Nếu phải kể tỉ mỉ quá trình tìm ra tung tích của đội thám hiểm thuyền trưởng Tatarinov, e rằng phải viết riêng một quyển sách. Xin nói thực là trong tay tôi đã có rất nhiều tài liệu. Mọi người đều biết rằng trước kia có một nhà hàng hải người Pháp rất nổi tiếng tên là Dumont d’Urville lúc còn nhỏ ông đã chỉ ra một cách chính xác đến kinh người nơi mà sau này ông sẽ tìm thấy đội thám hiểm của La Perouse. Còn tôi bây giờ trong tay có nhiều tài liệu hơn ông ta nhiều. Vì cuộc đời của thuyền trưởng Tatarinov gắn bó chặt chẽ với cuộc sống hằng ngày của tôi. Kết luận tìm ra dựa vào những tài liệu đã có, quan hệ mật thiết đến ông và cũng gắn liền với tôi.
Nếu luận điểm cho rằng thuyền trưởng Tatarinov đã từng đặt chân lên vùng Đất mới mà ông gọi là “Đảo Maria” không có gì sai sót, thì tuyến đường mà ông đã đi qua sẽ như sau: xuất phát từ vĩ tuyến 79°35’; giữa kinh tuyến 86 và 87, đi thẳng về phía quần đảo Nga và quần đảo Nordenskiöld. Sau đó có lẽ phiêu bạt trên những đoạn đường dài, rồi từ eo biển Sterlegov đi về cửa sông Pyasina. Chính ông già người Nenets kia đã phát hiện ra chiếc xuồng con đặt trên cỗ xe trượt tuyết là ở cửa sông Pyasina. Sau đó đoàn thám hiểm hành tiến về hướng sông Yenisey, vì vùng sông Yenisey là nơi duy nhất hy vọng có thể gặp được người và sẽ được cứu. Thuyền trưởng đi dọc theo mép ngoài của bờ đảo để có thể hành tiến theo một đường thẳng…
Tìm được đội thám hiểm ấy có nghĩa là chúng tôi sẽ tìm được các thứ đồ dùng mà họ còn để lại. Máy bay của chúng tôi đã từng quần lượn nhiều lượt trên vùng này, lúc thì chở khách và thư từ đến Dikson, lúc thì vận chuyển máy móc và hàng hóa tới Nordvik và nhiều lần chở các đoàn cán bộ địa chất đi tìm mỏ dầu, mỏ than và sắt. Nếu giờ đây thuyền trưởng Tatarinov có thể đến cửa sông Pyasina ngắm nhìn thì ông chắc chắn sẽ nhìn thấy hàng chục con tàu biển đồ sộ. Trên những hòn đảo mà ông đã từng đi qua, giờ đây mọc lên rất nhiều tháp đèn điện và vô tuyến. Vào những lúc sa mù dày đặc, ông có thể nghe tiếng còi hiệu vang rền của những chiếc còi điện chỉ đường cho tàu bè qua lại. Nếu ông đi ngược dòng Yenisey lên chừng ba bốn cây số thì ông sẽ được nhìn thấy con đường sắt Bắc cực nối liền vùng Dudinka với Norilsk. Và xung quanh các vùng công nghiệp khai thác dầu cùng các xưởng gỗ, ông sẽ nhìn thấy rất nhiều đô thị mới mọc lên.
Bên trên tôi đã có nói rằng sau khi ra đến Bắc cực, tôi liền viết thư ngay cho Katya. Số thư viết mà không gửi đi hồi còn ở N. tôi hy vọng rằng sau chiến tranh hai chúng tôi sẽ có dịp cùng đọc với nhau. Những bức thư ấy hầu như đã trở thành những tài liệu dưới dạng nhật ký được viết cho riêng Katya đọc, bây giờ tôi xin trích ra đây vài mẩu viết về đoạn tìm được chỗ ở của đoàn thám hiểm.
1. Khi nhận thức được rằng cuộc sống đã đến kề bên cái nơi mà trước kia mình đã từng tưởng rằng hết sức xa xôi, anh cảm thấy vô cùng ngạc nhiên. Nơi đó chỉ cách con đường biển rộng lớn có hai bước chân. Em sẽ đúng hoàn toàn khi nói rằng “sở dĩ không tìm thấy bố vì chẳng có ai đi tìm cả”. Giữa tháp đèn và đài vô tuyến điện được dựng lên nhiều cột gỗ, không phải tạm thời mà là vĩnh viễn, để bắc dây điện thoại. Khoảng mười cây số về phía nam có mỏ đang được khai thác. Vì vậy nếu nơi này không được bọn anh phát hiện thì ít lâu sau, thế nào các công nhân mỏ cũng sẽ bắt gặp.
