảo đảm cuối cùng ta sẽ không làm nổ tung cả hành tinh này và chính chúng ta.

NGỢI KHEN NGƯỜI TRÌ HOÃN - HỘI FABIAN

Có một chiêu đánh lừa gắn liền với chủ nghĩa can thiệp đang gia tăng trong một xã hội chuyên môn hóa. Việc thuyết phục người ta theo kiểu “Hãy xem những gì tôi đã làm cho bạn này” thì sẽ dễ dàng hơn nhiều so với kiểu “Hãy xem những gì tôi đã tránh được cho bạn kìa.” Lẽ dĩ nhiên, một hệ thống khen thưởng dựa vào “thành tích” sẽ làm vấn đề thêm trầm trọng. Tôi đã tìm kiếm trong lịch sử những vị anh hùng trở thành anh hùng vì những gì họ đã không làm, nhưng thật khó để quan sát việc không hành động; tôi không thể dễ dàng tìm thấy vị nào. Một vị bác sĩ kiềm chế để không mổ cột sống một bệnh nhân (một ca mổ rất đắt tiền), mà thay vào đó để cho nó có cơ hội tự lành, sẽ không được đền đáp và đánh giá thuận lợi cho bằng một vị bác sĩ thực hiện ca phẫu thuật có vẻ như không thể thiếu được, rồi mang lại sự giải thoát cho bệnh nhân trong khi làm bệnh nhân phải chịu rủi ro phẫu thuật, đồng thời mang về nguồn lợi tài chính béo bở cho mình. Vị bác sĩ thứ hai sẽ lái một chiếc ô tô Rolls Royce màu hồng. Vị giám đốc công ty tránh né thua lỗ sẽ không được khen thưởng. Vị anh hùng thực thụ trong thế giới Thiên Nga Đen là người ngăn được thảm họa, và lẽ tự nhiên, vì thảm họa không xảy ra nên không được công nhận hay khen thưởng gì cả. Tôi sẽ xem xét khái niệm này sâu xa hơn trong tập VII, về vấn đề đạo lý, về sự bất công của một hệ thống khen thưởng và sự bất công đó bị phóng đại bởi tính phức tạp như thế nào.

Tuy nhiên, lúc nào cũng vậy, người xưa thường khôn ngoan hơn con người hiện đại chúng ta nhiều, và khôn ngoan một cách đơn giản hơn rất nhiều. Người La Mã tôn sùng những ai ít ra dám chống lại và trì hoãn sự can thiệp. Tướng Fabius Maximus có biệt danh là Người Trì Hoãn. Ông đã làm cho Hannibal, một người có ưu thế quân sự hơn hẳn, trở nên phát điên bằng cách tránh né và trì hoãn tham gia. Và cũng thật phù hợp khi xem chủ nghĩa quân phiệt của Hannibal như một hình thức của chủ nghĩa can thiệp (theo kiểu George W. Bush, ngoại trừ việc Hannibal thực sự lâm trận, chứ không phải là ngồi trong một văn phòng tiện nghi ấm cúng) và so sánh nó với sự khôn ngoan của Người Trì Hoãn.

Một nhóm đồng chí cách mạng rất sáng suốt ở Anh đã thành lập một phong trào chính trị gọi là Hội Fabian (Fabian Society) theo tên của Người Trì Hoãn, chủ trương trì hoãn cải cách một cách cơ hội. Hội này bao gồm George Bernard Shaw, H. G. Wells, Leonard và Virginia Woolf, Ramsay McDonald, và ngay cả Bertrand Russell trong một thời gian. Hồi tưởng lại, đây hóa ra là một chiến lược hết sức hữu hiệu, không phải như một phương thức để đạt các mục tiêu của họ, mà là để thích nghi với thực tế rằng đó là những mục tiêu di động. Sự trì hoãn hóa ra có nghĩa là cứ để yên cho sự việc thể hiện chiều hướng của nó và cho người hành động có cơ hội đổi ý trước khi dấn thân vào những chính sách không thể cứu vãn. Và lẽ dĩ nhiên, các thành viên hội đã đổi ý sau khi thấy những gì đã xảy ra trong chủ nghĩa Stalin…

Có một câu thành ngữ Latinh festina lente, nghĩa là “làm gấp một cách từ từ”. Người La Mã không phải là những người cổ đại duy nhất tôn trọng nghệ thuật tình nguyện bỏ mặc. Nhà tư tưởng Trung Hoa Lão Tử cũng đúc kết học thuyết “Vô vi”, nghĩa là “thành tựu thụ động”.

Ít người hiểu ra rằng trì hoãn là sự phòng thủ tự nhiên, để cho sự việc tự lo liệu và phát huy khả năng cải thiện nghịch cảnh của nó; điều đó đạt được từ sự khôn ngoan của tự nhiên và sinh thái, và không phải lúc nào cũng tệ; ở mức độ tồn tại, chính cơ thể tôi sẽ vùng lên để thoát bẫy. Chính tâm hồn tôi đấu tranh với chiếc giường Procrustes của tính hiện đại. Có thể cho rằng, trong thế giới hiện đại, bản kê khai thuế của tôi không thể tự lo liệu cho nó, nhưng thông qua trì hoãn việc đi khám bác sĩ không cần thiết, hay khoan vội viết một đoạn văn cho đến khi cơ thể tôi cho tôi biết rằng tôi đã sẵn sàng, có lẽ tôi đang dùng một bộ lọc tự nhiên hiệu nghiệm. Tôi chỉ viết nếu tôi cảm thấy thích viết và chỉ viết về đề tài mà tôi cảm thấy thích viết về nó, và độc giả đâu có ngốc. Vì thế, tôi sử dụng sự trì hoãn như một thông điệp từ trong thâm tâm và trong quá khứ tiến hóa sâu thẳm của mình để chống lại chủ nghĩa can thiệp trong công việc viết lách. Thế nhưng một vài nhà tâm lý học và kinh tế học hành vi chắc sẽ nghĩ rằng sự trì hoãn là một căn bệnh phải được điều trị và chữa lành.39

