Theo lối đó, họ lên tới mái nhà. Christine bước đi nhẹ tựa một cánh én lướt qua. Ánh mắt họ bao quát khoảng không trống trải giữa ba mái vòm và trán tường tam giác. Nàng hít thở bầu không khí tự do của Paris, nơi toàn bộ thung lũng thành phố đang nhộn nhịp làm việc bên dưới. Nàng gọi Raoul đến thật gần mình, rồi họ sóng bước dọc theo những con đường bằng kẽm, giữa những đại lộ lợp chì; họ ngắm nhìn hình bóng đôi của mình in trên những bồn chứa khổng lồ đầy nước đọng, nơi vào mùa hè, khoảng chừng hai mươi tiểu đồng múa ba-lê thường học bơi và lặn.
Bóng tối vẫn bám theo sau từng bước chân họ; và hai đứa trẻ hoàn toàn không ngờ đến sự hiện diện của nó khi cuối cùng họ ngồi xuống, đầy tin tưởng, dưới sự che chở hùng vĩ của thần Apollo — vị thần với một cử nhân hóa đồng vĩ đại đang giơ cao cây đàn lia khổng lồ giữa bầu trời đỏ rực.
Đó là một buổi chiều mùa xuân tuyệt đẹp. Những đám mây vừa được mặt trời lặn khoác lên tấm áo mỏng manh dệt bằng tía và vàng trôi lững lờ; và Christine bảo Raoul:
"Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ đi xa hơn và nhanh hơn những đám mây, đến tận cùng thế giới, rồi anh sẽ rời bỏ em, Raoul. Nhưng nếu đến khoảnh khắc anh phải đưa em đi mà em từ chối — thì anh hãy dùng vũ lực cướp em đi nhé!"
"Em sợ mình sẽ đổi ý sao, Christine?"
"Em không biết," nàng nói, khẽ lắc đầu một cách kỳ lạ. "Hắn là một con quỷ!" Rồi nàng rùng mình, rúc vào ngực Raoul với một tiếng rên rỉ. "Bây giờ em sợ phải quay lại sống với hắn... dưới lòng đất lắm rồi!"
"Điều gì ép buộc em phải quay lại, Christine?"
"Nếu em không quay lại với hắn, những tai họa khủng khiếp có thể xảy ra!... Nhưng em không thể làm thế, em không thể! ... Em biết người ta nên thương xót những kẻ sống dưới lòng đất... Nhưng hắn quá đáng sợ! Hơn nữa thời hạn đã cận kề; em chỉ còn lại một ngày; và nếu em không đi, hắn sẽ đến dùng tiếng gọi để bắt em. Hắn sẽ lôi em đi cùng, xuống lòng đất, và quỳ gối trước em với cái đầu lâu của hắn. Hắn sẽ bảo rằng hắn yêu em! Và hắn sẽ khóc! Ồ, những giọt nước mắt ấy, Raoul, những giọt nước mắt trong hai hốc mắt đen ngòm của cái đầu lâu! Em không thể chịu đựng thêm cảnh nhìn thấy những giọt nước mắt ấy tuôn rơi!"
Nàng đan chặt hai tay vào nhau đầy thống khổ, trong khi Raoul ôm siết nàng vào tim.
"Không, không, em sẽ không bao giờ phải nghe hắn nói lời yêu em nữa! Em sẽ không phải nhìn thấy những giọt nước mắt của hắn! Chúng ta hãy trốn chạy, Christine, hãy trốn chạy ngay lập tức!"
Cậu toan kéo nàng đi ngay lúc đó. Nhưng nàng ngăn cậu lại.
"Không, không," nàng nói, buồn bã lắc đầu. "Không phải bây giờ!... Sử như thế thì tàn nhẫn quá... hãy để hắn nghe em hát vào tối mai... rồi chúng ta sẽ cùng đi. Anh phải đến phòng thay trang phục đón em đúng nửa đêm. Khi đó hắn sẽ chờ em ở phòng ăn bên hồ... chúng ta sẽ được tự do và anh sẽ đưa em đi... Anh phải hứa với em điều đó, Raoul, ngay cả khi em từ chối; vì em cảm thấy rằng, nếu lần này em trở lại, có lẽ em sẽ chẳng bao giờ quay về được nữa."
Nàng thở dài, và dường như có một tiếng thở dài khác ở ngay phía sau đã đáp lại tiếng thở dài ấy.
"Em không nghe thấy gì sao?"
Hàm răng nàng cập vào nhau lập cập.
"Không," Raoul nói, "anh chẳng nghe thấy gì cả."
"Thật quá kinh khủng," nàng thú nhận, "khi cứ phải run sợ mãi thế này!... Và dẫu vậy ở đây chúng ta chẳng gặp nguy hiểm gì; chúng ta đang ở nhà, giữa bầu trời, giữa không gian rộng mở và ánh sáng. Mặt trời đang rực cháy; và những loài chim đêm thì không tài nào chịu nổi ánh sáng mặt trời. Em chưa bao giờ nhìn thấy hắn dưới ánh ban ngày... chắc là khủng khiếp lắm!... Ôi, lần đầu tiên em trông thấy hắn!... Em đã tưởng rằng hắn sắp chết."
"Tại sao?" Raoul hỏi, thực sự hoảng sợ trước hướng đi mà sự tâm sự kỳ lạ này đang rẽ sang.
"BÌNH VÌ EM ĐÃ NHÌN THẤY HẮN!"
Lần này, Raoul và Christine cùng lúc quay phắt lại:
"Có ai đó đang đau đớn," Raoul nói. "Có lẽ ai đó đã bị thương. Em có nghe thấy không?"
"Em không rõ," Christine thú nhận. "Ngay cả khi hắn không có ở đó, tai em lúc nào cũng vang vọng tiếng thở dài của hắn. Dù sao, nếu anh đã nghe thấy..."
Họ đứng dậy và phóng tầm mắt nhìn quanh. Họ hoàn toàn cô độc trên mái nhà lợp chì mênh mông. Họ lại ngồi xuống và Raoul nói:
"Hãy kể cho anh nghe lần đầu tiên em nhìn thấy hắn đi."
"Em đã nghe tiếng hắn suốt ba tháng trời mà không hề thấy mặt. Lần đầu tiên nghe thấy, em cũng nghĩ như anh rằng giọng ca đáng yêu ấy đang cất lên ở một căn phòng khác. Em bước ra ngoài và tìm kiếm khắp nơi; nhưng như anh biết đấy, phòng thay trang phục của em nằm khá tách biệt; và em không thể tìm thấy giọng hát ấy ở bên ngoài phòng mình, trong khi ở bên trong thì nó cứ vang lên đều đặn. Nó không chỉ hát, mà còn trò chuyện với em và trả lời những câu hỏi của em hệt như giọng của một con người thực thụ, chỉ khác là nó đẹp đẽ chẳng kém gì tiếng hát của thiên thần. Em chưa từng nhận được Thiên thần Âm nhạc mà người cha tội nghiệp của em đã hứa sẽ phái đến cho ông qua đời. Em thực sự nghĩ rằng Mẹ Valerius cũng có một phần trách nhiệm trong chuyện này. Em đã kể cho bà nghe; và bà liền bảo: 'Chắc hẳn đó là vị Thiên thần; dù sao đi nữa, con hỏi xin cũng chẳng mất mát gì.' Em đã làm vậy; và giọng nam ấy đáp rằng vâng, đó chính là tiếng hát của Thiên thần, giọng ca mà em đang ngóng đợi và mà cha em đã hứa trao cho em. Kể từ đó trở đi, giọng ca ấy và em trở thành những người bạn lớn. Nó xin phép được dạy hát cho em mỗi ngày. Em đồng ý và chưa bao giờ lỡ hẹn với nó ở phòng thay trang phục. Anh chẳng thể hình dung nổi, dù đã từng nghe giọng hát ấy, những buổi học đó ra sao đâu."
