Bác Sĩ Cupid

Lượt đọc: 92 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18

❊ ❊ ❊

Một tháng khốn khổ nối tiếp nhau—một tháng đầy rẫy sự cơ cực—sự cơ cực, nói cho đúng, không bắt nguồn từ bất kỳ tai họa nào do Chúa giáng xuống; không mang chút vẻ vĩ đại định mệnh nào để chúng ta phải cúi đầu, khiêm nhường khuất phục trước cơn bão của số mệnh không thể tránh khỏi; mà là một nỗi khốn khổ vụn vặt và vô lý—một trong những nỗi niềm mà chính chúng ta tự dệt nên từ mớ bòng bong của những cuộc đời do chính mình làm hỏng. Thật là ngớ ngẩn và hổ thẹn làm sao khi lại thấy khốn khổ giữa những ngày tháng Mười vàng rực, những ngày chẳng mấy chốc lại lén lút bước vào, khoác lên mình vẻ huy hoàng tươi vui của sự giàu sang ngắn ngủi, với một vầng thái dương kiên định đang sưởi ấm lấy bạn từ mái nhà xanh bất biến của nó; với một khu công viên ngập những dương xỉ màu đồng mà bạn chỉ cần bước ra cửa là chạm tới; và với cả một binh đoàn thược dược, cúc nham nhở, cùng loài hoa "Tiễn mùa hè" với những chiếc đĩa rộng thanh tao, chào đón bạn mỗi sớm mai khi bạn thảnh thơi dạo bước giữa những hàng hoa giăng đầy tơ nhện ấy.

Peggy cảm thấy như vậy; nhưng điều đó chẳng ngăn được việc cô đau khổ đến tận tận tâm can. Thế giới bên trong có thể rọi ánh nắng vào thế giới bên ngoài, như chúng ta đều biết—có thể biến một ngày tháng Sáu từ đêm tháng Giêng—biến "mùa đông của sự bất mãn chúng ta" thành mùa hè rực rỡ; nhưng thế giới bên ngoài lại chẳng thể rọi chút nắng nào vào nội tâm nếu bên trong vốn dĩ chẳng có lấy một tia. Thế nên, dù loài hoa "Tiễn mùa hè" của Peggy chưa bao giờ trong đời nở rộ đẹp đến thế, chúng vẫn mỉm cười với cô trong vô vọng. Cô chẳng có chút niềm vui nào để đáp lại chúng. Chưa đầy hai mươi bốn giờ kể từ khi trở về là đủ để chứng minh rằng việc làm hài lòng Prue đã trở thành điều hoàn toàn bất khả thi. Chẳng bõ bận tâm khi vào buổi tối đầu tiên đến nơi, cô ấy cứ thế bước qua tất cả những bất ngờ nhỏ nhặt mà tội nghiệp Peggy đã chuẩn bị sẵn mà chẳng thèm để ý; rằng cô ấy hờ hững gạt đĩa thức ăn sang một bên và chê Sarah nấu dở hơn hồi cô đi vắng. Những điều ấy có lẽ chỉ là sự bực bội trẻ con sinh ra do mệt mỏi, và một giấc ngủ ngon sẽ quét sạch tất cả. Nhưng khi hai mươi bốn giờ trôi qua, khi một tuần, rồi nửa tháng trôi qua, mà vẫn thấy cô ấy chê bai phòng ốc chật chội, không gian sân vườn hạn hẹp, cùng sự đơn điệu trong cuộc sống của họ, thì quả thực, tinh thần của Margaret sụt giảm chưa từng thấy.

Cái tài sản cụ thể duy nhất mà Prue có vẻ mang về sau chuyến thăm Harborough lại là một sự chán ghét bệnh hoạn và khinh miễn đối với bất cứ thứ gì từng mang lại cho cô niềm vui; một thứ chuẩn mực để đo lường mọi hoàn cảnh trong cuộc sống của chính mình và thấy chúng thiếu thốn trầm trọng. Về bản thân chuyến đi, cô giữ thái độ kín đáo đến kỳ lạ. Không một lời hé lộ về chiến tích tự mình đánh xe ngựa đôi; không một chút gợi ý nào về những cuộc vui chơi lúc nửa đêm.

