Ở chiếu nghỉ đầu tiên, Sorelli đụng phải Bá tước de Chagny đang đi lên lầu. Vị bá tước vốn dĩ điềm tĩnh là thế, nay lại có vẻ vô cùng kích động.
– Tôi đang định tìm anh – vừa ngả mũ chào, anh vừa nói. – Ôi Sorelli, một buổi tối tuyệt vời làm sao! Và Christine Daaé nữa: quả là một khúc khải hoàn!
– Không thể nào! – Meg Giry thốt lên. – Sáu tháng trước, cô ta hát cứ như mèo kêu ấy chứ! Nhưng xin nhường đường cho chúng cháu đã nào, thưa ngài bá tước thân mến, – cô bé tiếp lời với một cái nhún gối tinh nghịch. – Chúng cháu đang đi thăm một tội nghiệp vừa được tìm thấy trong cảnh treo cổ lủng lẳng.
Đúng lúc đó, phó giám đốc bước ngang qua với vẻ tất bật và khựng lại khi nghe thấy lời này.
– Gì chứ! – ông lớn tiếng quát. – Mấy cô đã nghe chuyện rồi sao? Thôi, làm ơn quên chuyện đó đi cho tối nay—và trên hết là đừng để hai ngài Debienne và Poligny hay biết; điều đó sẽ làm họ phiền lòng lắm vào ngày làm việc cuối cùng của họ.
Tất cả bọn họ tiếp tục đi về phía sảnh múa, nơi đã đông nghẹt người. Bá tước de Chagny đã nói đúng; không có buổi biểu diễn kỷ niệm nào sánh được với lần này. Tất cả các nhà soạn nhạc lớn thời bấy giờ đều lần lượt trực tiếp chỉ huy tác phẩm của chính họ. Faure và Krauss đã cất tiếng hát; và vào buổi tối hôm đó, Christine Daaé đã lần đầu tiên bộc lộ con người thật của mình trước khán giả đầy kinh ngạc và phấn khích. Gounod đã chỉ huy bản Hành khúc tang lễ của một con rối; Reyer với khúc dạo đầu tuyệt đẹp cho vở Siguar; Saint-Saëns với Vũ khúc tử thần và bản Mơ mộng phương Đông; Massenet với một bản hành khúc Hungary chưa từng công bố; Guiraud với khúc Carnaval; Delibes với điệu Valse Lente trong Sylvia và khúc Pizzicati trong Coppélia. Cô Krauss đã hát khúc bolero trong Vespri Siciliani; và cô Denise Bloch hát khúc ca uống rượu trong Lucrezia Borgia.
Nhưng chiến thắng thực sự lại thuộc về Christine Daaé, người đã mở đầu bằng việc trình bày vài trích đoạn từ Romeo và Juliet. Đó là lần đầu tiên nữ nghệ sĩ trẻ hát trong tác phẩm này của Gounod, vở opera vốn chưa từng được đưa lên sân khấu Nhà hát Lớn và chỉ được diễn lại tại Nhà hát Opéra-Comique sau khi đã ra mắt ở Nhà hát Lyrique cũ qua sự thể hiện của phu nhân Carvalho. Những ai lắng nghe cô đều cho rằng giọng ca của cô trong các đoạn này mang vẻ đẹp thanh thiên; nhưng điều đó chẳng thấm vào đâu so với những nốt nhạc siêu phàm mà cô cất lên trong cảnh giam cầm và khúc tam ca kết thúc của vở FAUST, khi cô thay thế La Carlotta đang lâm bệnh. Chưa từng ai được nghe hay nhìn thấy điều gì tương tự như thế.
