Pháp luật của chúng ta có thói quen trừng phạt một vài cá nhân để làm gương cho kẻ khác. Trừng phạt họ vì đã làm điều sai quấy, theo như lời Platon, là một hành động dại dột, bởi những gì đã xảy ra thì không tài nào làm lại được; thế nhưng mục đích của việc ấy là để họ không tái phạm nữa, và để người khác tránh được vết xe đổ của tội lỗi mà họ đã gieo rắc: chúng ta đâu có trừng phạt kẻ đang bị treo cổ; chúng ta trừng phạt những người khác thông qua hình phạt dành cho kẻ đó. Tôi cũng hành xử tương tự; những lầm lỗi của tôi đôi khi xuất phát từ bản năng, không thể sửa chữa và cũng chẳng thể cứu vãn: nhưng điều ích lợi mà những bậc hiền triết mang lại cho công chúng bằng cách nêu gương sáng cho người đời noi theo, thì rất có thể, tôi lại làm được điều đó bằng cách khiến cho lối cư xử của mình bị người ta tránh xa:
bằng cách phơi bày và tự cáo giác những điểm khiếm khuyết của chính mình, sẽ có người học được cách e sợ chúng. Những phần mà tôi trân quý nhất ở bản thân lại nhận được nhiều vinh danh hơn từ việc tôi tự chê bai thay vì tự ca ngợi – đó cũng là lý do tại sao tôi lại thường xuyên rơi vào và kiên trì theo đuổi khuynh hướng ấy đến vậy. Thế nhưng, suy cho cùng, một người khi nói về bản thân mình thì chỉ có thiệt thòi; những lời tự cáo giác của một người luôn được tin tưởng, còn những lời tự ca ngợi thì không bao giờ: Rất có thể, có những kẻ có cùng tạng người với tôi, những kẻ tự rút ra bài học cho bản thân qua sự tương phản tốt hơn là qua sự tương đồng, qua việc tránh né tốt hơn là qua việc bắt chước. Cato Lão từng nhắc đến loại kỷ luật này khi ông nói rằng “người khôn có thể học hỏi từ những kẻ ngốc nhiều hơn là kẻ ngốc có thể học từ người khôn”; và Pausanias đã kể cho chúng ta nghe về một người gảy đàn hạc thời cổ đại, người thường bắt các học trò của mình đến nghe một kẻ chơi đàn rất dở sống ở đối diện nhà ông, ngõ hầu họ có thể học cách căm ghét những thứ âm thanh lạc điệu và nhịp phách sai lầm của kẻ đó. Nỗi kinh hoàng trước sự tàn ác khiến tôi nghiêng về lòng nhân ái nhiều hơn bất kỳ tấm gương nhân ái nào có thể làm được. Một nài ngựa cừ khôi không giúp tôi sửa tư thế ngồi cho bằng một gã luật sư vụng về hay một thương gia Venice trên lưng ngựa; và một cách nói năng thô kệch còn cải thiện cách nói của tôi nhiều hơn cả những lời lẽ chuẩn mực nhất. Vẻ ngoài lố bịch và ngờ nghệch của người khác luôn nhắc nhở và cảnh tỉnh tôi; thứ gì châm chích, đánh thức và kích động thì hữu ích hơn nhiều so với thứ chỉ biết vuốt ve. Đã đến lúc chúng ta cần phải cải cách theo hướng ngược lại; học hỏi qua sự bất đồng nhiều hơn là sự đồng thuận; qua sự khác biệt nhiều hơn là sự tương đồng. Thu nhận được rất ít từ những tấm gương tốt, tôi tận dụng những tấm gương xấu, thứ vốn có thể tìm thấy ở khắp mọi nơi: tôi nỗ lực để trở nên dễ mến khi thấy kẻ khác khó chịu; kiên định khi thấy kẻ khác cả thèm chóng chán; nhã nhặn khi thấy kẻ khác thô lỗ; tốt bụng khi thấy kẻ khác độc ác; nhưng tôi lại tự đặt ra cho mình những chuẩn mực khó lòng với tới.
Bài tập phong phú và tự nhiên nhất của tâm trí, theo quan điểm của tôi, chính là trò chuyện; tôi thấy việc sử dụng nó mang lại sự ngọt ngào hơn bất kỳ hoạt động nào khác trong cuộc đời; và chính vì lý do đó mà nếu bây giờ buộc phải lựa chọn, có lẽ tôi sẽ thà chấp nhận mất đi thị giác còn hơn là thính giác và giọng nói. Người Athens, và cả người La Mã, từng dành sự tôn vinh lớn lao cho hoạt động này trong các hàn lâm viện của họ; người Ý đến nay vẫn giữ lại một vài dấu vết của nó, mang lại cho họ lợi ích to lớn, điều đó hiển hiện rõ khi so sánh trí tuệ của chúng ta với trí tuệ của họ. Việc nghiên cứu sách vở là một chuyển động yếu ớt và mệt mỏi, chẳng thể làm tâm hồn nóng lên, trong khi trò chuyện vừa dạy dỗ lại vừa rèn luyện ta cùng một lúc. Nếu tôi trò chuyện với một bộ óc mạnh mẽ và một kẻ tranh luận gai góc, hắn sẽ ép sát sườn tôi, chọc giọt tôi ở cả tả lẫn hữu; những tưởng tượng của hắn khuấy động tâm trí tôi; sự ganh đua, lòng kiêu hãnh và tinh thần tranh đấu kích thích và nâng tôi lên một tầm cao vượt trội hơn chính mình; và sự dễ dãi đồng tình lại là một phẩm chất vô cùng tẻ nhạt trong đàm đạo. Thế nhưng, trong khi tâm trí chúng ta tự cường hóa bản thân nhờ sự giao lưu với những trí tuệ minh mẫn và chuẩn mực, thì không thể diễn tả hết rằng nó sẽ đánh mất và suy đồi biết bao nhiêu khi duy trì sự qua lại và thân thiết thường xuyên với những tâm hồn thấp kém và yếu nhược; chẳng có sự lây lan nào khủng khiếp bằng sự lây lan ấy; tôi hiểu rõ giá trị của nó qua những trải nghiệm xương máu của chính mình. Tôi thích bàn luận và tranh biện, nhưng chỉ với một vài người, và là cho chính bản thân tôi; bởi vì việc làm điều đó như một màn trình diễn và giải trí cho những kẻ bề trên, biến tài nghệ và ngôn từ của một người thành một cuộc diễu hành cạnh tranh, theo quan điểm của tôi, là điều vô cùng không xứng với một trang nam nhi hào hiệp.
Sự ngu ngốc là một phẩm chất tồi tệ; nhưng việc không thể chịu đựng nổi nó, cứ bứt rứt và bực bội vì nó như tôi đang làm, lại là một thứ bệnh khác chẳng kém phần phiền toái so với chính sự ngu ngốc ấy; và đó là điều mà giờ đây tôi sẽ tự cáo giác ở bản thân mình. Tôi bước vào các cuộc đàm đạo và tranh biện với sự tự do và thoải mái tuyệt vời, bởi vì những ý kiến khi chạm đến tôi đều vấp phải một mảnh đất vô cùng trơ lì, nơi chúng chẳng thể thẩm thấu hay bám rễ sâu xa; chẳng có luận điểm nào làm tôi kinh ngạc, chẳng có niềm tin nào xúc phạm tôi, dù cho chúng có trái ngược với tôi đến đâu đi nữa; chẳng có thứ tưởng tượng phù phiếm hay kỳ quặc nào lại không có vẻ phù hợp với sự sản sinh của trí tuệ con người. Chúng ta, những kẻ tước bỏ quyền phán quyết của phán quan bên trong mình, nhìn nhận các ý kiến khác nhau một cách dửng dưng, và dẫu chúng ta không ngả theo những ý kiến ấy, thì chúng ta vẫn sẵn lòng lắng nghe chúng: Khi một bên cân hoàn toàn trống rỗng, tôi vẫn để bên kia dao động trước những giấc mơ của mấy bà già; và tôi nghĩ mình có thể được tha thứ nếu tôi thích số lẻ hơn, chọn ngày thứ Năm thay vì thứ Sáu; nếu tôi thích làm người thứ mười hai hoặc mười bốn hơn là người thứ mười tạimột bữa tiệc; nếu trong một chuyến hành trình, tôi thích nhìn thấy một con thỏ chạy qua bên cạnh hơn là cắt ngang đường đi của mình, và thích chìa chân trái ra cho người hầu đi giày thay vì chân phải. Tất cả những mộng mị vẩn vơ ấy vốn đang được tín nhiệm xung quanh chúng ta, ít ra cũng đáng được lắng nghe: dẫu sao với tôi, chúng chỉ mang lại sự trống rỗng, nhưng dẫu sao thì chúng vẫn mang lại điều đó. Hơn nữa, những ý kiến tầm thường và ngẫu nhiên trong tự nhiên vẫn có giá trị hơn là con số không; và kẻ nào không cho phép bản thân tiến xa đến mức đó, rất có thể sẽ rơi vào thói bướng bỉnh để rồi né tránh sự mê tín.
Do đó, những sự mâu thuẫn trong các phán đoán không hề làm tôi tổn thương hay biến chất, chúng chỉ đánh thức và rèn luyện tôi. Chúng ta thường tìm cách né tránh sự sửa sai, trong khi lẽ ra chúng ta phải tự nguyện dâng mình và đón nhận nó, đặc biệt là khi nó xuất hiện dưới hình thức của một cuộc đàm đạo chứ không phải sự áp đặt của uy quyền. Trước mỗi ý kiến trái chiều, chúng ta chẳng thèm cân nhắc xem đó có phải là chân lý hay chỉ là tro bụi, mà cứ đúng hay sai mặc kệ, cốt sao tìm cách gỡ gỡ mình ra cho bằng được: thay vì dang rộng vòng tay, chúng ta lại giơốt những chiếc vuốt nhọn. Tôi có thể chịu đựng việc người bạn của mình đối xử với tôi một cách thô lỗ, thậm chí thốt lên rằng tôi là một kẻ ngốc và chẳng biết mình đang nói cái quái gì. Tôi ưa chuộng những lời lẽ đanh thép giữa những người quân tử, và muốn họ nói năng đúng như suy nghĩ của mình; chúng ta phải tôi luyện và làm cho thính giác của mình trở nên chai sạn trước sự mong manh ủy mị của những âm từ mang tính nghi thức. Tôi yêu thích một phong cách đàm đạo mạnh mẽ và nam tính: một tình bạn tìm thấy niềm vui trong sự sắc sảo và mãnh liệt của sự tương tác, giống như tình yêu trong những cái cắn cái cào: nó chưa đủ mạnh mẽ và hào phóng nếu thiếu đi sự cãi cọ, nếu nó cứ cung kính giả tạo, bước đi dè dặt và sợ hãi những cú va đập:
Khi có ai mâu thuẫn với tôi, anh ta làm tôi chú ý chứ không làm tôi nổi giận; tôi tiến về phía kẻ đang tranh luận với mình, kẻ đang dạy dỗ mình; sứ mệnh của chân lý phải là sứ mệnh chung của cả hai phía. Kẻ nổi giận sẽ trả lời thế nào đây? Sự say máu đã làm phán quan trong trí hắn hỗn loạn; sự kích động đã soán ngôi lý trí. Sẽ không tồi nếu phán quyết trong các cuộc tranh cãi của chúng ta được định đoạt bằng những canh bạc: để có thể có một dấu mốc vật chất cho những mất mát của chúng ta, nhờ đó chúng ta có thể ghi nhớ chúng rõ hơn; và để người hầu của tôi có thể nói với tôi rằng: “Sự dốt nát và bướng bỉnh của ngài năm ngoái đã tiêu tốn biết bao nhiêu là tiền, tính ra đến cả trăm đồng vàng.” Tôi chào đón và mơn trớn chân lý ở bất cứ góc nào tôi tìm thấy nó, vui vẻ đầu hàng và dang rộng đôi tay đã bị chinh phục của mình ra xa nhất có thể hễ cứ nhận ra nó; và miễn là nó không quá bề trên hách dịch, tôi lấy làm thích thú khi bị quở trách, và tự thích ứng với những kẻ cáo buộc mình, rất thường xuyên là vì phép lịch sự hơn là vì muốn sửa đổi, tôi thích dung dưỡng và nuôi dưỡng sự tự do góp ý bằng thái độ dễ bảo phục tùng của chính mình, và điều này diễn ra ngay cả khi tôi phải chịu thiệt thòi.
