Đó là lần đầu tiên tôi bước vào ngôi nhà bên hồ. Tôi từng nhiều lần nài nỉ "tên lưu manh cửa sập" — cách chúng tôi hay gọi Erik ở quê nhà — hãy mở những cánh cửa đầy bí ẩn ấy cho tôi vào. Lần nào hắn cũng từ chối. Tôi đã tìm mọi cách để vào bên trong nhưng đều công cốc. Dù có canh chừng hắn cách mấy, kể từ khi tôi phát hiện ra hắn đã dọn đến định cư vĩnh viễn tại Nhà hát Lái-xê, bóng tối vẫn luôn dày đặc đến mức tôi chẳng thể tài nào nhìn thấy hắn thao tác ra sao với cánh cửa nằm sát vách tường hồ. Một hôm, tưởng chỉ có một mình, tôi bước xuống chiếc thuyền nhỏ và chèo về phía đoạn tường mà tôi từng thấy Erik biến mất. Chính khoảnh khắc đó, tôi đã chạm trán mụ "nữ yêu tinh" canh gác lối vào, thứ bùa mê của ả suýt chút nữa đã đoạt mạng tôi.
Tôi vừa rời khỏi bờ thì sự tĩnh lặng đang bao bọc lấy mặt nước bỗng bị phá vỡ bởi một thứ âm thanh như tiếng thì thầm hát vang lên khắp chốn xung quanh. Đó là nửa hơi thở, nửa tiếng nhạc; nó cất lên dịu dàng từ làn nước hồ; và tôi bị nó vây kín bởi một thứ mưu mẹo nào đó mà tôi chịu không tài nào hiểu nổi. Nó bám theo tôi, di chuyển cùng tôi và êm ái đến mức chẳng hề làm tôi hoảng sợ. Ngược lại, vì quá khao khát muốn tìm ra cội nguồn của giai điệu ngọt ngào và quyến rũ ấy, tôi nhoài người khỏi chiếc thuyền nhỏ hướng ra mặt nước, bởi trong thâm tâm tôi chắc mẩm rằng tiếng hát ấy phát ra từ chính làn nước. Lúc này, tôi đang lênh đênh một mình giữa lòng hồ; giọng hát — vì giờ đây nó đã là một giọng nói rõ mồn một — đang ở ngay bên cạnh tôi, trên mặt nước. Tôi nhoài người sang, nhoài người ra xa hơn nữa. Mặt hồ phẳng lặng như tờ, và một tia trăng lọt qua lỗ thông gió trên phố Scribe không cho tôi thấy bất cứ thứ gì trên bề mặt tối thui, láng bóng như mực của nó. Tôi lắc lắc đầu để xua đi tiếng vo ve vẩn vơ trong tai; nhưng chẳng mấy chốc tôi phải thừa nhận rằng chẳng có tiếng vo ve nào trong tai lại du dương đến thế, vượt trội hơn cả tiếng thì thầm ca hát đang bám theo và giờ đây đang cuốn hút lấy tôi.
Nếu là kẻ mê tín dị đoan, chắc chắn tôi đã nghĩ rằng mình đang phải đối đầu với một mụ yêu tinh chuyên đi đánh lừa những lữ khách dám bén mảng đến vùng nước của ngôi nhà bên hồ. May thay, tôi xuất thân từ một xứ sở nơi người ta quá đỗi say mê những chuyện kỳ ảo nên hiểu rõ chúng tường tận đến chân tơ kẽ tóc; và tôi chắc chắn rằng mình đang đối mặt với một phát minh mới toanh nào đó của Erik. Nhưng phát minh này quá đỗi hoàn hảo đến nỗi khi nhoài người khỏi mạn thuyền, tôi bị thôi thúc ít là bởi ý muốn khám phá ngóc ngách của nó, mà nhiều hơn là để tận hưởng sự mê hoặc mà nó mang lại; và tôi cứ nhoài người, nhoài người mãi cho đến khi suýt lật úp cả chiếc thuyền.
Bỗng nhiên, hai cánh tay khổng lồ từ đáy nước vươn lên túm lấy cổ tôi, kéo thốc tôi xuống vực sâu với một lực cưỡng lại không nổi. Chắc chắn tôi đã bỏ mạng nếu không kịp cất lên tiếng kêu để Erik nhận ra mình. Bởi đó chính là hắn; và thay vì dìm chết tôi như dự tính ban đầu, hắn bơi kèm lấy tôi rồi nhẹ nhàng đặt tôi lên bờ:
— Sao anh liều mạng thế nhỉ? — hắn đứng trước mặt tôi, nước ròng ròng trên người, cất lời. — Sao cứ cố xông vào nhà tôi? Tôi có mời anh bao giờ đâu! Tôi chẳng muốn có anh ở đó, hay bất kỳ ai khác! Anh cứu mạng tôi chỉ để biến nó thành thứ không thể chịu đựng nổi đối với tôi sao? Dù ơn nghĩa anh dành cho hắn có lớn đến đâu, Erik rồi cũng có ngày quên mất; và anh biết đấy, chẳng gì kìm hãm nổi Erik, ngay cả bản thân Erik.
