Con đường từ sân bay về thành phố không phải là con đường bình thường, mà là một con đường ngập lá cây tuyết tùng[1]. Khi nhìn thấy những lớp lá tuyết tùng trải dày trên mặt đường này, tôi chợt nhớ ra rằng đã khá lâu tôi chưa quay lại thành phố này, nơi tượng trưng thời thơ ấu của tôi và là nơi mà suốt cả đời mình, tôi sẽ gửi vào đấy những ước mơ táo bạo nhất.
Tôi không tìm được ngay phố nhà của bác sĩ Ivan Ivanych. Vì vào thời kỳ “của tôi”, trên phố này chỉ có một dãy nhà, và chính đó là dãy nhà của bác sĩ. Hồi ấy tất cả những ngôi nhà khác đều chỉ mới tồn tại trong kế hoạch của Hội đồng Hành chính khu mà thôi. Vậy mà giờ đây, ngôi nhà nhỏ gọn ấy, nơi tôi đã từng ngủ lại nhiều đêm và đọc quyển nhật ký của người hoa tiêu tên là Klimov, nay bị che khuất bởi những ngôi nhà cao lớn xung quanh. Những buổi tối của thời thanh xuân đáng yêu làm sao! Mặt sàn gỗ của căn phòng bên cạnh kêu lên kin kít bởi bước chân của Volodya. Đột nhiên bác sĩ bắt chước tiếng vịt, kêu lên mấy tiếng rồi vung mạnh tay, đọc lên một đoạn sách mà ông thích. Giữa lúc đó bà Anna Stepanovna đi lại phía tôi. Bà là người phụ nữ mà ta hoàn toàn có thể tin tưởng, có thể kể cho bà nghe tất cả mọi chuyện. Bà có thân hình cao lớn, tính tình thẳng thắn, đối xử với mọi người rất công minh. Bà lặng lẽ đặt trước mặt tôi một đĩa thức ăn buổi sáng.
… Cho đến bây giờ bà vẫn chưa bị còng lưng, vẫn chưa chịu khuất phục trước những nỗi đau khổ. Chỉ có mái tóc kia là bắt đầu điểm bạc và mấy nếp nhăn đã hằn rõ bên mép. Từ nét mặt và thân hình của bà, toát ra một sức sống khỏe khoắn và một cái gì rất giống đàn ông của những phụ nữ đã có tuổi.
- Bây giờ xưng hô với anh thế nào nhỉ? – Bà dè dặt lên tiếng. Sau khi gặp nhau ở giữa vườn hoa nhỏ nằm trước mặt nhà, chúng tôi đã cùng nhau đi vào phòng ăn. Gian phòng này vẫn hoàn toàn giữ được bộ mặt cũ của nó: mặt sàn màu vàng, sạch bóng, bên trên lót một tấm thảm kiểu nông thôn. – Hồi đó anh còn bé lắm, bao nhiêu năm đã trôi qua rồi nhỉ? Mười lăm năm hay hai mươi năm nhỉ?
- Mới mười chín năm thôi, bác Anna Stepanovna ạ. Bác cứ gọi cháu là Sanya như ngày trước ấy. Đối với bác, cháu mãi mãi là Sanya.
Chỉ cần nhìn qua cái vẻ của tôi là bà biết ngay rằng tôi đã biết hết chuyện của Volodya, nhưng mãi bà vẫn không nhắc đến tên cậu ta. Tôi nghĩ rằng hành động này của bà hoàn toàn xuất phát từ một thiện ý. Bà không muốn trong chốc lát tôi phải chia sẻ gánh nặng đau khổ của bà. Tôi vừa định nói đến thì bà liền gạt đi, rằng: “Cái đó sẽ nói đến sau!”
- Anh đến đây với chúng tôi có việc gì không? Anh sẽ ở lại đây có lâu không? Thấy anh khỏe tôi rất mừng!