Tuy nhiên, thật khó để lôi kéo những con người thời đại tôi vào việc đó: họ không đủ can đảm để sửa sai cho người khác, bởi vì họ không đủ can đảm để chịu đựng việc bị người khác sửa sai; và họ luôn nói năng bằng sự giả dối khi đối mặt với nhau: Tôi tìm thấy niềm vui lớn lao đến nhường nào trong việc được phán xét và thấu hiểu, đến mức việc mình rơi vào hình thức nào trong hai hình thức đó đối với tôi cũng gần như nhau: trí tưởng tượng của tôi thường xuyên tự mâu thuẫn và kết án chính mình, thế nên việc người khác làm điều đó cũng chẳng có gì khác biệt đối với tôi, nhất là khi tôi chẳng trao cho những lời quở trách của họ quyền uy lớn hơn mức tôi muốn; thế nhưng tôi sẽ tuyệt giao với kẻ nào tỏ ra quá cao ngạo, như tôi từng biết một kẻ hối hận vì lời khuyên của mình không được nghe theo, và coi đó là một sự lăng mạ nếu nó không được thực hiện ngay lập tức. Việc Socrates luôn mỉm cười đón nhận những lời mâu thuẫn đối chọi với các lập luận của mình, người ta có thể cho là xuất phát từ sức mạnh lý trí của ông; và rằng, với lợi thế chắc chắn sẽ nghiêng về phía mình, ông đã đón nhận chúng như một chiến thắng mới. Nhưng trái lại, chúng ta thấy rằng không có gì trong tranh luận khiến cho tình cảm của chúng ta trở nên mỏng manh và dễ tổn thương cho bằng sự kiêu ngạo muốn vượt trội và thái độ khinh miệt đối thủ; và theo lý trí, chính những kẻ yếu thế hơn mới nên vui vẻ đón nhận những ý kiến trái chiều giúp sửa sai và đưa họ về đúng đường. Thành thật mà nói, tôi thà chọn bầu bạn với những kẻ dám xù lông với mình còn hơn là những kẻ sợ hãi mình; thật là một niềm vui tẻ nhạt và độc hại khi phải giao du với những kẻ chỉ biết ca tụng và tán thưởng mọi điều ta nói. Antisthenes từng ra lệnh cho các con mình không bao giờ được tỏ ra vui vẻ hay coi đó là một ân huệ khi có ai đó ca ngợi chúng. Tôi nhận ra mình tự hào biết bao về chiến thắng giành được trước chính bản thân mình, khi giữa lúc cuộc tranh cãi đang hồi gay cấn, tôi ép mình phải khuất phục trước sức mạnh lý trí của đối thủ, còn hơn là niềm vui khi giành chiến thắng trước anh ta chỉ vì sự yếu kém của anh ta. Cuối cùng, tôi đón nhận và dung thứ cho mọi kiểu tấn công mang tính trực diện, dù cho chúng có yếu ớt đến đâu; nhưng tôi lại vô cùng thiếu kiên nhẫn với những đòn tấn công sai quy cách. Tôi không quan tâm chủ đề là gì, các ý kiến đối với tôi đều như nhau, và việc tôi thắng hay thua cũng chẳng mấy quan trọng. Tôi có thể bình thản tranh luận suốt cả ngày trời nếu cuộc tranh luận ấy được tiến hành có phương pháp; tôi không đòi hỏi sức mạnh và sự uyên bác bằng sự trật tự; ý tôi là sự trật tự mà chúng ta vẫn thường thấy hằng ngày trong những cuộc cãi vã của đám mục đồng và mấy cậu tiểu đồng cửa hàng, nhưng lại chẳng bao giờ thấy ở giữa chúng ta: nếu họ lạc đề, đó là vì thiếu lịch sự, và chúng ta cũng vậy; nhưng sự ồn ào và thiếu kiên nhẫn của họ không bao giờ làm họ chệch khỏi chủ đề chính; luận điểm của họ vẫn tiếp tục tiến bước; nếu họ ngắt lời và không chờ đợi nhau, ít ra họ cũng hiểu được nhau. Bất cứ ai trả lời đúng ý tôi, người đó đã trả lời quá đạt rồi: khi cuộc tranh cãi trở nên bất thường và vô trật tự, tôi liền bỏ qua bản chất sự việc, bấu víu vào hình thức với vẻ tức giận và thiếu khôn ngoan; rơi vào lối tranh biện ngoan cố, hiểm độc và hách dịch, để rồi sau đó tôi phải cảm thấy hổ thẹn. Thật là bất khả thi khi muốn cư xử sòng phẳng với một kẻ ngốc: phán đoán của tôi không chỉ bị vấy bẩn dưới bàn tay của một kẻ chủ tớ bốc đồng như thế, mà ngay cả lương tâm tôi cũng vậy.
Những cuộc tranh cãi của chúng ta lẽ ra phải bị cấm đoán và trừng phạt giống như những tội ác bằng lời nói khác: chẳng có thói hư tật xấu nào mà chúng không khơi gợi và chất chồng lên, khi mà chúng luôn bị chi phối và sai khiến bởi sự giận dữ? Đầu tiên chúng ta cãi vã vì những lý do của họ, rồi sau đó cãi vã vì chính con người họ. Chúng ta học tranh luận chỉ để mà phản bác; và cứ thế, mọi người đều phản bác và bị phản bác, hệ quả của tranh luận là làm tiêu tan và hủy diệt chân lý. Chính vì thế mà Platon trong cuốnCộng hòacủa ông đã cấm cửa hoạt động này đối với những kẻ ngu ngốc và thiếu giáo dục. Các người đi hỏi một kẻ chẳng biết gì cho ra hồn làm chi? Người ta chẳng hề tổn hại gì đến đề tài khi tạm gác nó lại để tìm cách đối phó với nó; ý tôi không phải là theo một lối đi bác lâm trường ốc, mà theo một cách tự nhiên, với một tâm trí minh mẫn. Rốt cuộc thì chuyện gì sẽ xảy ra? Người thì bay sang đông, kẻ thì dạt sang tây; họ đánh mất trọng tâm, phân tán nó vào đám đông những chuyện vụn vặt; sau một giờ đồng hồ bão táp, họ chẳng còn biết mình đang tìm kiếm điều gì: kẻ thì thấp kém, người thì cao ngạo, kẻ thứ ba thì lạc điệu. Kẻ thì bắt bẻ một từ ngữ hay một hình ảnh so acompañada; người khác thì chẳng còn cảm nhận được những gì được nói ra để phản đối mình, chỉ nghĩ đến việc chạy đua theo tốc độ của riêng mình chứ không thèm đếm xỉa đến việc đáp lời bạn; kẻ khác nữa, thấy mình quá yếu đuối để có thể đứng vững trên lập trường, liền sợ hãi tất cả, chối từ tất cả ngay từ phút ban đầu, làm rối tung chủ đề lên; hoặc giữa lúc cuộc tranh cãi đang cao trào thì khựng lại và im lặng, dùng vẻ dốt nát cáu kỉnh để ra chiều khinh miệt kiêu kỳ hoặc cách trốn tránh tranh luận một cách ngớ ngẩn nhưng ra vẻ khiêm nhường: miễn là kẻ này vung gậy đánh, hắn chẳng màng đến việc mình đang phơi bày sơ hở ra bao nhiêu; kẻ khác thì đếm từng từ và cân nhắc chúng như thể đó là những lý lẽ; kẻ khác nữa thì chỉ biết lớn tiếng la hét và lợi dụng sức mạnh của buồng phổi. Kia là một kẻ viện dẫn một cách bác học để rồi tự chống lại chính mình, và kìa là một kẻ làm bạn điếc tai với những lời nói đầu và những đoạn đào tẩu vô nghĩa; một kẻ khác lại sa vào những lời mắng mỏ xối xả, tìm kiếm một cuộc cãi vã theo kiểu Đức để thoát khỏi một khối óc sắc sảo đang ép hắn vào chân tường; và kẻ cuối cùng chẳng nhìn thấy chút lý trí nào trong sự việc, mà giăng ra xung quanh bạn một vòng vây gồm những mệnh đề biện chứng và các công thức chuyên môn của hắn.
Giờ đây, ai lại không hoài nghi về khoa học, và tự hỏi liệu mình có thể gặt hái được từ chúng bất kỳ trái ngọt thực chất nào phục vụ cho cuộc sống hay không, khi nhìn vào cách chúng ta sử dụng chúng?
Ai đã thu được sự minh triết nhờ môn logic học? Những lời hứa hẹn tốt đẹp của nó đâu rồi?