Đêm hôm đó, Daaé đã hé lộ một nàng Margarita hoàn toàn mới, một nàng Margarita mang vẻ lộng lẫy và rực rỡ đến mức trước nay chưa từng có ai ngờ tới. Cả khán phòng như phát cuồng, đứng bật dậy, hò reo, cổ vũ và vỗ tay vang dội, trong khi Christine nức nở rồi ngất lịm trong vòng tay của các bạn diễn và phải được cồng kênh đưa về phòng thay đồ. Tuy nhiên, một số thành viên thuộc ban hội viên lại tỏ ý bất mãn. Tại sao một khoảnh khắc quý giá nhường ấy lại bị giấu kín suốt ngấy lâu nay? Cho đến lúc đó, Christine Daaé vẫn chỉ đóng vai một Siebel hiền lành làm nền cho nàng Margarita có phần lộng lẫy một cách quá đáng của Carlotta. Và phải đợi đến khi Carlotta vắng mặt một cách khó hiểu và không thể tha thứ trong đêm đại lễ này, thì cô bé Daaé mới có dịp thể hiện tất cả tài năng của mình trong một phần chương trình vốn dĩ dành riêng cho danh ca người Tây Ban Nha, dẫu chỉ được báo trước trong chớp mắt! Ồ, điều mà các hội viên muốn biết chính là tại sao Debienne và Poligny lại chọn Daaé khi Carlotta ngã bệnh? Phải chăng họ đã biết trước về thứ thiên tài ẩn giấu của cô? Và nếu họ biết, sao lại phải che giấu nó? Lại thêm cả chuyện tại sao chính cô cũng giấu kín điều đó? Điều kỳ lạ là người ta không hề biết cô từng theo học bất kỳ giáo sư thanh nhạc nào vào thời điểm đó. Cô vẫn thường tuyên bố rằng từ nay về sau mình sẽ tự luyện tập một mình. Tất cả mọi chuyện quả là một điều bí ẩn.
Bá tước de Chagny, đứng sừng sững trong lô ghế của mình, lắng nghe mọi âm thanh cuồng nhiệt ấy và cũng hòa mình vào bầu không khí bằng cách vỗ tay tán thưởng thật lớn. Philippe Georges Marie, Bá tước de Chagny, lúc này vừa tròn bốn mươi mốt tuổi. Anh là một nhà quý tộc lớn và là một người đàn ông khôi ngô, cao vượt mức trung bình với những đường nét cuốn hút, bất chấp vầng trán cứng rắn cùng ánh mắt có phần lạnh lùng. Anh vô cùng lịch thiệp với phụ nữ nhưng lại có chút kiêu kỳ với đàn ông—những kẻ đôi khi chẳng thể tha thứ cho những thành công của anh chốn thượng lưu. Anh sở hữu một trái tim nhân hậu và một lương tâm không tì vết. Sau khi vị bá tước già Philibert qua đời, anh trở thành người đứng đầu của một trong những dòng tộc lâu đời và danh giá nhất nước Pháp, với gia huy có từ thế kỷ mười bốn. Gia tộc Chagny sở hữu vô số tài sản; và khi vị bá tước già, người vốn đã cảnh gà trống nuôi con, qua đời, việc gánh vác một cơ ngơi đồ sộ như thế chưa bao giờ là điều dễ dàng đối với Philippe. Hai người em gái cùng người em trai Raoul của anh nhất quyết không chịu chia tài sản và đã từ bỏ phần quyền lợi của mình, hoàn toàn phó thác bản thân cho Philippe, tựa hồ như quyền con trưởng chưa bao giờ bị xóa bỏ. Khi hai người em gái cùng kết hôn vào một ngày, họ nhận phần hồi môn từ người anh trai, không phải như một thứ tài sản thuộc về quyền lợi chính đáng của mình, mà như một món quà cưới để rồi phải nói lời tri ân anh.
Nữ bá tước de Chagny, nhũ danh de Moerogis de La Martyniere, đã qua đời khi sinh ra Raoul—cậu bé cất tiếng khóc chào đời cách người anh cả tới hai mươi năm. Vào thời điểm vị bá tước già qua đời, Raoul vừa tròn mười tuổi. Philippe đã tích cực lo toan cho việc học hành của đứa em út. Anh được hỗ trợ một cách tuyệt vời trong công việc ấy, trước hết là bởi các em gái và sau đó là một người cô lớn, vợ của một sĩ quan hải quân đã qua đời, hiện sinh sống ở Brest và đã truyền cho Raoul tình yêu với biển cả. Cậu thiếu niên gia nhập tàu huấn luyện Borda, hoàn thành xuất sắc khóa học và bình thản thực hiện chuyến vòng quanh thế giới của mình. Nhờ những mối quan hệ có thế lực, cậu vừa được bổ nhiệm làm thành viên trong phái đoàn chính thức trên con tàu Requin, được cử đến Vòng Bắc Cực để tìm kiếm những người sống sót trong chuyến thám hiểm của D'Artois—những người bặt vô âm tín suốt ba năm qua. Trong lúc đó, cậu đang tận hưởng một kỳ nghỉ phép kéo dài mà sáu tháng nữa mới kết thúc; và đám phụ nữ quý tộc ở khu Faubourg Saint-Germain đã bắt đầu bày tỏ sự xót xa dành cho cậu thiếu niên khôi ngô nhưng có vẻ mong manh ấy trước công việc gian khổ đang chờ đón phía trước.
