Christine Daaé, do những mưu mô mà tôi sẽ đề cập sau, đã không tiếp tục chuỗi ngày vinh quang tại Nhà hát Lớn một cách ngay lập tức. Sau đêm dạ tiệc nổi tiếng nọ, cô chỉ hát đúng một lần tại dinh thự của Nữ công tước de Zurich; và đó cũng là lần cuối cùng người ta được nghe cô biểu diễn ở không gian riêng tư. Cô từ chối, mà chẳng đưa ra được lý lẽ nào ra hồn, việc góp mặt trong một buổi hòa nhạc từ thiện mà cô từng hứa sẽ giúp sức. Hành xử của cô lúc bấy giờ tựa như một kẻ không còn làm chủ được vận mệnh chính mình, và như thể cô đang khiếp sợ một ánh hào quang mới.
Cô thừa hiểu rằng Bá tước de Chagny, nhằm làm vui lòng người em trai, đã hết lời dung hòa với ngài M. Richard vì lợi ích của cô; thế nên cô liền viết thư vừa để tạ ơn, vừa để van nài ông đừng tiếp tục nhúng tay nâng đỡ mình nữa. Lý do đằng sau thái độ kỳ lạ ấy chưa từng có ai tường tận. Kẻ thì đoán già đoán non rằng đó là do chứng kiêu ngạo ngút trời; người lại ca tụng sự khiêm nhường tựa thánh nhân của cô. Nhưng những con người chốn sân khấu nào có ai khiêm nhường đến thế; và tôi thiết nghĩ mình sẽ chẳng ngoắt ngoéo gì cho cam nếu quy sự chần chừ ấy đơn giản chỉ vì nỗi sợ hãi. Phải, tôi tin chắc rằng Christine Daaé đã thực sự hoảng loạn trước những biến cố giáng xuống đời mình.
Tôi hiện đang giữ một bức thư do chính tay Christine chấp bút (nó nằm trong sưu tập của viên quan người Ba Tư), viết về khoảng thời gian ấy, thoang thoảng một nỗi hoang mang tuyệt đối:
“Chính tôi cũng chẳng nhận ra nổi mình mỗi khi cất tiếng hát,” đứa tội nghiệp ấy thổ lộ.
Cô hoàn toàn biến mất khỏi mọi chốn đông người; và Tử tước de Chagny đã uổng công tìm kiếm cô khắp chốn. Chàng viết thư ngỏ ý muốn tới thăm, những mong mỏi mòn trong tuyệt vọng trước khi nhận lại hồi âm thì bỗng một buổi sáng nọ, nàng gửi cho chàng đôi dòng ngắn ngủi:
THƯA NGÀI,
Tôi chưa bao giờ quên cậu bé ngày xưa đã liều mình lao xuống biển để vớt lấy chiếc khăn choàng cho tôi. Hôm nay, khi chuẩn bị hành trình về Perros nhằm làm trọn một đạo lý thiêng liêng, lòng thôi thúc tôi buộc phải viết đôi dòng gửi đến ngài. Ngày mai là ngày giỗ của người cha khốn khổ của tôi, người mà ngài từng quen biết và vô cùng yêu quý. Người đang nằm lại nơi ấy, cùng với cây vĩ cầm, trong nghĩa trang của ngôi giáo đường nhỏ dưới triền dốc, nơi thuở nhỏ chúng ta từng nô đùa, cạnh khúc đường mà khi đã lớn hơn chút nữa, chúng ta đã trao nhau lời chào tạm biệt cuối cùng.
Tử tước de Chagny vội vã lật cuốn lịch trình tàu xe, thay quần áo nhanh nhất có thể, tốc biến vài dòng nhờ người hầu tạt qua đưa cho anh trai rồi nhảy phốc lên một chiếc xe ngựa đưa chàng đến ga Montparnasse vừa kịp lúc để lỡ chuyến tàu buổi sáng. Chàng trải qua một ngày ảm đạm chốn thị thành và chỉ thực sự lấy lại tinh thần vào buổi tối, khi đã yên vị trong toa tàu tốc hành tuyến Bretagne. Chàng đọc đi đọc lại bức thư của Christine, hít hà làn hương thoang thoảng trên trang giấy, hoài niệm về những tà áo ngọt ngào của tuổi thơ, và chìm đắm phần đêm mệt mỏi còn lại trong những giấc mộng cuồng nhiệt mở đầu lẫn kết thúc bằng bóng hình Christine Daaé. Bình minh vừa hé rạng khi chàng đặt chân xuống ga Lannion. Chàng vội vã bắt chiếc xe ngựa tuyến Perros-Guirec. Chàng là hành khách duy nhất. Khi gặng hỏi người đánh xe, chàng hay tin vào chiều tối hôm trước, một thiếu nữ mang phong thái đài các như người Paris đã đến Perros và trọ tại quán trọ mang tên Hoàng Hôn Tịch.
Càng đến gần nàng bao nhiêu, ký ức về câu chuyện của nữ ca sĩ người Thụy Điển trong lòng chàng lại càng nồng đượm bấy nhiêu. Hầu hết những chi tiết ấy đến nay vẫn còn là ẩn số đối với công chúng.
Thuở ấy, tại một thị trấn nhỏ cách Upsala không xa, có một bác nông dân sống cùng gia đình, vất vả cuốc đất bươn chải qua tuần và cất tiếng hát trong ca đoàn vào mỗi dịp Chủ nhật. Người nông dân ấy có cô con gái nhỏ được ông dạy cho bảng chữ cái âm nhạc từ trước cả khi con bé biết đọc. Cha của Daaé là một nghệ sĩ lớn, dẫu có lẽ chính ông cũng chẳng mảy may hay biết điều ấy. Chẳng có tay vĩ cầm nào trải dài khắp bán đảo Scandinavia khơi gợi âm điệu diệu kỳ như ông. Tiếng tăm của ông vang xa muôn nơi và người ta luôn mời ông đến để tấu nhạc cho các cặp đôi khiêu vũ trong những đám cưới hay lễ hội. Vợ ông qua đời khi Christine vừa bước sang tuổi thứ sáu. Kể từ đó, người cha – kẻ chỉ biết đến con gái và âm nhạc – liền bán miểng đất còm cõi rồi dắt díu nhau lên Upsala với ảo mộng danh vọng và tiền tài. Nhưng thứ duy nhất ông nhận lại chỉ là sự khốn cùng.