Liệu có tiếng ồn ào hay sự hỗn loạn nào trong tiếng chửi bới của mấy mụ bán cá trích lớn hơn những cuộc tranh luận công khai của những kẻ thuộc giới chuyên môn này không? Tôi thà để con trai mình học cách ăn nói ở một quán rượu còn hơn là học cách ba hoa ở trường học. Hãy tóm lấy một bậc thầy nghệ thuật và đàm đạo với hắn: tại sao hắn không thể làm chúng ta cảm nhận được cái sự xuất sắc nhân tạo này? và tại sao hắn không làm cho những kẻ ngu ngơ và dốt nát như chúng ta đây phải chìm đắm trong sự kinh ngạc trước tính vững vàng của lý lẽ và vẻ đẹp của trật tự nơi hắn? tại sao hắn không lay chuyển và thuyết phục chúng ta theo ý hắn muốn? tại sao một kẻ có lợi thế lớn lao như vậy về mặt nội dung và cách xử lý lại cứ pha trộn những lời mắng mỏ, sự thiếu khôn ngoan và cơn thịnh nộ vào trong các cuộc tranh biện của mình? Hãy lột bỏ chiếc áo choàng, cái mũ trùm đầu và tiếng Latinh của hắn ra, đừng để hắn đánh trúng tai chúng ta bằng một Aristotle nguyên chất nữa, bạn sẽ coi hắn chẳng khác gì một kẻ trong số chúng ta, hoặc thậm chí còn tệ hơn. Trong lúc chúng ta đang bị hành hạ bởi sự rườm rà và hỗn loạn của từ ngữ ấy, đối với họ, tôi có cảm giác mọi chuyện cũng giống như những gã làm trò ảo thuật; sự khéo léo của họ đánh lừa các giác quan của chúng ta, nhưng hoàn toàn chẳng lay chuyển được niềm tin của chúng ta; ngoại trừ cái trò nhanh tay lẹ mắt ấy, họ chẳng làm được điều gì không tầm thường và dung tục: bởi vì dẫu có học thức hơn, họ cũng chẳng vì thế mà bớt ngu ngốc đi chút nào.
Tôi yêu mến và tôn trọng tri thức nhiều như những kẻ sở hữu nó, và trong công dụng đích thực của nó, đó là sự thu, mua cao quý nhất và vĩ đại nhất của con người; thế nhưng ở những kẻ mà tôi đang nhắc tới (và số lượng của chúng thì vô kể), những kẻ xây dựng sự đủ đầy và giá trị nền tảng của mình trên tri thức đó, những kẻ chạy trốn khỏi sự minh triết của chính mình để bấu víu vào trí nhớ:
và những kẻ chẳng thể làm được gì nếu không có sách vở, tôi căm ghét nó, nếu tôi dám nói thế, còn hơn cả sự ngu dốt. Ở quê hương tôi và trong thời đại của tôi, học thức đủ sức cải thiện gia vận chứ không cải thiện nổi tâm trí; nếu nó gặp phải những bộ óc đần độn và nặng nề, nó sẽ đè bẹp và làm nghẹt thở họ, biến họ thành một khối hỗn độn thô ráp và chưa được tiêu hóa; nếu gặp những bộ óc bay bổng và tinh tế, nó sẽ thanh lọc, làm sáng tỏ và tinh vi hóa họ, thậm chí đến mức kiệt quệ. Đó là một thứ có phẩm chất gần như trung tính; một sự bổ sung vô cùng hữu ích cho một tâm hồn sinh ra đã có tố chất, nhưng lại có hại và độc hại đối với những kẻ khác; hay đúng hơn là một thứ có công dụng vô cùng quý giá, nhưng không chịu để người ta mua với giá rẻ mạt; trong tay người này nó là một chiếc vương trượng, trong tay kẻ khác nó chỉ là cây gậy hề.
Nhưng chúng ta hãy tiếp tục. Còn chiến thắng nào vĩ đại hơn mà bạn mong chờ ngoài việc khiến cho kẻ thù của mình phải nhìn thấy và thừa nhận rằng hắn không đủ sức đối đầu với bạn? Khi bạn giành phần thắng về mặt luận điểm; đó là chân lý chiến thắng; khi bạn chiếm ưu thế về hình thức và phương pháp, thì khi đó chính bạn mới là kẻ chiến thắng. Tôi cho rằng trong các tác phẩm của Platon và Xenophon, Socrates tranh luận nhiều hơn là để ủng hộ những người tranh luận chứ không phải để ủng hộ cuộc tranh luận, và là để dạy cho Euthydemus và Protagoras nhận thức về sự ngớ ngẩn của họ, chứ không phải về sự ngớ ngẩn trong nghệ thuật của họ. Ông nắm lấy chủ đề đầu tiên giống như một kẻ có mục đích hữu ích hơn là giải thích nó – cụ thể là để khai sáng cho những tâm trí mà ông nhận trách nhiệm dìu dắt và rèn luyện. Săn lùng chân lý vốn là công việc chính của chúng ta, và chúng ta là những kẻ không thể tha thứ nếu tiến hành cuộc săn đuổi đó một cách ngớ ngẩn và tồi tệ; việc không tóm được nó lại là chuyện khác, bởi vì chúng ta sinh ra là để tìm kiếm chân lý: việc sở hữu nó thuộc về một thế lực lớn lao hơn. Nó không giống như lời Democritus nói, bị giấu kín dưới đáy vực sâu, mà đúng hơn là được nâng lên một độ cao vô hạn trong tri thức thần thánh. Thế giới này chỉ là một ngôi trường thẩm vấn: vấn đề không phải là ai sẽ bước vào võ đài, mà là ai sẽ chạy những vòng đua xuất sắc nhất. Kẻ nói thật hoàn toàn có thể cư xử ngớ ngẩn chẳng kém gì kẻ nói dối, bởi vì chúng ta đang bàn về phong cách chứ không phải nội dung của lời nói. Đó là tính cách của tôi, coi trọng hình thức cũng nhiều như bản chất, và coi trọng người biện hộ cũng bằng vụ án, đúng như Alcibiades từng ra lệnh chúng ta phải làm; và ngày qua ngày, tôi vẫn tiêu tốn thời gian để đọc các tác giả mà chẳng màng gì đến học thức của họ; phong cách của họ mới là thứ tôi tìm kiếm, chứ không phải chủ đề: và cứ thế, tôi lùng sục cuộc trò chuyện của bất kỳ bộ óc lỗi lạc nào, không phải để anh ta dạy dỗ tôi, mà để tôi được hiểu anh ta, và khi đã hiểu anh ta, nếu tôi thấy anh ta xứng đáng để noi theo, tôi sẽ bắt chước anh ta. Ai cũng có thể nói ra sự thật, nhưng để nói một cách có phương pháp, thận trọng và thấu đáo, đó là tài năng mà ít ai có được. Sự sai trái bắt nguồn từ sự dốt nát không làm tôi khó chịu, nhưng sự ngớ ngẩn của nó thì có. Tôi đã từng cắt đứt nhiều mối giao bang lẽ ra sẽ mang lại lợi ích cho mình, chỉ vì những cuộc tranh cãi ngớ ngẩn của những kẻ mà tôi giao thiệp cùng. Cả năm trời tôi chẳng nổi giận lấy một lần vì lỗi lầm của những kẻ thuộc quyền quản lý của mình, thế nhưng tôi lại nổi giận vì sự bướng bỉnh lố bịch trong những lời biện bạch, chối cãi và bào chữa của họ; chúng ta cứ hở ra là hầm hè lao vào cắn xé nhau mỗi ngày; chúng ta chẳng hiểu người ta đang nói gì hay nói vì điều đó để làm gì, để rồi cứ thế đáp trả một cách mù quáng; điều đó đủ sức làm cho một con người phát điên lên được. Tôi chẳng bao giờ cảm thấy đau đầu cho đến khi cái đầu ấy bị va đập vào đầu kẻ khác, và tôi dễ dàng tha thứ cho thói hư tật xấu của người hầu nhà mình hơn là sự xấc xược, quấy rầy và ngu ngốc của chúng; cứ để chúng làm ít đi, miễn là chúng hiểu được việc mình đang làm: bạn vẫn còn sống trong hy vọng có thể sưởi ấm lòng trung thành của chúng đối với công việc của mình, chứ từ một khúc gỗ thì chẳng thể đòi hỏi hay trông mong điều gì được đâu.