Biết rằng sự trì hoãn chưa đủ để bị biến thành bệnh lý, nhiều người liên tưởng đến tình trạng nhụt chí (akrasia) như Plato từng thảo luận, một dạng thiếu tự chủ hay sự yếu đuối của ý chí; những người khác liên tưởng đến tình trạng thiếu ý chí (aboulia). Và các công ty dược biết đâu một ngày nào đó sẽ chế ra một loại thuốc cho nó.

Lọi ích của sự trì hoãn được áp dụng tương tự với các thủ tục y khoa: chúng ta đã thấy rằng sự trì hoãn giúp bảo vệ bạn khỏi sai lầm vì nó cho tự nhiên cơ hội để làm công việc của mình, ứng với sự thật hơi ngượng là, tự nhiên thì đỡ bị sai lầm hơn so với các nhà khoa học. Những nhà tâm lý học và kinh tế học nghiên cứu “tính phi lý” không nhận ra rằng con người có bản năng trì hoãn chỉ khi mạng sống không bị đe dọa. Tôi không trì hoãn khi có một chú sư tử lao vào phòng mình hay khi thư viện nhà hàng xóm bị cháy. Tôi không trì hoãn sau khi bị thương nặng. Tôi chỉ trì hoãn với những nhiệm vụ và thủ tục phi tự nhiên. Tôi đã từng trì hoãn việc mổ tủy sống như một phản ứng trước chứng đau lưng, và khỏi hẳn chứng đau lưng này sau một kỳ nghỉ leo núi Alps, tiếp theo là các buổi tập nâng tạ. Các nhà tâm lý học và kinh tế học này muốn tôi giết chết bản năng tự nhiên xui khiến tôi trì hoãn việc phẫu thuật không cấp thiết và tối thiểu hóa rủi ro; họ muốn gây chấn thương cho khả năng cải thiện nghịch cảnh tự nhiên của cơ thể tôi. Vì sự trì hoãn là một thông điệp từ nghị lực tự nhiên của chúng ta thông qua động cơ thúc đẩy kém, việc khỏi bệnh đang làm thay đổi môi trường, hay nghề nghiệp của ta, bằng cách chọn một nghề mà ta không phải đối chọi với động cơ thôi thúc tự nhiên. Không ai nhận ra hệ quả logic là, thay vì thế, ta nên sống cuộc đời sao cho sự trì hoãn là tốt, như một hình thức ra quyết định dựa vào rủi ro theo chủ nghĩa tự nhiên.

Thật ra, tôi đã quyết định chọn viết các đoạn trong quyển sách này bằng cách trì hoãn. Nếu tôi trì hoãn việc viết một phần nào đó, phần đó phải bị loại bỏ. Đây là một đạo lý đơn giản: Cớ sao tôi lại cố gắng đánh lừa người ta bằng cách viết về một đề tài mà tôi không cảm thấy có sự thôi thúc tự nhiên?

Theo lập luận sinh thái của tôi, người trì hoãn không phải là người phi lý; chính môi trường mới phi lý. Và nhà tâm lý học hay nhà kinh tế học nào cho người đó là phi lý mới chính là kẻ phi lý.

Thật ra con người chúng ta rất kém trong việc chọn lọc thông tin, nhất là những thông tin ngắn hạn, và sự trì hoãn là một phương thức để ta chọn lọc tốt hơn, để ta chống lại hậu quả của việc nhảy ngay vào thông tin, như sẽ thảo luận sau đây.

Ý tưởng “chủ nghĩa tự nhiên” có thể gây ra nhầm lẫn. Có một loại sai lầm mà các nhà triết học thường gọi là ngụy biện tự nhiên (naturalistic fallacy), ngụ ý rằng những gì tự nhiên thì không nhất thiết hợp đạo lý - như ta đã thấy trong chương 4 khi thảo luận về vấn đề áp dụng thuyết chọn lọc Darwin cho xã hội hiện đại và nhu cầu bảo vệ những người thất bại, một điều trái với tự nhiên. (Vấn đề nằm ở chỗ một vài người sử dụng sai khái niệm ngụy biện tự nhiên bên ngoài lĩnh vực đạo lý và áp dụng sai khái niệm này cho ý tưởng dựa vào bản năng tự nhiên khi bản năng này thật đáng ngờ.) Tuy nhiên, mổ xẻ ra, đó không phải là ngụy biện khi liên quan đến việc cân nhắc rủi ro. Thời gian là phép thử tốt nhất về tính mỏng manh; thời gian mang đến nhiều xáo trộn, và tự nhiên là hệ thống duy nhất có thể được đóng dấu xác nhận chất lượng “mạnh mẽ” theo thời gian. Nhưng những triết gia giả hiệu không hiểu được tầm quan trọng của rủi ro và sự sống còn, và họ cuối cùng sẽ không còn tồn tại trong nguồn gene - các triết gia thực thụ sẽ đồng ý với nhận định của tôi. Còn một ngụy biện tệ hơn: người ta có sai lầm ngược lại và xem những gì tự nhiên là ngụy biện.