Ông đành quay trở về vùng quê, lang thang từ hội chợ này qua lễ hội nọ, gảy lên những khúc ca đậm chất Scandinavia, trong khi đứa trẻ thơ chưa từng rời nửa bước chân cứ ngẩn ngơ lắng nghe trong ngây ngất hoặc cất tiếng hát hòa theo tiếng vĩ cầm của cha. Một ngày nọ, tại Hội chợ Ljimby, Giáo sư Valerius đã vô tình nghe được tiếng đàn của họ và đưa cả hai về Gothenburg. Ông quả quyết rằng người cha chính là tay vĩ cầm đệ nhất thế gian và cô con gái có tố chất để trở thành một nghệ sĩ lớn. Mọi bề học hành cùng tri thức của cô đều được chu cấp đầy đủ. Cô tiến bộ rất nhanh và chinh phục tất thảy mọi người bởi vẻ ngoài xinh xắn, cung cách tao nhã cùng tấm lòng khao khát mang lại niềm vui cho người khác.
Khi vợ chồng Valerius chuyển đến Pháp định cư, họ đã mang theo cả Daaé và Christine. "Mẹ" Valerius yêu thương Christine như máu ruột. Riêng phần Daaé, ông bắt đầu héo mòn vì nỗi nhớ quê hương da diết. Ở Paris, ông chẳng bao giờ đặt chân ra ngoài đường, mà chìm đắm trong một cõi mộng mị do chính tiếng vĩ cầm của mình duy trì. Hàng giờ liền, ông nhốt mình trong phòng ngủ cùng con gái, vặn vẹo phím đàn và cất tiếng hát thật khẽ, thật khẽ. Thỉnh thoảng, Mẹ Valerius lại đến lắng nghe sau cánh cửa, gạt đi giọt nước mắt rồi lặng lẽ rón rén bước xuống lầu, thở dài ngao ngán cho bầu trời quê hương xứ lạnh.
Daaé dường như chỉ thực sự hồi sinh vào mùa hè, khi cả gia đình dắt díu nhau đến nghỉ ngơi tại Perros-Guirec, một góc khuất xa xôi thuộc xứ Bretagne, nơi sắc biển xanh thẳm hệt như quê nhà ông. Thường thì ông sẽ tấu lên những khúc ca não nề nhất bên bờ biển và đùa rằng ngay cả tiếng sóng gầm thét cũng phải nín lặng để lắng nghe tiếng đàn của ông. Rồi ông thuyết phục Mẹ Valerius chiều theo một sở thích kỳ quặc của mình. Cứ vào mùa lễ hội "pardons", tức những cuộc hành hương của người Breton, những buổi tụ tập nhảy múa ở làng quê, ông lại xách cây vĩ cầm lên đường hệt như những ngày xưa cũ, và được phép đưa con gái đi cùng trong suốt một tuần lễ. Họ mang âm nhạc đến những xóm nghèo nhỏ bé đủ để dư dả cho cả năm trời, đêm xuống thì ngủ trong một cống rạ, từ chối chiếc giường êm ấm ở quán trọ, quấn quýt bên nhau trên đống rơm khô y hệt thuở nghèo khó bên Thụy Điển. Đồng thời, họ ăn vận vô cùng chỉnh tề, chẳng ngửa tay xin tiền hay nhận lấy những đồng xu lẻ mà người ta bố thí; khiến những người dân quanh vùng chẳng tài nào hiểu nổi phong thái của lão nhạc công quê mùa này, kẻ rảo bước trên những nẻo đường cùng đứa trẻ xinh đẹp cất tiếng hát tựa thiên sứ giáng trần. Họ cứ lẽo đẽo dõi theo bóng hai cha con qua từng ngôi làng.
Một ngày nọ, có cậu bé đi dạo cùng cô giáo dạy kèm đã nài nỉ cô đi xa hơn dự tính ban đầu, bởi cậu không sao dứt ra khỏi cô bé có giọng ca trong trẻo, ngọt ngào tựa như sợi dây vô hình níu giữ lấy tâm hồn cậu. Họ tiến đến bờ của một vũng nước nhỏ mà ngày nay người ta vẫn gọi là Trestraou, nhưng ngặt nỗi tôi tin rằng giờ đây nơi ấy đã mọc lên một sòng bạc hay thứ gì đó đại loại thế. Vào thời điểm đó, chẳng có gì ngoài bầu trời, biển cả và một dải cát vàng rực rỡ. Duy chỉ có một trận gió lộng thổi thốc chiếc khăn choàng của Christine bay tít ra khơi. Christine kêu lên một tiếng và với tay vơ lấy, nhưng chiếc khăn đã trôi đi quá xa giữa những ngợn sóng. Ngay lúc đó, cô nghe thấy một giọng nói vang lên:
“Đừng lo, để tớ ra biển vớt chiếc khăn về cho cậu.”
Và cô nhìn thấy một cậu bé đang cắm cổ chạy bất chấp những tiếng la hét lẫn sự phản đối phẫn nộ từ một quý bà khả kính mặc đồ đen. Cậu bé lao thẳng xuống biển, nguyên xi bộ quần áo trên người, rồi mang trả lại chiếc khăn cho cô. Cả người lẫn khăn đều ướt sũng. Quý bà mặc đồ đen làmùm beng lên, nhưng Christine lại cất tiếng cười giòn tan và hôn lên má cậu bé – hóa ra chẳng phải ai xa lạ mà chính là Tử tước Raoul de Chagny, người đang cùng người cô lưu trú tại Lannion.
Suốt mùa nghỉ mát ấy, họ gặp gỡ và cùng nhau nô đùa hầu như mỗi ngày. Theo lời thỉnh cầu của người cô, được sự hậu thuẫn từ Giáo sư Valerius, Daaé đã đồng ý dạy vài bài vĩ cầm cho vị tử tước trẻ tuổi. Nhờ vậy, Raoul học được cách yêu mến những giai điệu từng nuôi dưỡng tuổi thơ của Christine. Cả hai cũng có chung một tâm hồn tĩnh lặng và mộng mơ. Họ thích mê những câu chuyện kể, những truyền thuyết cổ xưa xứ Bretagne; và trò tiêu khiển ưa thích của họ là đi gõ cửa từng mái tranh để xin chuyện kể hệt như những kẻ ăn mày:
“Thưa bà…” hoặc “Thưa ông nhân hậu… ngài có câu chuyện nào kể cho chúng cháu nghe được không ạ?”