Có lúc Margaret buồn bã tưởng như nhìn thấy những dấu hiệu mờ nhạt của thói quen kể lể mọi chuyện từ thuở nhỏ đang cố lấy lại quyền uy; nhưng chỉ một khoảnh khắc là nó bị dập tắt ngay. Prue thường trông giống như một đứa trẻ đang làm trò nghịch ngợm, bị đồng bọn dặn kỹ là không được khai ra. Và Prue không khai thật. Tuy nhiên, từ những manh mối mà cô vô tình để lộ, Peggy láng máng nhận ra rằng chuyến đi không hẳn toàn niềm vui; rằng những cơn thất vọng cay đắng, sự ghen tuông nhói buốt, và nỗi vỡ mộng rợn ngợp đã làm vấy bẩn bề mặt niềm vui sốt sắng ấy. Thế mà Freddy lại là người cùng lưu trú với cô suốt nửa tháng trời! Sự thật này được Margaret gặng hỏi trực tiếp mới khai ra; chứ nếu không thì chẳng đời nào cô tự nguyện hé răng.

"Nào, Prue," cô dịu dàng thuyết phục vào buổi sáng ngày cô gái trẻ trở về, khi hai người tản bộ trong khu vườn mà Prue chỉ nhìn để chê bai, "Hôm qua chị tha cho em vì em quá buồn ngủ, nhưng giờ em phải kể cho chị nghe đôi điều về chuyến đi chứ. Freddy có ở đó không?"

"Có."

"Ở suốt thời gian đó sao?"

"Có."

"Em gặp anh ta nhiều không?"

Một thoáng do dự, rồi vang lên giọng điệu thiếu kiên nhẫn:

"Dĩ nhiên rồi. Chẳng lẽ chúng tôi không ở cùng một nhà hay sao?"

"Và—và—anh Harborough có cho em mượn ngựa không? Em biết đấy, phải không—chị nghĩ là chị đã bảo em rồi"—một tia vui sướng ánh lên trong đôi mắt xanh lo lắng của cô—"rằng phu nhân đã cho em mượn con ngựa xám nhỏ suốt cả mùa đông này cơ mà?"

Prue thờ thợ đáp, tiện tay bứt đài hạt của một bông hoa thược dược đã tàn ở luống hoa bên cạnh, rồi dửng dưng vãi những hạt hoa xuống lối đi: "Em không nghĩ mình còn thích cưỡi ngựa như trước nữa đâu. Bọn em có cưỡi mấy đâu; còn bao nhiêu thứ vui hơn để làm cơ mà."

"Thứ gì cơ chứ?"

"Ối, mấy thứ đó không làm chị vui nổi đâu!"

"Sao em lại biết điều đó, khi mà em còn chưa kể cho chị nghe chúng là gì?"

"Ối, chúng chẳng làm chị vui đâu; chị có dễ vui bao giờ đâu. Anh ấy vẫn luôn bảo thế; hơn nữa," cô thở dài sườn sượt rồi sụp xuống chiếc ghế băng dưới tán cây Judas, "nhắc lại làm gì nữa khi mọi chuyện đã qua rồi?"

Chỉ một giây, Peggy thu mình lại vì nản lòng cụt hứng, nhưng rồi lập tức lấy lại tinh thần. Cô sẽ không dễ dàng nhụt chí như vậy.

"Nếu chúng vui đến thế," cô vui vẻ nói, "biết đâu chúng ta có thể áp dụng vài điều ở đây. Chúng ta đâu đến nỗi không biết học hỏi, phải không nào?"

Prue mỉm cười khinh khỉnh, cong cái mũi trẻ con lên.

"Trên mảnh đất rộng lớn này á?"

Và thời gian trôi qua, cô cũng chẳng cởi mở hơn về chuyến đi của mình, dù rõ ràng những sự kiện ấy chiếm trọn tâm trí cô, gạt bỏ mọi chủ đề khác, và tầm ảnh hưởng của nó có thể nhận thấy trong từng mảnh ghép của những lời nói thưa thớt từ cô. Đó là một trong những hình phạt hằng ngày khắc nghiệt nhất đối với Peggy khi phải nhận ra trong giọng điệu uể oải của em gái mình những cụm từ cứ lặp đi lặp lại của Betty; những âm vang nhạt nhẽo từ giọng điệu xấc láo của cô ta. Prue thậm chí đang dần trở nên giống hệt hình mẫu của mình một cách đáng sợ. Có lẽ điều này chỉ xuất phát từ chiếc mũ cũ của Betty mà cô cứ khăng khăng đội mãi; hay từ kiểu tóc được sao chép một cách nô lệ từ nguyên bản. Còn sắc hồng đã hằn sâu trên má cô có lẽ bắt nguồn từ cùng một nguồn với má của phu nhân Betty, tạo nên sự giống nhau không thể chối cãi giữa họ—đó là một giả định tồi tệ đến mức chẳng dám đối mặt, và Peggy xua đuổi nó khỏi tâm trí ngay khi nó vừa nảy sinh. Nhưng nó cứ lặp đi lặp lại. Đã bao nhiêu điều khó chịu cứ lặp lại hàng đêm khi cô đặt đầu lên chiếc gối mà phần lớn thời gian đều đẫm nước mắt?