"Không, anh không thể hình dung nổi," Raoul nói. "Ai đệm đàn cho em?"
"Chúng em được đệm bởi một thứ âm nhạc mà em không biết: nó phát ra từ sau bức tường và chuẩn xác đến kỳ lạ. Giọng hát có vẻ hiểu rất rõ giọng của em, biết chính xác cha em đã dạy đến đâu. Chỉ trong vài tuần, em hầu như không còn nhận ra chính mình khi cất tiếng hát. Em thậm chí còn hoảng sợ. Dường như em sợ hãi một thứ phép thuật nào đó ẩn giấu đằng sau nó; nhưng Mẹ Valerius đã trấn an em. Bà bảo rằng bà biết em là một cô gái quá ngây thơ để có thể tạo cơ hội cho quỷ dữ bủa vây... Theo đúng lệnh của giọng ca ấy, sự tiến bộ của em được giữ bí mật giữa giọng ca đó, Mẹ Valerius và em. Thật kỳ lạ, nhưng bên ngoài phòng thay đồ, em vẫn hát bằng giọng nói bình thường hằng ngày của mình và chẳng ai nhận ra điều gì cả. Em đã làm mọi điều giọng hát yêu cầu. Nó bảo: 'Hãy chờ xem: chúng ta sẽ làm cho cả Paris phải kinh ngạc!' Và em đã chờ đợi, sống trong một giấc mơ đầy ngây ngất. Chính vào lúc đó em nhìn thấy anh lần đầu tiên vào một buổi tối, trong rạp hát. Em vui mừng đến mức chẳng hề nghĩ đến việc giấu giếm niềm hạnh phúc khi về đến phòng thay trang phục. Không may thay, giọng hát đã có mặt ở đó trước em và sớm nhận ra qua vẻ mặt của em rằng có chuyện gì vừa xảy ra. Nó gặng hỏi có chuyện gì và em chẳng thấy lý do gì phải giấu giếm câu chuyện của chúng ta hay giấu đi vị trí mà anh chiếm giữ trong trái tim em. Khi ấy giọng hát liền im bặt. Em cất tiếng gọi, nhưng nó không trả lời; em nài nỉ, van xin nhưng vô ích. Em vô cùng sợ hãi rằng nó đã bỏ đi mất rồi. Ước gì trời cho là như thế, anh yêu!... Đêm hôm đó, em trở về nhà trong tâm trạng tuyệt vọng. Em kể cho Mẹ Valerius nghe, và bà nói: 'Ơ hay, dĩ nhiên là giọng hát đang ghen rồi!' Và điều đó, anh yêu, lần đầu tiên đã hé lộ cho em biết rằng em yêu anh."
Christine ngừng lời và tựa đầu lên vai Raoul. Họ cứ ngồi như vậy một lát trong im lặng, và họ không hề nhìn thấy, không hề nhận ra sự chuyển động, chỉ cách họ vài bước chân, của cái bóng trườn bò mang hai chiếc cánh lớn màu đen — một chiếc bóng luồn lách trên mái nhà đến gần, sát bên họ đến mức có thể bóp nghẹt họ bằng cách sập xuống trùm lên người.
"Hôm sau," Christine tiếp tục với một tiếng thở dài, "em trở lại phòng thay trang phục với tâm trạng vô cùng trầm ngâm. Giọng hát đã có ở đó, trò chuyện với em bằng nỗi buồn sâu sắc và nói thẳng với em rằng, nếu em đã trao trái tim mình cho cõi trần thế này, thì giọng hát chẳng còn cách nào khác là phải trở về Thiên đường. Nó nói điều đó với giọng điệu đau thương TỘT CÙNG của CON NGƯỜI đến mức ngay lúc ấy em đáng lẽ phải hoài nghi và bắt đầu tin rằng mình chỉ là nạn nhân của các giác quan lầm lạc. Thế nhưng niềm tin của em vào giọng hát — thứ gắn liền khăng khít với ký ức về người cha quá cố — vẫn không hề lung lay. Điều em sợ nhất là sẽ không bao giờ được nghe lại tiếng hát ấy nữa; em đã nghĩ về tình nhận của mình dành cho anh và nhận ra toàn bộ sự nguy hiểm vô nghĩa của nó; và em thậm chí còn chẳng biết anh có còn nhớ đến em hay không. Dù chuyện gì xảy ra đi nữa, địa vị của anh trong xã hội cũng không cho phép em mơ tưởng đến khả năng được kết hôn với anh; và em đã thề với giọng hát rằng anh không hơn gì một người anh trai của em, sẽ chẳng bao giờ hơn thế, và trái tim em không tài nào vướng bận bất kỳ thứ tình ái trần thế nào. Chính vì thế, anh yêu, em đã từ chối nhận ra hay gặp mặt anh khi chạm trán trên sân khấu hay ở các hành lang. Trong khi đó, những giờ phút giọng hát dạy em trôi qua trong một cơn cuồng say thánh thiện, cho đến tận lúc giọng hát bảo em rằng: 'Giờ đây, Christine Daaé, em có thể ban phát cho trần gian một chút âm nhạc từ Thiên đường.' Em không hiểu sao tối hôm đó Carlotta lại không đến nhà hát và tại sao em lại được gọi ra hát thế chỗ cô ấy; nhưng em đã hát với một niềm say đắm chưa từng có và trong khoảnh khắc, em cảm giác như linh hồn mình đang rời khỏi xác!"
"Ôi, Christine," Raoul nói, "trái tim anh đã rung lên bần bật vào đêm đó theo từng cung bậc giọng hát của em. Anh đã thấy những giọt nước mắt tuôn rơi trên má em và anh khóc cùng em. Sao em có thể hát, hát như thế trong khi đang khóc cơ chứ?"
"Em cảm thấy mình ngất lịm đi," Christine kể, "em nhắm nghiền mắt lại. Khi mở mắt ra, anh đã ở bên cạnh em. Nhưng giọng hát cũng có mặt ở đó, Raoul ạ! Em sợ hãi vì sự an toàn của anh và một lần nữa em vờ như không nhận ra anh, lại bật cười khi anh nhắc em chuyện anh đã vớt chiếc khăn choàng của em dưới biển! ... Than ôi, chẳng thể đánh lừa được giọng hát! ... Giọng hát đã nhận ra anh và giọng hát đang ghen! ... Nó bảo rằng nếu em không yêu anh, em đã chẳng né tránh anh mà sẽ đối xử với anh như mọi người bạn cũ khác. Nó làm em hết cơn ghen này đến trận cuồng nộ khác. Cuối cùng, em bảo với giọng hát rằng: 'Thế là đủ rồi! Ngày mai tôi sẽ đi Perros, để cầu nguyện trên mộ cha tôi, và tôi sẽ nhờ ngài Raoul de Chagny đi cùng.' 'Tùy em muốn làm gì thì làm,' giọng hát đáp, 'nhưng ta cũng sẽ có mặt ở Perros, bởi vì ta ở bất cứ nơi nào có em, Christine; và nếu em vẫn xứng đáng với ta, nếu em không dối gạt ta, ta sẽ tấu cho em nghe khúc Sự phục sinh của Lazarus, đúng thời khắc nửa đêm, trên ngôi mộ của cha em và bằng chính cây vĩ cầm của cha em.' Đó, anh yêu, là cách em viết cho anh bức thư đưa anh đến Perros. Sao em có thể bị mê hoặc đến thế? Tại sao, khi chứng kiến sự ích kỷ mang tính cá nhân của giọng hát ấy, em lại không hoài nghi đó là một kẻ mạo danh cơ chứ? Than ôi, em không còn làm chủ được chính mình nữa: em đã trở thành món đồ của hắn rồi!"
