'Gửi kẻ đã lâu giam hãm giữa chốn đô thành,
Thật tuyệt vời biết bao khi được ngắm nhìn bầu trời trong trẻo, khoáng đạt—được hít hà hơi thở
Tràn ngập trong nụ cười của vòm trời xanh thẳm.'
Đó là ngày hôm sau. John Talbot đã trải qua một buổi sáng vô cùng hạnh phúc. Sâu thẳm trong lòng, anh vẫn là một người con của đồng quê. Định mệnh đã xô đẩy anh vào Văn phòng Ngoại giao, bắt anh làm thư ký cho một vị đại thần, và trói chân anh ở London mười trên mười hai tháng; nhưng chòm nông thôn—nơi từng có những đóa hoàng liên thắp sáng tuổi thơ anh—vẫn giữ trọn trái tim anh. Đó là vùng quê với những chú sơn ca nhỏ bé bay vút lên từ luống cày nâu sẫm; với những chiếc áo choàng xanh và nâu đỏ; với những âm thanh hiền hòa, ngọt ngào, vô tội; và với những hương thơm đậm đà từ thiên đường. Anh vừa nằm dài ngửa mặt trên thảm cỏ, hai tay gối dưới đầu, thả hồn ngắm nhìn bầu trời trong sự lười biếng đầy sung sướng, và lắng nghe tiếng hót của chú chim cổ đỏ—vào tháng Tám, hiếm có loài chim nào cất giọng ngoài chim cổ đỏ—cùng tiếng gió xào xạc dễ chịu trên tán cây đoạn. Nằm đó một mình ngửa mặt lên trời—ý tôi là lúc đầu. Sau đó, anh đã có rất nhiều bạn đồng hành. Thực ra, không phải chủ nhà hay những vị khách khác làm phiền anh nhiều. Từ cái ổ nhỏ đã chọn, anh có thể phóng tầm mắt nhìn lên cửa sổ của phu nhân. Quả thật, anh rất ít khi nhìn về hướng đó, và những ô cửa đóng kín cùng tấm rèm thả cũng chẳng hứa hẹn gì về việc nữ thần đang ngủ say bên trong sẽ xuất hiện. Phu nhân Roupell muốn mọi người hiểu rằng bà không muốn bị nhìn thấy hay làm phiền cho đến giờ ăn trưa; và những người khác đều đã tỏa đi đâu mất, anh chẳng buồn biết cũng chẳng quan tâm. Thế mà anh vẫn có bạn đồng hành. Họ đang được vú em dẫn đi dạo thì trông thấy anh. Ngay lập tức, họ lao về phía anh nhanh nhất có thể bằng những đôi chân mũm mĩm.
'Đoán xem nào!' Lily gào lên, hét hết cỡ từ tận đằng xa trước khi kịp chạy đến bên anh—'Đoán xem nãy giờ Franky làm gì kìa! Nó hư lắm đúng không hả? Nó lấy bình nước hất thẳng vào váy vú nuôi đấy! Cô ấy bảo sẽ méc má mắng cho một trận!'
'Và má chắc chắn sẽ từ chối làm việc đó,' Talbot thì thầm tự nhủ.
Anh chống tay nhổm dậy để chuẩn bị đón nhận cuộc tấn công một cách an toàn hơn. Anh thừa biết cái tính hay ho của cô bé Harborough—thường hay gán những tội ác tày trời cho cậu em trai, trong khi chính cô bé mới là thủ phạm.
'Nếu chính Franky làm đổ bình nước, sao váy của cháu lại ướt thế kia?' anh ra điều tra hỏi.
Con bé không trả lời, chỉ làm dáng nghiêng đầu điệu đà và cọ vai vào má.
'Cháu chắc chứ không phải cháu làm à, mà lại là Franky?'