Nhưng thế nào, nếu tôi tiếp nhận mọi việc không đúng với bản chất thực của chúng? Có lẽ là vậy; và đó là lý do tại sao tôi cáo giác sự thiếu kiên nhẫn của chính mình, và cho rằng, trước hết, đó là một thói hư tật xấu ngang nhau ở cả kẻ đúng lẫn kẻ sai; bởi vì việc không thể chịu đựng nổi một phong cách trái ngược với phong cách của mình luôn là một sự cay độc mang tính chuyên quyền; và hơn thế nữa, trong thực tế, chẳng có sự ngu ngốc nào lớn hơn, kiên định hơn và hỗn độn hơn việc cảm thấy bực dọc và nổi giận trước những sự ngu ngốc của thế giới này, bởi vì điều đó chủ yếu khiến chúng ta gây sự với chính mình; và vị triết gia cổ đại kia chưa bao giờ thiếu lý do để rơi lệ mỗi khi ngẫm nghĩ về bản thân. Miso, một trong bảy nhà hiền triết, mang tính cách của Timon và Democritic, khi được hỏi rằng “ông cười cái gì khi chỉ có một mình?” – liền đáp: “Ta cười vì ta ở một mình đấy thôi.” Biết bao nhiêu điều lố bịch, theo quan điểm của tôi, mà tôi vẫn thốt ra và đáp lại mỗi ngày qua đi? và rồi còn bao nhiêu điều ngớ ngẩn hơn nữa, theo quan điểm của người khác? Nếu tôi tự cắn vào môi mình, thì người ta phải làm thế nào đây? Cuối cùng, chúng ta phải sống giữa những con người sống, và để dòng nước tự trôi dưới gầm cầu mà chẳng cần chúng ta bận tâm can thiệp vào. Thật vậy, tại sao chúng ta gặp một kẻ gù lưng, hay mang một dị tật nào đó trên người mà chẳng hề cảm thấy động lòng, thế nhưng lại không thể chịu đựng được cuộc chạm trán với một tâm hồn méo mó mà không nổi giận? Sự cay độc mang tính tật xấu ấy bám sâu vào kẻ phán xét hơn là vào tội ác. Chúng ta hãy luôn ghi nhớ câu nói này của Platon trên môi: “Phải chăng tôi thấy mọi thứ không lành mạnh, là bởi vì bản thân tôi không lành mạnh? Phải chăng chính tôi mới là kẻ có lỗi? Liệu những quan sát của tôi có đang phản chiếu ngược lại chính tôi không?” – một câu nói khôn ngoan và thần thánh, quất roi vào cái sai lầm phổ biến và chung chùm nhất của nhân loại. Không chỉ những lời lăng mạ mà chúng ta ném vào mặt nhau, mà ngay cả những lý lẽ, những luận điểm và tranh cãi của chúng ta cũng đều có thể dội ngược lại vào chính chúng ta, và chúng ta tự làm mình bị thương bằng chính thứ vũ khí của mình; điều mà thời cổ đại đã để lại cho tôi biết bao tấm gương nghiêm khắc. Câu nói này đã được chính tác giả của nó thốt lên một cách đầy thâm thúy và chí lý:
Chúng ta chẳng hề nhìn thấy những gì ở sau lưng mình; chúng ta tự chế giễu bản thân hàng trăm lần một ngày; khi chúng ta nhạo báng những người hàng xóm; và chúng ta căm ghét ở người khác những khiếm khuyết vốn hiển hiện rõ ràng hơn ở chính chúng ta, những thứ mà chúng ta ngắm nhìn với một sự vô tâm và trơ trẽn đến kinh ngạc. Mới ngày hôm qua thôi, tôi đã nghe một người có học thức và có địa vị cao, với vẻ mỉa mai vừa thú vị vừa chí lý, chế giễu sự ngu ngốc của một kẻ suốt ngày tra tấn người khác bằng danh mục gia phả và các mối quan hệ họ hàng của mình, mà hơn một nửa trong số đó là đồ giả (bởi vì những kẻ có gia thế mập mờ nhất và kém chắc chắn nhất lại là những kẻ hay sa vào những bài diễn thuyết lố bịch như vậy), thế nhưng, giả sử hắn tự soi rọi lại chính mình, hắn sẽ nhận ra bản thân mình cũng vô độ và phiền toái chẳng kém gì trong việc tung hô gia phả của vợ mình. Ồ cái sự ngạo mạn phiền toái ấy, thứ mà người vợ tự thấy mình được trang bị bởi chính đôi tay của chồng mình. Giá như hắn biết tiếng Latinh, chúng ta đã có thể nói với hắn rằng:
Tôi không có ý nói rằng không ai được phép cáo giác người khác khi bản thân kẻ đó chưa sạch sẽ – bởi vì nếu vậy thì chẳng bao giờ có ai đứng ra cáo giác cả – sạch sẽ khỏi cùng một loại vết nhơ đó; ý tôi là phán đoán của chúng ta, khi giáng xuống một kẻ khác đang là đối tượng bị xét xử, thì đồng thời cũng không được phép tha thứ cho chính mình, mà phải tuyên án chúng ta bằng một uy quyền nội tâm và nghiêm khắc. Đó là một bổn phận bác ái, rằng kẻ nào không thể tự cứu mình khỏi một thói hư tật xấu thì dẫu sao cũng phải nỗ lực loại bỏ nó khỏi một người khác, kẻ mà trên người họ, thói xấu ấy có lẽ không bám rễ sâu xa và độc hại đến thế; người quở trách lỗi lầm của tôi cũng chẳng cần phải thanh minh rằng bản thân hắn cũng phạm phải tội lỗi tương tự. Thì sao chứ? Lời quở trách đó dẫu thế nào vẫn là sự thật và mang lại những công dụng vô cùng tốt đẹp. Giá như chúng ta có một chiếc mũi thính, thì thứ phân uế của chính chúng ta sẽ bốc mùi kinh khủng hơn đối với chúng ta, bởi vì đó là của chính chúng ta; và Socrates cho rằng bất cứ ai phát hiện ra chính mình, con trai mình và một kẻ xa lạ cùng phạm tội bạo lực và sai quấy, thì nên bắt đầu từ bản thân trước, tự đưa mình lên đoạn đầu đài trước phán quyết của công lý, và khẩn cầu sự giúp đỡ từ bàn tay của đao phủ để tẩy uế cho mình; tiếp đến, anh ta nên xử lý con trai mình, và cuối cùng mới đến người lạ mặt. Nếu giáo lý này có vẻ quá khắc nghiệt, thì ít ra anh ta cũng phải tự đưa mình ra trước sự trừng phạt của lương tâm mình trước tiên.
Các giác quan là những vị quan tòa đầu tiên và đích thực của chúng ta, những kẻ chỉ nhận thức sự vật thông qua các hiện tượng bên ngoài; và chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu trong mọi khía cạnh phục vụ cho xã hội của chúng ta, lại có một sự pha trộn thường trực và phổ biến đến thế giữa các nghi thức và bề ngoài nông cạn; đến mức phần tốt đẹp và hiệu quả nhất trong nền chính trị của chúng ta lại nằm chính ở đó. Cuối cùng thì chúng ta vẫn phải giao thiệp với con người, một giống loài có bản chất mang tính thể xác vô cùng kỳ lạ. Những kẻ trong những năm gần đây muốn dựng lên cho chúng ta một thứ tôn giáo mang tính chiêm niệm và phi vật chất như thế, đừng nên ngạc nhiên nếu có những người nghĩ rằng tôn giáo ấy đã tan biến và trượt qua kẽ tay của họ, nếu nó không tự duy trì trong chúng ta như một dấu hiệu, một danh hiệu và một công cụ chia rẽ, bè phái nhiều hơn là tự bản thân nó. Giống như trong đàm đạo, sự nghiêm trang, chiếc áo choàng và vận may của kẻ đang nói thường mang lại danh tiếng cho những luận điểm hão huyền và những lời lẽ rỗng tuếch, người ta không thể không cho rằng một kẻ được vây quanh và khiến người ta e sợ như thế, chắc chắn phải sở hữu một năng lực vượt trội hơn người bình thường; và rằng kẻ được nhà vua ban cho biết bao nhiêu chức vụ, ủy nhiệm và trọng trách, một kẻ kiêu kỳ và hách điều như thế, chắc chắn phải có nhiều thứ bên trong hơn hẳn một kẻ khác chỉ biết đứng chào hắn từ một khoảng cách xa vời và chẳng giữ chức vụ gì sất. Không chỉ lời nói, mà ngay cả những điệu bộ nhăn nhó của những con người này cũng được đem ra cân nhắc và tính toán; ai nấy đều coi việc gán cho chúng những lời giải thích hay ho và vững chắc là sứ mệnh của mình. Nếu họ hạ mình tham gia vào cuộc đàm đạo thông thường, và bạn đưa ra bất cứ điều gì ngoài sự tán thành và tôn kính, họ sẽ lập tức đè bẹp bạn bằng uy quyền từ kinh nghiệm của họ: họ đã nghe, họ đã thấy, họ đã làm thế này thế nọ; bạn bị nghiền nát bởi các dẫn chứng. Tôi sẵn sàng nói với họ rằng, thành quả từ kinh nghiệm của một người bác sĩ phẫu thuật không phải là lịch sử về các ca điều trị của ông ta và trí nhớ về việc ông ta đã chữa khỏi cho bốn người mắc dịch hạch và ba người mắc bệnh gút, trừ phi ông ta biết cách rút ra từ đó điều gì đó để làm cơ sở hình thành phán quyết của mình, và khiến chúng ta cảm nhận được rằng nhờ đó ông ta đã trở nên thành thạo hơn trong nghệ thuật của mình. Giống như trong một dàn nhạc, chúng ta không nghe tiếng đàn luýt, đàn harpsichord hay ống sáo đứng đơn độc, mà là nghe một bản hòa âm toàn diện, là kết quả tổng hòa của tất cả. Nếu những chuyến đi xa và các chức vụ đã cải thiện họ, thì đó phải là sản phẩm từ trí tuệ của họ nhằm làm nổi bật điều đó. Chẳng đủ để mà liệt kê các kinh nghiệm, họ phải cân nhắc, phân loại và chưng cất chúng, để rút ra những lý lẽ và kết luận mà chúng mang theo bên mình. Chưa bao giờ có nhiều nhà sử học đến thế: thực ra việc đọc họ là rất tốt và hữu ích, bởi vì họ cung cấp cho chúng ta ở khắp mọi nơi những lời chỉ dạy xuất sắc và đáng ca ngợi từ kho tàng trí nhớ của họ, điều mà không còn nghi ngờ gì nữa, có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối vớisự trợ giúp cho cuộc sống; nhưng đó không phải là thứ chúng ta đang tìm kiếm lúc này: chúng ta đang kiểm tra xem liệu những kẻ thuật chuyện và sưu tầm sự việc ấy có đáng được ca ngợi tự thân hay không.
Tôi căm ghét mọi hình thức chuyên quyền, cả trong lời nói lẫn hành động. Tôi luôn sẵn sàng chống lại những thứ hình thức hão huyền đánh lừa phán đoán của chúng ta thông qua các giác quan; và giữ chặt tầm nhìn vào những sự vĩ đại phi thường đó, tôi nhận ra rằng xét cho cùng họ cũng chỉ là con người như bao kẻ khác:
Rất có thể, chúng ta đánh giá và nhìn nhận họ thấp hơn thực tế, là vì họ đảm nhận nhiều hơn và phơi bày bản thân nhiều hơn; họ không đáp ứng nổi trọng trách mà họ đã gánh vác. Phải có nhiều sinh lực và sức mạnh ở kẻ gánh vác hơn là ở gánh nặng; kẻ nào chưa nâng hết sức mình, sẽ để bạn tự đoán rằng hắn vẫn còn một nguồn sức mạnh vượt quá giới hạn đó, và hắn chưa bị thử thách đến tận cùng khả năng của mình; kẻ nào gục ngã dưới đống tải trọng của mình, kẻ đó đang tự phơi bày mặt giới hạn tốt nhất và sự yếu kém trên đôi vai hắn. Đó là lý do tại sao chúng ta thấy có biết bao nhiêu kẻ đần độn ngớ ngẩn trong số những người có học thức, và số lượng đó còn nhiều hơn cả những kẻ thuộc tầng lớp khá giả: họ lẽ ra đã trở thành những người nông phu giỏi, những thương gia giỏi và những thợ thủ công giỏi; sinh lực tự nhiên của họ được cắt may vừa vặn với tỷ lệ đó. Tri thức là một thứ có trọng lượng rất lớn, họ kiệt sức dưới sức nặng của nó: trí tuệ của họ không có đủ sinh lực cũng chẳng đủ sự khéo léo để trưng bày và phân bổ, để sử dụng hay tận dụng thứ chất liệu phong phú và quyền năng này; nó chẳng có chút đức tính ngự trị nào nếu không đặt trong một bản tính mạnh mẽ; và những bản tính như thế là vô cùng hiếm hoi – và những kẻ yếu nhược, như Socrates đã nói, làm vấy bẩn phẩm giá của triết học trong quá trình thao túng nó, nó trở nên vô dụng và đồi bại khi được dung thân trong một tâm trí tồi tàn. Họ tự hủy hoại và biến mình thành những kẻ ngốc:
Cũng chẳng đủ cho những kẻ cai trị và chỉ huy chúng ta, những kẻ nắm giữ cả thế giới trong tay, chỉ có một trí tuệ tầm thường và có khả năng làm những việc giống như chúng ta có thể làm; họ ở rất xa phía dưới chúng ta, nếu họ không vươn lên vô tận ở phía trên chúng ta: vì họ hứa hẹn nhiều hơn, nên họ phải thực hiện nhiều hơn.