Sự rụt rè của chàng thủy thủ trẻ—suýt chút nữa tôi đã dùng từ ngây thơ—thật đáng chú ý. Cậu trông có vẻ như vừa mới rời khỏi vòng tay che chở của phụ nữ. Thực chất, vì được chiều chuộng bởi hai người chị và người cô lớn, cậu vẫn giữ lại được từ nền giáo dục thuần túy nữ tính ấy những tác phong vô cùng chân chất, mang một thứ sức hút mà cho đến nay chưa có gì vấy bẩn nổi. Cậu vừa bước qua tuổi hai mươi mười một nhưng trông chỉ như mười tám. Cậu để một hàng ria mép nhỏ màu vàng nhạt, sở hữu đôi mắt xanh thẳm đẹp đẽ cùng làn da mịn màng tựa thiếu nữ.
Philippe vô cùng cưng chiều Raoul. Trước hết, anh rất tự hào về cậu và lấy làm hoan hỉ khi nhìn thấy trước một tương lai huy hoàng đang chờ đón người em trai trong lực lượng hải quân—nơi mà một tổ tiên của họ, danh tướng Chagny de La Roche, từng giữ cấp bậc đô đốc. Anh tận dụng kỳ nghỉ của cậu thanh niên để dẫn cậu đi thưởng ngoạn Paris, với tất cả sự xa hoa và những nét đẹp nghệ thuật của nó. Vị bá tước cho rằng ở tuổi của Raoul, việc quá ư ngoan ngoãn chưa hẳn đã là điều hay. Bản thân Philippe có một tính cách vô cùng điềm đạm trong cả công việc lẫn cuộc chơi; phong thái của anh lúc nào cũng hoàn hảo, và anh chẳng đời nào lại đi nêu gương xấu cho em trai. Anh mang cậu đi cùng đến bất cứ nơi đâu anh đặt chân tới. Thậm chí anh còn dẫn cậu vào cả sảnh múa của nhà hát. Tôi thừa nhận người ta đồn đại rằng vị bá tước có mối quan hệ “trên mức tình cảm” với Sorelli. Nhưng khó mà coi đó là tội lỗi đối với một nhà quý tộc độc thân, dư dả thời gian rảnh rỗi, nhất là khi các em gái đã yên bề gia thất, khi anh đến dành ra một hoặc hai giờ sau bữa tối để bầu bạn với một vũ nữ tuy không hẳn là quá mức thông minh, nhưng lại sở hữu cặp mắt đẹp nhất trần đời! Hơn nữa, có những chốn mà một người Paris chính hiệu, khi đã mang tước hiệu Bá tước de Chagny, buộc phải xuất hiện; và vào thời điểm đó, sảnh múa tại nhà hát Opera chính là một trong những nơi như thế.
Cuối cùng, có lẽ Philippe đã chẳng dẫn em trai vào hậu trường nhà hát Opera nếu như Raoul không phải là người khẩn khoản nài nỉ trước, cứ liên tục lặp lại thỉnh cầu ấy bằng một thứ sự bướng bỉnh dịu dàng mà mãi về sau vị bá tước vẫn còn nhớ mãi.
Vào tối hôm đó, Philippe sau khi vỗ tay tán thưởng Daaé liền quay sang nhìn Raoul và nhận ra cậu đang tái mét.
– Anh không thấy sao, – Raoul lên tiếng, – cô ấy đang ngất kìa?