Và hiếm khi nào mà họ ra về tay không; bởi dường như mọi bà cụ người Breton nào ít nhất một lần trong đời cũng từng tận mắt chứng kiến bầy “korrigans” nhảy múa dưới ánh trăng trên thảm thạch thảo.
Nhưng niềm hạnh phúc lớn lao nhất của họ là vào lúc hoàng hôn, trong không gian tĩnh mịch của buổi chiều tà, khi mặt trời đã khuất dạng sau lòng đại dương, Daaé đến ngồi xuống bên họ dọc theo vệ đường rồi trầm ngâm kể bằng một giọng thật khẽ, như thể sợ làm kinh động đến những linh hồn mà ông đang triệu hồi, những huyền thoại về vùng đất phía Bắc. Và ngay khoảnh khắc ông vừa dứt lời, lũ trẻ lại nhao lên nài nỉ kể thêm.
Có một câu chuyện bắt đầu thế này:
“Có vị vua nọ ngồi trên chiếc thuyền nhỏ trôi lênh đênh giữa một trong những hồ nước sâu thẳm, phẳng lặng mở ra tựa con mắt sáng ngời giữa lòng núi non Na Uy…”
Và một câu chuyện khác:
“Bé Lotte nghĩ ngợi đủ điều mà cũng chẳng bận tâm gì. Mái tóc em vàng óng ánh như những tia nắng mặt trời và tâm hồn trong trẻo, xanh biếc tựa đôi mắt em. Em nũng nịu với mẹ, dịu dàng với con búp bê của mình, nâng niu chiếc váy cùng đôi giày đỏ nhỏ xinh và cả cây vĩ cầm, nhưng trên hết, khi chìm vào giấc ngủ, em thích nhất là được lắng nghe Thiên thần Âm nhạc.”
Trong lúc lão nhân gia kể chuyện, Raoul ngắm nhìn đôi mắt xanh và mái tóc vàng của Christine; còn Christine lại thầm nghĩ Lotte thật may mắn biết bao khi được lắng nghe Thiên thần Âm nhạc ru vào giấc ngủ. Thiên thần Âm nhạc xuất hiện trong mọi câu chuyện của Bố Daaé; và ông vẫn luôn đinh ninh rằng bất kỳ vĩ nhân âm nhạc nào, bất kỳ nghệ sĩ lớn nào cũng từng ít nhất một lần trong đời diện kiến Thiên thần. Thỉnh thoảng, Thiên thần sẽ cúi mình bên chiếc nôi của họ, y như trường hợp của Lotte, và đó là lý do vì sao xuất hiện những thần đồng sáu tuổi đã chơi vĩ cầm giỏi hơn cả những người đàn ông tuổi ngũ tuần – một điều mà ngài phải công nhận là vô cùng kỳ diệu. Đôi khi, Thiên thần đến muộn hơn rất nhiều, bởi lũ trẻ hư đốn chẳng chịu học bài hay luyện thanh. Và thỉnh thoảng, ngài hoàn toàn không xuất hiện, bởi những đứa trẻ ấy mang một tâm hồn lệch lạc hoặc một lương tri vẩn đục.
Chẳng ai từng thấy mặt Thiên thần bao giờ; nhưng những ai được chọn sẽ nghe thấy tiếng ngài. Ngài thường đến vào những lúc ít ngờ tới nhất, khi họ đang u sầu và nản chí. Để rồi tai họ bất chợt cảm nhận được những âm hưởng thiên đàng, một giọng ca thần thánh mà họ ghi nhớ suốt cả cuộc đời. Những ai được Thiên thần ghé thăm đều rung lên những xúc cảm lạ lùng mà phần còn lại của nhân loại không bao giờ thấu hiểu. Và họ không thể chạm vào bất kỳ nhạc cụ nào, hay hé miệng cất lời ca mà không tạo ra những âm thanh khiến mọi thanh âm nhân thế khác phải hổ thẹn. Khi ấy, những kẻ không biết rằng Thiên thần đã ghé thăm những con người đó liền thốt lên rằng họ có thiên bẩm.
Cô bé Christine từng ngây thơ hỏi cha mình rằng liệu ông đã từng nghe thấy Thiên thần Âm nhạc chưa. Nhưng Bố Daaé chỉ buồn bã lắc đầu; rồi đôi mắt ông sáng bừng lên khi cất lời:
“Rồi con cũng sẽ được nghe ngài, con gái ạ! Khi ta về đến Thiên đàng, ta sẽ phái ngài đến bên con!”
Vào thời điểm ấy, những tiếng ho bắt đầu đeo bám lấy người cha.
Ba năm sau, Raoul và Christine hội ngộ tại Perros. Giáo sư Valerius đã qua đời, nhưng người vợ góa của ông vẫn ở lại nước Pháp cùng Bố Daaé và cô con gái, những người vẫn miệt mài chơi vĩ cầm và cất tiếng hát, bao bọc người bảo trợ nhân hậu của mình trong cõi mộng âm điệu, người từ nay dường như chỉ sống bằng âm nhạc. Thiếu niên ngày nào nay đã trở thành một chàng thanh trai, lặn lội tìm về Perros với hy vọng mong manh được gặp lại họ và tiến thẳng đến ngôi nhà trọ cũ. Đầu tiên chàng gặp người cha; rồi Christine bước vào, trên tay mang theo khay trà. Cô đỏ bừng mặt khi chạm trán Raoul, người lúc này đã bước đến và trao lên má cô một nụ hôn. Cô hỏi thăm đôi điều, làm tròn bổn phận của một người chủ nhà một cách duyên dáng, nâng chiếc khay lên rồi quay gót rời khỏi phòng. Sau đó, cô chạy ào ra khu vườn, tìm một chiếc ghế đá để ẩn nấp, mang trong lòng những xao xuyến lần đầu tiên khuấy động trái tim thiếu nữ. Raoul bước theo cô và họ trò chuyện mãi đến chiều tà trong sự e thẹn ngập ngừng. Cả hai đã thay đổi hoàn toàn, cẩn trọng hệt như đôi nhà ngoại giao, và chỉ trao nhau những câu chuyện chẳng mảy may dính dáng gì đến những rung động chớm nở trong tim. Khi cất lời chào tạm biệt nhau ven đường, Raoul đặt một nụ hôn lên bàn tay đang run rẩy của Christine và thì thầm:
“Thưa tiểu thư, tôi sẽ không bao giờ quên cô!”