LOẠN THẦN KINH CHỨC NĂNG TRONG KHUÔN KHỔ CÔNG NGHIỆP

Hãy hình dung ai đó thuộc loại người mà ta gọi là loạn thần kinh chức năng trong cách nói thông thường. Ông ta dẻo dai, có vẻ méo mó, và nói bằng một giọng không đều. Cổ ông ta cứ lắc lư khi ông ta cố gắng tự thể hiện. Khi ông ta có một nốt mụn nhỏ, phản ứng đầu tiên của ông ta là cho rằng đó là ung thư, ung thư thuộc loại chết người và đã lan khắp các hạch bạch huyết. Bệnh hoang tưởng của ông ta không chỉ giới hạn trong lĩnh vực y khoa: công việc của ông ta có chút đi xuống và ông ta phản ứng như thể chuyện phá sản chắc chắn sắp sửa xảy ra đến nơi rồi. Ở nơi làm việc, ông ta nhạy cảm với mọi chi tiết khả dĩ, một gò mối cũng bị ông ta xem như quả núi. Bạn không bao giờ muốn va quẹt giao thông với ông ta trên đường đến điểm hẹn. Cụm từ “phản ứng quá đáng” là dành cho ông ta; không chỉ là phản ứng, mà là phản ứng quá đáng.

Thử so sánh ông ta với một người điềm tĩnh, có khả năng giữ bình tĩnh trong cảnh nước sôi lửa bỏng, được xem là đức tính cần thiết để trở thành một nhà lãnh đạo, chỉ huy quân sự, hay bố già mafia. Thường trầm tĩnh và miễn nhiễm trước những thông tin nho nhỏ, gã này gây ấn tượng cho bạn bởi sự tự chủ trong những tình huống khó khăn. Để ví dụ về một giọng nói điềm đạm, bình tĩnh, trầm tư, hãy thử nghe cuộc phỏng vấn với Sammy Bò Tót, Salvatore Gravano, người dính líu vào vụ giết 19 người (đều là những kẻ cướp đua tranh nhau). Gã nói như không hề gắng sức, như thể đang thảo luận về một chuyện không có gì to tát. Loại người thứ hai này cũng có lúc phản ứng khi cần thiết; không như gã loạn thần kinh chức năng, trong những tình huống hiếm hoi mà ông ta nổi giận, mọi người đều biết và biết đó là chuyện nghiêm trọng.

Nguồn thông tin mà ta có được nhờ vào tính hiện đại đang làm biến đổi con người từ loại thứ hai cân bằng sang loại thứ nhất rối loạn thần kinh chức năng. Với mục đích thảo luận, người thứ hai phản ứng trước thông tin thực tế, người thứ nhất nói chung phản ứng trước độ nhiễu thông tin. Sự khác nhau giữa hai người cho ta thấy sự khác nhau giữa độ nhiễutín hiệu. Độ nhiễu là những gì bạn nên bỏ qua, tín hiệu là những gì bạn cần lưu ý.

Thật ra, chúng ta đã từng đề cập đến “độ nhiễu” một cách lỏng lẻo trong quyển sách này; giờ là lúc trình bày chính xác khái niệm này. Trong khoa học, độ nhiễu là sự khái quát hóa vượt lên âm thanh thực tế để mô tả những thông tin ngẫu nhiên mà nhìn chung là vô ích trong mọi mục đích, và bạn cần làm sạch độ nhiễu để hiểu những gì bạn đang lắng nghe. Ví dụ, ta hãy xem thử các yếu tố trong một thông điệp mã hóa tuyệt đối không có ý nghĩa gì, chỉ là những ký tự ngẫu nhiên nhằm gây rối cho các gián điệp, hay tiếng ồn trong điện thoại mà bạn cố gắng bỏ qua để tập trung vào giọng nói của người đối thoại.

Và tình trạng người ta không thể phân biệt được độ nhiễu với tín hiệu xảy ra do sự can thiệp thái quá.

Một cách giết người hợp pháp

Nếu bạn muốn đẩy nhanh cái chết của người nào, hãy gửi đến cho gã đó một bác sĩ riêng. Ý tôi không phải là một bác sĩ kém; chỉ cần trả tiền cho gã tự chọn lấy bác sĩ. Bất kỳ bác sĩ nào cũng được.

Đây có thể là phương thức duy nhất khả dĩ để giết ai đó mà vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật. Ta có thể thấy từ câu chuyện phẫu thuật cắt amiđan rằng việc tiếp cận dữ liệu làm gia tăng can thiệp, khiến ta hành động như kẻ loạn thần kinh chức năng. Rory Sutherland phát tín hiệu cho tôi thấy rằng người nào có bác sĩ riêng sẽ đặc biệt dễ bị tổn thương bởi sự can thiệp ngây thơ, dẫn đến hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què; các bác sĩ cần phải thể hiện họ xứng đáng với mức lương của họ, và chứng tỏ với chính mình rằng họ có chút đạo đức, điều mà việc “không làm gì cả” sẽ không thỏa mãn. Quả thật, bác sĩ riêng của Michael Jackson đã bị buộc tội tương đương với tội can thiệp quá đáng làm mất đi khả năng cải thiện nghịch cảnh (nhưng các phiên tòa sẽ phải mất một thời gian để làm quen với khái niệm này). Bạn có bao giờ tự hỏi tại sao lãnh đạo nhà nước và những người rất giàu được tiếp cận với mọi loại chăm sóc y tế vẫn chết sớm như những người thường? Thế đấy, điều này có vẻ như do sự can thiệp quá đáng và chăm sóc quá nhiều.