– Trông em có khi còn sắp ngất hơn ấy chứ, – vị bá tước bảo. – Có chuyện gì thế?
Nhưng Raoul đã kịp lấy lại bình tĩnh và đứng bật dậy.
– Chúng ta hãy tới xem sao, – cậu nói, – chưa bao giờ cô ấy hát như thế cả.
Vị bá tước liếc nhìn em trai với một nụ cười đầy tò mò và trông có vẻ vô cùng hài lòng. Chẳng mấy chốc họ đã có mặt tại cánh cửa dẫn từ khán phòng ra sân khấu. Rất nhiều hội viên đang chậm rãi lách người đi qua. Raoul xé rách cả găng tay tự lúc nào mà không hay biết, và Philippe thì quá đỗi nhân hậu để có thể cười trừ sự nôn nóng của em mình. Nhưng giờ thì anh đã hiểu tại sao Raoul lại thẫn thờ mỗi khi có ai nói chuyện và tại sao cậu luôn tìm cách lái mọi câu chuyện xoay quanh chủ đề về nhà hát Opera.
Họ tiến đến sân khấu và len lỏi qua đám đông những quý ông, thợ dựng cảnh, diễn viên quần chúng và vũ công hát bè, với Raoul đi đầu, cảm thấy trái tim mình dường như không còn thuộc về mình nữa, nét mặt hằn lên vẻ đam mê, trong khi Bá tước Philippe lững thững theo sau với một chút khó nhọc nhưng nụ cười vẫnở trên môi. Ở tận cùng hậu trường, Raoul buộc phải dừng bước trước dòng người ùa ra của tốp vũ nữ ballet đang chắn ngang lối đi mà cậu đang cố chen vào. Hơn một câu nói trêu chọc thốt ra từ những đôi môi được tô điểm kỹ lưỡng, nhưng cậu chẳng mảy may đáp lời; và cuối cùng cậu cũng lách qua được, lao mình vào không gian mờ ảo của một hành lang vang vọng tiếng gọi “Daaé! Daaé!”. Vị bá tước không khỏi ngạc nhiên khi thấy Raoul rành đường đến vậy. Bản thân anh chưa bao giờ dẫn cậu đến gặp Christine và đi đến kết luận rằng chắc hẳn Raoul đã lẻn đến đây một mình trong lúc bá tước còn mải đứng trò chuyện ở sảnh với Sorelli—người thường hay bắt anh phải đợi cho đến lượt mình “lên sàn” và đôi khi còn đưa cho anh cầm hộ đôi giày lười nhỏ mà cô dùng để chạy từ phòng thay đồ xuống nhằm giữ cho đôi giày satin cùng chiếc quần tất màu da thịt không bị vấy bẩn. Sorelli có một lý do hoàn toàn chính đáng; cô đã mồ côi mẹ.
Tạm hoãn chuyến viếng thăm quen thuộc dành cho Sorelli trong dăm phút, vị bá tước đi theo em trai dọc theo lối hành lang dẫn đến phòng thay đồ của Daaé và nhận ra nơi đây chưa bao giờ đông đúc đến thế, khi mà cả nhà hát dường như đang xôn xao vì thành công vang dội lẫn cơn ngất xỉu của cô. Bởi vì cô gái vẫn chưa tỉnh lại; và bác sĩ của nhà hát vừa mới đặt chân đến đúng lúc Raoul lao vào sát gót ông. Do đó, Christine nhận được sự chăm sóc đầu tiên từ vị bác sĩ trong lúc đang mở hé mắt trong vòng tay của người kia. Vị bá tước cùng rất nhiều người khác vẫn đang chen chúc đứng nghẹt ở khung cửa.
– Thưa bác sĩ, ngài có nghĩ rằng mấy vị kia nên ra ngoài cho thoáng không? – Raoul điềm tĩnh hỏi. – Ở đây chẳng thể thở nổi.
– Cậu nói rất phải, – vị bác sĩ đáp.