Thế nhưng sự im lặng đối với họ không chỉ là một dáng vẻ của sự tôn kính và trang nghiêm, mà rất thường xuyên còn mang lại những lợi ích tuyệt vời nữa: vì Megabyzus, khi đến thăm xưởng vẽ của Apelles, đã đứng im lặng suốt một thời gian dài và cuối cùng bắt đầu bàn về những bức tranh của ông ta, để rồi nhận lại lời quở trách thô lỗ này: “Trong lúc ngươi còn im lặng, ngươi có vẻ giống như một nhân vật lớn lao nào đó, nhờ vào những sợi dây chuyền và bộ y phục sang trọng; nhưng giờ đây khi chúng ta nghe ngươi mở miệng nói, thì chẳng có nổi một đứa trẻ thấp kém nhất trong xưởng của ta là không khinh thường ngươi.” Những món trang sức vương giả ấy, cái bề thế hùng vĩ ấy, không cho phép hắn ta được phép dốt nát theo cái cách dốt nát thông thường và ăn nói ngớ ngẩn về hội họa; lẽ ra hắn phải duy trì thứ tri thức mang tính bề ngoài và phỏng đoán ấy bằng sự im lặng. Biết bao nhiêu kẻ ngốc nghếch trong thời đại của tôi đã nhờ vào một vẻ mặt lầm lì và im lặng mà mua chuộc được tiếng tăm về sự thận trọng và năng lực!
Các phẩm hàm và chức vụ bắt buộc phải được trao tặng do vận may nhiều hơn là dựa trên công trạng; và chúng ta thường sai lầm khi lên án các vị vua khi những thứ đó được đặt nhầm chỗ: ngược lại, thật là một điều kỳ diệu khi họ lại có được vận may tốt đến thế trong khi kỹ năng lại quá ít ỏi:
bởi vì thiên nhiên không ban cho họ một tầm nhìn có thể trải rộng đến từng ấy con người, để nhận ra ai là kẻ vượt trội hơn những người khác, cũng chẳng thể thấu tận vào lán ngực của chúng ta, nơi chứa đựng tri thức về ý nguyện và giá trị đích thực của chúng ta; họ buộc phải lựa chọn chúng ta thông qua sự phỏng đoán và việc quờ quạng trong bóng tối; thông qua dòng tộc, sự giàu có, học thức và tiếng nói của quần chúng, vốn đều là những lý lẽ vô cùng yếu ớt. Bất cứ ai tìm ra được một con đường nhờ đó họ có thể phán xét bằng công lý, và lựa chọn con người bằng lý lý trí, thì trong duy nhất một điều đó thôi, đã thiết lập nên một hình thức chính phủ hoàn hảo.
“Ừ thì, nhưng hắn ta đã đưa vụ việc lớn lao đó đến một kết cục vô cùng tốt đẹp.”
Đó quả thực là nói được một điều gì đó, nhưng vẫn chưa đủ: bởi vì câu châm ngôn này đã được công nhận một cách chí lý: “Rằng chúng ta không được phép phán xét các mưu lược thông qua các kết quả.” Người Carthage từng trừng phạt những mưu kế tồi tệ của các vị tướng của họ mặc dù những mưu kế ấy đã được xoay chuyển bởi một kết cục thắng lợi; và người La Mã thường từ chối trao vòng nguyệt quế cho những chiến thắng vĩ đại và đầy lợi thế bởi vì cách điều hành của vị tướng chỉ huy không xứng tầm với vận may của ông ta. Chúng ta thường thấy trong các hành động của thế gian rằng, Vận Mệnh, để cho chúng ta thấy quyền năng của bà ta trong mọi sự, và là kẻ lấy làm kiêu hãnh trong việc đè bẹp sự tự phụ của chúng ta, khi thấy bà ta không thể biến những kẻ ngốc thành khôn ngoan, bèn biến họ thành những kẻ gặp may để đua tranh với đức tính; và ưu ái nhất cho những hành động mà tấm lưới của nó hoàn toàn mang dấu ấn của riêng bà ta; chính vì thế mà những kẻ đơn giản nhất trong số chúng ta vẫn mang lại thành công cho những đại sự, cả công lẫn tư; và, giống như Seiramnes người Ba Tư, khi trả lời những kẻ lấy làm ngạc nhiên vì sự nghiệp của ông ta lại thành công tồi tệ đến thế, xét đến việc các mưu toan của ông ta vô cùng khôn ngoan, rằng “ông ta là chúa tể duy nhất của các kế hoạch của mình, nhưng thành công hoàn toàn nằm trong quyền năng của vận mệnh”; những kẻ này cũng có thể đáp lại tương tự, nhưng theo một chiều hướng ngược lại. Hầu hết các công việc trên đời tự chúng vận hành
kết cục thường biện minh cho một cách hành xử vô cùng ngớ ngẩn; sự can thiệp của chúng ta chẳng khác nào việc chạy theo một cái máy được lập trình sẵn, và phổ biến hơn là sự cân nhắc dựa trên thói quen và tiền lệ thay vì lý lý trí. Từng cảm thấy kinh ngạc trước tầm vóc của một vụ việc nào đó, tôi đã được làm quen với các động cơ và cách xử lý của chúng từ chính những kẻ đã thực hiện nó, và chẳng tìm thấy gì trong đó ngoài những mưu kế hết sức bình thường; và những thứ thông thường và phổ biến nhất thực ra, có lẽ lại là những thứ chắc chắn và thuận tiện nhất cho thực tiễn, nếu không muốn nói là cho việc phô trương. Thế thì sao, nếu những lý lẽ dung dị nhất lại là những lý lẽ có chỗ đứng vững chắc nhất? những thứ thấp kém nhất, bần cùng nhất và bị giẫm đạp nhiều nhất lại thích ứng tốt nhất với công việc? Để duy trì uy quyền của những lời khuyên từ các bậc vua chúa, người ta không cần thiết phải để những kẻ phàm trần tham gia vào đó hoặc nhìn thấu vào bên trong chúng vượt qua lớp rào chắn ngoài cùng; kẻ nào muốn gìn giữ danh tiếng của nó thì phải được tôn kính dựa trên sự tín nhiệm và tiếp nhận toàn bộ. Những suy tính của tôi có phần phác thảo thô sơ vấn đề và xem xét nó một cách hời hợt qua bề ngoài đầu tiên mà nó trưng ra; còn phần trọng tâm và cốt lõi của công việc, tôi vẫn quen ủy thác cho bầu trời;
Vận may rủi và vận may xui, theo quan điểm của tôi, là hai thế lực tối cao; thật là dại dột khi nghĩ rằng sự thận trọng của con người có thể đóng vai trò của Vận Mệnh; và thật hoài công khi kẻ nào mưu toan thấu hiểu cả nguyên nhân lẫn hệ quả, và tự tay điều khiển tiến trình của kế hoạch đời mình; và điều đó đặc biệt vô vọng nhất trong các quyết sách chiến tranh. Chưa từng có sự cẩn trọng và sự thận trọng quân sự nào lớn lao hơn đôi khi lại xuất hiện giữa chúng ta: phải chăng con người ta sợ rằng mình sẽ bị lạc đường giữa đàng, nên họ mới dành dụm bản thân cho đến tận cuối ván bài? Hơn thế nữa, tôi khẳng định rằng chính sự khôn ngoan và những mưu toan của chúng ta phần lớn đều tự phó mặc cho sự dẫn dắt của rủi ro; ý chí và lý trí của tôi đôi khi bị lay động bởi ngọn gió này, đôi khi lại bởi ngọn gió khác; và có rất nhiều trong số những chuyển động ấy tự điều hành mà chẳng cần đến tôi: lý trí của tôi có những sự dao động và xung lực mang tính ngẫu nhiên và bất định:
Chỉ cần quan sát xem ai là những kẻ có quyền lực lớn nhất ở các đô thị, và ai là những kẻ tự lo liệu công việc của mình giỏi nhất; chúng ta sẽ thấy rằng họ thường là những kẻ có ít tài năng nhất: phụ nữ, trẻ em và những kẻ điên rồ từng có vận may cai trị những vương quốc lớn lao giỏi giang chẳng kém gì những vị vương tử khôn ngoan nhất, và Thucydides nói rằng những kẻ đần độn thường làm việc đó giỏi hơn là những người có trí tuệ minh mẫn hơn; chúng ta quy những hệ quả từ vận may tốt đẹp của họ thành sự khôn ngoan của chính họ:
thế nên tôi xin nói thẳng thừng rằng, các kết cục chỉ là một chứng cứ vô cùng nghèo nàn cho giá trị và tài năng của chúng ta.
Lúc nãy tôi đang dừng ở điểm này, rằng chẳng cần gì hơn ngoài việc nhìn thấy một kẻ được cất nhắc lên chức tước; dẫu cho chỉ mới ba ngày trước chúng ta còn biết hắn ta là một kẻ chẳng có mấy ai coi trọng, thế nhưng một hình ảnh về sự vĩ đại và năng lực cứ thế len lỏi vào nhận thức của chúng ta một cách vô thức, và chúng ta tự thuyết phục mình rằng, khi danh tiếng và đoàn tùy tùng được gia tăng, thì công trạng của hắn cũng tăng lên theo; chúng ta phán xét hắn, không phải dựa trên giá trị thực của hắn, mà giống như cách chúng ta làm với những con cờ trong bàn tính, dựa theo đặc quyền về địa vị của hắn. Nếu có chuyện xảy ra khiến hắn rơi đài trở lại, và lẫn lộn vào đám đông bình dân, thì ai nấy đều ngạc nhiên gặng hỏi nguyên nhân vì sao hắn từng được nâng lên cao đến thế. “Có phải hắn đây không,” họ nói, “hắn chẳng hề khôn ngoan hơn khi ở trên đó sao? Các vị vương tử tự thỏa mãn với những thứ ít ỏi đến thế sao? Quả thực, chúng ta đã từng đặt nhầm niềm tin vào nhầm người.” Đây là điều mà tôi từng chứng kiến rất nhiều lần trong đời mình. Thậm chí ngay cả lớp vỏ ngụy trang của sự vĩ đại được thể hiện trong các vở kịch của chúng ta cũng phần nào lay động và đánh lừa chúng ta. Điều mà bản thân tôi tôn sùng ở các vị vương tử chính là đám đông những kẻ tôn sùng họ; mọi sự tôn kính và phục tùng đều là những thứ họ đáng được nhận, ngoại trừ sự phục tùng của trí tuệ: lý trí của tôi không có nghĩa vụ phải cúi đầu khom lưng; đôi đầu gối của tôi thì có. Melanthius khi được hỏi ông nghĩ gì về thảm kịch của Dionysius, liền đáp: “Tôi không thể nhìn thấy nó, nó bị che khuất quá kỹ bởi ngôn từ”; phần lớn những kẻ phán xét những bài diễn thuyết của các nhân vật lớn lao cũng nên thốt lên rằng: “Tôi chẳng hiểu từ ngữ của ông ta, chúng bị che khuất quá kỹ bởi sự trang nghiêm, vĩ đại và uy nghi.” Antisthenes từng có lần tìm cách thuyết phục người dân Athens ra lệnh cho phép những con lợn lòi của họ được dùng vào việc cày bới đồng áng giống như những con ngựa; để rồi nhận được câu trả lời rằng loài động vật đó không được sinh ra cho sứ mệnh như vậy: “Điều đó không quan trọng,” ông đáp lại, “các vị chỉ cần ra lệnh là được: bởi vì những kẻ dốt nát và bất tài nhất mà các vị giao phó trọng trách trong các cuộc chiến tranh của mình cũng lập tức trở nên đủ xứng đáng, chỉ vì các vị giao việc cho họ”; điều đó có nét rất gần gũi với tập tục của biết bao dân tộc, những kẻ tôn phong vị vua do chính họ bầu ra từ trong dân chúng lên làm thánh thần, và không chỉ dừng lại ở việc tôn kính, mà còn phải tôn sùng họ. Những người ở Mexico, sau khi các nghi thức đăng quang của nhà vua hoàn thành, không còn dám nhìn thẳng vào mặt ông ta nữa; mà hành động như thể họ đã phong thần cho ông ta thông qua vương quyền. Trong số những lời thề mà họ bắt ông ta phải tuyên hệ để duy trì tôn giáo, luật pháp và tự do của họ, phải dũng cảm, công minh và hòa nhượng, ông ta còn phải thề sẽ khiến mặt trời quay trên quỹ đạo với ánh sáng quen thuộc của nó, sẽ vắt kiệt những đám mây vào đúng mùa, sẽ khiến các dòng sông chảy theo dòng của chúng, và khiến cho mặt đất sinh sôi mọi thứ cần thiết cho thần dân của mình.