"Nhưng xét cho cùng," Raoul kêu lên, "chẳng mấy chốc em cũng nhận ra sự thật! Sao em không nhanh chóng rũ bỏ cơn ác mộng gớm ghiếc ấy đi?"
"Nhận ra sự thật ư, Raoul? Rũ bỏ cơn ác mộng ấy ư? Nhưng anh bạn tội nghiệp của em ơi, em chỉ thực sự sa vào cơn ác mộng ấy cho đến tận ngày em biết được sự thật! ... Hãy thương xót em đi, Raoul, hãy thương xót em! ... Anh còn nhớ buổi tối khủng khiếp khi Carlotta tưởng rằng mình đã biến thành một con cóc trên sân khấu và khi rạp hát bỗng chìm trong bóng tối vì chiếc đèn chùm rơi sập xuống sàn không? Đã có người chết và bị thương đêm hôm đó và cả nhà hát vang dội những tiếng thét kinh hoàng. Ý nghĩ đầu tiên của em là dành cho anh và giọng hát. Em liền thấy nhẹ nhõm ngay về phần anh, bởi em đã thấy anh ngồi trong lô của anh trai và biết rằng anh không gặp nguy hiểm. Nhưng giọng hát từng nói với em rằng nó sẽ có mặt trong buổi biểu diễn và em thực sự lo sợ cho nó, cứ như thể nó là một người bình thường có thể chết vậy. Em tự nhủ: 'Biết đâu đèn chùm đã rơi trúng giọng hát.' Lúc đó em đang đứng trên sân khấu và suýt lao ra khán phòng để tìm giọng hát giữa những người chết và bị thương, thì em nghĩ rằng nếu giọng hát bình an vô sự, chắc chắn nó sẽ ở trong phòng thay trang phục của em, thế là emo ùa về phòng mình. Giọng hát không có ở đó. Em khóa trái cửa lại, nước mắt đầm đìa van nài nó, nếu vẫn còn sống, hãy hiện diện trước em. Giọng hát không trả lời, nhưng bất chợt em nghe thấy một tiếng rên rỉ dài, tuyệt diệu mà em vô cùng quen thuộc. Đó chính là khúc van xin của Lazarus khi, theo tiếng gọi của Đấng Cứu Thế, ngài bắt đầu mở mắt và nhìn thấy ánh sáng ban ngày. Đó chính là thứ âm nhạc mà anh và em, Raoul, đã nghe ở Perros. Và rồi giọng hát bắt đầu cất lên câu chủ đạo: 'Hãy đến! Và hãy tin ở ta! Kẻ nào tin ở ta sẽ được sống! Hãy bước đi! Kẻ nào tin ở ta sẽ chẳng bao giờ chết!... Em không thể diễn tả nổi tác dụng mà thứ âm nhạc ấy gây ra cho em. Dường như nó đang ra lệnh cho riêng cá nhân em, bắt em phải đứng dậy và đến với nó. Nó lùi dần và em bước theo. 'Hãy đến! Và hãy tin ở ta!' Em đã tin vào nó, em đã bước đến... em đã bước đến và — điều kỳ lạ làm sao — phòng thay trang phục của em, khi em di chuyển, dường như kéo dài ra... kéo dài ra... Rõ ràng đó phải là hiệu ứng của những tấm gương... bởi vì trước mặt em có một chiếc gương... Và đột nhiên, em đã ở bên ngoài căn phòng từ lúc nào không hay!"
"Cái gì! Không biết từ lúc nào ư? Christine, Christine, em thực sự đang mơ mộng rồi!"
"Em không mơ đâu anh yêu, em đã ở bên ngoài phòng mình mà chẳng hay biết bằng cách nào. Anh — người từng chứng kiến em biến mất khỏi phòng vào một buổi tối — có thể giải thích điều đó; chứ em thì chịu. Em chỉ có thể nói với anh rằng, bất thình lình, chẳng có chiếc gương nào trước mặt em nữa và cũng chẳng còn phòng thay trang phục nào cả. Em đang ở trong một hành lang tối tăm, em sợ hãi và kêu lên. Trừ một chút ánh sáng đỏ mờ ảo ở một góc tường xa xa, xung quanh tối đen như mực. Em cất tiếng kêu cứu. Giọng em là âm thanh duy nhất vang lên, vì tiếng hát và tiếng vĩ cầm đã ngưng bặt. Và rồi đột nhiên, một bàn tay đặt lên tay em... đúng hơn là một vật trơ lạnh như đá, xương xẩu đã túm lấy cổ tay em và không buông ra. Em lại thét lên. Một cánh tay vòng lấy eo em và đỡ lấy em. Em giãy giụa một lát rồi buông xuôi. Em bị kéo về phía ánh sáng đỏ nhỏ nhoi và rồi em nhận ra mình đang nằm trong tay một kẻ khoác chiếc áo choàng rộng và đeo chiếc mặt nạ che kín toàn bộ khuôn mặt. Em tung ra nỗ lực cuối cùng; chân tay cứng đờ, miệng em há hốc để thét, nhưng một bàn tay đã bịt chặt lại, một bàn tay em cảm nhận được trên môi, trên làn da mình... một bàn tay sực mùi tử khí. Rồi em ngất lịm đi."
"Khi em mở mắt ra, xung quanh chúng ta vẫn chìm trong bóng tối. Một chiếc đèn lồng đặt trên mặt đất soi rọi một cái giếng đang sủi bọt. Làn nước bắn tung tóe từ miệng giếng biến mất gần như tức khắc bên dưới lớp sàn nơi em đang nằm, với phần đầu gối lên đùi người đàn ông mặc áo choàng đen và đeo mặt nạ đen. Hắn đang lau thái dương cho em và bàn tay hắn sực mùi tử khí. Em cố đẩy chúng ra và hỏi: 'Anh là ai? Giọng hát đâu rồi?' Đáp lại em chỉ là một tiếng thở dài. Bất chợt, một luồng hơi nóng phả qua mặt em và trong bóng tối, em nhận ra một hình hài trắng toát bên cạnh hình hài đen đúa của người đàn ông. Hình hài màu đen bế thốc em đặt lên hình hài màu trắng, một tiếng hý vang mừng rỡ chào đón đôi tai kinh ngạc của em và em thì thầm: 'Cesar!' Con vật khẽ run lên. Raoul, em đang nằm ngả người trên một chiếc yên ngựa và em đã nhận ra con bạch mã trong vở LE PROPHÈTE mà em từng rất nhiều lần cho ăn đường và kẹo. Em chợt nhớ rằng, có một buổi tối, rạp hát râm ran tin đồn con ngựa đã biến mất và nó bị đánh cắp bởi hồn ma Nhà hát. Em từng tin vào giọng hát, nhưng chưa bao giờ tin vào hồn ma. Thế nhưng giờ đây, em bắt đầu tự hỏi với một nỗi rùng mình rằng liệu mình có phải là tù nhân của hồn ma hay không. Em cất tiếng gọi giọng hát cứu giúp, bởi vì em chưa từng tưởng tượng nổi giọng hát và hồn ma lại là một. Em đã nghe chuyện về hồn ma Nhà hát rồi chứ, Raoul?"