- Cháu sẽ ở lại đây không lâu đâu, bác Anna Stepanovna ạ. Nội nhật hôm nay chúng cháu đã phải bay rồi.
- Chà, khá lắm. Bây giờ đã là phi công hải quân, lại được thưởng Huân chương nữa, – bà nói giọng đầy tự hào như sung sướng thay cho tôi. – Chuyến này cháu từ mặt trận nào về thế?
- Cháu từ “Đất mới” về bác ạ. Còn lần trước thì từ thành phố Bắc cực. Tức là từ chỗ bác Ivan Ivanovich đến đấy ạ.
- Tôi không tin.
- Cháu nói thực đấy ạ.
Bà Anna Stepanovna im lặng hồi lâu.
- Nghĩa là anh đã gặp nhà tôi?
- Vâng, cháu gặp bác ấy luôn. Trong thư gửi về cho bác, chẳng lẽ bác ấy lại không nói gì tới chuyện ấy sao?
- Có, có nói đến, – bà Anna Stepanovna đáp.
Lúc này tôi mới chợt hiểu rằng bà cũng biết chuyện Katya. Nhưng tôi không ngắt lời bà, như bà đã ngắt lời tôi khi tôi nói đến Volodya. Còn ai có thể cảm thông một cách sâu sắc và mãnh liệt hơn bà về nỗi xót thương, băn khoăn của tôi? Bà không an ủi tôi bằng những lời nói, cũng không đem nỗi đau khổ của mình so sánh với nỗi đau khổ của tôi. Bà chỉ ôm tôi, hôn lên đầu tôi. Còn tôi, tôi hôn trả lên bàn tay của bà.
- Còn ông già ấy của tôi thế nào? Có khỏe mạnh luôn không?
- Bác ấy rất khỏe ạ.
- Bây giờ ông ấy còn phục vụ trong quân đội là đã quá tuổi rồi đấy, – bà Anna trầm ngâm nói. – Hồi sống ở đây ông ấy rất cởi mở, quen thân với nhiều người. Đã sáu mươi mốt tuổi mà vẫn còn tại ngũ là không phải chuyện đùa đâu. Tôi có thể báo cho bà con ở đây biết tin anh bay đến đây không? Thời gian của anh như thế nào?
Tôi nói rằng tôi có thể ở đây đến tối. Thế là bà vội vàng đặt trước mặt tôi nào bánh mì, nào cá, và cả một cốc rượu nho nhà làm (rượu nho do các gia đình ở thành phố Zapolyarye tự làm lấy đều có vị rất ngon) rồi trùm khăn lên đầu, nói mấy tiếng xin lỗi, đoạn đi ngay ra ngoài.
Về phía tôi, thực ra cũng cần phải đắn đo trước khi trả lời cho bà Anna rằng có nên loan tin tôi đến đây cho bạn bè không. Không đến một tiếng rưỡi đồng hồ sau, một chiếc xe con chạy đến đỗ xịch cạnh vườn hoa nhỏ, tôi ngạc nhiên nhìn thấy toàn bộ các đồng chí trong tổ bay của tôi đều ngồi trong chiếc xe ấy. Cậu bắn súng máy và cậu vô tuyến điện viên cười rộ lên từng hồi, không hiểu bởi duyên cớ gì. Còn cậu hoa tiêu thì ngồi sóng đôi với cậu lái, mơ màng nhả từng cuộn khói tròn lên không trung.
- Sanya, đồng chí Ledkov cho xe đến đón chúng ta rồi đấy, – khi thấy tôi đi ra, anh ta nói. – Lên xe nhanh lên. Chúng ta sẽ ăn sáng ở đấy, sau đó…
- Đồng chí Ledkov nào nhỉ?
- Không biết. Chỉ thấy một chị người cao to đầu choàng khăn chạy vào sân bay, nói rằng có đồng chí Ledkov nào đấy cho xe đến đón chúng ta. Chị này là người của Ủy ban hành chính biên khu.