Hắn nói vậy, nhưng lúc này tôi chẳng tha thiết gì hơn ngoài việc muốn tường tận thứ mà tôi vừa gọi là mánh khóe của mụ yêu tinh. Hắn đã thỏa mãn sự tò mò của tôi, bởi Erik — một con quái vật thực thụ, chà, tôi từng chứng kiến hắn ra tay ở Ba Tư — đồng thời cũng là một đứa trẻ to xác ở một khía cạnh nào đó, vừa hão huyền lại vừa tự phụ, và chẳng có gì hắn thích thú hơn việc chứng minh cho thiên hạ thấy sự khéo léo kỳ diệu đến khó tin trong trí óc mình sau khi đã làm họ trố mắt ngạc nhiên.
Hắn cười vang và chìa ra một ống sậy dài.
— Đó là mánh ngớ ngẩn nhất mà anh từng thấy, — hắn nói, — nhưng nó cực kỳ hữu dụng để thở và cất giọng dưới nước. Tôi học được nó từ đám hải tặc Tông-kin, những kẻ có thể ẩn nấp hàng giờ dưới lòng sông.[1]
Tôi nghiêm giọng quở trách hắn.
— Mánh đó suýt tước đoạt mạng sống của tôi đấy! — tôi nói. — Và nó hoàn toàn có thể gây tử vong cho người khác! Anh nhớ mình đã hứa gì với tôi không, Erik? Không còn những vụ mưu sát nào nữa!
— Tôi thực sự đã phạm tội mưu sát ư? — hắn hỏi, trưng ra bộ dạng dễ mến nhất có thể.
— Đồ khốn nạn! — tôi thét lên. — Anh quên những giờ phút hồng tươi ở Ma-zen-đan rồi sao?
— Đúng thế, — hắn đáp với giọng trầm buồn hơn, — tôi thà quên chúng đi thì hơn. Dù sao thì tôi cũng từng làm cho nàng tiểu Xua-ta-na bật cười mà!
— Quá khứ ấy đã qua rồi, — tôi tuyên bố; — nhưng còn hiện tại... và anh phải chịu trách nhiệm với tôi về hiện tại, bởi nếu tôi muốn, anh đã chẳng thể tồn tại đến giờ phút này. Hãy nhớ lấy điều đó, Erik: chính tôi đã cứu mạng anh!
Và tôi chớp lấy thời cơ chuyển hướng câu chuyện để nói về điều đã nung nấu trong lòng bấy lâu:
— Erik, — tôi hỏi, — Erik, hãy thề đi rằng...
— Gì cơ? — hắn đáp trả. — Anh biết thừa tôi có bao giờ giữ lời thề đâu. Lời thề sinh ra là để lừa phỉnh bọn ngốc.
— Nói cho tôi... dù sao thì anh cũng có thể nói cho tôi biết...
— Gì nào?
— Chà, cái chùm đèn... chiếc chùm đèn thì sao, hở Erik?...
— Chùm đèn thì sao chứ?
— Anh thừa biết tôi ám chỉ điều gì mà.
— Ồ, — hắn cười khúc khích, — tôi chẳng ngại kể cho anh nghe về cái chùm đèn đâu!... ĐÂU PHẢI TÔI!... Chiếc chùm đèn ấy đã quá cổ và mục nát rồi.
Khi Erik cười, trông hắn còn đáng sợ hơn bao giờ hết. Hắn nhảy cẫng lên thuyền, cười khì khì một cách rùng rợn đến mức tôi không tài nào ngừng run rẩy.
— Quá cổ và mục nát rồi, ngài đa-rô-ga thân mến của tôi ơi![2] Quá cổ và mục nát rồi, chiếc chùm đèn ấy!... Nó tự rơi xuống đấy chứ!... Nó rớt cái oạch xuống!... Và giờ thì, hỡi đa-rô-ga, hãy nghe lời khuyên của tôi mà lên bờ lau khô người đi, kẻo anh lại bị cảm lạnh bây giờ!... Và đừng bao giờ bén mảng lên thuyền của tôi nữa... Dù có làm gì đi nữa, cũng đừng hòng đột nhập vào nhà tôi: tôi đâu phải lúc nào cũng có mặt ở nhà... hỡi đa-rô-ga! Và tôi sẽ rất tiếc nếu phải dành tặng bản Lễ Cầu Hồn của mình cho anh đấy!
Nói đoạn, hắn ngoằn ngoèo lắc lư như một con khỉ, miệng vẫn cười khúc khích, rồi đẩy thuyền ra xa và nhanh chóng biến mất vào màn đêm u tịch của mặt hồ.
Kể từ ngày hôm đó, tôi từ bỏ mọi ý định đột nhập vào ngôi nhà bên hồ của hắn. Lối vào ấy rõ ràng được canh phòng quá cẩn mật, nhất là khi hắn đã biết việc tôi tường tận về nó. Nhưng tôi linh cảm phải có một lối vào khác, bởi tôi từng nhiều lần thấy Erik biến mất ở tầng hầm thứ ba khi theo dõi hắn, dù tôi không tài nào tưởng tượng nổi bằng cách nào.