"Rồi, nhưng hãy kể cho anh nghe điều gì đã xảy ra khi em ở trên con bạch mã trong vở Le Prophète đi?"
"Em không cựa quậy và cứ để mặc cho nó đi. Hình hài màu đen ôm giữ em, và em chẳng hề cố gắng trốn chạy. Một cảm giác bình yên kỳ lạ bao trùm lấy em và em nghĩ chắc mình đang chịu ảnh hưởng của một loại thuốc bổ nào đó. Các giác quan của em hoàn toàn tỉnh táo; và mắt em đã quen với bóng tối, nơi được thắp sáng chập chờn bởi những ánh chớp leo lét ở chỗ này chỗ khác. Em phỏng đoán chúng ta đang đi trong một hành lang vòng cung hẹp, có lẽ chạy vòng quanh Nhà hát — một công trình ngầm vô cùng rộng lớn. Em từng có dịp xuống những tầng hầm đó một lần, nhưng chỉ dừng lại ở tầng ba, mặc dù bên dưới vẫn còn hai tầng nữa đủ rộng để chứa cả một thị trấn. Nhưng những bóng hình em thoáng thấy đã khiến em phải tháo chạy. Dưới đó có những con quỷ đen thui đứng trước các lò hơi, chúng vung xẻng và chĩa ba để khêu lửa, khoắng các ngọn lửa bùng lên và nếu em đến quá gần, chúng sẽ hù dọa bằng cách thình lình há to những cái miệng đỏ lòm của các cỗ lò... À mà, trong khi Cesar bình thản chở em trên lưng, em nhìn thấy những con quỷ đen ấy ở đằng xa, trông thật bé nhỏ trước ánh lửa đỏ rực từ lò của chúng: chúng hiện ra, biến mất rồi lại hiện ra khi chúng ta tiếp tục cuộc hành trình ngoằn ngoèo. Cuối cùng, chúng biến mất hẳn. Hình hài màu đen vẫn ôm đỡ em và Cesar thong thả bước đi, không cần người dắt mà vô cùng vững chãi. Em không thể ước chừng, dẫu chỉ là phỏng đoán, chuyến đi ấy kéo dài bao lâu; em chỉ biết rằng chúng ta dường như cứ rẽ mãi, rẽ mãi và thường đi xuống những chiếc cầu thang xoắn ốc đi sâu vào tận tâm trái đất. Thậm chí lúc đó, đầu óc em có thể đã quay cuồng, nhưng em không nghĩ vậy: không, tâm trí em hoàn toàn tỉnh táo. Cuối cùng, Cesar vểnh mũi ngửi không khí rồi rảo bước nhanh hơn một chút. Em cảm thấy bầu không khí ẩm ướt hơn và Cesar dừng lại. Bóng tối đã tan biến. Một thứ ánh sáng xanh ngắt bao quanh chúng ta. Chúng ta đang ở bên bờ một hồ nước, làn nước xám xịt kéo dài tít tắp vào bóng tối; nhưng ánh sáng màu xanh lam soi tỏ bờ hồ và em nhìn thấy một chiếc thuyền nhỏ buộc vào chiếc vòng sắt trên bến tàu!"
"Một chiếc thuyền!"
"Vâng, nhưng em biết rằng tất cả những điều đó đều có thật và chẳng có gì siêu nhiên ở cái hồ ngầm lẫn chiếc thuyền ấy cả. Thế nhưng hãy nghĩ đến hoàn cảnh đặc biệt khi em đặt chân lên bờ hồ đó xem! Em không biết liệu tác dụng của loại thuốc bổ đã tan biến chưa khi hình hài người đàn ông bế em xuống thuyền, nhưng sự hoang mang sợ hãi của em lại bắt đầu trỗi dậy. Hộ tống quái gở của em chắc hẳn đã nhận ra điều đó, vì hắn đẩy Cesar quay lại và em nghe thấy tiếng móng guốc giẫm nện lên cầu thang trong lúc hắn nhảy xuống thuyền, tháo sợi dây buộc rồi chộp lấy mái chèo. Hắn chèo những nhát thật nhanh và mạnh; và đôi mắt hắn ẩn dưới lớp mặt nạ không hề rời khỏi em. Chúng ta lướt đi trên mặt nước tĩnh lặng dưới ánh sáng xanh ngắt mà em vừa kể; rồi chúng ta lại chìm vào bóng tối và cập bờ. Và em lại một lần nữa được người đàn ông bế lên tay. Em thét lên. Rồi bất chợt, em im bặt, choáng váng trước ánh sáng... Vâng, một thứ ánh sáng chói lóa giữa nơi mà em vừa được đặt xuống. Em chồm dậy. Em đang đứng giữa một phòng khách mà theo em thấy được trang hoàng, bày biện và trang trí chẳng có gì ngoài hoa — những bông hoa vừa lộng lẫy vừa ngớ ngẩn vì những dải ruy-băng lụa buộc chúng vào các giỏ hoa, hệt như những thứ người ta bày bán ở các cửa hàng trên đại lộ. Chúng là những loài hoa quá ư văn minh, giống hệt những bông hoa em vẫn thường tìm thấy trong phòng thay trang phục sau mỗi đêm diễn đầu tiên. Và giữa muôn ngàn đóa hoa ấy, hình hài màu đen của người đàn ông đeo mặt nạ đứng đó với hai tay khoanh trước ngực, và hắn nói: 'Đừng sợ, Christine; em hoàn toàn không gặp nguy hiểm gì đâu.' ĐÓ CHÍNH LÀ GIÓNG HÁT!"
"Sự phẫn nộ của em lớn ngang ngửa sự kinh ngạc. Em lao vào chiếc mặt nạ và cố giật phăng nó ra để được nhìn thấy khuôn mặt của giọng hát. Người đàn ông liền bảo: 'Em sẽ không gặp nguy hiểm gì chừng nào em chưa chạm vào chiếc mặt nạ.' Và, dịu dàng nắm lấy cổ tay em, hắn ép em ngồi xuống ghế, rồi quỳ rạp xuống trước mặt em và không nói thêm lời nào nữa! Sự khiêm nhường của hắn trả lại cho em một phần dũng khí; và ánh sáng đã kéo em trở về với thực tại của cuộc sống. Dù cuộc phiêu lưu có kỳ lạ đến đâu, thì giờ đây em vẫn đang vây quanh bởi những thứ trần thế, hữu hình và cầm nắm được. Đồ đạc, rèm cửa, nến, những chiếc bình cho đến tận những lỏ hoa trong giỏ — những thứ mà suýt chút nữa em có thể đoán biết chúng xuất phát từ đâu và giá bao nhiêu — buộc trí tưởng tượng của em phải thu hẹp trong giới hạn của một phòng khách bình thường chẳng kém gì bất kỳ căn phòng nào khác, ít nhất là nó có ưu điểm là không nằm dưới tầng hầm của Nhà hát Opera. Chắc chắn em đang phải đối phó với một kẻ kỳ dị, đáng sợ — kẻ đã bằng một cách thức thần bí nào đó xoay sở chiếm lấy chỗ ở này ngay bên dưới Nhà hát Opera, nằm sâu tận năm tầng dưới mặt đất. Và giọng hát, giọng hát mà em từng nhận ra đằng sau chiếc mặt nạ, đang quỳ gối trước mặt em, LÀ MỘT CON NGƯỜI! Và em bật khóc... Người đàn ông vẫn đang quỳ chắc hẳn đã hiểu được nguyên nhân những giọt nước mắt của em, bởi hắn nói: 'Đúng vậy, Christine!... Anh không phải là Thiên thần, không phải thiên tài, cũng chẳng phải hồn ma... Anh là Erik!'"