Và chàng quay bước đi trong sự hối hận vì thốt ra những lời ấy, bởi chàng thừa biết Christine không bao giờ có thể trở thành vợ của Tử tước de Chagny.
Về phần Christine, cô cố gắng gạt bỏ bóng hình chàng ra khỏi tâm trí và dốc toàn tâm toàn ý cho nghệ thuật. Cô tiến bộ vượt bậc và những ai từng nghe cô cất tiếng đều tiên đoán rằng cô sẽ trở thành nữ ca sĩ vĩ đại nhất thế gian. Giữa lúc ấy, người cha qua đời; và đột nhiên, cô dường như đánh mất cả giọng hát, cả tâm hồn lẫn thiên bẩm theo người. Cô chỉ còn giữ lại vừa đúng – vâng, vừa đúng – chút ít khả năng để bước chân vào NHẠC VIỆN, nơi cô chẳng hề tạo được dấu ấn gì nổi bật, lững thững đến lớp chẳng chút hăng hái và chỉ chịu giành lấy một giải thưởng cốt để làm vui lòng Mẹ Valerius già nua, người mà cô vẫn tiếp tục chung sống.
Lần đầu tiên Raoul nhìn thấy Christine tại Nhà hát Lớn, chàng bị mê hoặc bởi vẻ đẹp kiều diễm của thiếu nữ cùng những hoài niệm ngọt ngào của quá khứ mà nó gợi lại, nhưng lại không khỏi bàng hoàng trước sự nhạt nhòa trong kỹ thuật biểu diễn của cô. Chàng quay lại để lắng nghe cô. Chàng lẽo đẽo theo cô vào tận hậu trường. Chàng chầu chực phía sau chiếc thang Jacob. Chàng tìm cách thu hút sự chú ý của cô. Hơn một lần, chàng bám theo cô đến tận cửa lô ghế, nhưng cô chẳng mảy quan tâm. Hơn nữa, cô dường như chẳng thèm nhìn ngó ai. Tất cả chỉ là sự lạnh nhạt dửng dưng. Raoul đau đớn, bởi cô quá đỗi kiều diễm trong khi chàng lại rụt rè chẳng dám thú nhận tình yêu, ngay cả với chính bản thân mình. Và rồi tia chớp của đêm dạ tiệc bỗng giáng xuống: bầu trời xé toạc và giọng ca thiên sứ vang lên chốn trần gian mang lại niềm hoan hỉ cho nhân loại cùng sự chiếm hữu trọn vẹn trái tim chàng.
Và rồi… và rồi chính là giọng nói của gã đàn ông đó vang lên sau cánh cửa – “Em phải yêu anh!” – mà trong phòng chẳng hề có bóng người…
Tại sao cô lại bật cười khi chàng nhắc lại sự cố chiếc khăn choàng? Tại sao cô không nhận ra chàng? Và tại sao cô lại viết thư cho chàng?…
Cuối cùng thì Perros cũng hiện ra trước mắt. Raoul bước vào căn phòng khách khói thuốc ngập tràn của quán Hoàng Hôn Tịch và lập tức nhìn thấy Christine đang đứng trước mặt, mỉm cười chẳng mảy ngạc nhiên.
“Thế là anh đã đến,” cô cất lời. “Em linh cảm mình sẽ tìm thấy anh ở đây, ngay khi em vừa đi lễ nhà thờ về. Có ai đó đã mách với em điều ấy.”
“Ai cơ?” Raoul hỏi, khẽ nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của cô.
“Thì là người cha khốn khổ đã khuất bóng của em chứ ai.”
Một khoảng lặng trùm xuống; rồi Raoul gặng hỏi:
“Cha em có nói với em rằng anh yêu em, Christine, và anh không thể sống thiếu em không?”
Christine đỏ bừng mặt tít tận mang tai rồi quay phắt đi. Bằng giọng run rẩy, cô đáp:
“Em á? Bạn tôi ơi, chắc anh đang mơ ngủ rồi!”
Và cô bật cười phá lên để che đậy sự bối rối.
“Đừng cười nữa, Christine; anh hoàn toàn nghiêm túc đấy,” Raoul đáp lời.
Và cô nghiêm nghị đáp lại: “Tôi đâu có kêu anh đến để nghe những điều nhảm nhí thế này.”
“Chính em đã ‘kêu anh đến’, Christine; em thừa biết bức thư của mình sẽ chẳng khiến anh phật lòng và anh sẽ tức tốc phóng đến Perros. Sao em có thể nghĩ khác đi được, nếu không tin rằng anh yêu em?”
“Em tưởng anh sẽ nhớ lại những trò chơi thuở nhỏ của chúng ta ở đây, nơi cha em từng tham gia biết bao lần. Thật sự em cũng chẳng biết mình đã nghĩ gì nữa… Có lẽ em đã sai khi viết thư cho anh… Ngày giỗ này cùng sự xuất hiện bất thình lình của anh trong phòng thay đồ ở Nhà hát Lớn tối hôm nọ đã gợi lại trong em khoảng thời gian xa xôi ấy và khiến em viết thư cho anh hệt như một đứa trẻ thơ thuở nào…”
Có điều gì đó trong thái độ của Christine khiến Raoul cảm thấy không tự nhiên chút nào. Chàng không hề cảm nhận được sự thù địch nào từ cô; trái lại hoàn toàn: thứ tình cảm đau khổ ánh lên trong đôi mắt cô đã tố cáo điều đó. Nhưng tại sao thứ tình cảm ấy lại mang nỗi niềm đớn đau? Đó mới là điều chàng muốn tường tận và cũng là thứ đang gặm nhấm tâm can chàng.
“Khi nhìn thấy anh trong phòng thay đồ, đó có phải là lần đầu tiên em nhận ra anh không, Christine?”