"Ôi, sao mình lại để con bé đi cơ chứ?" Cô thổn thức. "Sao mình lại nghe lời khuyên của người khác làm gì? Chuyện gì đã xảy ra với con bé vậy? Mình phải làm sao đây? Đây hoàn toàn không phải là con bé Prue đã trở về bên mình!"

Thỉnh thoảng, quả thực vẫn có những tia chớp thoáng qua đầy trêu ngươi về con Prue ngày cũ, ẩn giấu đâu đó phía sau con người mới này. Một lần, hai lần, có một mái đầu xoăn tự nguyện tựa lên đầu gối Peggy; những cánh tay gầy guộc ôm chầm lấy cổ cô—và ôi, được chào đón biết bao nhiêu là mừng rỡ!—một giọng nói nhỏ nhẹ than thở với cô về một cơn đau thể xác cỏn con, mang theo chút niềm tin trẻ thơ ngày nào vào khả năng xoa dịu mọi vết thương của Peggy. Nhưng rồi chỉ một thoáng là cô bé lại biến mất; và con Prue mới, con Prue mới đáng sợ, hoài nghi và bắt chước Betty ấy lại hiện về. Chính con Prue mới này hàng ngày lén lút chạy đi đón người đưa thư với vẻ vội vã ám muội, kẻo ánh mắt tràn ngập tình yêu thương đã bao bọc lấy cuộc đời cô từ thủa bé nay lại dám dòm ngó thư từ của cô. Thế nhưng Peggy chỉ cần nhìn tâm trạng của cô suốt ngày hôm đó là thừa biết, chẳng kém gì việc tự mình soi phong bì và con dấu, rằng bức thư mong đợi có đến hay không. Dựa vào tiêu chuẩn này, người đưa thư phần lớn là mang tay không đến cho Prue. Một, hai lần, theo như Margaret hay tin từ phu nhân Roupell, người ta mong đợi sự xuất hiện của Freddy tại Trang viên. Một, hai lần, vào phút chót, một động cơ hy sinh cao cả nào đó lại thôi thúc anh ta đánh điện báo rằng mình không thể đến được. Và giờ thì chẳng còn ai mong đợi anh ta nữa, bởi giữa tháng Mười đã đến; các trường đại học đã rộng mở đôi tay dài ngày chào đón những đứa con của mình, và Freddy đã trở lại Oxford. Để làm tăng thêm sự khó chịu của hoàn cảnh, thời tiết vốn dĩ hoàn hảo đến mức không chê vào đâu được bỗng nhiên trở nên đáng trách đến cùng cực. Tiếp theo đó là một tuần mưa xối xả, gió quật tơi bời, vô tình không một chút thương xót. Loài hoa "Tiễn mùa hè" quả thực đã nói lời tiễn biệt.

Ba ngày sau đòn giáng cuối cùng vào hy vọng của Prue, hai cô gái bắt gặp phu nhân bước ra khỏi nhà thờ sau buổi lễ ban sáng; phu nhân trong sự miễn cưỡng và tạm thời chia tay với chiếc cuốc làm vườn cùng chiếc áo khoác vải nỉ của mình. Họ đi cùng bà xuống con đường nhà thờ rải đầy lá vàng như mọi khi, trong khi bà vẫy chào cộc lốc và gửi những lời chào hỏi đầy tốt bụng đến những người cùng đi lễ. Khi ngồi vào xe, bà vô tình kéo theo một bức thư từ trong túi áo ra cùng chiếc khăn tay.