Lời kể của Christine lại bị ngắt quãng. Một tiếng vọng đằng sau họ dường như lặp lại từ ấy theo nàng.
"Erik!"
Tiếng vọng nào thế?... Cả hai quay phắt lại và nhận ra màn đêm đã buông xuống. Raoul cử động như muốn đứng lên, nhưng Christine giữ cậu lại bên mình.
"Đừng đi," nàng nói. "Em muốn anh phải biết mọi thứ TẠI ĐÂY!"
"Nhưng sao lại ở đây, Christine? Anh sợ em bị cảm lạnh mất."
"Chúng ta chẳng có gì phải sợ ngoài những cánh cửa sập thôi anh yêu, và ở đây chúng ta cách xa những cánh cửa sập ấy cả dặm rồi... hơn nữa em không được phép gặp anh bên ngoài rạp hát. Bây giờ chưa phải lúc làm hắn nổi giận. Chúng ta không được đánh động sự hoài nghi của hắn."
"Christine! Christine! Có cái gì đó mách bảo anh rằng chúng ta thật sai lầm khi chờ đợi đến tối mai và chúng ta phải trốn đi ngay lập tức."
"Em nói với anh rồi, nếu hắn không nghe em hát vào ngày mai, điều đó sẽ gây cho hắn nỗi đau đớn vô bờ bến."
"Thật khó để không làm hắn đau đớn mà vẫn có thể trốn thoát khỏi hắn mãi mãi."
Em nói đúng về điểm đó, Raoul, vì chắc chắn hắn sẽ chết vì cú trốn chạy của em." Và nàng nói thêm bằng một giọng vô hồn: "Nhưng xét cho cùng thì cũng huề cả làng thôi... bởi chúng ta đánh đổi bằng nguy cơ bị hắn giết."
"Hắn yêu em đến thế cơ à?"
"Hắn sẵn sàng phạm tội giết người vì em."
"Nhưng người ta có thể tìm ra nơi hắn ở chứ. Người ta có thể đi lùng hắn. Giờ thì chúng ta đã biết Erik không phải là hồn ma, người ta có thể nói chuyện và buộc hắn phải trả lời!"
Christine lắc đầu.
"Không, không! Chẳng có cách nào đối phó với Erik ngoài việc trốn chạy!"
"Thế thì tại sao, khi em đã có thể trốn thoát, em lại quay về với hắn?"
"Bởi vì em buộc phải làm thế. Và anh sẽ hiểu điều đó khi em kể cho anh nghe cách em rời bỏ hắn."
"Ôi, anh căm ghét hắn!" Raoul thốt lên. "Còn em, Christine, hãy nói cho anh nghe, em có căm ghét hắn không?"
"Không," Christine đáp một cách đơn giản.
"Không, dĩ nhiên là không rồi... Sao cơ, em yêu hắn chứ! Nỗi sợ hãi của em, sự hoảng sợ của em, tất cả những thứ đó chỉ là tình yêu và là một thứ tình yêu tinh tế tột cùng — thứ tình yêu mà người ta thậm chí còn chẳng dám thừa nhận với chính mình," Raoul cay đắng nói. "Thứ tình yêu mang lại cho em sự rùng mình mỗi khi nghĩ đến nó... Hãy hình dung xem: một kẻ sống trong cung điện dưới lòng đất!" Và cậu cười nhạt.
"Thế anh muốn em quay lại đó chắc?" cô thiếu nữ hỏi với vẻ tàn nhẫn. "Hãy cẩn thận đấy, Raoul; em đã nói với anh rồi: em sẽ chẳng bao giờ quay về nữa đâu!"
Một sự im lặng đáng sợ trùm lên cả ba người: hai kẻ cất tiếng nói và cái bóng đang lắng nghe phía sau họ.
"Trước khi trả lời câu hỏi đó," Raoul cuối cùng cũng cất lời, nói rất chậm rãi, "anh muốn biết cảm xúc thực sự mà hắn khơi gợi trong em là gì, vì em không căm ghét hắn."
"Sự kinh hoàng!" nàng đáp. "Đó mới là điều khủng khiếp. Hắn mang lại cho em sự kinh hoàng tột độ nhưng em lại không căm ghét hắn. Sao em có thể căm ghét hắn được chứ, Raoul? Hãy nghĩ đến cảnh Erik quỳ dưới chân em, trong ngôi nhà bên hồ dưới lòng đất. Hắn tự kết tội mình, hắn tự nguyền rủa chính mình, hắn van xin sự tha thứ của em!... Hắn thú nhận trò lừa bịp của mình. Hắn yêu em! Hắn đặt dưới chân em một tình yêu bao la và bi tráng... Hắn đã cướp em đi vì yêu!... Hắn đã giam cầm em cùng hắn dưới lòng đất vì yêu!... Thế nhưng hắn tôn trọng em: hắn bò trườn, hắn rên rỉ, hắn khóc lóc!... Và khi em đứng dậy, Raoul, và bảo rằng em sẽ chỉ khinh bỉ hắn nếu ngay lúc đó hắn không trả lại tự do cho em... hắn đã đồng ý... hắn đã đề nghị chỉ cho em con đường bí ẩn... Chỉ có điều... chỉ có điều là hắn cũng đứng dậy... và em buộc phải nhớ rằng, dù hắn không phải là thiên thần, không phải hồn ma, hay thiên tài, hắn vẫn mãi là giọng hát... bởi vì hắn đã cất tiếng hát. Và em lắng nghe... rồi ở lại! ... Đêm hôm đó, chúng ta không trao đổi thêm một lời nào nữa. Hắn hát ru em ngủ."
"Khi em tỉnh dậy, em chỉ có một mình, nằm trên chiếc ghế dài trong một phòng ngủ nhỏ được bài trí giản dị, với một chiếc giường gỗ gụ bình thường, được thắp sáng bởi ngọn đèn đặt trên mặt đá cẩm thạch của một chiếc tủ ngăn kéo cũ kiểu Louis-Philippe. Chẳng mấy chốc em phát hiện ra mình đang là tù nhân và lối ra duy nhất từ phòng em dẫn đến một phòng tắm vô cùng tiện nghi. Khi quay lại phòng ngủ, em nhìn thấy trên nóc tủ ngăn kéo một mảnh giấy viết bằng mực đỏ, ghi rằng: 'Christine yêu quý của số phận em. Em không có người bạn nào trên đời tốt hơn và tôn trọng em hơn chính anh. Hiện tại em đang ở một mình trong tổ ấm thuộc về em này. Anh đang ra ngoài mua sắm để sắm sửa mọi thứ em có thể cần.' Em chắc chắn mình đã rơi vào tay một kẻ điên. Em chạy quanh căn hộ nhỏ của mình, tìm kiếm lối thoát nhưng không thấy. Em tự trách bản thân vì sự mê tín ngớ ngẩn đã khiến em sa bẫy. Em vừa muốn cười lại vừa muốn khóc."