Tôi khác với thói đời thông thường ấy, và có xu hướng nghi ngờ năng lực hơn mỗi khi tôi nhìn thấy nó đi kèm với sự vĩ đại của vận may và sự tán dương của công chúng; chúng ta phải cân nhắc xem việc được cất tiếng nói bất cứ khi nào mình muốn, được lựa chọn chủ đề, được ngắt lời hoặc thay đổi nó với một uy quyền mang tính bề trên mang lại cho người ta bao nhiêu lợi thế; việc tự bảo vệ mình khỏi những ý kiến trái chiều của người khác chỉ bằng một cái gật đầu, một nụ cười hoặc sự im lặng, trước sự hiện diện của một hội đồng đang run rẩy vì kính cẩn và tôn trọng, là một lợi thế lớn nhường nào. Một kẻ có vận may phi thường khi đến để đưa ra phán quyết về một cuộc tranh cãi vặt vãnh nào đó vô tình nổ ra tại bàn ăn của hắn, đã mở đầu bằng những lời này: “Chỉ có một kẻ nói dối hoặc một tên ngốc mới dám nói khác đi như thế này thế nọ.” Hãy tiếp tục theo đuổi cái điểm triết lý đó với một con dao găm trong tay đi.
Có một quan sát khác mà tôi đã đúc rút được, từ đó tôi thu về những lợi ích to lớn; đó là trong các cuộc đàm đạo và tranh biện, không phải mọi từ ngữ có vẻ hay ho đều phải được chấp nhận ngay lập tức. Hầu hết mọi người đều giàu có nhờ vào thứ trí tuệ đi mượn: một người có thể nói ra một điều hay, đưa ra một câu trả lời hay, trích dẫn một câu châm ngôn hay, mà hoàn toàn chẳng hiểu chút sức nặng nào của vế này lẫn vế kia. Việc một người có thể không hiểu hết những gì mình đi mượn, có lẽ cũng có thể được minh chứng ngay ở bản thân tôi. Người ta không được phép lập tức đầu hàng trước bất kỳ chân lý hay vẻ đẹp nào có vẻ hiện diện trong luận điểm đối lập; hoặc là người ta phải hiên ngang đối mặt với nó, hoặc phải rút lui dưới cái cớ là không hiểu nó, để thử nghiệm từ mọi phía xem nó được dung thân thế nào trong tâm trí tác giả. Rất có thể chúng ta sẽ tự vướng vào tròng và góp phần củng cố chính luận điểm đó. Đôi khi, trong sự cấp bách và sức nóng của trận chiến, tôi đã đưa ra những câu trả lời sắc sảo vượt qua cả sự mong đợi hay hy vọng của mình; tôi chỉ trao chúng theo số lượng, nhưng chúng lại được tiếp nhận bằng trọng lượng. Giống như khi tôi tranh đấu với một kẻ cường tráng, tôi lấy làm thích thú khi dự đoán trước các kết luận của hắn, tôi giúp hắn đỡ đi rắc rối phải tự giải thích, tôi cố gắng đi trước trí tưởng tượng của hắn ngay khi nó còn đang chớm nở và chưa hoàn thiện; trật tự và sự thích đáng trong trí tuệ của hắn cảnh báo và đe dọa tôi từ đằng xa; tôi hành xử hoàn toàn ngược lại với những kẻ khác; tôi buộc phải thấu hiểu và không được phép phán đoán trước điều gì ngoại trừ qua chính họ. Nếu họ đưa ra kết luận bằng những từ ngữ chung chung, “cái này tốt, cái kia xấu,” và vô tình họ lại đúng, hãy xem thử có phải là do vận may đã giúp họ ăn may hay không; hãy để họ tự khoanh vùng và giới hạn phán quyết của mình lại xem tại sao, hay bằng cách nào mà lại như vậy. Những phán quyết mang tính phổ quát mà tôi thấy quá phổ biến ấy chẳng có nghĩa lý gì cả; đó là những kẻ đứng giữa đám đông cất tiếng chào hỏi cả một dân tộc; còn những kẻ có sự quen biết thực sự, họ để ý và chào hỏi từng cá nhân một bằng chính tên gọi của họ. Thế nhưng đó là một canh bạc mạo hiểm; và qua đó, tôi đã thấy, còn nhiều hơn cả chuyện cơm bữa hằng ngày, rằng những trí tuệ yếu nhược, khi muốn ra điều thông minh bằng cách chú ý, trong lúc đọc sách, đến những gì là hay nhất và đáng ngưỡng mộ nhất, lại cắm sự ngưỡng mộ của mình vào một thứ được lựa chọn tồi tệ đến mức thay vì khiến chúng ta nhận ra sự xuất sắc của tác giả, họ lại phơi bày rõ mồn một sự dốt nát của chính mình. Câu cảm thán này thì an toàn này, “Hay thật đấy,” sau khi đã nghe xong cả một trang sách của Virgil; những kẻ khôn lỏi thường tự cứu mình bằng cách đó; thế nhưng để mưu toan đọc theo từng dòng, và với một phán quyết uyên bác và đã được thử lửa, quan sát xem một tác giả xuất sắc tự tỏa sáng ở chỗ nào, cân nhắc từng từ ngữ, cụm từ, phát kiến và những vẻ đẹp đa dạng của ông ta, hết lớp này đến lớp khác: hãy tránh xa điều đó ra:
Tôi vẫn nghe thấy những kẻ ngốc nói những điều không hề ngốc mỗi ngày: họ nói ra một điều hay; hãy thử kiểm tra xem họ hiểu nó đến đâu, họ lấy nó từ đâu, và ý họ là gì khi nói câu đó. Chúng ta giúp họ tận dụng cái cách diễn đạt hay ho này, cái câu châm ngôn hay ho kia vốn chẳng phải của họ; họ chỉ đang giữ hộ nó mà thôi; họ thốt ra nó một cách cầu may; chúng ta là kẻ đặt nó vào vị trí của sự uy tín và trân trọng. Bạn đang chìa tay giúp đỡ họ. Để làm gì chứ? Họ chẳng thèm cảm thấy biết ơn bạn vì điều đó đâu, và lại càng trở nên trớ trêu và bất tài hơn. Đừng giúp họ; cứ mặc kệ họ; họ sẽ xử lý vấn đề giống như những kẻ sợ bị bỏng tay; họ chẳng dám thay đổi vị trí hay ánh sáng của nó, cũng chẳng dám đâm thủng vào nó; chỉ cần lắc nhẹ nó một chút thôi là nó đã trượt khỏi kẽ tay họ rồi; họ từ bỏ nó, dù cho nó có mạnh mẽ hay đẹp đẽ đến đâu đi nữa: đó là những thứ vũ khí tuyệt vời nhưng lại bị lắp chuối kém cỏi: Đã bao nhiêu lần tôi được chứng kiến trải nghiệm này rồi? Giờ đây, nếu bạn đến để giải thích bất cứ điều gì cho họ và củng cố cho họ, họ liền chộp lấy nó và ngay lập tức tước đoạt của bạn lợi thế từ cách giải thích của bạn; “Đó chính là điều tôi định nói; đó chính là ý tưởng của tôi; nếu tôi không diễn đạt nó ra như vậy, đó là vì vốn từ của tôi còn thiếu.” Toàn là gió thoảng mây bay! Phải dùng đến cả sự cay độc thì mới có thể uốn nắn được cái sự dốt nát ngạo mạn này. Giáo lý của Hegesias, “rằng chúng ta không được phép căm ghét hay cáo giác, mà phải dạy bảo,” là chính xác ở những nơi khác; nhưng ở đây, việc cứu giúp và uốn nắn một kẻ chẳng hề cần đến nó và chỉ làm cho mọi thứ tồi tệ hơn qua sự giúp đỡ đó lại là một hành động bất công và vô nhân tính. Tôi thích để họ lún sâu hơn vào vũng bùn; và lún sâu đến mức, nếu có thể, cuối cùng họ sẽ tự nhận ra sai lầm của chính mình.
Sự ngu ngốc và lố bịch không thể được chữa lành bằng những lời quở trách đơn thuần; và điều mà Cyrus từng đáp lại kẻ nài nỉ ông hãy ban một bài diễn văn khích lệ quân đội ngay trước thềm trận chiến, rằng “con người ta không thể trở nên dũng cảm và hiếu chiến một cách tức thì chỉ vì một bài diễn văn hay, cũng giống như một người không thể trở thành một nhạc sĩ cừ khôi chỉ bằng cách lắng nghe một bản nhạc hay,” cũng có thể áp dụng một cách thích hợp cho những lời quở trách kiểu này. Đó là những quá trình học việc phải được tôi luyện từ trước, thông qua một nền giáo dục lâu dài và liên tục. Chúng ta nợ sự quan tâm và sự kiên trì trong việc sửa sai và dạy dỗ này đối với những người thuộc về chúng ta; thế nhưng việc đi rao giảng cho bất kỳ kẻ qua đường nào, và tự nhận làm thầy giáo cho sự dốt nát và ngu ngốc của bất kỳ kẻ nào chúng ta bắt gặp trên đường, lại là một điều mà tôi vô cùng căm ghét. Tôi hiếm khi làm điều đó, ngay cả trong những cuộc trò chuyện riêng tư, và thà từ bỏ toàn bộ câu chuyện còn hơn là tiến hành những bài học vỡ lòng và ở cấp độ trường lớp ấy; tính cách của tôi không phù hợp để nói hay viết cho những kẻ mới bắt đầu; nhưng đối với những điều được nói ra trong các cuộc đàm đạo thông thường, hay giữa những vấn đề khác, tôi không bao giờ phản đối chúng dù bằng lời nói hay cử chỉ, cho dù chúng có sai trái hay ngớ ngẩn đến đâu đi nữa.