"À nhân tiện đây," bà nói, "sáng nay ta có nhận được thư của Freddy; ta đi vội quá nên chẳng có nổi nửa thời gian để đọc nó. Giá mà ta ngồi cách xa ngài Mục sư thêm chút nữa," bà cười lớn, "ta đã đọc nó luôn trong giờ giảng rồi. (Tội nghiệp ông ấy thật!" bà nói lớn như một câu lẩm bẩm ngoài lề, "ông ấy thực sự nên đãi chúng ta một bài giảng mới mới phải.) Freddy bảo rằng nó đang ốm."

"Ốm á ạ?"

"Nó bảo thế," bà nhún vai. "Nó bảo bị cảm lạnh. Ồ, ta chẳng bận tâm lắm đâu," bà lại cười lớn. "Ta dám cá là chúng ta chưa mất nó lần này đâu. Em biết đấy, lúc nào nó chẳng kêu la oai oái từ trước khi bị đau cơ chứ."

Bà vui vẻ lăn bánh rời đi, vừa đi vừa đọc dở bức thư. Peggy đầy lo lắng quay sang nhìn em gái. Tất cả giáo dân đều đã đổ ra đường cái và đường mòn, và họ chỉ còn lại hai người. Peggy thoáng dâng lên một niềm cảm ơn vì tình cảnh ấy; bởi Prue đang dựa người vào cột cổng nhà thờ, gương mặt trắng bệch hơn cả chiếc khăn tay.

"Ốm ư!" cô thều thào nghẹn ngào, giọng thấp thói. "Ốm ư! Mà lại thui thủi một mình! Chẳng có ai bên cạnh cả!"

"Ô dào!" Peggy đáp nhẹ bẫng, mang theo chút giọng điệu khinh miễn. "Chị dám cá là chẳng nặng lắm đâu; lúc nào anh ta chẳng tự hoảng sợ cho chính mình. Em không nhớ có lần anh ta tưởng mình sắp mắc bệnh lao rồi từ biệt tất cả chúng ta sao? Trông mặt em tái mét kìa, cục cưng! Sao em không ngồi xuống một lát nhỉ? Dựa vào tay chị này."

Nhưng Prue nhất quyết không ngồi—nhất quyết không chịu vịnh tay chị. Cô cứ thế lủi thủi đi bộ về nhà mà không cần ai giúp, và khi về đến nơi, cô từ chối mọi thứ nước thuốc bổ đơn giản mà Peggy đưa cho. Nhưng cô bỏ mặc bữa trưa không đụng đến, rồi đi lang thang một mình suốt cả buổi chiều dài đằng đẵng không mục đích. Cô trở về nhà trọn một tiếng đồng hồ sau khi bóng tối buông xuống, và than đau đầu rồi đi ngủ. Sáng hôm sau, cô dậy sớm và túc trực ở chỗ cũ để mai phục người đưa thư. Sau khi anh ta đi rồi, Peggy thoáng thấy bóng cô thấp thoáng đi lại ngoài vườn rau, đang đọc một bức thư. Vậy là, cô đã nhận được thư từ anh ta rồi. Tạ ơn Chúa! Có lẽ lòng cô ấy sẽ yên ổn phần nào.

Với tâm trạng đã được giải tỏa, Margaret quay lại công việc buổi sáng với lòng can đảm hơn; và phải đến mười một giờ cô mới nhớ ra em gái mình. Tiếng chuông điểm giờ nhắc cô rằng có lẽ Prue sẽ quên uống thuốc bổ, và tốt nhất là tự tay cô mang ra thì hơn. Cô rót thuốc ra cốc, mở cửa phòng khách và gọi: "Prue! Prue!" Không có tiếng trả lời. Cô bước ra chân cầu thang và gọi lại lần nữa: "Prue!" Vẫn không có tiếng trả lời. Cô đặt chiếc cốc xuống bàn và chạy ra vườn. "Prue! Prue!" Lần này có tiếng đáp lại, nhưng ngặt một nỗi lại không phải là tiếng của người cần tìm. Đó là con vẹt đang nhanh nhảu đáp lời: "Dạ thưa bà," bằng chính giọng của người nấu bếp. Cô quay lại trong nhà. Biết đâu Prue ở trong phòng của mình—một trong những tật mới của cô bé là tự khóa mình trong đó hàng giờ liền—và với cánh cửa đóng kín, có lẽ những tiếng gọi của Peggy đã không thể lọt tới tai, dù trong một ngôi nhà nhỏ thế này thì điều đó khó xảy ra. Cô chạy lên lầu và gõ cửa. Không có tiếng trả lời. Cô vặn nắm tay nắm, cửa mở ra và cô ngó vào. Công cốc! Căn phòng trống không. Cô có thể nhận thấy điều đó chỉ bằng một cái liếc mắt. Chẳng đời nào Prue lại trốn trong tủ quần áo của mình hay dưới chiếc giường chintz hẹp; thế nhưng cô chị, bị thúc đẩy bởi thứ nghi ngờ mơ hồ nào đó mà chính cô cũng chẳng rõ, vẫn bước vào. Một mẩu giấy ngắn nét chữ của Prue đề gửi chính cô, nằm trên chiếc bàn viết nhỏ bên cửa sổ, lập tức đập vào mắt cô. Ngay lập tức cô lao tới và gié rách nó ra. Cái gì thế này? Chẳng có mở đầu cũng chẳng có kết từ; chỉ là vài dòng nguệch ngoạc xiêu vẹo vắt ngang một tờ giấy:

"Em không xin phép chị, bởi em biết chị sẽ không cho; nhưng em không thể—không thể để mặc anh ấy chết một mình. Ôi, Peggy, xin đừng quá giận em! Em đau khổ lắm, và em không thể kìm được."

Chỉ có vậy thôi. Margaret chưa mất đến hai giây để nắm bắt nội dung; và sau khi đọc xong, cô đứng đờ đẫn nhìn chằm chằm vào chiếc phong bì trống không vẫn đang cầm trên tay. Phải mất một hai phút cô mới định thần lại để nhận ra rằng nó chưa phải là đã trống không; rằng nó còn chứa một tờ giấy thứ hai. Đây là một nét chữ khác, một trong những nét chữ nhỏ, rõ ràng, khôn ngoan mà giới trẻ có học thức thời bấy giờ ưa chuộng.

Ch. Ch. Oxford.

Prue của anh,

Hãy gửi cho anh vài chữ nhé. Anh đang đau đớn, và anh chỉ có một mình. Anh viết vội cho em mấy dòng chì này nhỡ mai—điều mà anh sợ là rất có thể—anh quá ốm để mà viết thư. Ôi, Prue của anh! "Cả cái đầu đau nhức, và cả trái tim mệt lả." Anh còn tiếc gì mà không đánh đổi bằng một trong những bàn tay trắng ngần lạnh giá của em đặt lên vầng trán đang nhức buốt của anh?

Của em

Freddy.

Ban đầu Margaret chỉ hiểu được một nửa—cô bàng hoàng đến mức ngẩn ngơ—khi đọc bức thư của Prue; nhưng đến cuối bức thư của Freddy, ánh sáng trắng dã man của sự thấu hiểu toàn diện bỗng vỡ òa trong tâm hồn cô. Prue đã đến Oxford!—đến để thực hiện khát vọng của chàng thanh niên Ducane—đến để "đặt bàn tay trắng ngần lạnh giá của mình lên vầng trán đang nhức buốt của anh ta." Liệu có thể như thế được sao? Ngay cả sự điên rồ của Prue cũng có thể đi xa đến thế này ư? Cô vội giật lấy bức thư của em gái và ngấu nghiến đọc lại lần nữa, với niềm hy vọng điên cuồng rằng mình đã hiểu lầm ý nghĩa của nó. Hỡi ôi! Chẳng có chỗ nào cho sự hiểu lầm cả. Nếu cô cần thêm sự xác nhận cho nỗi sợ tồi tệ nhất của mình thì nó đã đến từ giọng của Sarah, người đang ngó đầu vào qua khe cửa hé mở với chiếc khăn lau bụi trên tay.

– Thưa bà, có phải bà đang tìm cô Prue không ạ? Cô ấy vừa ra ngoài rồi.

– Ra ngoài rồi ư! Margaret thở hổn hển lặp lại. Rồi cố gắng hết sức để lấy lại bình tĩnh, cô nói thêm: – Ừ, ừ, chị biết rồi; con bé đi thế nào vậy? Đi bộ hay đi xe?

– Cô ấy đi xe ngựa nhỏ thưa bà.

– Con bé có đem theo Alfred đi cùng không?

– Không thưa bà; cô ấy bảo không cần em ấy.

– Thế—thế con bé đi từ bao giờ?