Ngay lập tức, với vẻ vô cùng tự nhiên và niềm nở, con bé thừa nhận chính nó làm; và các vú em vừa lúc tiến lại gần, chuẩn bị lôi đi trị tội, thì Talbot ngớ ngẩn lên tiếng xin xỏ, lại còn dở chứng đòi giữ cả hai đứa trẻ lại bên mình. Thế là anh có một buổi sáng đầy biến cố. Anh lần lượt phải làm ngựa pony, hươu cao cổ, linh cẩu, hồng hạc (thật tai hại cho anh là mấy đứa nhỏ nhà Harborough vừa mới đi thăm Sở thú về), thỏ (nghe những chuyện vô cùng động trời về lịch sử tự nhiên và đời sống gia đình của loài vật này), và thủ lĩnh một băng cướp. Cuối cùng, anh còn phải tham gia một trò chơi kinh hoàng—trò mà gia đình nhỏ nhà Harborough sợ nhất trong số các tiết mục của chúng—phá hủy lâu đài Ingestre bằng gạch. Điều kỳ lạ là anh lại thích nó—thích hơn cả Phố Downing hay vị đại thần kia.
Khi tiếng cồng ăn trưa vang lên, anh khó lòng tin nổi đã là hai giờ chiều. Bề ngoài anh xộc xệch đi nhiều sau những lần biến hóa—mà quả thực số lần biến hóa cũng nhiều chẳng kém Phật tổ—đến nỗi sau khi chỉnh trang lại đầu tóc, anh thấy mọi người đã có mặt đông đủ trong phòng ăn—và chiếc ghế bất đắc dĩ bị bỏ trống dành sẵn cho anh nằm cạnh tiểu thư Betty. Anh đã ngồi cạnh tiểu thư Betty qua bao nhiêu bữa trưa lẫn bữa tối đến mức sự mới mẻ chẳng còn, và họ nói chuyện với nhau chẳng khác nào một cặp vợ chồng. Khi anh bước vào phòng, giọng cô là tiếng át hẳn những người khác, bởi cô không có được món quà thiên phú như Cordelia.
'Lambton hả? Họ có họ hàng gì với Lãnh chúa Durham không?'
'Tôi không nghĩ vậy,' nữ chủ nhà hờ hững đáp. 'Cha họ chỉ là một tay địa chủ nhỏ vùng này, làm ăn thua lỗ rồi qua đời trong cảnh nợ nần túng quẫn. Còn mẹ họ—ừ thì, mẹ họ chẳng qua chỉ là một sinh linh tội nghiệp' (nhún vai), 'lúc nào cũng tưởng mình bệnh hoạn, và chẳng ai thèm tin cho đến khi bà chứng minh điều đó bằng cái chết! Ha! ha! Tội nghiệp! Tôi đoán chẳng ai buồn khóc mấy, trừ Peggy; nó khóc đến sưng cả mắt.'
'Chưa đến mức sưng húp đâu,' Talbot thầm nghĩ, nhớ lại ánh nhìn sắc như dao cạo mà cô đã phóng về phía anh tối hôm qua; và với tâm hồn riêng mình, trước bằng chứng về sự nhân hậu ấy, anh tự nhủ, 'Peggy dễ thương thật!'
'Ai là Peggy thế nhỉ?' ông Harborough lên tiếng hỏi khi ngẩng lên từ miếng thịt cốt-lết; 'cô lớn ấy hả? Đúng không? Tôi thích Peggy. Lâu lắm rồi tôi mới thấy một cô gái ưa nhìn đến thế.'
Vợ ông phá lên cười.
'Tôi biết ngay là Ralph sẽ mê con bé mà. Tôi đã bảo anh rồi còn gì?' cô quay sang phía Talbot. 'Nó đúng là gu của anh ấy; đối với Ralph thì mấy cô nàng càng to con càng tốt; anh ấy chuộng phụ nữ theo trọng lượng cơ thể.'
'Nói về chuyện đó, mình à,' ông Harborough điềm tĩnh đáp lại, 'ai chẳng biết em vốn chẳng có thói quen khen ngợi đồng giới của mình; nhưng anh nghĩ em sẽ thấy không chỉ một mình anh có suy nghĩ này.'
Có một thoáng im lặng. Đàn ông vốn là những kẻ hèn nhát. Chẳng một ai đứng ra bênh vực tội nghiệp Margaret.
'Con bé trông sẽ dễ nhìn hơn nếu được đem đi rút bớt máu,' tiểu thư Betty tiếp lời; 'trông nó khỏe mạnh một cách đầy thách thức!'
'Ít ra thì em cũng không thể phàn nàn điều tương tự về tội nghiệp Prue,' phu nhân Roupell nói, giọng có chút bất mãn trước những nhận xét của vị khách, bởi bà rất quý mấy cô nhà Lambton.