… Cậu hoa tiêu là người đầu tiên đã nhặt được một mẩu vải buồm rách. Cái đó thì có gì là đáng ngạc nhiên! Dọc theo bờ biển, có thể nhặt được nhiều thứ lắm! Nhưng đây là một mẩu vải buồm đã từng được dùng làm dây buộc xe trượt tuyết. Sau đó cậu bắn súng máy lại tìm được chiếc vung nhôm và một cái hộp làm bằng sắt trắng đã bị bẹp gí, bên trong đựng mấy cuộn dây gai. Thế là bọn anh chia khu vực ấy ra làm mấy mảnh và phân công mỗi người trên một mảnh…
Trên một quyển sách nào đó anh đã đọc thấy rằng các nhà khoa học có thể ức đoán được toàn bộ cuộc sống của một đất nước nào đó vào những niên kỷ xa xôi qua những dòng chữ khắc trên bia đá. Giờ đây cả mảnh đất này cũng như đang sống lại trước mắt bọn anh. Vật đầu tiên mà anh tìm được ở đây là một chiếc xuồng nhỏ làm bằng loại vải bố thường dùng làm ống nước phòng hỏa. Nói đúng ra là khi nhìn thấy cái vật mỏng, nằm dán sát trên mặt đất như chiếc bánh đa cong tớn ấy, anh liền nghĩ ngay rằng đó là một chiếc thuyền, một chiếc thuyền đang được đặt trên cỗ xe trượt tuyết hẳn hoi. Bên trong thuyền có hai khẩu súng, một tấm da thú, một cái máy lục phân và một chiếc ống nhòm dã ngoại. Tất cả những thứ đó đều đã han gỉ, mục nát. Bọn anh tìm thấy rất nhiều kiểu quần áo và một chiếc áo ngủ may bằng da hươu bên sườn một ngọn núi đá nhỏ nằm sát bờ biển. Rõ ràng là ở đây đã từng có người đóng trại, vì đến nay vẫn còn lưu lại những bức thành thấp xếp bằng đá tảng cùng những chiếc cọc gỗ, làm thành chiếc khung hình vuông. Bọn anh tìm thấy trong “lều” ấy một chiếc hộp nhỏ đựng thức ăn, mảnh vải buồm dùng làm cửa lều đã rách nát, mấy chiếc khăn lông dê và một chiếc chăn vải màu xanh nhạt cũng đã nát vụn. Bọn anh còn tìm thấy một lưỡi rìu và một chiếc cần câu, mà cả sợi dây cước và lưỡi câu vẫn còn nguyên vẹn. Bên cạnh “lều” vứt bừa bãi một số thứ: đèn cồn, chìa khóa và một chiếc hòm gỗ. Trong hòm đựng các thứ rất linh tinh cùng những chiếc kim khâu vải buồm tự làm lấy rất thô thiển. Trên một số vật dụng còn có thể nhận ra dòng chữ “Tàu St. Maria”. Nhưng trên mảnh đất này hoàn toàn trống trải, không có người sống, cũng chẳng có người chết”.
2. Đây là chiếc lò nấu ăn tự chế có thể mang theo người, một chiếc thùng đựng nước có nắp đậy đặt bên trong một chiếc thùng khác bằng sắt tây. Thường là bên dưới chúng có một lớp đáy dùng để nướng thịt gấu, chó hoặc hươu. Nhưng ở đây không có một lớp đáy như thế, mà chỉ có một chiếc hộp đựng nhiên liệu, anh cầm lắc và rất ngạc nhiên vì không ngờ trong đó còn có dầu đốt. Anh thử bơm, hơi dầu phun ra những màng sương mỏng. Bọn anh còn nhặt được ở gần đó một hộp đồ hộp với dòng chữ “Súp củ cải đỏ kiểu Nga. Nhà máy Vikhorev, Sankt-Peterburg, 1912”. Nếu ai đó muốn ăn thì có thể mở ngay hộp “Súp củ cải đỏ” này ra và đặt lên chiếc lò đã bị vứt lăn lóc trên mặt đất ròng rã ba mươi năm trời”.