Kể từ khi phát hiện Erik ẩn náu tại Nhà hát, tôi sống trong nỗi khiếp sợ thường trực trước những ý tưởng điên rồ kinh hoàng của hắn, không phải vì sự an nguy của bản thân, mà bởi tôi nơm nớp lo sợ cho mọi chuyện tai họa có thể giáng xuống đầu người khác.[3]
Và bất cứ khi nào xảy ra tai nạn hay sự cố chết người nào, tôi tự nhủ: "Sẽ chẳng có gì lạ nếu đó lại là bàn tay của Erik", y như cách người ta vẫn bảo: "Con ma đấy!". Biết bao lần tôi đã nghe người ta thốt lên câu nói ấy kèm theo một nụ cười! Mấy kẻ khốn khổ tội nghiệp! Giá mà họ biết con ma ấy thực sự bằng xương bằng thịt, tôi xin thề họ đã chẳng thể cười nổi!
Mặc dù Erik từng long trọng tuyên bố với tôi rằng hắn đã thay đổi và trở thành con người đức hạnh nhất KHI ĐƯỢC YÊU VÌ CHÍNH CON NGƯỜI HẮN — một câu nói ban đầu khiến tôi hoang mang tột độ — tôi vẫn không khỏi rùng mình mỗi khi nghĩ đến con quái vật ấy. Sự xấu xí kinh hoàng, vô song và gớm ghiếc đã đẩy hắn ra ngoài lề nhân loại; và tôi thường có cảm giác rằng, chính vì lý do này, hắn chẳng còn tin bản thân mình phải mang bất kỳ bổn phận nào đối với loài người nữa. Cách hắn bàn về chuyện tình cảm của mình chỉ càng làm dấy lên mối lo ngại trong tôi, bởi tôi linh cảm được nguồn cơn của những thảm kịch mới còn rùng rợn hơn từ sự việc mà hắn đang huênh hoang nhắc đến.
Mặt khác, tôi sớm phát hiện ra thứ giao dịch đạo đức kỳ quái được thiết lập giữa con quái vật và Christine Daae. Núp trong căn phòng chứa đồ nằm sát phòng thay đồ của nữ ca sĩ chính trẻ tuổi, tôi lắng nghe những màn trình diễn âm nhạc tuyệt diệu rõ ràng đã đẩy Christine vào trạng thái ngây ngất thần tiên; thế nhưng, dẫu vậy, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng giọng hát của Erik — khi thì vang dội như sấm truyền, lúc lại dịu dàng như tiếng thiên thần — có thể khiến cô quên đi vẻ ngoài gớm ghiếc của hắn. Tôi đã vỡ lẽ mọi chuyện khi biết rằng Christine vẫn chưa từng tận mắt nhìn thấy hắn! Tôi có dịp ghé qua phòng thay đồ ấy và, nhờ nhớ lại những bài học hắn từng truyền dạy thuở trước, tôi chẳng mấy khó khăn để tìm ra cơ chế giúp bức tường gắn gương xoay tròn, đồng thời nắm bắt được phương thức — qua những viên gạch rỗng và nhiều thứ khác — nhờ đó hắn truyền âm thanh đến chỗ Christine khiến cô ngỡ như tiếng phát ra ngay sát cạnh mình. Cũng bằng cách này, tôi đã khám phá ra con đường dẫn đến cái giếng và ngục tối — ngục tối của bọn Cộng sản — cùng cánh cửa sập giúp Erik đi thẳng xuống các tầng hầm bên dưới sân khấu.
Vài ngày sau, tôi ngạc nhiên đến sững sờ khi tận mắt chứng kiến và tận tai nghe thấy cảnh Erik và Christine Daae gặp nhau; tôi bắt gặp con quái vật đang cúi người bên chiếc giếng nhỏ trên con đường của bọn Cộng sản, vã nước lên trán Christine Daae khi cô vừa ngất lịm. Một con ngựa trắng, chính là con ngựa trong vở LE PROFÈPHE, từng biến mất khỏi chuồng ngựa dưới Nhà hát, đang đứng ngoan ngoãn ngay bên cạnh họ. Tôi lộ diện. Mọi chuyện thật khủng khiếp. Tôi thấy những tia lửa tóe ra từ đôi mắt vàng khè ấy và, chưa kịp thốt lên lời nào, tôi đã hứng trọn một cú đánh trời giáng vào đầu khiến tôi bất tỉnh nhân sự.
Khi tỉnh lại, Erik, Christine và con ngựa trắng đã biến mất. Tôi chắc mẩm tội nghiệp cô gái nọ đã trở thành tù nhân trong ngôi nhà bên hồ. Không chút do dự, tôi quyết định quay trở lại bờ hồ, bất chấp hiểm nguy chực chờ. Suốt hai mươi bốn giờ liền, tôi mai phục chờ con quái vật xuất hiện; bởi tôi linh cảm hắn thế nào cũng phải ra ngoài để lo chuyện lương thực. Nhân đây, tôi cũng xin kể rằng, khi bước ra đường phố hoặc liều mình xuất hiện trước công chúng, hắn thường đeo một chiếc mũi bằng giấy bồi có dán sẵn ria mép để thay thế cho cái hố gớm ghiếc vốn là mũi thật của mình. Trông nó không hoàn toàn che đậy được vẻ thây ma của hắn, nhưng chí ít cũng làm cho diện mạo ấy — tôi xin nhấn mạnh là chí ít — trở nên bớt khó coi hơn khi ngắm nhìn.