'Không; nó là một bộ xương biết đỏ mặt!' Betty đáp lại, vừa liếc nhìn chiếc đĩa của mình với vẻ hằn học đầy đăm chiêu. 'Thật tiếc là họ không thể cân bằng lại với nhau! Đứa này thì quá nhỏ cũng như đứa kia quá lớn; họ trông giống như một đồng shilling và một đồng sáu xu vậy!'
Và sau khi đã bình thản hạ gục hai chị em mà chẳng ai thèm bênh vực, cô mỉm cười chuyển sang chủ đề khác.
Sau bữa trưa, Talbot đang thẫn thờ ngậm điếu thuốc trước cửa sảnh, với một nỗi chán ghét thầm kín (có lẽ bắt nguồn từ mẩu chuyện vừa rồi) hướng về bản thân, cảnh vật xung quanh và cuộc sống nói chung, thì nữ chủ nhà bước đến, diện trang phục đi dạo—bộ đồ quê mùa đến mức chỉ có nữ triệu phú mới dám mặc: chiếc áo khoác vải nỉ thô giống đàn ông, chiếc mũ quả dưa đội lệch trên chỏm tóc, và cây gậy chắc nịch trên tay. Bà bảo đang định ra nông trại xem mấy đống rơm ra sao, thế là anh lững thững bước theo không mục đích. Anh thừa biết mình không nên đi—biết rõ những luật lệ bất thành văn buộc anh suốt buổi chiều phải túc trực bên chiếc võng mà tiểu thư Betty đang nằm đu đưa; thế nhưng anh vẫn cứ bước đi bên cạnh một bà già mà chẳng có luật lệ nào, dù là luật Chúa hay luật người, ràng buộc anh cả, đơn giản chỉ để hít hà mùi thơm hăng hắc của đám dương xỉ khô và ngắm nhìn những cặp bồ câu hiền lành đang dõi theo anh dưới tán sồi của Nữ hoàng Elizabeth.
Đến nông trại, khi anh đang chần chừ định quay về làm trònn bổn phận, người đi cùng bỗng cất lời:
'Cậu chạy việc này giúp tôi chút nhé?'
'Tôi xin vâng ạ,' anh đáp, trong lòng hơi lo lắng không biết mình sẽ được đón tiếp thế nào khi quay về sau một cuộc trốn tránh quá lâu.
'Chỉ là chạy tạt sang nhà bọn trẻ nhà Lambton thôi.'
'Nhà Lambton ấy ạ?'
'Ừ—Peggy và Prue.'
'Vâng, vâng; nhưng... nhưng tôi tìm họ bằng cách nào đây?'
'Cứ tưởng cậu biết đường chứ; năm ngoái tôi dẫn cậu đến đó rồi mà. Cậu không thể lạc được đâu; đi xuống con đường kia tầm trăm thước'—(chỉ tay)—'ngay ngoài công viên; một ngôi nhà đỏ cổ kính nhỏ xinh. Không thể lạc được đâu.'
Bà đang quay lưng trở lại với những đống rơm và tốp thợ gặt thì anh gọi giật lại.
'Nhưng đến đó tôi phải nói gì ạ?'
'Ôi trời!' bà cười lớn; 'tôi thật lú lẫn quá! Quên mất không nhắn. Nhắn với Peggy rằng chiều mai, Chủ nhật, tất cả chúng ta sẽ sang đó như mọi khi; và bảo con bé chuẩn bị sẵn thật nhiều bánh muffin cho chúng ta nhé.'
Vừa bước đi trên đường, anh vừa tự thắc mắc liệu Margaret có nhìn anh với cái vẻ lạnh lùng khó hiểu như tối qua hay không, và liệu anh có bao giờ thốt ra nổi cái lời đề nghị xấc xược đòi ăn bánh muffin vô thời hạn ấy không.