3. Sau nhiều lần tìm kiếm không có kết quả, bọn anh đi theo hướng Galchikha để trở về chỗ tạm trú. Lần này bọn anh trở về từ hướng đông nam. Vì vậy những vùng gò đồi trước đây bị coi là vùng đất lồi lõm đơn điệu, nay bỗng biến thành một dạng khác ngoài trí tưởng tượng. Đó là một cái dốc khổng lồ càng đi xa càng đến gần vùng đất đã bị đông giá cứng như đá, trên đó lỗ chỗ rất nhiều hố sâu chia cắt mặt đất, tựa như có một bàn tay nào đó gây nên. Bọn anh đi dọc theo cái dốc ấy. Thoạt tiên, không ai chú ý đến một đống gỗ súc nằm chênh vênh giữa hai tảng đá tròn to tướng. Đống gỗ ấy không nhiều, chỉ có sáu súc, trong đó có một súc đã được cưa phẳng hai đầu. Hiện tượng này khiến bọn anh hết sức ngạc nhiên, vì trước đây bọn anh vẫn nghĩ rằng chỗ ở của đoàn thám hiểm chỉ cố định ở giữa sườn đồi với vách đá. Nhưng thực ra chỗ ở đã được di chuyển đến những chỗ khác.
Nếu kể ra tất cả những thứ đã tìm thấy ở đây thì rất nhiều. Bọn anh đã nhặt được đồng hồ đeo tay, dao săn, mấy thanh gỗ trượt tuyết, hai khẩu súng săn một nòng nhãn hiệu “Remington”, một chiếc áo gi-lê, một cái tẩu thuốc. Bọn anh cũng nhặt được một chiếc hộp đã mục nát, trong đó còn đựng cả phim nhựa. Cuối cùng, dưới một hốc khá sâu, bọn anh phát hiện một chiếc lều vải. Để chống gió, bên phía dưới của những tấm vải che, được đè chặt bằng gỗ súc và xương cá kình. Chính trong căn lều đã dính chặt vào băng đến nỗi phải dùng rìu mới lấy lên được này, bọn anh đã tìm thấy con người cần tìm…
Vẫn còn có thể đoán được tư thế của ông trước khi chết, ông đứng thẳng như đang lắng nghe cái gì đó, cánh tay phải đặt một bên lưng. Ông ngã gục trên mặt đất khi đã hoàn toàn kiệt sức. Bọn anh tìm thấy mấy bức thư vĩnh biệt đựng trong một chiếc túi nhỏ ở phía dưới thân ông. Rõ ràng là ông đã nghĩ rằng đặt chiếc túi ấy ở phía dưới thân mình, nó sẽ được bảo vệ tốt hơn.
4. “… về việc chúng ta còn có thể nhìn thấy ba nữa hay không, trước kia đã từng là điều không thể hy vọng được. Nhưng trước khi cái chết của ba được chứng thực, trước khi anh được tận mắt nhìn thấy cái chết của ba, cái hy vọng hão huyền và ngây thơ đó vẫn luôn luôn le lói trong tâm can anh. Bây giờ thì mối hy vọng đó đã tắt ngấm rồi. Nhưng một ý niệm khác lại bừng sáng trong anh: việc anh tìm ra thuyền trưởng hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên và vô ích. Ba không hề chết. Ba là một con người bất tử. Mới trước đây một tiếng đồng hồ thôi, một chiếc tàu lớn đã cặp vào gần tháp đèn. Các thủy thủ bỏ mũ xuống trân trọng khiêng chiếc quan tài bên trên phủ tấm vải lều đã mục nát lên đầu. Tiếng pháo mặc niệm vang lên, lá cờ trên cột tàu được hạ xuống giữa chừng. Chỉ còn lại một mình anh đi đi lại lại trên khu “nhà ở” của tàu “St. Maria” và viết bức thư này cho em – người bạn và người vợ thân yêu của anh. Giờ đây anh ao ước được ở bên em biết chừng nào. Đã kết thúc ba mươi năm rồi, nhưng anh biết, đối với em, đến ngày hôm nay ba mới qua đời. Lúc này tuồng như anh đang viết cho em từ hỏa tuyến, viết về người bạn và người cha vừa hy sinh trong cuộc chiến. Những làn sóng xúc động và tự hào vò xé lòng anh, và đứng trước cảnh tượng bất hủ này, tim anh như ngừng đập…”