– Dạ thưa, em không để ý lắm. Lúc em đang lau bụi cầu thang thì tình cờ nhìn ra cửa sổ hành lang và thấy cô ấy đánh xe đi; chắc là phải gần tiếng đồng hồ rồi ạ.

Gần một tiếng đồng hồ rồi! Nhanh như chớp, Peggy nhận ra rằng có một chuyến tàu từ ga nhà cô đi Oxford lúc mười một giờ kém mười. Đó là chuyến tàu chậm, như mọi chuyến tàu dừng ở sân ga nhỏ ven đường; tuy nhiên nó cũng đủ nhanh để một cuộc hành trình lê lết một trăm hai mươi phút đưa Prue đi xa khỏi tầm với của cô một cách tuyệt vọng chẳng khác nào chuyến "Héc-cu-lét" đích thực đến ga Oxford. Cô hoàn toàn bất lực trong việc ngăn cản em gái mình xông vào phòng của gã trai trẻ một cách điên cuồng, chẳng khác nào ngăn sét của Chúa xẻ đôi cái cây mà nó đã định sẵn phải đánh gãy.

Với một cử chỉ giận dữ và tuyệt vọng, cô quăng bức thư của Freddy xuống đất, rồi gục đầu xuống cuốn sổ thấm mực đang mở sẵn mà những trang giấy vẫn còn giữ nguyên vệt in, gần như chưa khô, của những lời nói điên rồ từ em gái. Nhưng chỉ vài phút sau, cô đã tự sốc lại tinh thần. Cô chỉ còn một việc phải làm duy nhất—là đuổi theo và bắt kịp em gái mình nhanh nhất có thể. Nhanh nhất có thể! Nhưng thế nào là nhanh? Đó là điều đầu tiên phải tìm ra.

Cô bước xuống phòng khách vui vẻ, nơi những chú chim trong chiếc lồng lớn đang đu đưa trên chiếc thang của John Talbot và ríu rít trò chuyện với nhau vui vẻ như thể chẳng có tai họa nào giáng xuống mái nhà họ; nơi chú chó Mink đang nằm nghiêng thân mình đầy lông trên một vệt nắng, với hai chân trước chéo lại như một vị thánh sắp qua đời. Margaret tìm kiếm cuốn lịch trình tàu Bradshaw mà có lẽ Sarah đã dọn dẹp cất đi rồi. Bản năng đầu tiên của cô là gọi Sarah ra và hỏi xem cô ấy cất nó ở đâu; nhưng bản năng thứ hai đã ngăn cô lại. Cớ gì mà cả nhà phải hay biết chuyện Prue bỏ trốn sớm hơn là bất đắc dĩ cơ chứ?

Chẳng mấy chốc cô đã tìm thấy cuốn sách còn thiếu, rồi ngồi xuống, chìm đắm trong các trang giấy của nó. Điều cô hằng lo sợ đã trở thành hiện thực. Không có chuyến tàu thứ hai đi Oxford cho đến tận 2 giờ 15 phút. Ba tiếng đồng hồ bất lực buộc phải khoanh tay đứng nhìn đang trải dài trước mắt cô—ba tiếng để Prue thực hiện bất kỳ hành động điên rồ không thể cứu vãn nào mà trái tim rực lửa cùng tâm trí mất lái của cô bé sai khiến.

Cô chồm dậy. Ngồi im một chỗ với những ý nghĩ đó làm bạn đồng hành là điều không thể chấp nhận được. Cô lang thang quay trở lại phòng của Prue, nhặt bức thư của Freddy mà cô đã vứt trên thảm trong cơn thịnh nộ; xé nát cả nó lẫn thư của Prue thành những mảnh vụn rồi vứt vào lò sưởi; sau đó, vì vẫn sợ chúng chưa bị hủy diệt đủ độ, cô gom các mảnh vụn lại và đốt chúng đi—thậm chí xé cả trang giấy thấm mực mà Prue đã dùng để phơi khô những con chữ của mình rồi cũng đốt nốt.