Phu nhân Roupell nói đúng. Chẳng thể nào lạc đường được. Thậm chí anh còn ước gì mình có thể lạc. Anh đã giếng chuông—mới mạnh tay làm sao! Tiếng chuông cứ vang lên mãi chẳng dứt. Thế nhưng điều kỳ lạ là hành động bạo lực ấy chẳng mang lại kết quả gì; cánh cửa gỗ Annian vững chãi cũng chẳng hề hé mở lấy một li. Anh ngước nhìn mặt tiền ngôi nhà; mọi ô cửa sổ đều mở toang, và bên trên mỗi ô cửa là những món đồ trang trí từ thời một thế kỷ rưỡi trước hình thần tình yêu, sừng phong túc, cùng táo và nho; một vòm cổng gãy nằm phía trên cánh cửa lạnh lùng, và hai bên là hai bụi hoa bìm bịp lớn với cái tên gọi chào mừng đầy dễ thương; cùng một giàn leo Virginia đang tàn úa rực rỡ, phô bày sắc đỏ phai màu và hoen ố trên nền gạch đỏ vốn có của nó. Có phải đó là một trong những ô cửa sổ phòng khách ở bên phải—cái ô cửa mà anh phải cố hết sức mới kìm lại được không ngó vào—với những chiếc bình sành màu xanh lá và chiếc chậu gốm majolica hình thù kỳ lạ cắm đầy hoa cúc vạn thọ trên bệ cửa sổ? Quả thật rất lạ. Anh bấm chuông lần nữa, nhẹ nhàng hơn nhưng vẫn rất dứt khoát, và kết quả cũng chẳng khá hơn trước là bao. Lần thứ ba; vẫn một sự im lặng đó. Một ý nghĩ ngớ ngẩn chợt thoáng qua trong đầu rằng có lẽ Margaret đã nhìn thấy vị khách ghé thăm từ cửa sổ tầng trên và cấm tất cả người nhà không được tiếp đón; và dù anh tự nhủ điều đó thật vô lý, nhưng sự thất vọng vì ba lần gọi cửa bất thành khiến anh quay lưng định bước về phía cổng chính, thì cuối cùng, có chuyện xảy ra. Một bóng người xuất hiện, lao vút ra từ góc nhà; một bóng người thở hồng hộc, tóc tai bù xù, lắp bắp đến mức phải mất vài giây anh mới nhận ra đó chính là cô em nhà Lambton—'bộ xương nhỏ bé đỏ mặt' mà quý bà dịu dàng của anh đã ban cho cái tên vô cùng ngọt ngào ấy. Giờ thì mặt con bé đỏ bừng lên đúng nghĩa đen!
'Ồ! Là anh đấy à?' cô bé th thở hổn hển kêu lên. Anh chưa từng được giới thiệu với cô, họ cũng chưa từng trao đổi một câu nào; nhưng trong những cơn khủng hoảng thế này thì quy tắc xã giao đành vứt xó. 'Ôi, không biết anh có thể giúp chúng tôi được không? Chúng tôi đang gặp rắc rối lớn rồi!' Giọng điệu cô bé buồn thảm đến mức tim anh hẫng đi một nhịp. Chắc chắn là Peggy chết rồi. 'Con cáo sổng chuồng mất rồi!' cô tiếp tục, nức nở; 'xổng khỏi chuồng rồi và chúng tôi chẳng biết nó đi đâu nữa!'
'Con cáo!' anh lặp lại, trút được gánh nặng trong lòng và bỗng thấy hơi tự trách—'đương nhiên là con cáo rồi! Chắc chắn không phải con lửng rồi!'
Sự ngạc nhiên trước câu nói này đã chặn đứng những giọt nước mắt của Prue.
'Không!' con bé nói; 'ai đời lại đi nghĩ là con lửng chứ?'
Và đúng lúc đó, một bóng người hỗn loạn nữa xuất hiện từ góc nhà. Lần này là Margaret; Margaret cũng thở dốc, đỏ bừng mặt và đầm đìa nước mắt chẳng kém gì Prue. Vừa trông thấy Talbot, cô liền kìm chân lại, bước chậm rãi, và với một nỗ lực đáng khen ngợi hòng ra vẻ lạnh lùng, gọn gàng và xa cách ngay lập tức, cô giơ tay ra.
'Tôi hy vọng anh không phải đợi lâu,' cô khách sáo nói. (Những tiếng thở dốc không sao kìm lại được giữa mỗi từ đã tố cáo cô.) 'Anh bấm chuông lâu lắm phải không? e là trong nhà chẳng có ai cả; tất cả chúng tôi, từ gia nhân cho đến chủ nhà, đều đang tản ra ngoài đồng và vườn hết. Ổi!' (tự nhiên và đau khổ lấn át cả sự kiềm chế) 'anh đã nghe tin tai họa của chúng tôi chưa?'