Tương tự, những người trong các công ty và trong giới hoạch định chính sách (như fragilista Greenspan), những người có hẳn một ban bệ thu thập dữ liệu tinh vi và do đó nhận được nhiều số liệu thống kê “kịp thời”, có thể phản ứng quá đáng và nhầm lẫn giữa độ nhiễu với thông tin - như họ nói, Greenspan theo dõi những biến động như doanh số của máy hút bụi ở Cleveland để “có ý tưởng chính xác về nền kinh tế đang đi về đâu” và lẽ dĩ nhiên, sự quản lý vi mô của ông đã đưa chúng ta đến rối loạn.

Khi ra quyết định kinh tế và kinh doanh, việc dựa vào dữ liệu gây ra những tác dụng phụ nghiêm trọng; dữ liệu giờ đây rất phong phú nhờ nối mạng, và tỷ lệ không xác thực của dữ liệu gia tăng khi người ta đắm sâu vào trong đó. Một thuộc tính rất hiếm khi được thảo luận của dữ liệu: nó rất độc hại ứng với những số lượng lớn, ngay cả với số lượng vừa phải.

Hai chương trước cho thấy bạn có thể sử dụng và lợi dụng độ nhiễu và tính ngẫu nhiên; nhưng độ nhiễu và tính ngẫu nhiên cũng có thể sử dụng và lợi dụng bạn, nhất là khi hoàn toàn phi tự nhiên, như với dữ liệu bạn nhận được từ trên mạng hay thông qua phương tiện truyền thông.

Bạn càng thường xuyên xem xét dữ liệu, độ nhiễu mà bạn nhận được một cách bất cân xứng càng tăng (thay vì nhận được những phần thông tin có giá trị được gọi là tín hiệu); vì thế, tỷ lệ độ nhiễu trên tín hiệu sẽ tăng lên. Và có một sự nhầm lẫn không mang tính chất tâm lý chút nào, mà là sự nhầm lẫn cố hữu trong chính dữ liệu. Ví dụ, bạn xem xét thông tin giá chứng khoán trên cơ sở hàng năm, hay giá phân bón của nhà máy của ông bố vợ bạn chẳng hạn, hay số liệu lạm phát ở Vladivostok. Giả định thêm rằng với những số liệu bạn đang quan sát với tần suất hàng năm, tỷ lệ tín hiệu trên độ nhiễu là 1:1 (một nửa độ nhiễu và một nửa tín hiệu). Điều này có nghĩa là khoảng một nửa cơ hội là sự gia tăng hay giảm sút thật, còn nửa kia xuất phát ngẫu nhiên. Tỷ lệ này là những gì bạn đạt được khi quan sát hàng năm. Nhưng nếu bạn xem xét cũng dữ liệu đó trên cơ sở hàng ngày, thành phần sẽ thay đổi, bao gồm 95 phần trăm độ nhiễu và 5 phần trăm tín hiệu. Và nếu bạn quan sát dữ liệu trên cơ sở hàng giờ, như những người chìm đắm trong các tin tức và biến thiên giá thị trường vẫn làm, thì tỷ lệ này là 99,5 phần trăm độ nhiễu và 0,5 phần trăm tín hiệu. Nghĩa là độ nhiễu nhiều hơn tín hiệu 200 lần. Đó là lý do khiến những người ngồi nghe tin tức (ngoại trừ khi xảy ra những biến cố hết sức quan trọng) là tiến thêm một bước tới chỗ thất bại.

Ta hãy xem hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què trong báo chí. Họ cần lấp kín các trang báo mỗi ngày bằng các mục tin - nhất là những tờ báo mà các mục tin của họ cũng được đăng tải bởi những tờ báo khác. Nhưng để làm điều đó đúng đắn, họ phải học cách giữ im lặng khi không có tin quan trọng. Báo chí chỉ nên dài hai dòng vào những ngày này, nhưng dài hai trăm trang vào những ngày khác, tỷ lệ với cường độ tín hiệu. Nhưng lẽ dĩ nhiên, họ muốn kiếm tiền và cần bán cho chúng ta những tin tức rác rưởi. Và tin tức rác rưởi dẫn đến thiệt hại do can thiệp gây ra.