"Đó là tâm trạng của Erik khi tìm thấy em. Sau ba tiếng gõ lên vách tường, hắn nhẹ nhàng bước vào qua một cánh cửa mà em không hề để ý và hắn để ngỏ nó. Hắn mang đầy hai tay những hộp quà và gói đồ, thong thả sắp xếp chúng lên giường trong lúc em trút giận lên đầu hắn bằng những lời lăng mạ và yêu cầu hắn thột chiếc mặt nạ xuống nếu nó che giấu khuôn mặt của một người lương thiện. Hắn điềm tĩnh đáp: 'Em sẽ không bao giờ được nhìn thấy mặt Erik đâu.' Và hắn quở trách em vì giờ này mà vẫn chưa thay đồ xong: hắn tốt bụng thông báo cho em biết lúc đó đã là hai giờ chiều. Hắn bảo sẽ cho em nửa tiếng và trong lúc nói, hắn lên dây cót chiếc đồng hồ của em rồi chỉnh lại giờ cho đúng. Sau đó, hắn mời em ra phòng ăn, nơi một bữa trưa thị soạn đang chờ sẵn."
"Em vô cùng tức giận, sập cửa cái rầm vào mặt hắn và đi thẳng vào phòng tắm... Khi em bước ra, cảm thấy vô cùng sảng khoái, Erik bảo rằng hắn yêu em, nhưng hắn sẽ không bao giờ thổ lộ điều đó ngoại trừ khi em cho phép và thời gian còn lại sẽ dành trọn cho âm nhạc. 'Ý anh là gì khi nói thời gian còn lại?' em hỏi. 'Năm ngày,' hắn dứt khoát đáp. Em hỏi hắn sau đó em có được tự do không và hắn bảo: 'Em sẽ được tự do, Christine, vì khi năm ngày đó trôi qua, em sẽ học được cách không nhìn thấy anh nữa; và rồi thỉnh thoảng, em sẽ đến thăm Erik tội nghiệp của mình!' Hắn chỉ vào chiếc chiếc ghế đối diện hắn ở chiếc bàn nhỏ, và em ngồi xuống, lòng vô cùng bấn loạn. Tuy nhiên, em cũng ăn vài con tôm và một miếng cánh gà, uống nửa ly rượu Tokay mà hắn bảo chính tay hắn đã mang từ hầm rượu ở Königsberg về. Erik không ăn uống gì cả. Em hỏi quốc tịch của cái tên Erik ấy có phải chỉ ra nguồn gốc Scandinavi của hắn hay không. Hắn bảo hắn không có tên, không có xứ sở và hắn lấy cái tên Erik chỉ là sự tình cờ."
"Sau bữa trưa, hắn đứng dậy chìa những đầu ngón tay ra bảo muốn dẫn em đi thăm căn hộ của mình; nhưng em giật phắt tay lại và thét lên. Thứ em vừa chạm vào vừa lạnh ngắt lại vừa xương xẩu; và em chợt nhớ ra bàn tay hắn sực mùi tử khí. 'Ồ, xin em hãy tha thứ cho anh!' hắn rên rỉ. Và hắn đẩy mở một cánh cửa trước mặt em. 'Đây là phòng ngủ của anh, nếu em muốn xem. Nó hơi kỳ quái đấy.' Tác phong, lời nói và thái độ của hắn mang lại cho em sự tin tưởng và em bước vào không chút do dự. Em có cảm giác như mình đang bước vào căn phòng của một người đã khuất. Tường nhà được phủ một màu đen tuyền, nhưng thay vì những đường viền trang trí trắng thường làm nổi bật lớp vải bọc tang tóc ấy, lại có một khuông nhạc khổng lồ với các nốt nhạc của khúc DIES IRAE được lặp đi lặp lại nhiều lần. Ở giữa phòng là một chiếc lều che với những dải rèm treo bằng vải gấm đỏ, và bên dưới lều che là một cỗ quan tài mở nắp. 'Đó là nơi anh ngủ,' Erik nói. 'Người ta phải quen với mọi thứ trong đời, kể cả cõi vĩnh hằng.' Cảnh tượng ấy làm em suy sụp đến mức phải quay mặt đi."
"Rồi em nhìn thấy bàn phím của một cây đại phong cầm chiếm trọn một bức tường. Trên giá đặt một cuốn sách nhạc chằng chịt những nốt đỏ. Em xin phép được xem và đọc thấy tựa đề: 'Don Juan Triumphant' (Don Juan Khải Hoàn). 'Vâng,' hắn nói, 'thỉnh thoảng tôi vẫn sáng tác. Tôi bắt đầu tác phẩm này từ hai mươi năm trước. Khi hoàn thành, tôi sẽ mang nó theo vào cỗ quan tài kia và không bao giờ tỉnh lại nữa.' 'Anh nên bớt sáng tác lại thì hơn,' em bảo. Hắn đáp: 'Có khi tôi làm việc liên tục suốt mười bốn ngày đêm, trong khoảng thời gian đó tôi chỉ sống bằng âm nhạc, rồi sau đó tôi nghỉ ngơi ròng rã nhiều năm liền.' 'Anh chơi cho tôi nghe một đoạn trong vở Don Juan Triumphant của anh được không?' em hỏi, nghĩ rằng làm thế sẽ chiều lòng hắn. 'Em không bao giờ được đòi hỏi điều đó,' hắn nói với giọng u ám. 'Anh sẽ chơi Mozart cho em nghe, nếu em muốn, thứ âm nhạc ấy sẽ chỉ làm em rơi lệ; nhưng khúc Don Juan của Christine ạ, nó bùng cháy; và dẫu vậy nó không bị lửa từ Thiên đường giáng xuống.' Thế rồi chúng ta quay trở lại phòng khách. Em nhận ra toàn bộ căn hộ không hề có một chiếc gương nào. Em định lên tiếng về điều đó, nhưng Erik đã ngồi xuống ghế piano từ bao giờ. Hắn bảo: 'Em thấy đấy, Christine, có thứ âm nhạc kinh khủng đến mức nó thiêu rụi tất cả những ai tiếp cận nó. May mắn là em chưa chạm đến thứ âm nhạc đó, vì nếu không em sẽ mất đi vẻ tươi tắn xinh đẹp và chẳng ai nhận ra em khi em trở về Paris nữa. Nào, chúng ta hãy hát một đoạn trong vở Opera đi, Christine Daaé.' Hắn nói câu cuối cùng đó hệt như đang hắt vào mặt em một lời lăng mạ."
"Em đã làm gì?"