'Rồi, tôi nghe rồi,' Talbot đáp, dồn hết sự đồng cảm mà lồng ngực có thể chứa đựng vào giọng nói; 'và tôi rất tiếc!'
'Từ bé đến giờ nó toàn bị xích, tội nghiệp con thú nhỏ!' Peggy nói, suy sụp ngả người lên một quả cầu đá tròn lớn kiểu cũ—loại vật trang trí đặt ở mỗi bên cửa. 'Nó chẳng có lấy một chút kinh nghiệm đời nào để tự lo cho bản thân như một đứa trẻ sơ sinh cả!'
'Các cô tìm kỹ hết chưa?'
'Khắp nơi rồi.'
'Chuồng gà?'
'Rồi.'
'Chuồng ngựa?'
'Rồi.'
'Nhà xe?'
'Rồi.'
'Gác xép chứa cỏ khô?'
'Rồi.'
'Phòng để ủng?'
'Rồi.'
'Hầm rượu?' anh bắt đầu đưa ra những gợi ý có phần viển vông. 'Có lần tôi biết một con cáo bị dồn ép đã chạy thẳng vào hầm rượu.'
'Cả ở đó rồi.'
Talbot đã cạn sạch ý tưởng. Nhưng ít ra cũng có một điều thu được— cô ấy đã nói chuyện với anh như một người đang cùng chung hoạn nạn.
Điều này có lẽ chẳng lớn lao gì mấy, bởi nếu có một trận Đại hồng thủy mới quét qua Trái Đất, ai trong chúng ta lại chẳng ôm chầm lấy cổ kẻ sát nhân nếu hắn đứng trên một mỏm đá cao hơn chúng ta chứ?
'Nếu nó đã xổng ra khoảng đất trống,' Margaret tuyệt vọng nói, 'chắc chắn nó sẽ mắc bẫy hoặc bị chó cắn chết thôi; nó nào có chút kinh nghiệm sống nào đâu. Ôi, tội nghiệp con tôi!'
Mắt cô rơm rớm, giọng nghẹn ngào.
Prue đã đổ rạp người, mềm nhũn và nức nở trên quả cầu đá bên kia. Talbot đứng giữa những kẻ đang đau buồn.
'Nào,' anh kiên quyết nói, 'chúng ta phải hành động thôi. Hãy lùng sục lại mọi ngóc ngách khả nghi một lần nữa; và nếu nó không xuất hiện, tôi sẽ đi báo mấy bác quản trò và nông dân để ý tìm giúp.'
Năng lượng đầy nam tính trong giọng nói của anh đã thổi một luồng sinh khí mới vào những cô gái đang chán nản, và cuộc tìm kiếm lại bắt đầu.
Đội hình tìm kiếm được tiếp viện bởi ba người hầu gái với những chiếc tạp dề trùm lên đầu; cậu bé làm chuồng ngựa, và bác Jacob cầm chiếc chổng. Dẫn đầu là Talbot, người có lòng nhiệt thành đôi khi biến thành ra vẻ ta đây, chẳng hạn như khi anh khăng khăng đòi khám phá những khe nứt mà ngay cả con thằn lằn gầy nhất cũng không chui lọt, hay dùng gậy chọc vào những đống cỏhờn nơi chẳng có lấy một con chuột đồng nào có thể ẩn nấp.
Nhóm người dần tản ra các hướng khác nhau, và Talbot thấy mình đang đứng một mình trong căn nhà chứa dụng cụ, nơi đã được lục soát hai lần trước đó. Ở một góc là một chồng chậu đủ mọi kích cỡ cao gần chạm mái, với sự đơn điệu được phá vỡ bởi đủ loại cào, gậy đỡ đậu và liềm dựa vào đó. Toàn bộ cấu trúc trông quá vững chắc để có thể là chỗ ẩn nấp cho bất cứ thứ gì, nhưng rất có thể phía sau nó có một khoảng trống.
Sau khi quỳ xuống dò dẫm một lúc, anh quả thực tìm thấy một cái lỗ, vốn bị che khuất bởi một mảnh thảm đay buông thõng—một cái lỗ đủ rộng để một con vật nhỏ chui qua. Anh áp mắt vào cái lỗ đó. Anh nhìn thấy gì? Hai thứ giống như ngọn đèn xanh đang trừng trừng nhìn anh từ trong bóng tối. A ha! Nó đây rồi!