Người ta kể rằng nhiều vị danh tướng từng hết sức coi trọng một số cuốn sách nhất định, chẳng hạn Alexander Đại đế quý trọng Homer; Scipio Africanus quý trọng Xenophon; Marcus Brutus quý trọng Polybius; Charles V quý trọng Philippe de Comines; và người ta cũng bảo rằng ở thời đại chúng ta, Machiavelli vẫn đang được ngợi ca ở nhiều nơi. Tuy nhiên, Cố Thống chế Strozzi — người vẫn luôn lấy Caesar làm hình mẫu cho riêng mình — chắc chắn đã có sự lựa chọn khôn ngoan nhất, bởi quả thực tác phẩm của Caesar xứng đáng là cuốn sách gối đầu giường của mọi binh sĩ, là khuôn mẫu chân chính và tối thượng của nghệ thuật quân sự. Hơn thế nữa, Chúa mới biết vị ấy đã làm cho đề tài phong phú đó trở nên lộng lẫy và tốt đẹp biết bao bằng một văn phong trong sáng, tinh tế và hoàn mỹ đến nhường nào; thiết nghĩ, không có bút tích nào trên đời có thể sánh được với ngài trong lĩnh vực ấy.
Tôi xin ghi lại đây một số chi tiết kỳ lạ và đặc sắc trong các chiến dịch của ngài mà tôi còn nhớ.
Khi đại quân của Caesar đang hoang mang trước tin đồn về lực lượng hùng hậu mà vua Juba đang dẫn dắt tiến đánh ngài, thay vì tìm cách xoa dịu nỗi sợ hãi mà binh lính đã nhiễm phải từ tin tức đó hay hạ thấp thực lực của quân địch trước mặt họ, ngài lại triệu tập toàn quân để cổ vũ và trấn an họ theo một cách hoàn toàn trái ngược với thói quen thông thường của chúng ta. Ngài bảo họ đừng bận tâm dò la về binh lực của quân địch nữa, vì ngài đã nắm rõ tường tận, rồi sau đó ngài nêu lên một con số còn vượt xa cả thực tế lẫn lời đồn đại đang lan truyền trong quân ngũ. Làm như vậy là ngài tuân theo lời khuyên của Cyrus trong tác phẩm của Xenophon, bởi việc nhầm tưởng kẻ thù yếu hơn dự kiến không tai hại bằng việc lầm tưởng kẻ thù thực sự rất mạnh sau khi đã bị nhồi sọ rằng chúng rất yếu.
Thói quen của Caesar là rèn luyện binh lính tuân lệnh một cách tuyệt đối, không cho phép họ bàn tán hay thậm chí là thắc mắc về các kế hoạch của chủ tướng — những kế hoạch mà ngài không bao giờ tiết lộ cho họ biết cho đến sát thời điểm hành động. Ngài rất lấy làm thích thú nếu họ thoáng đoán được ý định của mình, ngài liền lập tức thay đổi mệnh lệnh để qua mặt họ; và cũng vì mục đích đó, đôi khi sau khi đã định đoạt vị trí đóng quân ở một nơi nào đó, ngài lại tiếp tục tiến quân và kéo dài chặng đường hành quân trong ngày, nhất là khi thời tiết xấu và mưa gió.
Vào đầu các chiến dịch ở xứ Gaul, người Thụy Sĩ từng sai sứ giả đến xin ngài cho phép tự do đi qua các vùng lãnh thổ của La Mã. Dù đã quyết định dùng vũ lực ngăn chặn họ, ngài vẫn đối xử nhã nhặn với các sứ giả và khất lại thời gian trả lời nhằm tranh thủ khoảng thời gian đó để triệu tập đại quân. Những kẻ ngốc nghếch ấy nào đâu biết rằng ngài là một bậc thầy quý trọng thời gian đến nhường nào; bởi ngài vẫn thường nhắc đi nhắc lại rằng điều quan trọng nhất của một vị tướng là biết nắm bắt thời cơ, và sự nhanh nhạy của ngài trong các chiến dịch quả thực là chưa từng có và khó tin.