- Đồng chí Ledkov? Hượm đã, à tôi nhớ ra rồi! Đúng là đồng chí Ledkov rồi!
Đồng chí Ledkov là ủy viên ủy ban hành chính biên khu trước đây bị thương nặng ở chân được tôi và bác sĩ Ivan Ivanovich đưa máy bay đến đón. Ông là một người nổi tiếng trong những người Nenets ở phương Bắc chẳng kém gì Ilya Vylka có tiếng tăm ở Đất mới. Nhân đây xin nói thêm rằng, trước đây không lâu, khi còn ở thành phố Bắc cực, bác sĩ cũng có nhắc đến đồng chí Ledkov, rằng ông ta là một cán bộ có năng lực và mạnh dạn. Chỉ mấy tuần sau khi lên nắm quyền, ông ta đã chuyển được toàn bộ cuộc sống tản mạn của số đông dân du mục phù hợp với nhu cầu chiến tranh.
- Đồng thời, – bác sĩ nói, – ông ta cũng muốn biết anh đã tìm được thuyền trưởng Tatarinov chưa. Anh còn nhớ không, lúc ấy chúng tôi đã từng nóng lòng chờ anh dẫn đội thám hiểm đến.
Ông ấy đã tìm đến những người dân Nenets để hỏi dò, vì theo như ông ấy biết thì trong dân tộc này có lưu truyền một câu chuyện về con tàu “St. Maria”.
Vì thế không có gì khó tưởng tượng rằng đồng chí Ledkov sẽ rất sung sướng đón tiếp chúng tôi ở giữa cái thành phố Zapolyarye này. Giờ đây tôi vẫn còn nhớ láng máng cái dáng vóc của ông ấy, nhưng đến khi nhìn thấy ông ta với trạc người còn khá trẻ, thì tôi không sao khỏi ngạc nhiên. Bộ mặt ông ta rắn chắc như tạc bằng đá hoa cương, trên mép một bộ ria nhỏ cứng, đứng thẳng kiểu Trung Quốc, ông ta đứng trên bậc tam cấp trước tòa nhà dùng làm trụ sở của ủy ban, đón chúng tôi. Lúc ăn cơm, tôi kể cho ông nghe khá nhiều những câu chuyện chiến đấu của bác sĩ Ivan Ivanovich ở hạm đội Phương Bắc. Sau bữa cơm chúng tôi đi thăm xưởng gia công đồ gỗ, và sau đó đến phòng khám bệnh vừa xây dựng xong và một số nơi khác nữa. Ở đâu chúng tôi cũng được mời mọc ăn uống và ở đâu tôi cũng đem chuyện chiến đấu của bác sĩ Ivan Ivanovich ra kể. Đến nỗi về sau bản thân tôi cũng cảm thấy rằng, nếu thiếu bác sĩ Ivan Ivanovich thì cuộc chiến đấu bảo vệ của chúng tôi ở miền Bắc sẽ bị trục trặc.
Tôi đi thăm chơi khắp thành phố Zapolyarye với một niềm hân hoan sâu sắc. Khi tôi rời khỏi nơi đây, thành phố mới có sáu tuổi, thế mà bây giờ nó đã mười lăm tuổi tròn rồi. Một điều rất rõ rệt mà ai nhìn qua cũng thấy ngay là thành phố này đã không để quãng thời gian ấy trôi qua một cách vô ích, nhất là ba năm quý báu nhất hiến dâng cho chiến tranh Vệ quốc.