Thế nên tôi tiếp tục canh gác bên bờ hồ, và sau quãng thời gian dài mòn mỏi chờ đợi, tôi bắt đầu đinh ninh rằng hắn đã tẩu thoát qua lối đi khác, cánh cửa ở tầng hầm thứ ba, thì bỗng nghe tiếng nước khua nhè nhẹ trong bóng tối. Tôi thấy đôi mắt vàng rực lên như hai ngọn nến và chẳng mấy chốc chiếc thuyền cập bờ. Erik nhảy phốc lên và tiến thẳng về phía tôi:
— Anh lảng vảng ở đây suốt hai mươi bốn giờ rồi đấy, — hắn cất lời, — và anh đang làm tôi thấy phiền phức rồi đấy. Tôi nói cho anh hay, mọi chuyện thế này sẽ kết đạo chẳng tốt đẹp gì đâu. Và chính anh sẽ là kẻ phải gánh chịu hậu quả; bởi tôi đã tỏ ra kiên nhẫn với anh đến mức phi thường rồi đấy. Đồ ngốc nghếch kia, tưởng đâu anh đang bám đuôi tôi, hóa ra lại chính là tôi đang theo dõi anh; và tôi nắm rõ trong lòng bàn tay mọi thứ anh biết về tôi ở đây rồi. Hôm qua tôi đã tha mạng cho anh ở ĐƯỜNG CỘNG SẢN CỦA TÔI; nhưng tôi xin cảnh báo nghiêm túc đấy, đừng để tôi tóm mặt anh ở đó thêm lần nữa! Thề có Chúa, có vẻ như anh chẳng bao giờ hiểu được ám hiệu nhã ý nào cả nhỉ!
Hắn tức lộn ruột đến mức tôi chẳng tài nào tìm được khoảng trống để ngắt lời. Sau khi thở phì phò như một con hải mã, hắn trút hết những suy nghĩ hằn học thành lời:
— Phải, anh phải khắc cốt ghi tâm điều này — tôi nhấn mạnh là khắc cốt ghi tâm một lần cho dứt điểm! — để mà biết điều mà rút kinh nghiệm! Tôi nói cho anh hay, với cái tính liều mạng của anh — vì anh đã bị cái bóng đội mũ nỉ tóm cổ tới hai lần rồi đấy, kẻ chẳng hay ho gì việc anh đang mảy may làm dưới hầm tối nên đã tống cổ anh lên gặp ban giám đốc, những kẻ xem anh như một lão người Ba Tư kỳ cục có hứng thú với cơ khí sân khấu và hậu trường: tôi biết hết đấy nhé, tôi có mặt ở văn phòng mà; anh biết là tôi có mặt ở khắp mọi nơi rồi đấy — ồ, tôi nói cho anh biết, với cái tính liều mạng ấy, thể nào họ cũng sẽ thắc mắc không hiểu anh đang mưu tính trò gì ở đây... rồi họ sẽ phát hiện ra anh đang săn lùng Erik... và thế là họ sẽ tự mình truy lùng Erik rồi họ sẽ khám phá ra ngôi nhà bên hồ... Nếu chuyện đó xảy ra, thì mọi chuyện chẳng lành cho anh đâu, anh bạn già ạ, chẳng lành tí nào đâu!... Tôi sẽ chẳng chịu trách nhiệm cho bất cứ chuyện gì xảy ra đâu đấy.
Hắn lại thở phì phò như một con hải mã.
— Tôi chẳng chịu trách nhiệm cho bất cứ chuyện gì! ... Nếu những bí mật của Erik không còn là bí mật của Erik nữa, THÌ ĐÓ SẼ LÀ ĐIỀU BẤT HẠNH CHO MỘT SỐ LƯỢNG LỚN CỦA NHÂN LOẠI! Tôi chỉ muốn nói với anh ngần ấy thôi, và trừ phi anh là một tên đần độn đích thực, bấy nhiêu đó là quá đủ để anh ngấm rồi... ngặt một nỗi anh lại chẳng biết thế nào là đọc hiểu ám hiệu cả.
Hắn ngồi phịch xuống mạn thuyền, gót chân đập liên hồi vào các ván gỗ, chờ đợi xem tôi định đáp trả ra sao. Tôi điềm nhiên cất lời:
— Kẻ mà tôi săn lùng ở đây đâu phải là Erik!
— Thế chứ là ai?
— Chẳng phải ai xa lạ mà chính là Christine Daae, thừa biết còn hỏi, — tôi đáp.
Hắn vặn lại: — Tôi có toàn quyền gặp gỡ cô ấy trong chính ngôi nhà của mình. Tôi được yêu vì chính con người tôi cơ mà.
— Điều đó không đúng, — tôi nói. — Anh đã bắt cóc và giam cầm cô ấy.
— Nghe đây, — hắn cất lời. — Anh có hứa sẽ không bao giờ chõ mũi vào chuyện của tôi nữa không, nếu tôi chứng minh cho anh thấy rằng tôi được yêu vì chính con người mình?
— Được, tôi hứa, — tôi đáp không chút do dự, bởi đinh ninh rằng với một con quái vật như thế, việc chứng minh là điều bất khả thi.
— Thế thì đơn giản thôi... Christine Daae sẽ rời khỏi đây tùy theo ý muốn và rồi sẽ quay trở lại! ... Đúng thế, quay trở lại vì cô ấy muốn vậy... tự nguyện quay về, bởi cô ấy yêu tôi vì chính con người tôi!... —
— Ồ, tôi nghi ngờ chuyện cô ấy sẽ quay lại lắm!... Nhưng việc để cô ấy ra đi là bổn phận của anh.