Nếu Caesar không quá câu nệ đạo đức khi tận dụng lợi thế trước kẻ thù dưới chiêu bài một hiệp ước hòa bình, thì ngài cũng chẳng câu nệ hơn trong việc chỉ đòi hỏi ở một người lính lòng dũng cảm duy nhất, và hiếm khi trừng phạt bất kỳ lỗi lầm nào khác ngoài tội phản loạn và bất tuân lệnh. Sau những chiến thắng, ngài thường thả lỏng cho họ tự do buông thả, cho phép họ tạm thời không phải tuân thủ các quy củ kỷ luật quân sự, đồng thời tuyên bố rằng binh sĩ của ngài được huấn luyện kỹ đến mức dẫu có xức dầu thơm tho đi chăng nữa thì họ vẫn lao vào trận chiến một cách cuồng nộ. Quả thực, ngài thích trang bị cho họ những thứ vũ khí lộng lẫy, bắt họ dùng áo giáp chạm khắc, dát vàng và khảm kim khí, cốt để sự xót xa khi phải gìn giữ những món đồ ấy sẽ trói buộc họ vào một cuộc kháng cự quyết liệt hơn. Khi trò chuyện với binh lính, ngài gọi họ là "những người đồng ngũ" — một cách xưng hô mà ngày nay chúng ta vẫn dùng; nhưng người kế vị ngài là Augustus đã bãi bỏ thói quen đó vì cho rằng Caesar chỉ làm vậy do tình thế bức bách và để nịnh bợ những kẻ chỉ đi theo ngài như những binh sĩ tình nguyện,
chứ cách cư xử ấy quá thấp kém và không xứng tầm với phẩm giá của một vị hoàng đế kiêm tổng tư lệnh quân đội, thế nên vị vua này đã đặt ra lệ chỉ gọi họ đơn giản là binh sĩ.
Đi kèm với sự ân cần đó, Caesar cũng tỏ ra vô cùng nghiêm khắc để duy trì kỷ luật thép; khi Binh đoàn thứ chín làm phản gần Placentia, ngài đã giáng chức và giải ngũ họ cách đầy nhục nhã dẫu cho Pompey lúc bấy giờ vẫn đang hoành hành, và ngài chỉ thu nhận họ trở lại sau vô số lời van xin. Ngài dẹp yên họ bằng uy quyền và sự táo bạo nhiều hơn là bằng những phương pháp ôn hòa.
Tại đoạn viết về chuyến vượt sông Rhine sang đất Đức, ngài kể rằng vì thấy việc đưa quân qua sông bằng thuyền là không xứng tầm với danh dự của nhân dân La Mã, ngài đã cho xây một cây cầu để binh sĩ có thể bước qua mà chân không bị ướt. Chính tại nơi đó, ngài đã dựng lên cây cầu kỳ diệu mà ngài miêu tả lại một cách vô cùng chi tiết; bởi không ở đâu ngài lại hứng thú say sưa kể về các hành động của mình cho bằng khi diễn tả lại sự tinh xảo trong các phát minh của ngài đối với những công trình thủ công kiểu ấy.