Cô không sao mở miệng dối gian nổi.
“Không,” cô đáp, “em đã nhìn thấy anh vài lần trong lô ghế của anh trai anh. Và cả trên sân khấu nữa.”
“Anh biết ngay mà!” Raoul nói, mím chặt đôi môi. “Nhưng thế thì tại sao, khi nhìn thấy anh trong phòng của em, quỳ dưới chân em, nhắc cho em nhớ rằng anh đã vớt chiếc khăn choàng của em lên từ biển thẳm, tại sao em lại đáp lời như thể chẳng hề quen biết anh và còn bật cười nữa?”
Giọng điệu của những câu hỏi ấy quá đỗi gai góc khiến Christine trừng mắt nhìn Raoul không chớp mắt. Bản thân chàng thanh niên cũng bàng hoàng trước trận cuồng phong giận dữ mà chính chàng cả gan khơi mào đúng vào khoảnh khắc định nói những lời dịu ngọt, yêu thương và phục tùng với Christine. Một người chồng, một kẻ tình nhân với đầy rẫy quyền hạn cũng chẳng thể buông lời cay đắng hơn với người vợ hay người tình đã đắc tội với mình. Nhưng chàng đã lỡ phóng lao và chẳng còn lối thoát nào khác cho vị thế lố bịch của mình ngoài việc cư xử thật trơ trẽn.
“Cô không trả lời sao!” chàng gằn giọng trong cơn phẫn uất và đau đớn. “Được rồi, tôi sẽ thay cô trả lời. Đó là bởi vì trong phòng lúc ấy có mặt một kẻ đang vướng víu đường đi của cô, Christine, một kẻ mà cô không muốn cho hắn biết rằng cô có thể bận tâm đến bất kỳ ai khác!”
“Nếu có kẻ nào vướng víu đường đi của tôi, bạn tôi ơi,” Christine lạnh lùng cắt ngang, “nếu có kẻ nào vướng víu đường đi của tôi tối hôm đó, thì đó chính là anh, bởi vì tôi đã bảo anh cút khỏi căn phòng rồi cơ mà!”
“Đúng vậy, để cô có thể ở lại hú hò với thằng khác!”
“Anh đang nói quàng xiên gì thế hả, thưa ngài?” cô gái kích động hỏi. “Và ngài đang ám chỉ gã nào cơ chứ?”
“Là cái gã mà cô đã thốt lên rằng: ‘Em chỉ hát cho riêng mình anh!... đêm nay em đã dâng hiến cả tâm hồn cho anh và em nguyện chết!’”
Christine chộp lấy cánh tay Raoul và bấu chặt với một sức mạnh mà chẳng ai có thể ngờ lại xuất hiện ở một sinh linh mỏng manh đến thế.
“Thế ra anh đã đứng rình mò sau cánh cửa à?”
“Phải, bởi vì anh yêu em… mọi thứ… Và anh đã nghe được tường tận…”
“Anh nghe thấy gì chứ?”
Và thiếu nữ chợt trở nên bình tĩnh đến lạ lùng, buông thõng cánh tay Raoul xuống.
“Hắn ta đã nói với em rằng: ‘Christine, em phải yêu anh!’”
Nghe đến đây, một sắc thái tái mét như người chết lan tràn trên khuôn mặt Christine, những vành quầng thâm kịt hiện lên quanh đôi mắt, cô lảo đảo ngã khuỵu và tưởng chừng sắp ngất lịm. Raoul lao về phía trước, dang rộng vòng tay, nhưng Christine đã vượt qua cơn choáng váng thoáng qua và thì thầm bằng một giọng khàn khàn:
“Nói nữa đi! Nói tiếp đi! Kể cho tôi nghe tất cả những gì anh đã nghe được đi!”
Hoàn toàn mù tịt chẳng hiểu gì sất, Raoul đáp: “Anh nghe thấy hắn đáp lại, khi em bảo rằng đã dâng hiến tâm hồn cho hắn rằng: ‘Tâm hồn em là một báu vật tuyệt mỹ, cô bé ạ, và anh xin tạ ơn em. Chẳng vị hoàng đế nào từng nhận được món phẩm vật nào cao quý nhường ấy. Đêm nay các thiên thần đã khóc.’”
Christine đưa tay ôm ngực, chìm đập trong một thứ cảm xúc không tài nào tả xiết. Đôi mắt cô trân trân nhìn thẳng phía trước hệt như một kẻ điên. Raoul chết khiếp. Nhưng rồi đôi mắt Christine bỗng rưng rưng và hai giọt nước mắt lớn trượt dài như hai viên ngọc trai trên gò má ngà ngọc.
“Christine!”
“Raoul!”
Chàng thanh niên toan ôm chầm lấy cô, nhưng nàng nhanh nhẹn né tránh rồi hoảng hốt bỏ chạy thục mạng.
Trong lúc Christine tự nhốt mình trong phòng, Raoul như ngồi trên đống lửa chẳng biết phải làm sao. Chàng từ chối bữa điểm tâm. Chàng vô cùng lo lắng và đau đớn đến xé lòng khi chứng kiến những giờ phút mà mình từng kỳ vọng sẽ vô cùng ngọt ngào cứ thế trôi tuột qua trong sự vắng bóng của thiếu nữ người Thụy Điển. Tại sao cô không chịu cùng chàng lang thang khắp chốn thôn quê nơi họ có biết bao ký ức chung? Chàng nghe nói cô vừa cho người làm lễ cầu hồn cho người cha quá cố vào sáng nay, và đã dành cả buổi để cầu nguyện trong ngôi giáo đường nhỏ cùng phần mộ của lão nhạc công. Thế rồi, một khi dường như chẳng còn việc gì để làm ở Perros nữa – và quả thật, cô cũng chẳng làm gì ở đó cả – tại sao cô không tức tốc quay về Paris ngay cơ chứ?