— Bổn phận cái con khỉ gì, đồ đần! ... Đó là ý muốn của tôi... tôi muốn để cô ấy đi; và rồi cô ấy sẽ quay lại... bởi vì cô ấy yêu tôi! ... Tất cả chuyện này sẽ kết thúc bằng một đám cưới... một đám cưới tại nhà thờ La Madeleine, đồ ngốc nghếch! Anh đã tin tôi chưa hả? Khi tôi nói với anh rằng bản lễ cưới của tôi đã được soạn xong xuôi rồi... cứ chờ mà thưởng thức khúc KYRIE đi...
Hắn nhịp nhịp gót chân xuống ván thuyền rồi cất tiếng hát:
— KYRIE!... KYRIE!... KYRIE ELEISON!... Cứ chờ mà nghe, chờ mà thưởng thức khúc thánh lễ ấy đi.
— Nghe này, — tôi nói. — Tôi sẽ tin anh nếu tận mắt thấy Christine Daae bước ra khỏi ngôi nhà bên hồ và tự nguyện quay trở lại đó.
— Và anh sẽ không thọc gậy bánh xe vào chuyện của tôi nữa chứ?
— Không.
— Tốt lắm, tối nay anh sẽ được chứng kiến. Hãy đến dự vũ hội hóa trang. Tôi và Christine sẽ ra ngoài ngó nghiêng một vòng. Sau đó anh có thể trốn vào phòng chứa đồ và sẽ thấy Christine tự tay lui về phòng thay đồ của mình, lòng đầy hoan hỉ khi được quay về theo lối đường Cộng sản... Và giờ thì biến đi, tôi còn phải đi mua sắm vài thứ đây!
Đến làm tôi kinh ngạc tột độ, mọi chuyện diễn ra đúng y như những gì hắn đã loan báo. Christine Daae đã rời khỏi ngôi nhà bên hồ và quay trở lại đó vài lần mà hình như chẳng hề bị ai ép buộc. Tôi thấy vô cùng khó khăn để xóa bỏ hình bóng Erik ra khỏi tâm trí. Dù vậy, tôi tự nhủ phải hết sức thận trọng, không tái phạm sai lầm là bén mảng tới bờ hồ hay đi qua con đường Cộng sản nữa. Thế nhưng ý nghĩ về lối vào bí mật ở tầng hầm thứ ba cứ ám ảnh mãi trong đầu, thế là tôi hết lần này đến lần khác đến chầu chực hàng giờ liền đằng sau một cành cảnh trí lấy từ vở Roi de Lahore, thứ được bỏ lại đó vì một lý do ngớ ngẩn nào đó. Cuối cùng thì sự kiên nhẫn của tôi cũng được đền đáp. Một hôm, tôi thấy con monster đang bò lết tiến về phía mình. Tôi chắc mẩm hắn không thể trông thấy tôi. Hắn luồn qua khoảng giữa phông cảnh nơi tôi đang ẩn nấp và một khối cảnh trí dựng sẵn, đi thẳng tới vách tường rồi bấm vào một cái lò xo làm dịch chuyển phiến đá, mở ra một lối đi vừa vặn cho một người lọt qua. Hắn bước vào trong, và phiến đá khép lại ngay sau lưng hắn.
Tôi đợi chừng nửa tiếng đồng hồ rồi mới bấm vào chiếc lò xo theo cách của hắn. Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ y như lúc Erik thao tác. Nhưng tôi tự dặn lòng không dám tò mò bước qua lỗ hỗng ấy, bởi thừa biết Erik đang ở bên trong. Mặt khác, suy nghĩ nhỡ đâu mình bị Erik tóm cổ bất thình lình lại gợi cho tôi nhớ đến cái chết của Joseph Buquet. Tôi không muốn đánh đổi những lợi ích từ một phát hiện vĩ đại có thể hữu ích cho bao nhiêu người, "cho một số lượng lớn nhân loại" như lời Erik; và tôi lặng lẽ rời khỏi các tầng hầm Nhà hát sau khi đã cẩn thận đặt phiến đá trả lại nguyên trạng.
Tôi vẫn tiếp tục nuôi dưỡng sự quan tâm đặc biệt đến mối quan hệ giữa Erik và Christine Daae, không phải vì thứ tò mò bệnh hoạn nào cả, mà bởi nỗi ám ảnh kinh hoàng đè nặng tâm trí rằng Erik sẵn sàng làm bất cứ chuyện gì một khi phát hiện ra mình không được yêu vì chính con người thật như hắn hằng tưởng tượng. Tôi tiếp tục lang thang, hết sức dè dặt quanh khu vực Nhà hát và chẳng mấy chốc đã thấu tỏ sự thật về câu chuyện tình bi đát của con quái vật.