"Em chẳng có thời gian để suy nghĩ về ngụ ý đằng sau lời nói của hắn. Chúng em lập tức bắt đầu bản song ca trong Othello và thảm kịch đã giáng xuống ngay lập tức. Em hát vai Desdemona với một nỗi tuyệt vọng, một sự kinh hoàng chưa từng có trước đây. Về phần hắn, giọng ca của hắn gầm thét tuôn trào tâm hồn báo thù qua từng nốt nhạc. Tình yêu, sự ghen tuông, lòng thù hận bùng nổ xung quanh chúng em trong những tiếng thét xé lòng. Chiếc mặt nạ đen của Erik khiến em liên tưởng đến chiếc mặt nạ tự nhiên của gã Moor thành Venice. Bản thân hắn chính là Othello. Bất chợt, em cảm thấy thèm thuồng được nhìn xuyên qua lớp mặt nạ. Em muốn biết KHUÔN MẶT của giọng hát, và với một động thái mà em hoàn toàn không thể kiểm soát nổi, những ngón tay em nhanh chóng giật phăng chiếc mặt nạ ra. Ôi, kinh hoàng, kinh hoàng, kinh hoàng!"
Christine khựng lại khi nghĩ đến cảnh tượng từng khiến mình khiếp đảm, trong khi những tiếng vọng ban đêm — vốn từng lặp lại cái tên Erik — giờ đây ba lần rên rỉ tiếng kêu:
"Kinh hoàng!... Kinh hoàng!... Kinh hoàng!"
Raoul và Christine ôm chặt lấy nhau, ngước nhìn những vì sao đang lấp lánh trên bầu trời trong trẻo và yên bình. Raoul cất lời:
"Thật kỳ lạ, Christine, khi đêm dịu êm và tĩnh lặng này lại tràn ngập những âm thanh ai oán đến thế. Cứ như thể nó đang đau buồn cùng chúng ta vậy."
"Khi anh biết được bí mật, Raoul, đôi tai anh cũng sẽ đầy ắp những tiếng than khóc giống như em."
Nàng cầm đôi bàn tay bảo bọc của Raoul trong tay mình và với một tiếng rùng mình kéo dài, tiếp lời:
"Đúng vậy, nếu em sống đến trăm tuổi, em vẫn sẽ luôn nghe thấy tiếng kêu thảm thiết siêu phàm đầy đau khổ và giận dữ mà hắn thốt lên khi cảnh tượng khủng khiếp ấy phơi bày trước mắt em... Raoul, anh từng nhìn thấy những chiếc đầu lâu, khi chúng đã bị khô quắt lại qua hàng thế kỷ, và có lẽ, nếu anh không phải là nạn nhân của một cơn ác mộng, anh đã nhìn thấy đầu lâu CỦA HẮN ở Perros. Và rồi anh nhìn thấy Tử thần Đỏ lảng vảng trong vũ hội hóa trang cuối cùng. Nhưng tất cả những chiếc đầu lâu đó đều bất động và sự kinh hoàng câm lặng của chúng không hề có sự sống. Thế nhưng hãy tưởng tượng xem, nếu anh có thể, chiếc mặt nạ của Tử thần Đỏ đột ngột sống lại để biểu đạt, bằng bốn chiếc lỗ đen ngòm gồm hai hốc mắt, cái mũi và chiếc miệng, cơn giận dữ tột cùng, sự cuồng nộ mãnh liệt của một con quỷ; VÀ KHÔNG HỀ CÓ MỘT TIA SÁNG NÀO TỎA RA TỪ CÁC HỐC MẮT, bởi vì, như em đã tìm hiểu sau đó, anh không thể nhìn thấy đôi mắt đang rực cháy của hắn trừ khi ở trong bóng tối."
Em ngã người dán vào tường và hắn tiến lại gần em, nghiến răng ken két, và khi em quỵ xuống gối, hắn rít lên những lời điên rồ, lủng củng cùng những lời nguyền rủa vào mặt em. Cúi người trùm lên em, hắn thét lên: 'Nhìn đi! Mày muốn thấy cơ mà! Nhìn xem! Hãy thỏa mãn đôi mắt mày, hãy nhồi nhét linh hồn mày vào sự xấu xí bị nguyền rủa của tao đi! Hãy nhìn khuôn mặt của Erik đi! Giờ thì mày đã biết mặt của giọng hát rồi đấy! Mày không thỏa mãn với việc chỉ được nghe tao hát phải không? Mày muốn biết trông tao ra sao cơ mà! Ồ, phụ nữ các người lúc nào cũng tò mò như thế đấy! Nào, thỏa mãn chưa? Tao là một gã trai khôi ngô tuấn tú lắm phải không?... Khi một người phụ nữ đã nhìn thấy tao như mày vừa làm, ả sẽ thuộc về tao. Ả sẽ yêu tao mãi mãi. Tao là một kiểu Don Juan đấy, mày biết chứ!' Và, ngẩng cao đầu hết cỡ, tay chống nạnh, lắc lư cái thứ dị hợm gớm ghiếc trên vai, hắn gầm lên: 'Nhìn tao đi! TAO CHÍNH LÀ DON JUAN KHẢI HOÀN!' Và khi em quay mặt đi và van xin sự khoan hồng, hắn tàn nhẫn kéo ngược đầu em lại, cắm những ngón tay chết chóc của hắn vào mái tóc em."
"Đủ rồi! Đủ lắm rồi!" Raoul thét lên. "Anh sẽ giết hắn. Nhân danh Thiên thần, Christine, hãy nói cho anh biết phòng ăn bên hồ nằm ở đâu đi! Anh phải giết hắn!"
"Ồ, hãy bình tĩnh đi, Raoul, nếu anh muốn biết chuyện!"
"Được, anh muốn biết em đã quay lại bằng cách nào và tại sao; anh bắt buộc phải biết!... Nhưng dù thế nào đi nữa, anh cũng sẽ giết hắn!"
"Ôi, Raoul, hãy nghe em, hãy nghe đây!... Hắn lôi tóc em và rồi... rồi... Ồ, mọi thứ khủng khiếp lắm!"
"Thì sao? Khai ra mau!" Raoul phẫn nộ quát. "Nói mau lên, nhanh!"
"Rồi hắn rít lên vào mặt em: 'À, tao làm mày sợ lắm phải không?... Chắc chắn rồi!... Có lẽ mày nghĩ tao còn một chiếc mặt nạ khác, phải không, và rằng cái này... cái này... cái đầu của tao chính là một chiếc mặt nạ sao? Nào,' hắn gầm lên, 'xé toạc nó ra như mày đã làm với chiếc kia đi! Nào! Xé đi! Tao bắt buộc đấy! Đôi tay của mày! Đôi tay của mày đâu! Đưa tay đây cho tao!' Và hắn túm lấy tay em, cắm phập những ngón tay em vào khuôn mặt khủng khiếp của hắn. Hắn tự xé rách da thịt mình bằng móng tay em, tự xé nát lớp da thịt tử thi gớm ghiếc của hắn bằng chính móng tay em!... 'Mày phải biết rằng,' hắn gào lên, trong khi cổ họng hắn phập phồng và thở dốc hệt như một cái lò nung, 'rằng tao được cấu tạo từ cõi chết từ đầu đến chân và rằng đây là một thây ma đang yêu mày, tôn sùng mày và sẽ không bao giờ, không bao giờ rời xa mày!... Nhìn này, tao không cười nữa đâu, tao đang khóc, đang khóc vì mày đấy, Christine — kẻ vừa xé rách mặt nạ của tao và do đó sẽ chẳng bao giờ có thể rời xa tao được nữa!... Chừng nào mày còn tưởng tao đẹp trai, mày đã có thể bỏ trốn, tao biết mày sẽ trốn... nhưng giờ thì mày đã biết sự gớm ghiếc của tao, mày sẽ chạy trốn mãi mãi... Thế nên tao sẽ giữ mày ở lại đây!... Tại sao mày cứ muốn nhìn thấy tao cơ chứ? Ồ, con bé Christine điên rồ, kẻ cứ khăng khăng muốn nhìn thấy tao!... Khi mà chính cha đẻ của tao chưa từng nhìn thấy mặt tao và khi mẹ tao, để tránh phải nhìn thấy tao, đã ban tặng cho tao chiếc mặt nạ đầu tiên!'"