Rồi cô đi xuống lầu, nhìn đồng hồ. Cô cứ ngỡ mình đã mất rất nhiều thời gian cho việc đốt phi tang. Thế mà kim đồng hồ mới chỉ chỉ mười một giờ rờ mười lăm phút. Cô phải ép mình làm gì đó để khỏa lấp. Đọc sách là điều bất khả thi. Cả thêu thùa lẫn làm vườn đều chỉ làm sắc bén thêm chứ không hề làm lụi tàn suy nghĩ. Hôm nay là ngày làm sổ sách thu chi trong tuần. Cô sẽ tự ép mình làm chúng như mọi khi. Nhưng những con số cứ nhòe đi trước mắt cô. Phép cộng đơn giản nhất cũng làm cô bối rối. Những cái tên Prue, Freddy, Oxford cứ chen lấn vào hồ sơ chi tiêu của cô, biến nó thành mớ hỗn độn, làm bôi bác những cột số ngăn nắp của cô; và sau nửa giờ cố công vô ích, cô thở dài bỏ dở. Khi đồng hồ cuối cùng cũng điểm một giờ, cô ngồi xuống bàn ăn, điềm tĩnh bảo Sarah rằng cô không mong Prue về kịp; và sau khi ép bản thân ăn một chút vì thể diện, cô đội mũ và khoác áo vào.

Nói với người nhà bằng giọng dửng dưng nhất có thể rằng họ đừng ngạc nhiên nếu cô và em gái về muộn, cô bắt đầu bước đi ra ga. Cô đã tự nhủ sẽ xuất phát sớm để có dư dã thời gian thong thả đi bộ. Nhưng cô không đi thong thả; cô bước đi nhanh; đến đoạn cuối thì cô chạy. Ai mà biết được đồng hồ của cô có bị chậm không? Liệu khi lấp ló nhìn thấy ngôi nhà gạch đỏ kệch cỡm làm nên cái ga tàu, cô có thấy đoàn tàu đang lầm lũi trượt bánh rời đi mà không có cô trên đó hay không? Cô đến nơi trong trạng thái thở hồng hộc, chỉ để nhận ra rằng mình còn nửa tiếng để chờ đợi—nửa tiếng để ngắm nghía khóm hoa kim tước và hoa thơm ngát của ngài trưởng ga, thứ chào đón mỗi chuyến tàu đầy bụi bằng một làn hương thoang thoảng.

Chẳng mấy chốc lại có thêm một vài hành khách định đi tàu đến nữa. Chiếc xe buýt của Trang viên trờ tới, trút xuống đám trẻ nhà Harborough cùng các bảo mẫu của chúng. Peggy vừa nhớ ra thì đã quên bẵng mất là hôm nay chúng sẽ về nhà. Cô cảm thấy hơi áy náy vì bản thân quá lạnh lùng chẳng thể hưởng ứng những tiếng reo hò thích thú của chúng trước cuộc gặp gỡ bất ngờ này với cô. Nhưng chúng hình như chẳng mảy mai phát hiện ra sự thiếu nhiệt tình trong những lời chào hỏi đáp lại của cô, khi mà mỗi đứa lập tức chộp lấy một bàn tay cô và kéo đi kéo lại dọc sân ga. Trong khoảng thời gian giữa những câu hỏi dồn dập tra khảo về đích đến và mục đích chuyến đi của cô, chúng tiếp tục cuộc cãi vã hình như đã nổ ra từ trên xe buýt; lè những chiếc lưỡi đỏ hỏn ra trước mặt nhau và tung những cú đá thoăn thoắt vào chân đối phương sau lưng cô.

Khi đoàn tàu trượt tới nơi, chúng khăng khăng đòi bỏ đoàn tùy tùng của mình để lên khoang cùng cô. Cô thà rằng chúng đừng làm thế; nhưng dường như việc liên tục phải chồm lên túm lấy phần đũng quần thủy thủ của Franky để ngăn thằng bé tự sát bằng cách ngã nhào qua cửa sổ, hay gãy chân do cố trèo lên giá hành lý, lại hóa ra là một sự phân tâm lành mạnh giúp cô quên đi những suy nghĩ của riêng mình. Lily không đến nỗi gây rắc rối nhiều như thế. Con bé ngồi hoàn toàn im lặng và làm hàng; nghĩa là cố gắng gây ấn tượng với hai vị quý bà trầm tính cũng là hành khách chung khoang bằng tầm quan trọng của mình qua những lời nói.

– Con hy vọng, – con bé nói với giọng vang to, – là chiếc hòm lớn của con đã được đưa lên tàu rồi; – vừa nói con bé vừa đảo mắt nhìn hai người xa lạ xem họ có vẻ kính sợ không; nhưng vì họ chẳng tỏ thái độ gì, nó lại bồi thêm bằng một âm vực còn lớn hơn nữa, – bởi vì nó chứa đầy quần áo cơ mà!