Raoul lủi thủi bước đi trong tâm trạng ủ rũ đến nghĩa trang nơi ngôi giáo đường tọa lạc và quả nhiên đứng trơ trọi giữa những nấm mồ, đọc lướt qua những văn khắc; nhưng khi vòng ra phía sau hậu tòng, chàng chợt sững sờ trước sắc đỏ chói lọi của những khóm hoa mọc hoang dại trên nền đất trắng. Đó là những đóa hồng đỏ rực kỳ diệu nở rộ trong làn sương sớm giá buốt, hé lộ chút hơi thở sự sống giữa cõi chết, bởi xung quanh chàng bủa vây toàn tử khí. Nơi này cũng thế, hệt như những đóa hoa, vươn lên từ lòng đất, thứ đã hất ngược trở lại hàng loạt tử thi. Hàng trăm bộ xương cùng hộp sọ chất đống sát vách tường nhà thờ, được cố định bằng một sợi dây kẽm phơi bày trọn vẹn cái cảnh tượng rợn người ấy. Xương cốt của người chết được xếp thành từng hàng hệt như những viên gạch, tạo thành lớp nền móng đầu tiên để người ta xây dựng bức tường phòng thánh. Cánh cửa phòng thánh mở toang ngay giữa cấu trúc bộ xương ấy, một cảnh tượng thường thấy ở những ngôi giáo đường cổ xứ Bretagne.
Raoul thì thầm một lời nguyện cầu cho Daaé, rồi với nỗi ám ảnh nặng nề đè nặng trước những nụ cười vĩnh cửu trên hàm răng của những chiếc hộp sọ, chàng leo lên triền dốc và ngồi phịch xuống rìa bãi hoang nhìn ra hướng biển. Gió lặng dần khi màn đêm buông xuống. Raoul bị bao trùm trong bóng tối giá lạnh, nhưng chàng chẳng mảy may cảm thấy buốt buốt. Chàng chợt nhớ ra, chính nơi này là chốn chàng từng cùng bé Christine đến để ngắm lũ Korrigans nhảy múa khi vầng trăng nhô lên. Chàng chưa từng nhìn thấy bóng dáng chúng bao giờ dẫu đôi mắt rất tinh tường, trong khi Christine, người vốn bị cận thị nhẹ, lại khăng khăng rằng mình đã tận mắt chứng kiến rất nhiều lần. Chàng mảy mai mỉm cười trước ý nghĩ ấy rồi giật nảy mình. Một giọng nói vang lên ngay sau lưng chàng:
“Anh nghĩ tối nay lũ Korrigans có đến không?”
Là Christine. Chàng toan cất lời. Nàng liền đặt bàn tay đeo găng lên miệng chàng.
“Lắng nghe này, Raoul. Em đã quyết định kể cho anh nghe một chuyện hệ trọng, vô cùng hệ trọng… Anh có còn nhớ truyền thuyết về Thiên thần Âm nhạc không?”
“Anh nhớ chứ,” chàng đáp. “Anh tin rằng chính nơi đây là chốn cha em từng kể nó cho chúng ta nghe lần đầu tiên.”
“Và cũng chính nơi đây là chốn người từng bảo rằng: ‘Khi ta về đến Thiên đàng, con gái ạ, ta sẽ phái ngài đến bên con.’ Phải, Raoul, cha em đang ở trên Thiên đàng, và em đã được Thiên thần Âm nhạc ghé thăm.”
“Anh không mảy may nghi ngờ điều đó,” chàng thanh niên nghiêm nghị đáp, bởi chàng ngỡ rằng người bạn của mình đang dùng một tâm tưởng sùng đạo để liên kết ký ức về người cha với ánh hào quang của chiến thắng huy hoàng vừa qua.
Christine tỏ ra ngạc nhiên trước vẻ điềm tĩnh của vị Tử tước de Chagny:
“Ý anh thế nào?” cô hỏi, áp khuôn mặt tái nhợt sát vào mặt chàng đến mức suýt chút nữa Raoul đã tưởng Christine định trao cho mình một nụ hôn; nhưng nàng chỉ muốn nhìn thấu đôi mắt chàng bất chấp màn đêm quánh đặc.
“Anh hiểu rằng,” chàng đáp, “không một phàm nhân nào có thể cất tiếng hát như em tối hôm nọ nếu thiếu đi sự can thiệp của phép màu. Chẳng có vị giáo sư nào trên trái đất này dạy nổi em những âm điệu nhường ấy. Em đã được nghe Thiên thần Âm nhạc cất giọng, Christine ạ.”
“Đúng vậy,” cô long trọng tuyên bố, “NGAY TRONG PHÒNG THAY ĐỒ CỦA EM. Đó là nơi ngài đến để truyền dạy cho em những bài học mỗi ngày.”
“Trong phòng thay đồ của em á?” chàng ngây ngốc lặp lại.
“Vâng, đó là nơi em được lắng nghe ngài; và em không phải là kẻ duy nhất được nghe ngài đâu.”
“Còn ai nghe thấy ngài nữa, hả Christine?”
“Là anh, bạn tôi ạ.”
“Anh? Anh từng nghe thấy Thiên thần Âm nhạc ư?”
“Phải, tối hôm nọ, chính ngài là người đang cất lời trong lúc anh đứng rình mò sau cánh cửa. Chính ngài đã thốt lên rằng: ‘Em phải yêu anh.’ Nhưng lúc đó em cứ ngỡ chỉ có mình mình nghe được giọng ngài. Thử tưởng tượng xem em kinh ngạc nhường nào khi sáng nay anh bảo rằng chính anh cũng nghe thấy ngài.”
Raoul bật cười phá lên. Những tia trăng đầu tiên chiếu rọi xuống, bao bọc lấy đôi trẻ trong làn ánh sáng vằng vặc. Christine quay phắt sang Raoul với vẻ mặt thù địch. Đôi mắt vốn dĩ vô cùng dịu dàng của cô giờ đây lóe lên những tia lửa giận.
“Anh đang cười cái quái gì thế? Chắc anh nghĩ mình vừa nghe thấy giọng của một gã đàn ông chứ gì?”
“Thì!..” chàng thanh niên đáp lời, tâm trí bắt đầu trở nên rối bời trước thái độ kiên quyết của Christine.
“Chính anh, Raoul, lại thốt ra những lời đó ư? Anh, một người bạn thuở nhỏ của em! Một người bạn của cha em! Vậy mà anh đã thay đổi quá nhiều kể từ những ngày tháng đó. Anh đang nghĩ quái gì trong đầu thế hả? Tôi là một cô gái đoan chính, thưa ngài Tử tước de Chagny, và tôi chẳng bao giờ khóc lóc nhốt mình trong phòng thay đồ với lũ đàn ông cả. Nếu anh chịu mở hé cánh cửa, anh sẽ thấy chẳng có một bóng người nào trong phòng sất!”