Tôi cũng nhận thấy rằng ngài đánh giá rất cao những lời cổ vũ binh lính trước trận chiến; bởi hễ khi nào muốn cho thấy mình bị đánh úp hoặc bị đẩy vào thế bắt buộc phải giao chiến, ngài luôn viện dẫn lý do rằng bản thân thậm chí không có nổi thời gian để đọc diễn văn trước ba quân. Trước trận đại chiến với người dân xứ Tournay, ngài viết: "Caesar, sau khi đã an đắp mọi việc đâu vào đấy, liền lập tức chạy đến nơi vận mệnh đưa đẩy để khích lệ binh sĩ của mình; và khi chạm trán Binh đoàn thứ chín, ng ngài chẳng còn thời gian để nói gì hơn ngoài việc nhắc nhở họ hãy nhớ lấy lòng dũng cảm quen thuộc của mình, chớ có hoảng hốt mà phải hiên ngang chống trả đòn tấn công của kẻ thù; và thấy quân địch đã tiến đến sát tầm ném lao, ngài bèn phất lệnh chiến đấu, rồi vội vã rời đi nơi khác để khích lệ những người khác thì phát hiện ra rằng họ đã lâm trận từ lâu." Đó là những gì ngài thuật lại trong đoạn văn ấy. Tài ăn nói quả thực đã giúp ích cho ngài rất nhiều trong nhiều dịp, và tài hùng biện quân sự của ngài vào thời của chính ngài nổi tiếng đến mức nhiều người trong quân ngũ đã chép lại các bài diễn văn của ngài ngay lúc ngài đang đọc, nhờ đó mà những tập sách ghi lại lời ngài đã được lưu truyền một thời gian dài sau khi ngài qua đời. Ngài có một nét duyên dáng đặc biệt khi nói chuyện đến mức những người thân cận của ngài — và Augustus là một trong số đó — khi nghe đọc lại các bài diễn văn ấy có thể nhận ra chính xác cả những cụm từ và từ ngữ không phải của ngài.
Lần đầu tiên rời khỏi Rome với một chức vụ công quyền, ngài đã đến bờ sông Rhone chỉ trong vòng tám ngày, cùng ngồi trên cỗ xe với ngài là một hoặc hai viên thư ký liên tục viết lách ở phía trước, và người cầm gươm đứng ở phía sau. Quả thực, dù có làm gì đi nữa thì người ta cũng khó lòng đạt được tốc độ chớp nhoáng như khi ngài — sau khi đã đắc thắng khắp xứ Gaul — rời khỏi nơi đó, đuổi theo Pompey đến Brundusium và chỉ trong mười tám ngày đã khuất phục toàn bộ nước Ý; rồi từ Brundusium quay về Rome; từ Rome tiến thẳng vào tận sào huyệt Tây Ban Nha, nơi ngài vượt qua vô vàn khó khăn cùng cực trong cuộc chiến chống lại Afranius và Petreius cùng cuộc bao vây kéo dài tại Marseille; từ đó ngài trở lại Macedonia, đánh tan quân đội La Mã tại Pharsalia, rồi tiếp tục vượt biển truy đuổi Pompey sang tận Ai Cập và cũng khuất phục luôn vùng đất này; từ Ai Cập ngài đi đến Syria và các vùng lãnh thổ của Pontus, nơi ngài giao chiến với Pharnaces; từ đó sang Châu Phi đánh bại Scipio và Juba; rồi lại quay về nước Ý để tiêu diệt các con trai của Pompey:
Khi bàn về cuộc vây hãm Avaricum, ngài kể rằng thói quen của ngài là túc trực ngày đêm bên cạnh đội công binh. Trong mọi chiến dịch quan trọng, ngài luôn tự mình đi thám sát và không bao giờ cho quân đóng trại trước khi đã tận mắt khảo sát địa hình; và nếu chúng ta tin vào sử gia Suetonius, thì khi quyết định vượt biển sang nước Anh, chính ngài là người đầu tiên dò đọ độ sâu của luồng lạch.
Ngài thường nói rằng ngài coi trọng một chiến thắng giành được bằng mưu lược hơn là bằng vũ lực; và trong cuộc chiến chống lại Petreius và Afranius, khi vận may mang đến cho ngài một cơ hội có lợi rõ rệt, ngài đã từ chối và tuyên bố rằng ngài hy vọng có thể lật đổ kẻ thù với một chút thời gian thong thả hơn nhưng ít rủi ro hơn. Cũng tại nơi đó, ngài đã thực hiện một hành động đáng chú ý khi ra lệnh cho toàn bộ đại quân bơi qua sông mà không có bất kỳ sự cần thiết nào bắt buộc phải làm thế:
Tôi thấy ngài có phần điềm đạm và thận trọng hơn trong các chiến dịch so với Alexander, bởi vị vua này có vẻ như luôn tìm kiếm và lao đầu vào hiểm nguy tựa như một trận thác lũ cuồng nộ tấn công và cuốn phăng mọi thứ trên đường đi mà không hề đắn đo hay suy xét kỹ lưỡng.