Hắn lấp đầy tâm trí Christine bằng nỗi khiếp đảm mà hắn gieo rắc vào lòng cô, thế nhưng trái tim của cô tiểu thư bé bỏng ấy lại hoàn toàn thuộc về Tử tước Raoul de Chagny. Trong lúc hai người họ đùa giỡn bên nhau hệt như một cặp đôi đính hôn ngây thơ ở những tầng trên của Nhà hát nhằm né tránh con quái vật, họ nào đâu hay biết có kẻ đang âm thầm dõi theo che chở cho họ. Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng cho mọi kịch bản: sẵn sàng tiêu diệt con quái vật nếu cần thiết, rồi tính chuyện giải trình với cảnh sát sau. Nhưng Erik chẳng hề ló mặt; và điều đó chẳng khiến tôi cảm thấy dễ chịu hơn chút nào.
Tôi phải giải thích toàn bộ kế hoạch của mình. Tôi thầm nghĩ rằng con quái vật, khi bị cơn ghen tuông dồn đuổi đến mức rời khỏi hang ổ, sẽ tạo cơ hội cho tôi đột nhập vào đó một cách an toàn thông qua đường hầm ở tầng hầm thứ ba. Việc nắm bắt chính xác những gì ẩn giấu bên trong là điều vô cùng hệ trọng vì lợi ích chung của tất cả mọi người. Một ngày nọ, đã quá mệt mỏi vì phải mòn mỏi chờ đợi thời cơ, tôi gạt phiến đá sang một bên và ngay lập tức nghe văng vẳng thứ âm nhạc kinh ngạc: con quái vật đang cặm cụi sáng tác vở Don Juan Triumphant của hắn với tất cả các cánh cửa trong nhà đều mở toang hoác. Tôi thừa hiểu đây chính là tâm huyết cả đời của hắn. Tôi cẩn trọng chẳng dám nhúc nhích dù chỉ một ly và ngoan ngoãn ẩn mình trong cái hố tối tăm.
Hắn khựng đàn giây lát, rồi bắt đầu điên cuồng đi lại quanh căn phòng. Và hắn cất giọng gào lên thật to:
— PHẢI HOÀN THÀNH NÓ TRƯỚC ĐÃ! Phải hoàn thành cho bằng hết!
Lời tuyên bố này chẳng lấy gì làm trấn an tôi cho cam, và khi tiếng nhạc vang lên trở lại, tôi khép phiến đá lại thật khẽ khàng.
Vào ngày Christine Daae bị bắt cóc, tôi có mặt tại nhà hát hơi muộn màng khi màn đêm đã buông xuống, lòng nơm nớp lo sợ nhỡ đâu lại nghe phải tin dữ. Tôi vừa trải qua một ngày tồi tệ khủng khiếp, bởi sau khi đọc được thông tin trên một tờ báo buổi sáng về việc đám cưới giữa Christine và Tử tước de Chagny sắp sửa được cử hành, tôi đã tự hỏi liệu suy cho cùng mình có nên tố giác con quái vật hay không. Nhưng rồi lý trí đã kéo tôi trở lại, và tôi đinh ninh rằng hành động đó chỉ càng khoét sâu thêm nguy cơ đẩy thảm kịch đến gần hơn.
Khi chiếc xe fiacre thả tôi xuống trước cửa Nhà hát, quả thật tôi gần như chết lặng khi thấy nó vẫn sừng sững ở đó! Nhưng vốn mang dòng máu của kẻ theo chủ nghĩa định mệnh giống như mọi người phương Đông chân chính, tôi bước vào với tâm thế sẵn sàng đương đầu với mọi kịch bản xấu nhất.
Vụ bắt cóc Christine Daae diễn ra ngay trong Màn Nhà tù, điều tự nhiên khiến tất cả mọi người được một phen chấn động, lại tìm thấy tôi trong tư thế đã chuẩn bị sẵn sàng tâm lý. Tôi chắc mẩm như đinh đóng cột rằng cô nàng đã bị cướp đi bởi bàn tay phù thủy đại tài Erik. Và tôi thầm đinh ninh rằng đây chính là hồi kết của Christine và có lẽ là của tất cả mọi người, đến nỗi tôi suýt chút nữa đã khuyên can những con người còn đang nán lại nhà hát hãy tìm đường tẩu thoát cho mau chóng. Tuy nhiên, tôi linh cảm rằng thể nào họ cũng sẽ coi mình là một kẻ điên khùng nên đành nén lại.
Mặt khác, tôi tự nhủ phải hành động ngay lập tức không chậm trễ, ít ra là về phần mình. Tỷ lệ thắng cược đang nghiêng về phía tôi bởi vào thời điểm đó, Erik chắc chắn chỉ mải tâm trí đến tù nhân của hắn. Đây chính là thời khắc vàng để đột nhập vào sào huyệt của hắn qua ngả tầng hầm thứ ba; và tôi quyết định dắt theo vị tử tước trẻ tuổi khốn khổ đang tuyệt vọng kia, người mà ngay sau lời đề nghị đầu tiên đã gật đầu đồng ý với một mức độ tin tưởng tuyệt đối vào tôi khiến tôi vô cùng xúc động. Tôi đã sai người hầu đi lấy súng ngắn mang đến. Tôi đưa cho vị tử tước một khẩu và dặn dò anh ta hãy sẵn sàng khai hỏa bất cứ lúc nào, bởi biết đâu chừng Erik lại đang mai phục sẵn sàng đón đợi chúng ta sau vách tường. Chúng ta sẽ di chuyển theo con đường Cộng sản và qua ngả cửa sập.