Nếu đi sâu quan sát, bạn có thể nhận thấy một cách dễ dàng hơi thở của chiến tranh qua rất nhiều sự vật, trong cái thành phố còn cách mặt trận những hai nghìn năm trăm cây số này. Bến cảng vẫn như xưa, vẫn có những người chờ đáp tàu đi Karskaya. Nhưng dọc theo các cầu tàu không thấy bóng những con tàu buôn của nước ngoài nữa, không còn thấy bóng những người khách da đen náo nhiệt đi lại trên đường phố nữa. Tuy rất nhiều bè mảng vẫn từ thượng nguồn của các dòng sông Yenisey, Angara, Tunguska hạ xuôi về “chợ gỗ”. Tuy trên những bè mảng đó vẫn có những chiếc chòi nhỏ, từ đó quyện lên những làn khói xanh lam nhè nhẹ và trên những sợi dây chằng vẫn thấy phơi quần áo, tất cả những cái đó đem đến cho làng Protoca trên mặt nước này một không khí yên lặng thái bình. Nhưng dưới con mắt của những người có kinh nghiệm thì rất dễ nhận ra rằng những đống gỗ kết thành cái làng thái bình trên mặt nước ấy quyết không phải dùng vào mục đích hòa bình.
Nhưng buổi tối, khi chúng tôi đến Medvezhy Log thì tôi hết sức ngạc nhiên trước một cảnh tượng hết sức bất ngờ. Trước kia nơi đây chỉ có ngôi chòi của anh bạn Udagir, người dân tộc Evenki[2] của tôi. Thế mà bây giờ ở đây đã mọc lên hai tòa nhà lầu hai tầng rất khang trang rộng rãi. Tôi có cảm giác ở nơi này, giữa thời “trước” và “sau” chiến tranh có một nhịp cầu bắc qua. Cuộc sống của chúng ta chẳng những phản ánh một cuộc sống không ngừng tiến công, mà còn tỏ rõ sự lớn mạnh và vững vàng trong sự nghiệp vĩ đại xây dựng miền Bắc cực xa xôi.
Có một số việc cần giải quyết nốt trước khi bay, nên tôi để cho cậu hoa tiêu và cậu bắn súng máy về sân bay trước, còn mình thì lưu lại trong phòng làm việc của đồng chí Ledkov cùng với ông ta.
Bà Anna Stepanovna đã ra về. Chúng tôi hẹn nhau là trước khi cất cánh thế nào cũng đến tận nhà chào bà.
- Nào, đồng chí nói cho thật, – Ledkov lên tiếng. – Cái ông già ấy của chúng tôi làm ăn ra sao ở đằng ấy? Cần nhớ rằng thiếu ông ấy chúng tôi như thiếu một cánh tay đấy.
- Ý đồng chí muốn nói gì?
- Điều ông già về, cho ông ấy phục viên. Người ta đã quá tuổi lâu rồi.
- Không được đâu, ông ấy không chịu nằm lại đây đâu, – tôi nói giọng khẳng định vì nhớ lại cái vẻ giận dữ của Ivan Ivanovich khi đại đội trưởng không để ông tham gia vào cuộc hành trình mạo hiểm của tàu ngầm. – Hay là tạo điều kiện cho ông già về phép nghỉ một chuyến? Chứ lúc này mà bắt ông ấy nghỉ hẳn thì ông ấy không chấp nhận đâu.
Tôi dùng chữ “lúc này” là có ý chỉ giai đoạn sắp tới, sắp kết thúc chiến tranh, không ngờ đồng chí Ledkov lại hiểu sai ý tôi. Ông cho rằng “lúc này” là thời gian sau khi Volodya hy sinh.
- Vâng, thật đáng tiếc cho Volodya, – ông nói. – Nó là một đứa trẻ hết sức trung hậu và chất phác! Cháu nó làm khá nhiều thơ. Đồng chí có biết không, đã có lần bác sĩ bí mật gửi thơ của nó đến cho Gorky xem, về sau giữa Gorky và Volodya có thư từ qua lại. Chúng tôi có rút ra một câu trong thư của Gorky gửi cho Volodya làm khẩu hiệu cho trường phổ thông.