Còn về những mặt khác, chẳng có điều gì làm tôi bực bội ở sự ngu ngốc bằng việc nó tự mãn với chính mình hơn là bất kỳ lý trí nào có thể hợp lý hóa. Thật không may là sự thận trọng lại cấm đoán chúng ta tự thỏa mãn và tin tưởng vào bản thân, đồng thời luôn đẩy chúng ta ra xa trong sự rụt rè và bất mãn; trong khi sự bướng bỉnh và liều lĩnh lại lấp đầy những kẻ bị chúng thao túng bằng niềm tin chắc chắn và niềm vui sướng. Chỉ có những kẻ ngu dốt nhất mới nhìn người khác bằng nửa con mắt từ trên cao xuống, luôn trở về sau trận chiến đầy ắp niềm vui và sự khải hoàn. Hơn thế nữa, phần lớn sự kiêu ngạo trong lời nói và sự tươi vui trên nét mặt đó lại giúp họ chiếm được thiện cảm trong mắt khán giả, những kẻ vốn thường yếu đuối và không có khả năng phán xét cũng như nhận thức đúng đắn lợi thế thực sự. Sự bướng bỉnh trong quan điểm và sự gay gắt trong tranh luận là những bằng chứng chắc chắn nhất của sự ngu ngốc; liệu có thứ gì trên đời này lại tỏ ra quả quyết, kiên định, khinh miệt, chiêm nghiệm, nghiêm túc và trang nghiêm cho bằng con lừa không?
Liệu chúng ta có thể gộp vào dưới tiêu đề đàm đạo và giao tiếp những màn đấu khẩu nhanh nhạy và sắc bén mà sự vui vẻ và thân thiết mang lại giữa những bạn bè, khi họ vui đùa và chế giễu lẫn nhau một cách hóm hỉnh không? Đó là một bài tập mà sự vui tính tự nhiên của tôi hoàn toàn đáp ứng đủ điều kiện, và dẫu nó không căng thẳng và nghiêm túc như kiểu đàm đạo trước mà tôi vừa nhắc đến, nhưng theo quan điểm của Lycurgus, nó cũng chẳng kém phần sắc sảo và thông minh, hay kém phần hữu ích. Về phần mình, tôi đóng góp vào đó sự tự do nhiều hơn là sự thông minh, và ở đó tôi dựa vào vận may nhiều hơn là phát kiến; thế nhưng tôi lại cực kỳ hoàn hảo trong việc chịu đựng, bởi vì tôi có thể nhẫn nhịn trước một màn đáp trả không chỉ chua ngoa mà còn vô duyên đến cùng cực mà chẳng hề nổi giận; và bất cứ kẻ nào tấn công tôi, nếu tôi không có sẵn một câu trả lời nhanh nhọn ngay lập tức, tôi cũng không cố gắng theo đuổi vấn đề bằng một cuộc tranh cãi tẻ nhạt và ngớ ngẩn suýt sát với sự bướng bỉnh, mà sẽ cho qua nó, vui vẻ cúp tai xuống và hoãn lại sự trả thù của mình sang một thời điểm khác tốt đẹp hơn: chẳng có thương nhân nào luôn luôn thắng lợi cả. Hầu hết mọi người đều thay đổi nét mặt và giọng nói của mình mỗi khi trí tuệ của họ cạn kiệt, và bằng một sự giận dữ sai thời điểm, thay vì tự trả thù cho mình, họ lại cùng lúc cáo giác sự ngu ngốc và thiếu kiên nhẫn của chính mình. Trong bầu không khí vui vẻ này, đôi khi chúng ta chạm đến những sợi dây thầm kín của những khiếm khuyết nơi bản thân, những thứ mà ở một thời điểm khác trang trọng hơn, chúng ta không thể chạm vào mà không gây ra sự xúc phạm, và từ đó mang lại cho nhau một cách hữu ích những gợi ý về những điểm mù của bản thân. Vẫn có những trò đùa giỡn tay chân khác – [trò đùa thực tế] – thô lỗ và vô duyên theo kiểu của người Pháp, mà tôi căm ghét cay đắng; làn da của tôi rất mỏng manh và dễ nhạy cảm: trong đời mình, tôi từng chứng kiến hai vị hoàng tử hoàng tộc phải chịu chung số phận chôn cất chỉ vì trò đùa đó. Thật là bất nhã khi đánh nhau trong lúc vui đùa. Ngoài ra, khi tôi muốn đánh giá bất kỳ ai, tôi sẽ hỏi anh ta xem anh ta hài lòng với bản thân mình đến mức độ nào; lời nói hay công việc của anh ta làm anh ta thỏa mãn đến đâu. Tôi không chấp nhận những lời bào chữa kiểu như, “Tôi chỉ làm nó cho vui thôi,
Tôi chẳng mất tới một tiếng để làm nó: Tôi chưa từng nhìn lại nó kể từ lúc ấy.” Thế thì, tôi sẽ nói, hãy dẹp những thứ đó sang một bên, và đưa cho tôi một tác phẩm hoàn chỉnh, một tác phẩm mà người ta có thể dùng nó để đo lường con người bạn. Và rồi, theo bạn thì điều gì là tuyệt vời nhất trong công sức của bạn? là phần này hay phần kia? là nét duyên dáng hay là nội dung, là phát kiến, là phán quyết, hay là học thức? Bởi vì tôi nhận ra rằng con người ta thường sai lầm không kém trong việc phán xét những tác phẩm của chính mình so với tác phẩm của người khác; không chỉ vì sự thiên vị mà họ dành cho chúng, mà còn vì thiếu năng lực để nhận biết và phân biệt chúng; tác phẩm, bằng chính sức mạnh và vận may của nó, có thể hỗ trợ người thợ, và đôi khi vượt qua cả anh ta, vượt xa hơn cả phát kiến và hiểu biết của anh ta. Về phần mình, tôi phán xét giá trị những tác phẩm của người khác một cách mơ hồ hơn là của chính mình; và đặt những bài Tiểu luận lúc lên cao, lúc xuống thấp, với một sự hoài nghi và bất định lớn lao. Có một số cuốn sách hữu ích nhờ vào các chủ đề của chúng, nhưng tác giả lại chẳng hề thu về được chút vinh danh nào từ đó; và có những cuốn sách hay, cũng giống như những công trình hay, lại làm cho chính người thợ phải xấu hổ. Tôi có thể viết về lề lối trong các bữa tiệc của chúng ta, và thời trang y phục của chúng ta, và tôi có thể viết chúng một cách tồi tệ; tôi có thể xuất bản các sắc lệnh của thời đại mình, và những lá thư của các vị vương tử được truyền tay nhau; tôi có thể viết một bản tóm lược của một cuốn sách hay (và mọi bản tóm lược của một cuốn sách hay đều là một bản tóm lược ngớ ngẩn), cuốn sách đó rồi sẽ bị thất truyền; cứ thế mãi: hậu thế sẽ thu được những lợi ích kỳ diệu từ những tác phẩm biên soạn như vậy; thế nhưng tôi sẽ có được vinh danh gì cơ chứ nếu không nhờ vào một vận may thật lớn lao? Hầu hết những cuốn sách nổi tiếng đều rơi vào hoàn cảnh này.
Khi tôi đọc Philip de Commines, không nghi ngờ gì nữa, đó là một tác giả rất xuất sắc, cách đây vài năm, tôi đã ghi nhận được câu nói này không phải là một câu nói tầm thường, “Rằng một người phải cẩn thận đừng làm cho chủ nhân của mình nhận được quá nhiều ân huệ đến mức cuối cùng vị chủ nhân đó chẳng biết phải đền đáp lại cho anh ta xứng đáng bằng cách nào”; thế nhưng lẽ ra tôi phải ca ngợi phát kiến đó, chứ không phải ông ta, bởi vì tôi đã bắt gặp nó trong tác phẩm của Tacitus cách đây chưa lâu:
và Seneca đã mạnh mẽ thốt lên rằng:
Q. Cicero đã nói với một ý tứ ít trực diện hơn:
Chủ đề, tùy thuộc vào bản chất của nó, có thể khiến một người được nhìn nhận là có học thức và trí nhớ tốt; thế nhưng để phán xét những phần thuộc về riêng tác giả ấy và đáng giá nhất, tức là sinh lực và vẻ đẹp trong tâm hồn ông ta, người ta trước tiên phải biết đâu là phần của chính ông ta và đâu là phần đi mượn; và trong phần không phải của riêng ông ta ấy, chúng ta phải mang ơn ông ta bao nhiêu phần trăm trong khâu lựa chọn, sắp xếp, trang trí và ngôn từ mà ông ta đã trình bày trước chúng ta? Thế còn sao nếu ông ta mượn nội dung nhưng lại làm hỏng hình thức, như vẫn thường xảy ra? Chúng ta, những kẻ ít đọc sách, rơi vào tình cảnh trớ trêu là khi bắt gặp một ý tưởng cao siêu ở một nhà thơ mới nào đó, hoặc một luận điểm đanh thép ở một vị giảng sư nào đó, chúng ta dẫu vậy vẫn không dám ca ngợi nó cho đến khi đã tìm hiểu thông qua một bậc học giả nào đó xem đó thực sự là trí tuệ của tác giả hay là đi mượn từ kẻ khác; cho đến lúc đó, tôi vẫn luôn đứng ở tư thế phòng thủ.