Có một phương diện sinh học trong câu chuyện này. Tôi vẫn nhắc đi nhắc lại rằng trong một môi trường tự nhiên, yếu tố căng thẳng là thông tin. Vì thế, quá nhiều thông tin sẽ là quá nhiều căng thẳng, vượt quá ngưỡng khả năng cải thiện nghịch cảnh. Trong y học, người ta đã phát hiện ra khả năng chữa bệnh của việc tuyệt thực, thông qua tránh các luồng hoóc môn sinh ra cùng với việc đưa thức ăn vào cơ thể. Các hoóc môn truyền đạt thông tin đến các phần khác nhau trong cơ thể, và quá nhiều hoóc môn gây ra rối loạn sinh học. Ở đây một lần nữa, hệt như với tin tức nhận được với tần suất quá cao, quá nhiều thông tin trở nên có hại - tin tức hàng ngày và lượng đường sẽ làm rối loạn hệ thống như nhau. Và trong chương 24 (về đạo đức) tôi sẽ chứng minh rằng quá nhiều dữ liệu (nhất là khi đã được thanh lọc) làm cho số liệu thống kê trở nên hoàn toàn vô nghĩa.

Bây giờ hãy bổ sung thêm yếu tố tâm lý vào vấn đề này: chúng ta không hiểu được vấn đề, nên chúng ta phản ứng quá đáng về mặt cảm xúc trước độ nhiễu. Giải pháp tốt nhất là chỉ nhìn vào sự thay đổi rất lớn của dữ liệu hay tình hình, đừng bao giờ để ý đến những thay đổi nhỏ.

Cũng hệt như việc ta khó có thể nhầm tưởng một con gấu là một tảng đá (nhưng có thể nhầm tưởng tảng đá là con gấu), một con người duy lý, với tư duy rõ ràng không bị tác động, không bị nhấn chìm bỏi dữ liệu, sẽ gần như không thể nhầm tưởng một tín hiệu quan trọng có ảnh hưởng sống còn đối với mình là độ nhiễu, trừ khi người đó lo lắng quá đáng, nhạy cảm quá mức, và loạn thần kinh chức năng, nên bị phân tán và nhầm lẫn bởi các thông điệp khác. Các tín hiệu quan trọng có cách để đến với bạn. Trong câu chuyện phẫu thuật cắt amiđan, bộ lọc tốt nhất là khám cẩn thận những đứa trẻ bị ốm nặng với triệu chứng viêm họng tái diễn thường xuyên.

Loạn thần kinh chúc năng do phương tiện truyền thông

Có nhiều độ nhiễu phát sinh từ việc các phương tiện truyền thông ca ngợi các giai thoại. Chính vì thế, chúng ta ngày càng sống trong một thực tế ảo hơn, tách biệt với thế giới thực, mỗi ngày một chút, nhưng ngày càng ít nhận ra hơn. Cứ xem thử mỗi ngày có đến 6.200 người chết ở Hoa Kỳ, mà phần lớn các nguyên nhân đều có thể tránh khỏi. Nhưng phương tiện truyền thông chỉ tường thuật những trường hợp mang tính giai thoại và giật gân nhất (động đất, những tai nạn lạ đời, những vụ rơi máy bay nhỏ), mang đến cho ta một bản đồ méo mó về những rủi ro thực sự. Trong môi trường của tổ tiên ta, một giai thoại hay một điều thú vị là thông tin; còn ngày nay thì không. Tương tự, thông qua đăng tải những cách giải thích và lý thuyết, truyền thông gây ra ảo tưởng về sự am hiểu thế giới.

Và sự am hiểu các sự kiện (và rủi ro) của giới báo chí có tính chất hồi tưởng quá khứ đến mức người ta bố trí kiểm tra an ninh sau khi máy bay đã cất cánh, hay cái mà người xưa gọi là post bellum auxilium, đưa quân ra trận sau khi trận chiến kết thúc, hay mất bò mới lo làm chuồng. Do nhận thức hạn chế trong lĩnh vực nhất định, ta quên đi nhu cầu kiểm tra bản đồ thế giới so với thực tế. Vì thế, ta sống trong một thế giới ngày càng mỏng manh hơn, nhưng lại tưởng rằng nó ngày càng dễ hiểu hơn.

Kết luận, cách tốt nhất để giảm thiểu can thiệp là định mức giới hạn nguồn thông tin, càng tự nhiên càng tốt. Điều này thật khó chấp nhận trong thời đại Internet. Với tôi, thật vô cùng khó khăn để giải thích rằng càng có nhiều số liệu, bạn càng biết ít hơn về những gì đang diễn ra, và bạn càng gây ra hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què nhiều hơn. Người ta vẫn còn ảo tưởng rằng “khoa học” có nghĩa là nhiều dữ liệu hơn.

NHÀ NƯỚC VẪN CÓ THỂ HỮU ÍCH KHI BẤT TÀI

Nạn đói từ năm 1959 đến 1961 ở Trung Quốc từng lấy đi sinh mạng của 30 triệu người có thể khai sáng cho chúng ta về tác dụng của nhà nước “cố gắng tích cực”. Xin Meng, Nancy Qian, và Pierre Yared xem xét sự biến thiên giữa các vùng, xem xét nạn đói được phân bổ như thế nào. Họ nhận thấy rằng nạn đói nghiêm trọng hơn ở những vùng vốn có sản lượng lương thực cao hơn trong những thời kỳ trước khi nạn đói bắt đầu, có nghĩa là chính chính sách phân phối lương thực của chính phủ là nguồn gốc của vấn đề, do tính chất không linh hoạt của hệ thống thu mua lương thực của nhà nước. Và quả thật, trong thế kỷ vừa qua, nạn đói xảy ra với tỷ phần lớn hơn kỳ vọng ở những nền kinh tế kế hoạch tập trung.