Ông chỉ cho tôi xem câu khẩu hiệu ấy, tôi đọc: “Không có trẻ em ở nơi nào trên thế giới này gian khổ hơn các cháu. Nhưng các cháu hãy bằng công việc trong tương lai của mình, làm cho trẻ em toàn thế giới đều trở thành những dũng sĩ đáng kiêu hãnh như các cháu”. Bên trên câu khẩu hiệu hành động xuất sắc ấy là hình vẽ Gorky từa tựa như người Nenets.
Chúng tôi ngồi trên chiếc đi-văng đặt cạnh cửa sổ lớn. Từ đó nhìn ra ngoài chỉ có thể nhìn thấy những quãng đường mới đắp kéo dài từ bờ sông vào tận khu rừng già. Xưởng gia công gỗ không ngừng nhả khói, những chiếc cần cẩu chạy qua chạy lại giữa những đống gỗ đầy ộn cạnh chợ. Xa xa là những mảng rừng non xanh mượt…
Trong lúc hai chúng tôi ngồi im lặng không nói lời nào, thì bên ngoài cửa sổ đang diễn ra một cuộc nói chuyện không có âm thanh rất trang nghiêm. Cuộc nói chuyện âm thầm đó bắt đầu diễn ra trong cái khoảnh khắc những người Xô Viết lần đầu tiên tiến vào vùng đất liền bờ sông Yenisey đã từ lâu bị con người quên lãng.
Tôi liếc mắt nhìn đồng chí Ledkov. Ông đứng dậy đi cà nhắc (một chân ông là chân giả) đến trước cửa sổ. Trên khuôn mặt nghiêm trang và hum húp tựa như gương mặt của người Mông Cổ ấy sáng long lanh một đôi mắt rất thông minh. Một niềm xúc động thoáng lướt qua mặt ông. Và tôi lập tức hiểu rằng ông đang đánh giá các giây khắc ngắn ngủi ấy.
- Các đồng chí đã làm rất nhiều việc, – tôi nói.
- Có gì đâu. Chúng tôi mới bắt đầu thôi. Đây chỉ là bước đi thứ nhất, – ông đáp. – Hồi chưa nổ ra chiến tranh, chúng tôi cũng đã từng nghĩ rằng mình đã làm được khá nhiều việc. Nhưng bây giờ tôi mới thấy rõ rằng chúng tôi chỉ mới làm được có vài ba việc trong đống công việc nhiều đến hàng nghìn hàng vạn…
Lúc từ biệt, tôi hỏi ông về chuyến đi vừa qua xuống các bản làng của người Nenets, ở đấy đang lưu truyền những mẩu chuyện về con tàu “St. Maria”. Có phải ông đã từng đến đó và đã từng hỏi những người Nenets không.
- Tất nhiên là tôi đã đến với họ. Đó là một bản của dân tộc Yaptungay.
- Kết quả thế nào?
- Tôi đã tìm thấy.
Chợt tim tôi đập rộn lên như một chú bé mười bảy tuổi.
- Thế là thế nào? – Tôi cố hỏi bằng giọng trấn tĩnh.
- Chẳng những tìm được mà còn ghi lại tỉ mỉ. Nhưng bây giờ tôi không nhớ rõ để những thứ ấy ở đâu rồi, – ông nhìn sang phía chiếc giá sách chất rất nhiều cặp văn kiện và những cuộn giấy to tướng, nói. – Đại thể tình hình như thế này: Đã rất lâu về trước, từ cái thời ông nội tôi còn sống kia, có một thủy thủ tự dưng xuất hiện trước những người Yaptungay. Anh ta là thủy thủ của một thuyền săn bị băng đánh đắm trên biển Kara. Theo lời người thủy thủ này thì bọn họ có mười người được cứu sống, và họ đã sống qua mùa đông trên một hòn đảo ở phía bắc bờ Taymyr. Sau đó họ bắt đầu đi về phía đất liền. Nhưng trên đường đi họ đã bị chết rất nhiều. Nhưng anh ta “không cam chịu chết ở một chỗ”, nên tiếp tục đi về phía trước. Và thế là anh ta đã tìm được đến chỗ ở của những người Yaptungay.