Hơn nữa, Alexander là một vị tướng đang ở độ tuổi thanh xuân sung mãn và nóng nảy nhất, trong khi Caesar bước vào nghiệp binh đao khi đã ở độ tuổi chín muồi và từng trải; bên cạnh đó, Alexander có thể tạng nóng nảy, bốc đồng và dễ giận dữ, lại thêm thói nghiện ngập rượu chè — thứ mà Caesar tuyệt đối kiêng dè.
Nhưng khi hoàn cảnh bức bách đòi hỏi, chưa từng có ai dám liều mạng sống của mình cho bằng ngài; đến mức cá nhân tôi ngằng ngẫm thấy trong nhiều chiến công của ngài ẩn chứa một quyết tâm sắt đá sẵn sàng hy sinh thân mình để tránh khỏi sự hổ thẹn khi bị đánh bại. Trong trận đại chiến với quân xứ Tournay, ngài đã xông lên tận hàng đầu của kẻ thù mà không mang theo khiên, ngay khoảnh khắc ngài nhìn thấy đội tiền quân của mình bắt đầu chùn bước; và tình huống đó cũng lặp lại với ngài trong nhiều dịp khác. Khi nghe tin lực lượng của mình bị vây hãm, ngài đã cải trang băng qua giữa vòng vây quân địch để đến cổ vũ họ bằng sự hiện diện của mình. Khi vượt biển sang Dyrrachium với một lực lượng vô cùng mỏng manh, và nhìn thấy phần quân chủ lực còn lại mà ngài để lại cho Antony chỉ huy tỏ ra chậm chạp trong việc bám theo mình, ngài đã đơn thương độc mã quyết định một mình vượt biển quay lại giữa một cơn bão dữ dội, lén lút trốn đi để đón phần quân còn lại trong bối cảnh các cảng ở bờ bên kia đã bị Pompey chiếm giữ và toàn bộ mặt biển đều nằm dưới quyền kiểm soát của y. Còn về những chiến tích lập được bằng sức mạnh thuần túy, có rất nhiều kỳ tích vượt quá mọi quy tắc chiến tranh về mặt hiểm nguy; ngài đã dùng một lực lượng nhỏ nhoi đến thế nào để khuất phục vương quốc Ai Cập, rồi sau đó lại tấn công lực lượng của Scipio và Juba vốn lớn gấp mười lần quân của ngài? Những con người ấy mang trong mình một niềm tin lớn lao vượt quá cả tầm phàm nhân vào vận mệnh của họ; và ngài vẫn thường bảo rằng con người ta phải dấn thân lên thuyền chứ không nên ngồi đắn đo trước những đại sự. Sau trận Pharsalia, khi đã phái đại quân đi trước sang châu Á và chỉ một mình vượt eo biển Hellespont trên một chiếc thuyền độc mộc, ngài đã chạm trán Lucius Cassius trên biển cùng mười chiến thuyền lớn, thế mà ngài vẫn đủ can đảm không những đứng chờ đối phương tới mà còn chèo thẳng đến chỗ hắn và ra lệnh bắt hắn đầu hàng, và hắn đã tuân theo.