Nhưng thông thường, chính sự bất tài của nhà nước có thể giúp chúng ta thoát khỏi quyền lực tập trung vào trung ương (statism) và tính hiện đại - trái với hiện tượng lợn lành chữa thành lợn què. Tác giả sáng suốt Dmitry Orlov40 cho thấy, sau khi nhà nước Xô viết tan rã, làm thế nào người ta đã tránh được các thảm họa vì sản lượng lương thực không đủ và tình trạng dư thừa không lường trước trên những lĩnh vực khác, cuối cùng có tác dụng mang lại ổn định ra sao. Stalin đánh bạc với nông nghiệp, dẫn đến nạn đói. Nhưng ông và những người kế nhiệm không bao giờ cố gắng làm cho nông nghiệp trở nên “hiệu quả”, nghĩa là tập trung hóa và tối ưu hóa nông nghiệp như ngày nay ở nước Mỹ, cho nên mọi thành phố Liên Xô đều trồng lương thực xung quanh. Điều này tốn kém hơn, vì nó không đạt được lợi ích của chuyên môn hóa, nhưng chính vì địa phương thiếu chuyên môn hóa nên dân chúng có thể tiếp cận đủ mọi loại lương thực bất chấp sự đổ vỡ chế độ nghiêm trọng. Ở Hoa Kỳ, muốn có 1 calori dưỡng chất, ta phải đốt cháy 12 calori vận chuyển; ở Liên Xô, tỷ lệ này là 1:1. Ta có thể hình dung điều gì xảy ra cho nước Mỹ (hay châu Âu) nếu tình trạng chia cắt nguồn cung lương thực xảy ra. Hơn nữa, do phi hiệu quả về nhà ở ở Liên Xô, dân chúng sống trong những không gian gần gũi ba thế hệ, và có sự ràng buộc chặt chẽ giúp bảo đảm rằng họ vẫn luôn ở cạnh nhau và giúp đỡ lẫn nhau, như trong cuộc chiến tranh Libăng. Dân chúng có sự liên kết thật sự, không như trong các mạng xã hội, và cấp dưỡng những bạn bè đói khát, kỳ vọng rằng ngày nào đó sẽ có ai khác giúp mình nếu mình rơi vào cảnh ngộ khó khăn.

Và nhà nước tập quyền trên danh nghĩa không nhất thiết là nhà nước tập quyền trên thực tế.

Nước Pháp hỗn độn hơn bạn tưởng

Tiếp theo chúng ta sẽ làm rõ quan niệm cho rằng nước Pháp thịnh vượng nhờ có một nhà nước tập quyền theo chủ nghĩa duy lý hợp lý hóa kiểu Descartes.41 Cũng như với người Nga, người Pháp may mắn vì đó là một mục tiêu thất bại suốt một thời gian dài.

Tôi phải mất hai thập niên vừa qua để tự hỏi tại sao nước Pháp, vốn được cai quản theo kiểu tập quyền từ trên xuống dưới bỏi một nhà nước có quy mô quá lớn, lại có thể thịnh vượng đến thế trên nhiều phương diện đến vậy. Suy cho cùng, đó là đất nước của Jean-Baptiste Colbert,42 người có hoài bão to tát về một nhà nước thâm nhập hết mọi thứ. Quả thật, nền văn hóa hiện nay là siêu can thiệp, theo kiểu “nếu nó không hỏng cũng cứ chữa nó”. Vì sự việc vận hành khá tốt ỏ Pháp, thường là tốt hơn ỏ những nước khác, nên phải chăng ta có thể xem Pháp như bằng chứng về một nhà nước tập quyền, trấn áp những xáo trộn đô thị nhưng vẫn thuận lợi cho tăng trưỏng, hạnh phúc, khoa học và văn chương phát triển, khí hậu tuyệt vời, cỏ hoa đa dạng với nhiều giống loài Địa Trung Hải, núi đồi cao ngất, giao thông xuất sắc, phụ nữ hấp dẫn, và thức ăn ngon lành? Cho đến khi tôi chợt nhận ra, việc đọc cuốn Khám phá nước Pháp (The Discovery of France) của Graham Robb khiến tôi nhìn nơi đây bằng đôi mắt mới lạ hoàn toàn và tìm kiếm tài liệu để sửa đổi lại câu chuyện về đất nước này.

Câu chuyện thật lồ lộ trước mắt ta: nhà nước tập quyền ỏ Pháp chủ yếu chỉ có tính chất danh nghĩa, bất chấp những nỗ lực của Louis XIV, Napoleon, và chương trình giáo dục quốc gia của Jules Ferry để sỏ hữu nơi này. Nước Pháp năm 1863 không nói tiếng Pháp (cứ năm người mới có một người nói tiếng Pháp), mà đúng ra là nhiều ngôn ngữ và thổ ngữ (một sự kiện ngạc nhiên: giải Nobel Văn chương năm 1904 thuộc về nhà văn Pháp Frédéric Mistral, người viết bằng tiếng Provenẹal, một ngôn ngữ ở miền nam nước Pháp hiện không còn được sử dụng nữa). Việc thiếu hội nhập ngôn ngữ - cũng giống như nhiều loại phô mai (có đến 400 loại khác nhau) - cho thấy sự khó khăn trong việc cai trị đất nước một cách tập trung. Không có điều gì thuộc phạm trù đạo đức hay ngôn ngữ có thể ràng buộc đất nước này - nó chỉ như tài sản của một ông vua và một nhà quý tộc yếu kém. Đường sá thì kinh khủng và gần như không thể đi lại được ở hầu hết mọi noi. Thu thuế là một nghề nguy hiểm đòi hỏi sự kiên trì và khôn khéo. Quả thật, đất nước được mọi người biết đến qua Paris, trong nhiều trường hợp, thậm chí còn đi sau các thuộc địa ở Bắc Phi và các nơi khác. Trong một quyển sách dày và lôi cuốn, La rebellion frangaice, sử gia Jean Nicolas cho thấy, văn hóa nổi loạn đã phát triển cực kỳ tinh vi - trong lịch sử, nổi loạn được xem như môn thể thao quốc gia thực thụ của người Pháp.