- Anh ta có để tên lại không ạ?
- Không, sau đó không bao lâu thì anh ta chết. Tôi đã ghi lại như thế này: “Anh ta đến, nói rằng mình sẽ sống. Nhưng vừa nói xong thì chết ngay”.
Trong phòng của Ledkov treo một tấm bản đồ vùng biển Kara của người Nenets. Tôi lần theo bản đồ tìm được tuyến đường quen thuộc đến quần đảo Nga, eo biển Sterlegov và cửa sông Pyasina…
- Những người Yaptungay sống ở khu vực nào?
Ledkov chỉ lên bản đồ. Thực ra khi ông chưa chỉ, tôi cũng đã dùng mắt vạch ra đường ranh giới phía bắc của khu vực ấy một cách chính xác.
- Anh ta là thủy thủ của tàu “St. Maria”.
- Anh cho rằng như thế ư?
- Chúng ta hãy tính toán xem. Theo lời người thủy thủ ấy thì có mười người được cứu thoát ra khỏi con tàu bị đắm.
- Đúng thế, mười người.
- Hoa tiêu Klimov dẫn theo mười ba người. Vậy là còn lại trên tàu mười hai người. Trong đó thợ máy Tiss và thủy thủ Skachkov đã hy sinh ngay trong năm đầu tiên của cuộc thám hiểm, nên còn lại mười người. Nhưng vấn đề không chỉ ở chỗ đó. Trước đây tôi đã có thể chứng minh cả con đường mà họ đã đi qua, sai số không quá nửa độ. Nhưng lúc đó còn một chi tiết tôi chưa tìm ra là họ đã đi đến sông Pyasina chưa.
- Thế bây giờ?
- Bây giờ thì rõ cả rồi.
Tôi chỉ lên một điểm trên bản đồ. Nếu như ngày nay, trên trái đất này còn lưu lại những dấu vết của đoàn thám hiểm của thuyền trưởng Tatarinov, thì những dấu vết đó chắc chắn là in trên khu vực này…
- Bác Anna Stepanovna thân yêu, thật là không phải với bác, cháu ngồi đằng ông Ledkov lâu quá, – buổi tối khi đến nhà bà Anna Stepanovna, tôi thấy bà đang ngồi bên cạnh bàn ăn đã bày sẵn chờ tôi, tôi liền xin lỗi. – Bây giờ cháu lại phải đi ngay rồi. Trước khi đi cháu xin hôn bác.
Chúng tôi ôm hôn nhau.
- Bao giờ thì anh trở về?
- Ai mà biết được bao giờ? Có thể ngày mai, cũng có thể chẳng bao giờ cả.
- “Chẳng bao giờ”, đó là những chữ rất đáng sợ, – bà thở dài nói và làm dấu thánh. – Anh đừng nói gở, rồi anh sẽ trở về. Anh sẽ sống rất hạnh phúc. Tất cả người già chúng tói đều cầu phúc cho anh.
… Đêm khuya. Chỉ khi nào nhìn vào mặt đồng hồ mới có thể biết được lúc này là đêm khuya. Chúng tôi cất cánh ra đi từ thành phố Zapolyarye. Vầng mặt trời đỏ rực treo lơ lửng trên không. Những dải mây màu lông vịt bay lướt qua và lớn lên rất nhanh, tựa như những đụn khói than phụt ra từ đầu máy tàu hỏa.
Phải chăng lúc này tôi đang nghĩ đến một ngày mà suốt đời tôi hằng mong đợi? Không phải! Lúc nãy tôi không tham gia vào tổ kiểm tra máy, nên bây giờ cứ băn khoăn, không biết máy móc đã được kiểm tra tốt chưa.
❀ ❀ ❀
[1] Tên khoa học là Cedrus. – N.D.
[2] Một dân tộc sống ở miền Đông Sibir. – N.D.