Khi tiến hành cuộc vây hãm đầy khốc liệt tại Alexia — nơi có tới tám vạn quân đồn trú trong khi toàn bộ xứ Gaul đồng loạt cầm vũ khí để giải vây cho thành và dựng lên một đạo quân gồm một trăm lẻ chín ngàn kỵ binh cùng hai trăm bốn mươi ngàn bộ binh — ngài đã thể hiện một sự táo bạo và niềm tin mãnh liệt đến nhường nào khi nhất quyết không bỏ dở cuộc vây hãm mà quyết tâm đương đầu với hai thử thách vô cùng lớn lao ấy; thế mà ngài đã vượt qua tất cả, và sau khi giành chiến thắng vang dội trước đạo quân cứu viện bên ngoài, ngài nhanh chóng khuất phục luôn đám quân cố thủ bên trong thành phải đầu hàng phó mặc cho lòng thương xót của mình. Điều tương tự từng xảy ra với Lucullus trong cuộc vây hãm Tigranocerta chống lại vua Tigranes, nhưng hoàn cảnh của kẻ thù khi ấy không giống như vậy, nếu ta xét đến sự ủy mị của những kẻ mà Lucullus phải đối đầu. Tôi xin ghi lại đây hai sự kiện kỳ lạ và phi thường liên quan đến cuộc vây hãm Alexia này: thứ nhất, sau khi gom quân lại để đối đầu với Caesar và sau khi điểm danh toàn bộ lực lượng, người Gaul đã bàn bạc trong hội đồng chiến tranh và quyết định giải tán một phần lớn trong cái đám đông hỗn tạp ấy để tránh rơi vào cảnh hỗn loạn. Tiền lệ sợ có quá đông quân số này là một điều vô cùng mới mẻ; nhưng ngẫm cho kỹ thì quả thực một đại quân nên có quy mô vừa phải và nằm trong những giới hạn nhất định, xét cả về mặt khó khăn khi tiếp tế lương thảo lẫn việc điều hành và duy trì kỷ luật. Ít nhất thì người ta có thể dễ dàng chứng minh bằng thực tế rằng những quân đoàn có quy mô quái monstrosity (quái dị) về số lượng hiếm khi làm nên được tích sự gì. Đúng như câu nói của Cyrus trong tác phẩm của Xenophon: "Không phải số lượng con người, mà là số lượng những tráng sĩ mới đem lại lợi thế"; phần đông còn lại chỉ tổ làm vướng chân chứ chẳng giúp ích gì. Về phần Bajazet, khi quyết định nghênh chiến Tamerlane bất chấp lời can ngăn của tất cả các vị tướng, ông ta chủ yếu dựa vào niềm tin chắc nịch rằng số lượng quân địch đông đảo vô kể ấy sẽ tự chuốc lấy cảnh hỗn loạn. Scanderbeg — một chuyên gia am hiểu vô cùng sắc sảo trong những vấn đề như vậy — thường nói rằng chỉ cần mười đến mười hai ngàn tay gươm giáo đáng tin cậy là đủ để một vị tướng tài giữ vững được cục diện trong mọi tình huống quân sự. Sự việc thứ hai mà tôi muốn ghi chép lại nơi đây, dường như đi ngược lại cả phong tục lẫn các quy tắc chiến tranh, đó là việc Vercingetorix — người được suy tôn làm tổng tư lệnh của toàn bộ các vùng miền nổi dậy ở xứ Gaul — lại tự nhốt mình vào trong thành Alexia; bởi một kẻ nắm giữ quyền thống lĩnh toàn bộ một đất nước không bao giờ nên tự nhốt mình vào trong thành, trừ trường hợp lâm vào bước đường cùng tột độ khi vị trí duy nhất còn lại của y bị đe dọa và hy vọng cuối cùng của y chỉ đặt vào việc tử thủ thành phố đó; bằng không, y phải luôn giữ cho mình sự tự do để có thể kịp thời lo toan cho mọi ngõ ngách trong toàn cõi quyền lực của mình.
Trở lại với câu chuyện về Caesar. Càng về sau, ngài càng trở nên điềm tĩnh và thận trọng hơn, đúng như lời chứng thực của người bạn ngài là Oppius; ngài quan niệm rằng bản thân không nên liều lĩnh đánh cược vinh quang của ngôì vị bao nhiêu chiến thắng mà chỉ một cú sẩy tay của vận mệnh cũng có thể tước đoạt mất. Đó cũng là điều người Ý hay nói khi họ muốn quở trách sự bồng bột, liều lĩnh của tuổi trẻ bằng cách gọi họ là Bisognosi d’onore, nghĩa là "những kẻ khát khao vinh quang", rằng vì quá thiếu thốn và đói khát danh tiếng nên họ có lý do để tìm kiếm nó bằng bất cứ giá nào, nhưng những kẻ đã có thừa vinh quang thì không nên làm thế. Con người ta hoàn toàn có thể giữ được một sự chừng mực, một cảm giác thỏa mãn nhất định đối vớimối khát khao và thèm thuồng vinh quang ấy, cũng giống như trong mọi ham muốn khác; và thực tế có không ít người đã làm được điều đó.