"Cuối cùng hắn cũng buông em ra và lê lết trên sàn nhà, thốt lên những tiếng nức nở đầy đau đớn. Rồi hắn trườn bò đi như một con rắn, bước vào phòng mình, đóng sập cửa lại và để mặc em đối diện với những suy nghĩ của chính mình. Chẳng mấy chốc em nghe thấy tiếng đàn organ vang lên; và khi ấy em bắt đầu hiểu được câu nói mang hàm ý khinh miệt của Erik khi hắn nhắc đến âm nhạc trong nhà hát. Thứ âm nhạc em đang nghe khi ấy hoàn toàn khác biệt với những gì em từng được nghe trước đó. Khúc Don Juan Triumphant của hắn (vì em không mảy may nghi ngờ việc hắn đã lao ngay đến kiệt tác của mình để quên đi khoảnh khắc kinh hoàng vừa qua) thoạt đầu mang lại cho em cảm giác như một tiếng nức nở dài, bi thảm và vĩ đại. Nhưng dần dà, nó diễn tả trọn vẹn mọi cung bậc cảm xúc, mọi nỗi thống khổ mà nhân loại có thể chịu đựng. Nó làm em say đắm; và em đẩy cửa bước vào căn phòng giữa hai chúng tôi. Erik đứng dậy khi em bước vào, NHƯNG KHÔNG DÁM QUAY ĐẦU VỀ PHÍA EM. 'Erik,' em thét lên, 'hãy cho em nhìn khuôn mặt anh mà không phải sợ hãi điều gì! Em thề rằng anh là người đàn ông bất hạnh và vĩ đại nhất đời; và nếu có lúc nào em lại rùng mình khi nhìn anh, đó chỉ vì em đang nhớ đến sự vĩ đại trong thiên tài của anh thôi!' Khi ấy Erik quay người lại, bởi hắn đã tin em, và em cũng đặt niềm tin vào chính mình. Hắn quỵ xuống chân em, thốt lên những lời yêu thương... những lời yêu thương phát ra từ cái miệng tử thi của hắn... và tiếng nhạc đã ngưng bặt... Hắn hôn lên tà váy của em mà không hề nhận ra em đang nhắm nghiền đôi mắt lại."
"Còn gì để kể cho anh nữa không anh yêu? Giờ thì anh đã biết toàn bộ thảm kịch rồi đấy. Nó kéo dài ròng rã suốt hai tuần lễ — hai tuần lễ mà em đã dối lừa hắn. Những lời dối trá của em gớm ghiếc chẳng kém gì con quái vật đã truyền cảm hứng cho chúng; nhưng chúng là cái giá để đổi lấy tự do của em. Em đã thiêu hủy chiếc mặt nạ của hắn; và em khéo léo xoay sở đến mức ngay cả khi hắn không hát, hắn vẫn cố chớp lấy ánh mắt em hệt như một chú chó nhỏ ngồi chầu chực bên chủ. Hắn là bề tôi trung thành của em và chăm chút cho em từng chút một qua những điều nhỏ nhặt. Dần dần, em tạo cho hắn sự tin tưởng đến mức hắn dám dẫn em đi dạo dọc bờ hồ và chèo thuyền chở em trên làn nước xám xịt ấy; vào giai đoạn cuối của thời gian bị giam cầm, hắn thả em ra ngoài qua những cánh cổng sắt khép kín các lối đi ngầm ở phố Scribe. Ở đó có sẵn một cỗ xe chờ sẵn đưa chúng tôi đến khu rừng Boulogne. Đêm chúng tôi tình cờ gặp anh suýt chút nữa đã trở thành thảm họa đối với em, vì hắn ghen lừng ghen lộn với anh và em đã phải nói dối hắn rằng anh sắp sửa đi xa... Rồi cuối cùng, sau hai tuần lễ giam cầm kinh hoàng đó — khoảng thời gian em lần lượt trải qua đủ mọi cung bậc cảm xúc từ thương hại, phấn khích, tuyệt vọng cho đến kinh hãi — hắn đã tin khi em thốt lên: 'EM SẼ QUAY LẠI!'"
"Và rồi em đã quay lại, Christine," Raoul rên rỉ.
"Đúng vậy, anh yêu, và em phải nói với anh rằng không phải những lời đe dọa đáng sợ của hắn lúc trao trả tự do đã giúp em giữ lời hứa, mà chính là tiếng nức nở xé lòng khi hắn đứng bên thềm cỗ quan tài... Tiếng nức nở ấy gắn kết em với bất hạnh ấy nhiều hơn là chính em tưởng tượng khi cất lời chào từ biệt hắn. Tội nghiệp Erik! Tội nghiệp Erik!"
"Christine," Raoul đứng phắt dậy nói, "em bảo rằng em yêu anh; nhưng em vừa lấy lại tự do chưa được mấy tiếng đồng hồ thì đã quay trở lại với Erik! Hãy nhớ lại buổi tiệc khiêu vũ hóa trang mà xem!"
"Vâng; thế còn anh, anh có nhớ những giờ phút em đã ở bên anh, Raoul... bất chấp mối hiểm nguy to lớn rình rập cả hai chúng ta không?"
"Trong những giờ phút ấy, anh đã hoài nghi tình yêu của em."
"Anh vẫn còn hoài nghi nó sao, Raoul?... Vậy thì hãy biết rằng mỗi lần em đến gặp Erik lại làm dâng cao thêm nỗi kinh hoàng của em dành cho hắn; bởi vì mỗi chuyến viếng thăm đó, thay vì làm hắn dịu đi như em từng hy vọng, lại khiến hắn phát cuồng vì yêu! Và em vô cùng sợ hãi, sợ hãi lắm anh ơi!..."
"Em sợ hãi... nhưng em có yêu anh không? Giả sử Erik khôi ngô tuấn tú, liệu em có yêu anh không, Christine?"
Nàng cũng đứng dậy, vòng đôi tay run rẩy ôm lấy cổ chàng thanh niên và thốt lên:
"Ôi, vị hôn phu của đời em, nếu em không yêu anh, em đã chẳng dâng đôi môi mình cho anh! Hãy đón lấy chúng đi, lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng."
Càng đặt lên môi nàng một nụ hôn; nhưng màn đêm bao quanh họ bỗng chốc rách toác ra, họ tháo chạy hệt như khi cơn giông bão đang kéo đến và đôi mắt đẫm vẻ khiếp đảm trước Erik đã kịp nhìn thấy — trước khi họ biến mất — một con chim đêm khổng lồ bay vút cao tít trên tận cao xanh, đang trừng trừng nhìn họ bằng đôi mắt rực lửa và dường như đang bám chặt lấy những dây đàn trong cây đàn lia của thần Apollo.