Đoàn tàu lướt đi qua vùng đồng quê mùa thu rực rỡ sắc màu; lướt qua những đồng bằng ngập nước lấp lánh dưới ánh mặt trời, những chiếc gương lóa mắt phản chiếu hàng cây tháng Mười huy hoàng; băng qua rồi lại băng qua dải lụa rộng lớn của dòng sông Thames bạc; lướt qua những ngôi nhà đồng quê xa xôi đang nhô mình lên khỏi những ngọn sóng vàng đỏ của rừng cây du và dẻ gai; lướt qua những ngôi làng lớn và thị trấn nhỏ, cho đến khi, sau vài lần dừng bánh trước đó, chúng dừng hẳn lại ở sân ga của một ga tàu nhỏ bé, chẳng có lấy chút tầm quan trọng nào hệt như nơi họ vừa xuất phát. Đó chính là nơi mà lũ trẻ nhà Harborough phải xuống tàu.

– U đang đến đón chúng mình kìa, – Lily thông báo; – u sẽ ôm Franky một cái thật chặt cho mà xem! U chẳng bao giờ ôm con cả—con là con của bố cơ mà.

Con bé liếc nhìn những người đồng hành lần cuối để xem họ có bị ấn tượng trước tuyên bố vừa rồi không, rồi mới nhập bọn với anh trai ở cửa sổ, tì sát vành mũ của mình vào mũ thằng bé nhằm tranh giành vinh dự được là kẻ nhìn thấy đấng sinh thành đầu tiên. Tuy nhiên, nó đã bị hớt tay trên, bởi dù sau này nó có khăng khăng cãi thế nào đi nữa, thì chẳng có gì nghi ngờ khi những tiếng kêu lanh lảnh của cả cậu bé lẫn cô bé: "Kìa u kìa!" "U ở kìa!" đã vang lên hoàn toàn đồng thanh.

Những mái đầu xoăn tít chiếm trọn khung cửa sổ khiến Peggy trong khoảnh khắc khơi gợi niềm hy vọng trốn tránh được sự phát hiện và nhận diện. Cô càng hy vọng hơn, bởi vì trong phút đầu tiên, Betty chẳng màng nhìn ai ngoài đứa con trai mà cô đã chộp lấy và ôm gọn trong vòng tay; cuối cùng cô cũng giải thoát cho Peggy khỏi cái nắm tay bấu víu đầy chuột rút vào chiếc quần nhỏ của thằng bé, rồi vùi lấp nó dưới một ổ những nụ hôn tràn ngập.

– Cục cưng của tôi—báu vật của tôi! Cuối cùng thì mẹ cũng đón được con về rồi! Con không được phép—không bao giờ được rời xa người u tội nghiệp này nữa đấy! Ơ kìa Lily, con khỏe không? Chúa ơi con bé này, trông con như một thảm họa ấy nhỉ! Con toàn tàn nhang là tàn nhang! Ồ, cô Lambton đấy ư? Cô đi đâu thế? Có đi cùng Prue không? Không á? Prue thật là thú vị phải không! Tới khi con bé ở lại chỗ tôi, tôi mới biết con bé lại thú vị đến nhường nào đấy. Cô phải cho tôi mượn con bé thêm lần nữa sớm nhé.

Đoàn tàu lăn bánh rời đi, và mang theo Margaret với tâm trạng trĩu nặng hơn trước một chút. Một sự thúc giục vô hình nào đó giục cô kéo tấm rèm của ô cửa sổ phụ bên cạnh ra để dõi theo, chừng nào còn nhìn thấy được, bóng dáng người phụ nữ trên sân ga nhỏ bé ấy. Phải rồi, quả thực Prue rất giống cô ấy; nhưng hỡi ôi, cô bé đã từ bỏ nét duyên dáng nơi rừng thiêng nước độc của chính mình thậm chí chỉ để đổi lấy một sự bắt chước tồi tệ. Margaret đã quên mất Betty xinh đẹp nhường nào. Trông cô bây giờ thật quyến rũ làm sao, với gương mặt tràn ngập tình mẫu tử vẹn toàn, hoàn toàn vô tư lự, chẳng bận tâm xem có ai đang nhìn mình hay không, ôm trọn đứa con nhỏ đỏ hỏn vào lòng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.