Ngài hoàn toàn khác xa với những điều kiêng kỵ mang tính tôn giáo của người La Mã thời cổ đại — những kẻ vốn chỉ muốn giành chiến thắng trong chiến tranh bằng sức mạnh dũng mãnh thuần túy và đơn thuần; dẫu vậy, ngài vẫn có lương tri hơn chúng ta của thời đại ngày nay và không chấp nhận mọi thủ đoạn để giành lấy chiến thắng. Trong cuộc chiến chống lại Ariovistus, khi đang tiến hành đàm phán với y, đã xảy ra một vài vụ xô xát giữa đám kỵ binh do lỗi của toán khinh kỵ bên phía Ariovistus; dẫu nhận thấy bản thân đang nắm giữ lợi thế cực lớn trước kẻ thù trong tình huống đó, Caesar vẫn nhất quyết không tận dụng nó vì sợ bị thiên hạ quở trách là kẻ hành xử bất tín.
Ngài luôn có thói quen mặc những bộ trang phục sang trọng và có màu sắc sặc sỡ mỗi khi ra trận, cốt để bản thân trở nên nổi bật và dễ được quan sát hơn.
Ngài luôn siết chặt kỷ luật và quản lý binh sĩ nghiêm ngặt hơn mỗi khi đến gần kẻ thù. Người Hy Lạp cổ đại từng dùng một câu tục ngữ phổ biến để chê bai bất cứ ai kém cỏi tột độ rằng kẻ đó "vừa không biết đọc lại vừa không biết bơi"; Caesar cũng có chung quan điểm rằng bơi lội đóng vai trò vô cùng hữu ích trong chiến tranh, và bản thân ngài đã tự mình kiểm chứng điều đó. Hễ khi nào cần di chuyển thật khẩn trương, ngài thường tự mình bơi qua những con sông nằm trên đường hành quân; bởi ngài rất thích đi bộ hành quân, y hệt như Alexander Đại đế vậy. Có lần ở Ai Cập, khi bị ép phải nhảy lên một chiếc thuyền nhỏ để trốn chạy, vì có quá đông người nhào vô theo khiến chiếc thuyền đứng trước nguy cơ chìm nghỉm, ngài thà phó mặc thân mình cho sóng nước rồi tự bơi đến chỗ hạm đội đang neo đậu cách đó hai trăm bước chân, tay trái vẫn cầm chặt những tấm bảng ghi chép, miệng ngậm chiếc áo giáp để nó không rơi vào tay kẻ địch; và khi ấy ngài đã ở vào độ tuổi khá cao.
Chưa từng có một vị tổng tư lệnh nào lại được binh sĩ tín nhiệm và nể trọng đến thế: ngay vào lúc khởi đầu các cuộc nội chiến, các sĩ quan bách phu trưởng đã ngỏ ý tự bỏ tiền túi để mỗi người trang bị một kỵ binh cho ngài, còn các bộ binh thì xin được phục vụ ngài bằng chi phí của chính họ; hơn thế nữa, những người có điều kiện kinh tế khá giả hơn còn đứng ra gánh vác chi phí giúp đỡ cho những đồng đội nghèo túng hơn mình. Cố Đô đốc Chastillon từng cho chúng ta thấy một tấm gương tương tự trong các cuộc nội chiến của nước ta; bởi những người Pháp trong quân đội của ông đã tự nguyện móc tiền túi ra để trả lương cho số lính nước ngoài đi theo phò tá. Người ta rất hiếm khi tìm thấy những tấm gương về một tình cảm gắn bó tha thiết và sẵn sàng đến thế ở binh lính thời cổ đại — những người luôn tuân thủ ngặt nghèo các quy tắc quân sự; cảm xúc suy cho cùng vẫn có quyền lực thống trị tuyệt đối hơn là lý trí. Thế nhưng, điều đó vẫn từng xảy ra trong cuộc chiến chống lại Hannibal: noi gương nhân dân thành Rome ngay tại hậu