Thấy tôi thủ sẵn súng ngắn, vị tử tước trẻ tuổi liền hỏi khẽ xem có phải chúng ta chuẩn bị đi đấu tay đôi hay không. Tôi đáp:
— Vâng; và là một trận quyết đấu tơi bời đấy! — nhưng dĩ nhiên là tôi chẳng có thời gian đâu mà giải thích dài dòng cho anh ta hiểu. Vị tử tước trẻ tuổi là một chàng trai gan dạ, nhưng ngặt nỗi anh ta lại chẳng hề hay biết gì về đối thủ của mình; và như thế lại hóa hay. Nỗi sợ lớn nhất của tôi chính là việc hắn đã và đang lảng vảng đâu đây gần chúng ta, chuẩn bị sẵn sàng cái tròng lọng vùng Punjab. Chẳng ai rành rẽ nghệ thuật tung tròng lọng Punjab hơn hắn, bởi hắn chính là vua bóp cổ cũng như là vương giả trong giới ảo thuật gia. Thuở sinh thời còn làm cho nàng tiểu Xua-ta-na bật cười trong những "giờ phút hồng tươi ở Ma-zen-đan", chính nàng là người đã nài nỉ hắn đem thứ trò tiêu khiển này ra mua vui để mang lại cảm giác kích thích cho cô ta. Cũng từ dạo đó mà hắn du nhập môn thể thao tròng lọng Punjab vào cung điện.
Hắn từng có quãng thời gian sinh sống ở Ấn Độ và luyện được sự thành thạo đến khó tin trong nghệ thuật siết cổ. Hắn thường bắt người ta nhốt mình vào một cái sân trong, nơi họ dẫn ra một chiến binh — thường là tử tù — tay lăm lăm ngươn giáo dài và gươm bản lớn. Erik chẳng mang vũ khí gì ngoài sợi dây tròng lọng; và đúng vào khoảnh khắc chiến binh kia đinh ninh rằng mình sẽ giáng cho Erik một đòn chí mạng, người ta lại nghe tiếng sợi dây thừng rít lên xé gió. Chỉ với một cú lật cổ tay, Erik đã thít chặt nút thòng lọng quanh cổ đối thủ và cứ thế lôi xềnh xệch hắn đến trước mặt nàng tiểu Xua-ta-na cùng các cung nữ đang ngồi ngó nghiêng bên cửa sổ vỗ tay hò reo. Bản thân nàng tiểu Xua-ta-na sau đó cũng học được cách sử dụng tròng lọng Punjab và đã tự tay tước mạng sống của vài cung nữ thậm chí cả những vị khách quý ghé thăm cô ta. Nhưng tôi xin phép được khép lại chủ đề hãi hùng về những giờ phút hồng tươi ở Ma-zen-đan này tại đây. Tôi chỉ nhắc lại nó để giải thích lý do tại sao khi đặt chân xuống các tầng hầm Nhà hát cùng Tử tước de Chagny, tôi buộc phải che chở cho người đồng hành của mình trước mối hiểm họa chết người do bóp cổ luôn chực chờ. Súng ngắn của chúng tôi chẳng thể phát huy tác dụng trong tình huống này, bởi Erik đời nào chịu ló mặt; nhưng ngặt nỗi Erik lúc nào cũng có thể bóp cổ chúng tôi bất cứ lúc nào. Tôi chẳng có thời gian để giải thích ngọn ngành mọi chuyện này cho vị tử tước; vả lại, việc làm phức tạp hóa tình hình chẳng mang lại lợi ích gì sất. Tôi chỉ đơn giản dặn ngài de Chagny hãy giữ tay ngang tầm mắt, khuỷu tay gập lại, hệt như tư thế chuẩn bị chờ lệnh khai hỏa. Khi đối mặt với một mục tiêu ở tư thế phòng thủ này, ngay cả tên chuyên gia siết cổ sừng sỏ nhất cũng bất lực trong việc vung tròng lọng cho chuẩn xác. Sợi dây sẽ không chỉ tóm lấy cổ anh, mà còn vướng vào cả tay hoặc cẳng tay. Nhờ thế anh có thể dễ dàng gỡ bỏ sợi tròng lọng, biến nó thành thứ vô hại.
Sau khi khéo léo né tránh ngài thanh tra cảnh sát, một loạt những tấm chắn cửa cùng đội ngũ lính cứu hỏa, sau khi chạm mặt gã bắt chuột và lướt qua gã đàn ông đội mũ nỉ mà không bị phát hiện, vị tử tước và tôi đã đến được tầng hầm thứ ba một cách suôn sẻ, nằm gọn giữa khối cảnh trí dựng sẵn và bức phông từ vở Roi de Lahore. Tôi tháo chốt phiến đá, và cả hai chúng tôi nhảy tót vào ngôi nhà mà Erik đã tự tay xây dựng bên trong khoảng trống cấu trúc móng của Nhà hát. Việc này đối với hắn dễ như trở bàn tay, bởi Erik từng là một trong những nhà thầu chính dưới quyền Philippe Garnier, kiến trúc sư trưởng của Nhà hát, và hắn vẫn tiếp tục lủi thủi làm việc một mình ngay cả khi các công trình xây dựng bị đình chỉ chính thức trong thời kỳ chiến tranh, thời gian bao vây thành phố Paris và thời Công xã.