Chính Paris cũng gần như không được kiểm soát bỏi nước Pháp - chẳng hơn gì khu ổ chuột Rio được gọi là favelas hiện đang được cai trị bỏi nhà nước tập quyền Brazil. Vua Mặt trời Loius XIV đã dời kinh đô đến Versailles để trốn tránh đám đông Paris. Paris chỉ trở nên được kiểm soát từ thập niên 1860 sau khi Haussman phá hủy các chung cư và các khu phố hẹp để làm những đại lộ lớn giúp cảnh sát có thể kiểm soát đám đông. Thực chất, nước Pháp vẫn bao gồm Paris và “hoang mạc”, vì Paris không quan tâm nhiều đến phần còn lại của nước Pháp. Đất nước chỉ tập trung hóa sau những chương trình lâu dài và các “kế hoạch năm năm” về đường bộ, đường sắt, trường công lập, và việc lan truyền máy truyền hình - một giấc mo hội nhập kiểu Napoleon bắt đầu bỏi De Gaulle sau chiến tranh, chỉ được hoàn thành dưới thời Valéry Giscard d’Estaing vào cuối thập niên 1970, thời điểm bắt đầu diễn ra quá trình phân quyền.43 Nước Pháp có thể đã hưởng lợi trong hai thập niên trong một nhà nước lớn tập quyền; nhưng người ta cũng có thể lập luận rằng, đất nước hưởng lợi vì may thay, nhà nước quy mô lớn đã thúc đẩy tăng trưởng xong rồi không lưu lại quá lâu đến mức người ta không muốn tiếp đón nữa.

Thụy Điển và nhà nước lớn

Bên cạnh nước Pháp, tôi cũng bối rối bỏi câu chuyện của Thụy Điển và các nước Bắc Âu khác, thường là hình ảnh mẫu mực của một nhà nước lớn vận hành tốt đẹp - chính phủ ứng với một tỷ lệ lớn trong nền kinh tế. Làm sao chúng ta có đất nước Đan Mạch hạnh phúc nhất trên thế giới (giả định rằng hạnh phúc có thể đo lường và có thể ước mơ) lại gắn liền với một nhà nước lớn khổng lồ? Phải chăng các nước này đều nhỏ hơn so với khu vực đô thị New York? Cho đến khi đồng tác giả của tôi, nhà khoa học chính trị Mark Blyth, cho tôi thấy rằng cũng có một câu chuyện giả tạo ở đây: nó cũng gần giống hệt như câu chuyện ở Thụy Sĩ (nhưng với khí hậu tệ hơn và không có các khu nghỉ mát trượt tuyết). Nhà nước tồn tại như một cơ quan thuế vụ, nhưng tiền được chi tiêu tại chính các làng xã, được chỉ đạo bỏi chính quyền làng xã, ví dụ như để đào tạo những kỹ năng mà địa phương xác định là cần thiết, để đáp ứng trước nhu cầu riêng về lao động. Giới quyền thế kinh tế tự do hơn so với trong hầu hết các nền dân chủ khác - điều này khác hẳn với sự tập trung quyền lực mà người ta có thể hình dung từ bên ngoài.

Hơn nữa, minh họa cho lập luận hưởng lợi từ sự lộn xộn, Thụy Điển và các nước Bắc Âu khác đã trải qua suy thoái nghiêm trọng vào cuối thời Chiến tranh lạnh, khoảng năm 1990, mà họ phản ứng một cách đáng khâm phục bằng chính sách thắt chặt ngân sách, qua đó bảo vệ họ hữu hiệu thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính khốc liệt diễn ra khoảng hai thập niên sau.

NHẦM TƯỞNG CHẤT XÚC TÁC LÀ NGUYÊN NHÂN

Khi những hệ thống bị ràng buộc và thèm khát sự xáo trộn tự nhiên bị sụp đổ, như cuối cùng nhất định phải thế bởi vì chúng mỏng manh, sự thất bại không bao giờ được xem là hậu quả của tính mỏng manh. Thường thì những thất bại đó được lý giải là sản phẩm của công tác dự báo yếu kém. Hệt như với một đống cát vụn, thật là không sáng suốt khi lý giải sự sụp đổ của một chiếc cầu mỏng manh là do chiếc xe tải cuối cùng đâm vào đó, và thậm chí còn ngu xuẩn hơn khi cố gắng đoán trước xem chiếc xe tải nào sẽ làm cầu sập. Vậy mà điều này vẫn xảy ra quá thường xuyên.