phương, các binh sĩ và sĩ quan đã từ chối nhận tiền lương phục vụ trong quân ngũ, và tại đại bản营 của Marcellus, bất cứ ai chịu nhận tiền đều bị bêu danh là "lính đánh thuê". Hứng chịu thất bại gần Dyrrachium, binh sĩ của Caesar đã tự tìm đến xin chịu hình phạt và đòn roi, đến mức người ta cần phải an ủi họ nhiều hơn là quở trách. Chỉ duy nhất một đại đội của ngài đã kiên cường chống trả bốn binh đoàn của Pompey suốt hơn bốn tiếng đồng hồ cho đến khi gần như tất cả đều tử trận vì tên bắn, khiến người ta tìm thấy tới một trăm ba mươi ngàn mũi tên cắm trong các chiến hào. Một người lính tên là Scaeva, khi trấn giữ một trong các lối đi, đã chiến đấu kiên cường bất khuất dẫu đã bị mất một mắt, bị đạn bắn xuyên qua một vai và một đùi, và chiếc khiên mang theo hứng trọn hai trăm ba mươi vết lõm. Từng có nhiều binh sĩ của ngài bị bắt làm tù binh nhưng thà chọn cái chết chứ nhất quyết không chịu hứa sang đầu quân cho phe đối địch. Granius Petronius bị Scipio bắt được ở châu Phi; sau khi đã xử tử những người khác, Scipio sai người nhắn với Petronius rằng y tha chết cho hắn vì hắn là một nhân vật quý tộc mang chức quản khố quaestor. Petronius liền đáp trả rằng binh sĩ của Caesar chỉ quen ban ơn tha mạng cho kẻ khác chứ không nhận sự ban ơn đó, rồi ngay lập tức tự tay kết liễu đời mình.
Những tấm gương về lòng trung thành tuyệt đối của họ nhiều vô kể; và câu chuyện diễn ra tại Salona — một thành phố đứng về phía Caesar chống lại Pompey — là một sự kiện hiếm có không thể nào quên bởi tính chất kỳ lạ của nó. Marcus Octavius đã cho quân bao vây chặt nơi này; những người bên trong bị đẩy vào tình cảnh túng quẫn cùng cực về mọi thứ, đến mức để bù đắp cho sự thiếu hụt nhân lực khi phần lớn đàn ông đã tử trận hoặc bị thương, họ đã phóng thích toàn bộ nô lệ và buộc phải cắt hết tóc của phụ nữ để bện thành thừng phục vụ cho các cỗ máy chiến tranh của mình, chưa kể tình trạng thiếu hụt lương thực trầm trọng, thế nhưng họ vẫn giữ vững quyết tâm không bao giờ đầu hàng. Sau khi kéo dài cuộc vây hãm đủ lâu khiến Octavius trở nên lơ đễnh và kém cảnh giác hơn với mục tiêu của mình, họ đã chọn một ngày nọ vào lúc giữa trưa, sau khi bố trí phụ nữ và trẻ em lên tường thành để tạo nghi binh, liền tung ra một cuộc đột kích nhắm vào quân vây hãm với khí thế dữ dội đến mức sau khi đánh tan các tuyến phòng thủ thứ nhất, thứ hai, thứ ba rồi đến tuyến thứ tư cùng phần còn lại, đánh đuổi toàn bộ chúng khỏi các chiến hào, họ truy kích đến tận những chiếc thuyền và buộc chính Octavius phải tháo chạy về Dyrrachium nơi Pompey đang trú đóng. Hiện tại tôi không tài nào nhớ nổi mình từng bắt gặp thêm một tiền lệ nào khác mà ở đó bên bị vây hãm lại đánh cho phe vây hãm đại bại tan tác và giành lấy toàn bộ chiến trường, hay một cuộc đột kích xuất kích nào lại đạt được kết quả là một chiến thắng hoàn toàn và trọn vẹn đến thế.