Tôi quá ư rành rỡ bộ mặt của Erik nên chẳng hề cảm thấy thoải mái chút nào khi vừa nhảy vào sào huyệt của hắn. Tôi thừa biết hắn đã biến cung điện nào đó ở Ma-zen-đan thành cái dạng gì. Từ một tòa nhà liêm chính nhất có thể tưởng tượng được, hắn nhanh chóng biến nó thành một chốn ma quỷ dung thân, nơi anh vừa thốt ra nửa lời đã bị tiếng vang vọng lại nhại lại hoặc mách lẻo khắp nơi. Nhờ những chiếc cửa sập, con quái vật này đã gây ra không biết bao nhiêu thảm kịch đủ mọi thể loại. Hắn nghĩ ra những phát minh làm lóa mắt người đời. Trong số đó, quái đản, kinh hoàng và nguy hiểm nhất chính là cái gọi là phòng tra tấn. Trừ những trường hợp ngoại lệ khi nàng tiểu Xua-ta-na nổi hứng muốn hành hạ một vị công dân vô tội nào đó để giải trí, chẳng ai được phép bén mảng bước vào đó ngoại trừ những kẻ khốn nạn bị kết án tử hình. Và ngay cả khi ấy, một khi đám người này đã "nếm đủ mùi đau khổ", họ luôn có quyền tự do chấm dứt cuộc đời mình bằng một chiếc tròng lọng Punjab hoặc dây thắt cổ được để sẵn dưới chân một cái cây bằng sắt để họ tự vẫn.
Thế nên cơn hoảng loạn của tôi lớn nhường nào khi nhận ra căn phòng mà ngài Tử tước de Chagny và tôi vừa rơi xuống lại chính là một bản sao y đúc của phòng tra tấn trong những giờ phút hồng tươi ở Ma-zen-đan. Ngay dưới chân chúng tôi, tôi phát hiện ra sợi tròng lọng Punjab thứ mà tôi vẫn hằng nơm nớp lo sợ suốt cả buổi tối. Tôi đinh ninh rằng sợi dây thừng này từng được dùng để thủ tiêu Joseph Buquet, kẻ cũng giống như tôi, chắc hẳn đã vô tình bắt gặp Erik đang thao tác với phiến đá ở tầng hầm thứ ba vào một buổi tối nào đó. Lão ta có lẽ đã táy máy làm theo, rồi rơi thẳng xuống phòng tra tấn và chỉ có thể bước ra ngoài trong tư thế bị treo cổ. Tôi hoàn toàn có thể hình dung ra cảnh Erik lôi xác hắn ta đi, để phi tang, ra tận chỗ phông cảnh của vở Roi de Lahore, rồi treo lủng lẳng nó ở đó như một lời cảnh cáo, hoặc nhằm khoét sâu thêm sự sợ hãi mang tính mê tín dị đoan giúp hắn canh giữ các ngõ ngách dẫn vào hang ổ! Rồi sau đó, ngẫm nghĩ lại, Erik đã quay trở lại để thu hồi chiếc tròng lọng vùng Punjab, thứ được bện một cách cực kỳ lạ lùng bằng gân mèo, và nếu để lại có thể khiến một vị quan tòa thẩm vấn phải bận tâm suy nghĩ. Đó chính là lý do vì sao sợi dây thừng đột nhiên biến mất.
Và giờ thì tôi lại phát hiện ra sợi tròng lọng ấy, nằm ngay dưới chân chúng tôi, bên trong căn phòng tra tấn! ... Tôi không phải kẻ hèn nhát, thế nhưng mồ hôi lạnh vẫn vã ra đầm đìa trên trán khi tôi khua chiếc đèn lồng có thấu kính đỏ nhỏ xíu rọi khắp các bức tường.
Ngài de Chagny nhận ra điều đó và cất tiếng hỏi:
— Có chuyện gì vậy ngài?
Tôi đưa tay ra hiệu thật dứt khoát bảo anh ta im lặng.
[1] Một bản báo cáo chính thức từ Tông-kin, được gửi về Paris vào cuối tháng 7 năm 1909, kể lại cách thức tên thủ lĩnh hải tặc khét tiếng De Tham cùng đồng bọn bị binh lính chúng ta truy lùng gắt gao; và cách mà tất cả bọn chúng đã may mắn tẩu thoát thành công nhờ vào mánh khóe dùng ống sậy này.
[2] DAROGA trong tiếng Ba Tư có nghĩa là cảnh sát trưởng.
[3] Người Ba Tư lẽ ra có thể dễ dàng thừa nhận rằng số phận của Erik cũng gắn liền với lợi ích của chính ông ta, bởi ông thừa biết rằng nếu chính quyền Tê-hê-ran hay tin Erik vẫn còn sống, thì cái khoản lương hưu còm cõi của cựu cảnh sát trưởng sẽ bay màu sớm thôi. Tuy nhiên, cũng phải công bằng mà nói rằng viên quan người Ba Tư ấy mang trong mình một trái tim cao cả và hào hiệp; và tôi không mảy nghi ngờ dù chỉ một giây rằng những thảm kịch mà ông lo sợ sẽ giáng xuống đầu người khác đã chiếm phần lớn tâm trí ông. Hành trình ứng xử của ông trong suốt câu chuyện này chính là minh chứng rõ rệt nhất và hoàn toàn vượt lên trên mọi lời ca tụng.