“Đúng thế thật! Anh đã mở cửa đấy chứ, khi em vừa rời đi, và anh chẳng thấy ma nào trong phòng cả.”
“Thế thì anh thấy chưa!… Nào?”
Vị tử tước gom hết can đảm.
“Được rồi, Christine, anh nghĩ rằng có ai đó đang đùa cợt trên sự nhẹ dạ của em.”
Cô thét lên một tiếng rồi cắm cổ chạy vụt đi. Chàng liền bám theo sau, nhưng từ xa vọng lại tiếng nàng gầm lên với nỗi căm phẫn tột độ: “Cút đi! Đừng theo tôi nữa!” Rồi nàng biến mất tăm.
Raoul quay trở lại quán trọ trong tâm trạng rã rời, chán nản và não nề tột độ. Người ta bảoChristine đã về phòng riêng và tuyên bố sẽ không xuống ăn tối. Raoul lủi thủi dùng bữa một mình trong bầu không khí ảm đạm. Sau đó, chàng về phòng trọ toan đọc sách, rồi lại lên giường định bụng chợp mắt. Căn phòng sát vách hoàn toàn tĩnh lặng.
Thời gian chậm chạp trôi. Đâu đó khoảng mười một giờ rưỡi, chàng nghe rõ mồn một tiếng có ai đó đang di chuyển với những bước chân nhẹ tênh, lén lút ở căn phòng bên cạnh. Hóa ra Christine vẫn chưa đi ngủ! Chẳng mảy may bận tâm tìm lý do, Raoul thay quần áo, cẩn trọng không để phát ra một tiếng động rồi kiên nhẫn chờ đợi. Chờ đợi cái gì chứ? Chàng sao mà biết được? Nhưng lồng ngực chàng cứ đập thình thịch khi nghe tiếng bản lề cửa phòng Christine cọt kẹt xoay chậm rãi. Đêm hôm khuya khoắt này, khi tất cả mọi người ở Perros đã chìm vào giấc ngủ say, nàng có thể đi đâu được cơ chứ? Khẽ đẩy hé cánh cửa, chàng nhìn thấy bóng dáng trắng muốt của Christine dưới ánh trăng đang uyển chuyển trượt đi dọc hành lang. Nàng bước xuống cầu thang và chàng rướn người qua thanh chắn lan can phía trên. Bất chợt chàng nghe thấy hai giọng nói đang dồn dập trò chuyện. Chàng bắt trọn một câu: “Đừng làm mất chìa khóa nhé.”
Đó là giọng của bà chủ quán trọ. Cánh cửa hướng ra biển bật mở rồi lại khóa sập lại. Kế đó mọi thứ chìm vào tĩnh mịch.
Raoul ba chân bốn cẳng chạy về phòng mình rồi hất tung cửa sổ. Bóng trắng của Christine đang đứng bơ vơ trên bến tàu vắng ngắt.
Tầng một của quán Hoàng Hôn Tịch vốn chẳng cao là bao và cái cây mọc sát vách tường đã chìa những cành lá ra đón lấy đôi tay đang nôn nóng của Raoul, giúp chàng trèo xuống mà không để bà chủ quán hay biết. Thế nên sự kinh ngạc của bà ta lại càng nhân lên gấp bội khi vào sáng hôm sau, chàng thanh niên được khiêng về trong tình trạng lạnh cóng nửa sống nửa chết, và khi hay tin người ta tìm thấy chàng nằm sóng xoài trước những bậc thềm của bàn thờ lớn trong ngôi giáo đường nhỏ. Bà ta vội vã chạy đi báo cho Christine, người tức tốc lao xuống và cùng sự hỗ trợ của bà chủ quán, dốc toàn lực để cứu sống chàng. Chàng nhanh chóng mở hé đôi mắt và chẳng mất nhiều thời gian để hồi phục khi trông thấy khuôn mặt kiều diễm của người bạn đang cúi rạp trên người mình.
Vài tuần sau đó, khi thảm kịch tại Nhà hát Lớn buộc cơ quan công tố phải nhúng tay vào, ngài Mifroid, viên cảnh sát trưởng, đã tiến vấn Tử tước de Chagny về những sự kiện diễn ra trong đêm định mệnh ở Perros. Tôi xin trích dẫn lại các câu hỏi và đáp án y nguyên theo bản báo cáo chính thức từ trang 150 trở đi:
H. “Tiểu thư Daaé đã không nhìn thấy anh bước xuống từ phòng mình theo cái con đường kỳ quặc mà anh lựa chọn sao?”
Đ. “Không ạ, thưa ngài, không hề, dẫu cho lúc lê bước theo sau nàng, tôi chẳng thèm bận tâm đến việc nén tiếng bước chân của mình. Thậm chí, tôi còn khát khao nàng quay đầu lại để nhìn thấy tôi. Tôi nhận ra mình chẳng có chút lý cớ gì để bám theo nàng và cái trò rình rập ấy hoàn toàn không xứng mặt nam nhi. Nhưng nàng có vẻ điếc đặc trước tiếng động và hành xử hệt như thể tôi hoàn toàn không tồn tại trên đời. Nàng bình thản rời khỏi bến tàu rồi đột ngột rảo bước thật nhanh lên dốc. Chiếc đồng hồ nhà thờ vừa điểm mười một giờ kém mười lăm và tôi đinh ninh điều đó đã khiến nàng phải cuống cuồng, bởi nàng bắt đầu cắm cổ chạy và duy trì tốc độ đó cho đến tận khi đặt chân tới nhà thờ.”
H. “Cổng nhà thờ có mở không?”
Đ. “Thưa ngài, có ạ, điều này khiến tôi bất ngờ, nhưng lại chẳng mảy may làm tiểu thư Daaé ngạc nhiên chút nào.”
H. “Trong nghĩa trang không có bóng người nào khác sao?”
Đ. “Tôi không trông thấy ai cả; và giả sử có đi chăng nữa, chắc chắn tôi đã phải nhìn thấy hắn. Ánh trăng chiếu rọi lên lớp tuyết khiến đêm sáng trưng như ban ngày.”