Năm 2011, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đổ lỗi cho thất bại tình báo vì chính phủ đã không dự đoán trước cuộc nổi dậy ở Ai Cập diễn ra vào mùa xuân (cũng hệt như nguyên tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đổ lỗi cho thất bại tình báo vì nội các của ông đã không thấy trước cuộc nổi dậy Hồi giáo năm 1979 ở Iran), bỏ qua sự kiện là chính rủi ro bị kìm nén trong “những chiếc đuôi thống kê” mới là quan trọng - chứ không phải việc không thấy được những hạt cát sau cùng. Một điểm tương đồng với kinh tế học: sau khi bắt đầu khủng hoảng tài chính vào năm 2007-2008, nhiều người tưởng rằng việc dự báo tình trạng tan chảy của nợ bất động sản dưới chuẩn (mà họ tưởng là đã châm ngòi cho khủng hoảng) lẽ ra đã có thể giúp ích. Nhưng thật ra nợ bất động sản dưới chuẩn là triệu chứng của khủng hoảng chứ không phải nguyên nhân cơ bản của khủng hoảng. Tương tự, Obama đổ lỗi cho “công tác tình báo yếu kém” vì chính quyền của ông không thể dự đoán cuộc nổi dậy diễn ra ở Ai Cập là triệu chứng của việc hiểu sai các hệ thống phức hợp và những chính sách yếu kém liên quan. Và các siêu cường là những con gà tây chất phác trong câu chuyện này.

Sai lầm của Obama minh họa cho ảo tưởng về chuỗi nhân quả cục bộ - nghĩa là tưởng lầm chất xúc tác là nguyên nhân và giả định rằng người ta có thể biết chất xúc tác nào sẽ gây ra tác dụng nào. Tất cả những người quan sát đều có thể dự đoán được kịch bản cuối cùng của bạo loạn ở Ai Cập, nhất là những người có liên quan. Hiểu theo nghĩa hẹp, việc đổ lỗi cho CIA hay cơ quan tình báo nào khác là không sáng suốt cũng hệt như việc tài trợ cho cơ quan này để dự báo những biến cố như vậy. Chính phủ các nước lãng phí hàng triệu đôla cho nỗ lực dự báo những biến cố được sinh ra bởi những hệ thống không có tiền lệ và do đó không thể hiểu được về mặt thống kê ở cấp độ riêng lẻ.

Hầu hết những cách giải thích cho các vụ bạo loạn đều nhầm tưởng chất xúc tác là nguyên nhân. Cứ xem thử cuộc nổi dậy “Mùa xuân Ảrập” vào năm 2011. Nổi loạn ở Tunisia và Ai Cập thoạt đầu được quy cho tình trạng giá hàng hóa gia tăng, chứ không phải do chế độ độc tài kiềm hãm và không được ưa chuộng. Nhưng Bahrain và Libya là những nước giàu có thể nhập khẩu ngũ cốc và các hàng hóa khác. Hơn nữa, chúng ta đã có giá hàng hóa cao đáng kể trong nhiều năm trước mà không có nổi loạn chút nào. Một lần nữa, người ta đã sai ngay từ trọng tâm, ngay cả nếu logic nghe có vẻ thuận tai. Chính hệ thống và tính mỏng manh của nó, chứ không phải các biến cố, là trọng tâm cần được nghiên cứu. Đó là cái mà các nhà vật lý gọi là “lý thuyết thấm” (percolation theory), trong đó người ta nghiên cứu các thuộc tính của tính ngẫu nhiên của địa hình chứ không phải các thuộc tính của một yếu tố riêng lẻ trong địa hình.

Mark Abdollahian thuộc Tập đoàn Sentia, một trong những nhà thầu chuyên cung cấp dịch vụ phân tích dự đoán cho chính phủ Hoa Kỳ (những người đã thất bại trong việc cảnh báo), từng nhận xét về Ai Cập rằng, các nhà hoạch định chính sách nên “nghĩ chuyện này như Las Vegas. Khi chơi bài xì dách, chỉ cần chơi tốt hơn bình quân 4 phần trăm thôi là bạn thực sự ăn tiền.” Nhưng phép so sánh này thật khập khiễng - mà tôi phản đối gần như mọi thứ. Đối với Ai Cập, không có “4 phần trăm tốt hơn”. Vấn đề không chỉ là đồng tiền bị lãng phí mà là việc xây dựng một niềm tin giả tạo dựa vào một trọng tâm sai lầm. Nó cho thấy, các nhà phân tích tình báo có cùng một sai lầm hệt như những hệ thống quản lý rủi ro đã không dự đoán được khủng hoảng kinh tế - và viện ra những cái cớ hệt như nhau khi họ thất bại. Những biến cố kinh tế và chính trị hiếm hoi (tail events)44 vốn dĩ không thể dự đoán, và người ta không thể đo lường được xác suất của chúng bằng khoa học. Bất kể bao nhiêu đôla đã được chi tiêu cho công tác nghiên cứu, việc dự đoán các cuộc nổi dậy không phải là việc đếm những lá bài; con người sẽ không bao giờ có thể biến chính trị và kinh tế thành tính ngẫu nhiên dễ xử lý của trò chơi bài xì dách.

ổi nguồn lực sản xuất - không như câu chuyện vị bác sĩ giỏi đánh máy, các nước không thể thay đổi hoạt động sản xuất một sớm một chiều. Thật vậy, độc canh (tập trung vào một loại hoa màu duy nhất) hóa ra là chiến lược chết người trong lịch
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.