Gần đây tôi đã đọc trọn vẹn lịch sử của Tacitus một mạch không đứt quãng bởi bất cứ thứ gì khác (điều vốn hiếm khi xảy ra với tôi, bởi vì đã hai mươi năm nay tôi chưa từng gắn bó với bất kỳ cuốn sách nào quá một tiếng đồng hồ), và tôi đã làm điều đó theo lời thỉnh cầu của một quý ông rất được nước Pháp kính trọng, không chỉ vì giá trị cá nhân của ông ta, mà còn vì một năng lực và đức tính nhất quán xuyên suốt qua rất nhiều người anh em trong gia đình họ. Tôi không biết có tác giả nào trong các tác phẩm tường thuật công khai lại kết hợp nhiều sự cân nhắc về phong tục và khuynh hướng cá nhân đến thế; và tôi có quan điểm hoàn toàn trái ngược với ông ta, khi cho rằng, vì phải theo sát cuộc đời của các vị hoàng tử thời đại ông, những kẻ vô cùng đa dạng và cực đoan dưới mọi hình thức, cùng với vô số hành động đáng chú ý mà sự tàn ác của họ đã gây ra cho thần dân, ông ta có một chất liệu mạnh mẽ và hấp dẫn hơn nhiều so với việc phải miêu tả những trận chiến và các cuộc nổi loạn trên quy mô toàn quốc; thế nên tôi thường thấy ông ta có vẻ khô khan, lướt qua những cái chết anh dũng đó như thể ông sợ làm chúng ta phiền lòng bởi số lượng đông đảo và sự dài dòng của chúng. Hình thức viết sử này hữu ích hơn rất nhiều; những biến động công cộng phụ thuộc phần lớn vào sự xoay vần của vận mệnh, còn những biến động riêng tư lại phụ thuộc vào chính chúng ta. Đó là một phán quyết mang tính phán xét hơn là một sự tường thuật lịch sử; trong đó chứa đựng nhiều bài học đạo đức hơn là những câu chuyện kể: đó không phải là một cuốn sách để đọc, mà là một cuốn sách để học tập và nghiên cứu; nó tràn ngập những ý kiến mang tính châm ngôn, đúng hay sai; nó là một vườn ươm cho các bài diễn thuyết về đạo đức và chính trị, phục vụ cho công dụng và sự trang hoàng của những kẻ nắm giữ quyền lực trong việc cai quản thế giới này. Ông luôn lập luận bằng những lý lẽ đanh thép và vững chắc, theo một phong cách sắc sảo và uyên bác, phù hợp với văn phong thịnh hành của thời đại đó, một thời đại vốn vô cùng say mê lối viết phô trương đến mức nơi nào thiếu đi sự sắc sảo và thâm thúy trong sự việc, họ liền dùng những từ ngữ hoa mỹ và phồng rộp để bù đắp vào đó. Nó không khác mấy so với phong cách của Seneca: tôi nhìn nhận Tacitus là kẻ gân guốc hơn, còn Seneca là kẻ sắc sảo hơn. Ngòi bút của ông tỏ ra phù hợp nhất cho một nhà nước đang rơi vào cảnh hỗn loạn và đau ốm như đất nước chúng ta hiện nay; bạn sẽ thường xuyên thốt lên rằng ông ta đang vẽ tranh và cấu véo chúng ta.
Những kẻ nghi ngờ sự thành tín của ông ta thực chất đang tự cáo giác bản thân là kẻ thù của ông ta vì một lý do nào khác. Các quan điểm của ông rất chuẩn mực và nghiêng về phía lẽ phải trong các vấn đề của người La Mã. Thế nhưng tôi vẫn bực mình với ông ta vì đã phán xét Pompey khắc nghiệt hơn mức phù hợp với quan điểm của những nhân vật đáng kính từng sống cùng thời và có qua lại với ông ta; và đã coi ông ta ngang hàng với Marius và Sylla, chỉ ngoại trừ việc Pompey kín kẽ hơn. Các nhà văn khác không hề phủ nhận rằng ý đồ của Pompey trong việc điều hành chính sự cũng vướng vào tham vọng và sự trả thù; và ngay cả những người bạn của ông ta cũng sợ rằng chiến thắng sẽ cuốn ông ta vượt ra ngoài ranh giới của lý trí, nhưng không đến mức đo lường được sự tàn khốc như hai kẻ kia; chẳng có điều gì trong cuộc đời ông ta đe dọa một sự tàn ác và chuyên quyền rõ rệt đến thế. Chúng ta cũng không nên lấy sự nghi ngờ để chống lại các bằng chứng xác thực; và do đó tôi không tin Plutarch trong vấn đề này. Việc các câu chuyện kể của ông ta là chân thực và thẳng thắn, có lẽ có thể được minh chứng chính từ điểm này, rằng chúng không phải lúc nào cũng ứng với các kết luận từ phán quyết của ông ta, những phán quyết mà ông ta tuân thủ theo quán tính đã chọn, rất thường xuyên vượt ra ngoài cả chất liệu mà ông ta bày ra trước mắt chúng ta, thứ mà ông ta thậm chí không thèm thay đổi dù chỉ một chút ít. Ông ta chẳng cần phải ngụy biện cho việc đã tán thành tôn giáo thời đại mình theo đúng lệnh của luật pháp, và việc không biết đến tôn giáo đích thực; đó là bất hạnh của ông ta, chứ không phải lỗi của ông ta.
Tôi chủ yếu xem xét phán quyết của ông ta, và không hoàn toàn hài lòng với nó trong mọi khía cạnh; chẳng hạn như những từ ngữ trong bức thư mà Tiberius, khi đã già nua và bệnh tật, gửi cho viện nguyên lão: “Tôi phải viết gì cho các ngài đây, thưa các ngài, hay tôi phải viết cho các ngài như thế nào, và tôi không nên viết gì cho các ngài vào lúc này? Nguyện xin các vị thần linh giáng xuống đầu tôi một hình phạt còn tồi tệ hơn cả nỗi đày đọa mà tôi phải gánh chịu mỗi ngày, nếu như tôi biết!” Tôi không hiểu tại sao ông ta lại quả quyết áp dụng những lời đó vào một sự cắn rứt sâu sắc đang đày đọa lương tâm của Tiberius; ít nhất thì khi tôi ở vào hoàn cảnh tương tự, tôi chẳng hề nhận thấy điều gì như thế cả.
Và điều này cũng có vẻ hơi tầm thường ở ông ta khi, phải nói rằng mình từng đảm nhận một chức vụ danh dự ở Rome, ông lại tự bào chữa rằng mình không nói điều đó ra vì thói khoe khoang; điều này có vẻ, tôi xin nhắc lại, là tầm thường đối với một tâm hồn lớn lao như thế; bởi vì việc không dám nói thẳng thừng về bản thân ngụ ý một sự thiếu hụt lòng can đảm; một con người có phán quyết vững vàng và cao ngả, kẻ phán xét một cách chuẩn mực và chắc chắn, luôn sử dụng chính những trải nghiệm của bản thân trong mọi hoàn cảnh, cũng giống như trải nghiệm của những người khác; và đưa ra những minh chứng về bản thân một cách phóng khoáng hệt như khi nói về một kẻ thứ ba. Chúng ta phải vượt qua những quy tắc thông thường về phép lịch sự ấy, để nhường chỗ cho sự thật và sự tự do. Tôi không chỉ dám nói về bản thân mình, mà còn chỉ muốn nói về một mình bản thân mình: khi tôi viết về bất cứ thứ gì khác, tôi liền lạc lối và đi chệch khỏi chủ đề của mình. Tôi không đến mức si mê bản thân một cách thiếu khôn ngoan, không đến mức hòa tan hoàn toàn vào và trói buộc chặt chẽ với bản thân đến nỗi không thể tách rời và nhìn nhận bản thân một cách độc lập, giống như cách tôi nhìn nhận một người hàng xóm hay một cái cây: việc không nhận thức được giới hạn giá trị của một người kéo dài đến đâu, cũng là một lỗi lầm ngang bằng với việc nói quá lên những gì người ta tự khám phá thấy ở bản thân. Chúng ta nợ tình yêu thương dành cho Chúa nhiều hơn là dành cho chính mình, và chúng ta ít hiểu về Ngài hơn; thế nhưng chúng ta vẫn nói về Ngài nhiều tùy thích.
Nếu những tác phẩm của Tacitus cho thấy bất kỳ điều gì chân thực về phẩm chất của ông, thì ông là một nhân vật vĩ đại, chính trực và dũng cảm, mang một đức tính mang tính triết học và hào phóng chứ không phải sự mê tín. Người ta có thể nghĩ ông ta táo bạo trong các câu chuyện kể của mình; chẳng hạn như khi ông kể rằng có một người lính mang một gánh củi, đôi tay của anh ta bị cóng đến mức dính chặt vào đống tải trọng đến nỗi chúng cứ giữ nguyên tư thế khép chặt và hoại tử ở đó, bị lìa khỏi đôi tay của anh ta. Tôi luôn cúi đầu trước uy quyền của những nhân chứng vĩ đại như thế trong những trường hợp tương tự.
Những gì ông ta nói rằng Vespasian, “nhờ ơn phước của vị thần Serapis, đã chữa lành cho một người phụ nữ mù ở Alexandria bằng cách xức nước bọt của nhà vua lên đôi mắt cô ta, cùng với tôi chẳng biết phép màu nào khác,” ông ta viết điều đó theo tấm gương và bổn phận của tất cả những nhà sử học chân chính. Họ ghi chép lại mọi sự kiện quan trọng; và nằm trong số các sự kiện công cộng chính là những lời đồn đại và quan điểm phổ biến của quần chúng. Bổn phận của họ là tường thuật lại những niềm tin thông thường, chứ không phải uốn nắn chúng: phần việc đó thuộc về các nhà thần học và triết gia, những người định hướng lương tâm; và chính vì thế mà người bạn đồng hành này của ông, một vĩ nhân hệt như ông, đã rất khôn ngoan khi nói rằng:
và một người khác cũng nói rằng:
Và khi viết trong một thời đại mà niềm tin vào những điềm gở bắt đầu suy tàn, ông nói rằng tuy thế ông vẫn không từ bỏ việc đưa vào các Biên niên sử của mình, và thuật lại những sự việc được tiếp nhận bởi vô số những con người đáng kính, cùng với một sự tôn kính lớn lao dành cho thời cổ đại; điều đó được nói rất hay. Hãy để họ trao cho chúng ta lịch sử, thiên về cách họ tiếp nhận nó hơn là cách họ tin tưởng vào nó. Tôi, kẻ làm bá chủ đối với chất liệu mà tôi đang bàn luận, và là kẻ chẳng phải chịu trách nhiệm trước bất kỳ ai, dẫu vậy vẫn không phải lúc nào cũng tin vào chính mình; tôi thường liều lĩnh tung ra những phát kiến của trí tuệ mình, những thứ mà tôi vô cùng hoài nghi, và một số trò chơi chữ nghĩa nào đó làm tôi phải cúp tai e ngại; thế nhưng tôi cứ để mặc chúng tự do tung hoành. Tôi thấy những kẻ khác giành được danh tiếng nhờ những thứ như thế: không phải chỉ riêng tôi mới có quyền phán xét. Tôi phơi bày bản thân mình trong tư thế đứng lẫn nằm, từ trước ra sau, bên phải sang bên trái, và trong mọi tư thế tự nhiên của mình. Trí tuệ của con người, dẫu có ngang bằng nhau về sức mạnh, cũng không phải lúc nào cũng đồng điệu về gu thẩm mỹ và cách vận dụng.
Đó là những gì ký ức của tôi mang lại cho tôi một cách tổng quan, và mang đủ sự bất định; mọi phán đoán mang tính tổng quan đều yếu ớt và thiếu hoàn thiện.