H. “Liệu có chỗ nào để ai đó ẩn nấp sau những tấm bia mộ không?”
Đ. “Không đâu, thưa ngài. Chúng đều là những cây bia mộ nhỏ bé, nghèo nàn, lấp ló một phần dưới lớp tuyết dày, với những thánh giá nhô sát mặt đất. Thứ duy nhất tạo nên bóng râm chính là hình bóng của những cây thánh giá và của chính chúng tôi. Ngôi giáo đường hiện lên vô cùng sáng sủa. Chưa bao giờ tôi chứng kiến một đêm nào quang đãng đến thế. Trời rất quang và rất lạnh, cho phép ta nhìn thấu mọi thứ.”
H. “Anh có chút máu mê tín nào trong người không?”
Đ. “Thưa ngài, không ạ, tôi là một tín đồ Công giáo thuần thành.”
H. “Trạng thái tâm lý của anh lúc bấy giờ ra sao?”
Đ. “Hoàn toàn bình ổn và thư thái, tôi xin đảm bảo với ngài như vậy. Hành tung kỳ lạ của tiểu thư Daaé khi lẻn ra ngoài vào giờ đó thoạt đầu khiến tôi lo lắng; nhưng ngay khi thấy nàng tiến vào nghĩa trang, tôi liền đinh ninh nàng đến để làm tròn một đạo hiếu bên mộ phần của cha mình và tôi thấy điều đó quá đỗi tự nhiên đến mức tâm trí tôi lập tức lấy lại sự tĩnh lặng. Tôi chỉ ngạc nhiên vì nàng không nghe thấy tiếng bước chân rầm rập của tôi bám theo sau, bởi chúng vang lên bôm bố trên lớp tuyết đông cứng. Nhưng có lẽ nàng đã quá đỗi tâm tư với mục đích của mình và tôi tự nhủ sẽ không quấy rầy nàng. Nàng quỳ xuống trước nấm mồ của cha, làm dấu thánh và bắt đầu cầu nguyện. Đúng khoảnh khắc đó, đồng hồ điểm đúng nửa đêm. Vừa dứt tiếng chuông cuối cùng, tôi nhìn thấy tiểu thư Daaé ngẩng phắt đôi mắt lên bầu trời và dang rộng vòng tay hệt như đang trong cơn ngất ngây xuất thần. Tôi đang thắc mắc lý do vì sao, thì chính bản thân tôi cũng ngẩng đầu lên và mọi thứ bên trong tôi dường như bị thu hút hướng về phía cõi vô hình, NƠI ĐANG TẤU LÊN BẢN HÒA ÂM TUYỆT HẢO NHẤT! Cả Christine lẫn tôi đều thuộc làu giai điệu ấy; chúng tôi từng được lắng nghe từ thưa thuở bé. Nhưng nó chưa từng được tấu lên với một nghệ thuật thần thánh nhường ấy, kể cả dưới đôi tay của chính ngài Daaé. Tôi sực nhớ lại tất cả những gì Christine từng kể về Thiên thần Âm nhạc. Khúc ca ấy chính là Sự Phục Sinh của Lazarus, thứ âm điệu mà lão nhạc công Daaé từng tấu cho chúng tôi nghe vào những quãng thời gian u sầu và sùng đạo. Giả sử Thiên thần của Christine thực sự tồn tại, ngài cũng chẳng thể tấu lên những phím đàn hoàn hảo hơn thế vào đêm hôm ấy trên cây vĩ cầm của người nghệ sĩ quá cố. Khi âm nhạc vụt tắt, tôi dường như nghe thấy những âm thanh phát ra từ đống hộp sọ trong bãi cốt; chúng khậc khở hệt như đang cười khúc khích và tôi không sao kìm được một trận rùng mình.”
H. “Anh chưa từng nghĩ rằng tay nhạc công có thể đang ẩn nấp ngay sau đống xương khô đó sao?”
Đ. “Đó chính là ý nghĩ duy nhất xẹt qua đầu tôi, thưa ngài, đến nỗi tôi đã lơ đễnh không bám theo tiểu thư Daaé khi nàng đứng lên và chậm rãi bước về phía cổng. Lúc bấy giờ nàng đang hoàn toàn chìm đắm trong thế giới riêng nên tôi chẳng lấy làm lạ khi nàng không trông thấy tôi.”
H. “Vậy chuyện gì đã xảy ra để rồi người ta tìm thấy anh nằm nửa sống nửa chết ngay bậc thềm bàn thờ lớn vào buổi sáng hôm sau?”
Đ. “Đầu tiên một chiếc hộp sọ lăn lóc dưới chân tôi… rồi đến chiếc thứ hai… rồi chiếc thứ ba… Hệt như thể tôi đang đóng vai bia đỡ cho trò chơi ném bóng quái gở ấy. Và tôi phỏng đoán rằng chính bước chân lỡ nhịp nào đó đã làm chao đảo cấu trúc kiên cố phía sau mà tay nhạc công của chúng ta đang ẩn nấp. Phỏng đoán này dường như được củng cố khi tôi thấy một cái bóng bất chợt lướt vèo dọc theo bức tường phòng thánh. Tôi lao vụt tới. Cái bóng đó đã đẩy tung cánh cửa và lao thẳng vào trong nhà thờ. Nhưng tôi nhanh chân hơn cái bóng và kịp tóm lấy một góc áo choàng của nó. Ngay khoảnh khắc đó, chúng tôi đang đứng ngay trước bàn thờ lớn; và những tia trăng rọi thẳng qua các ô cửa kính màu của hậu tòng. Vì tôi cứ cắm cổ bám chặt lấy tấm áo choàng, cái bóng liền quay phắt lại; và tôi chạm trán một cái đầu lâu gớm ghiếc, phóng thẳng vào tôi ánh nhìn từ đôi tròng mắt bỏng rát. Tôi có cảm giác như mình đang giáp mặt với quỷ Satan; và trước hiện thân quái đản phi nhân tính ấy, tim tôi như vỡ vụn, dũng khí cạn kiệt… và tôi chẳng còn nhớ bất cứ thứ gì nữa cho đến khi tỉnh lại ở quán Hoàng Hôn Tịch.”