Và ông đuổi tất cả mọi người ra ngoài, trừ Raoul và người hầu gái—nơi ánh mắt đang nhìn Raoul với vẻ kinh ngạc không một chút che giấu. Ả chưa từng gặp cậu bao giờ thế mà lại chẳng dám cất lời gặng hỏi; còn vị bác sĩ thì đinh ninh rằng chàng thanh niên hành xử như vậy đơn giản là vì cậu có quyền làm thế. Thế là vị tử tước ở lại trong phòng để quan sát Christine từ từ hồi tỉnh, trong khi ngay cả hai vị đồng giám đốc là Debienne và Poligny—những người đến để bày tỏ sự cảm thông và chúc mừng—cũng thấy mình bị đẩy ra ngoài hành lang giữa đám đông những gã công tử bột. Bá tước de Chagny, một trong số những kẻ đứng bên ngoài, bật cười:
– Ồ, cái đồ ranh con này! – Và ông thì thầm qua kẽ răng: – Mấy gã thanh niên với cái vẻ ngoài ngây ngô học trò ấy chứ! Hóa ra nó đúng là dòng dõi nhà Chagny!
Ông quay người định bước đến phòng thay đồ của Sorelli, nhưng lại chạm mặt cô trên đường đi cùng với tốp vũ nữ đang run lẩy bẩy, như chúng ta đã thấy.
Trong khi đó, Christine Daaé bật ra một tiếng thở dài thườn thượt, được đáp lại bằng một tiếng rên rỉ. Cô quay đầu lại, nhìn thấy Raoul và giật mình thon thót. Cô nhìn vị bác sĩ, nở một nụ cười với ông, rồi nhìn người hầu gái, và cuối cùng lại hướng ánh nhìn về phía Raoul.
– Thưa ngài, – cô cất tiếng với một chất giọng chỉ hơi lớn hơn tiếng thì thầm, – ngài là ai?
– Thưa tiểu thư, – chàng thanh niên đáp lời, quỳ một chân xuống và đặt một nụ hôn đầy nhiệt thành lên bàn tay của nữ danh ca, – TÔI CHÍNH LÀ CẬU BÉ ĐÃ LỘC CỘC LỘC CỘC LỘC LỘC... À KHÔNG, CẬU BÉ ĐÃ LAO XUỐNG BIỂN ĐỂ VỚT CHIẾC KHĂN CHOÀNG CHO CÔ.
Christine lại nhìn vị bác sĩ và người hầu gái; và cả ba người cùng bật cười.
Raoul đỏ bừng mặt và đứng phắt dậy.
– Thưa tiểu thư, – cậu nói, – vì cô có vẻ không muốn nhận ra tôi, tôi xin phép được nói chuyện riêng với cô một chút, một chuyện vô cùng quan trọng.
– Khi nào tôi khỏe hơn được không? – Giọng cô run rẩy. – Ngài đã rất tốt.
– Phải, cậu nên đi ra ngoài đi, – vị bác sĩ lên tiếng với nụ cười nhã nhặn nhất. – Hãy để tôi chăm sóc tiểu thư.
– Bây giờ tôi không còn bệnh nữa, – Christine đột ngột cất lời với một nguồn năng lượng kỳ lạ và bất ngờ.
Cô đứng dậy và đưa tay vuốt nhẹ hàng mi.
– Cảm ơn bác sĩ. Tôi muốn được ở một mình. Xin tất cả hãy rời đi. Hãy để tôi yên. Tối nay tâm trí tôi cảm thấy vô cùng bứt rứt.
Vị bác sĩ toan lên tiếng phản đối đôi chút, nhưng nhận thấy sự kích động rõ mệt mỏi ở cô gái, ông cho rằng phương thuốc tốt nhất là không nên trái ý cô. Thế là ông bước ra ngoài, vừa đi vừa nói với Raoul:
– Tối nay cô ấy không được bình thường cho lắm. Bình thường cô ấy vốn dĩ rất dịu dàng cơ mà.
Đoạn ông chúc ngủ ngon và để lại Raoul một mình. Toàn bộ khu vực này của nhà hát giờ đây đã vắng lặng như tờ. Lễ chia tay chắc hẳn đang diễn ra ở sảnh múa ballet. Raoul nghĩ rằng có thể Daaé sẽ đến đó nên cậu kiên nhẫn chờ đợi trong bóng tối tịch mịch, thậm chí còn núp vào cái bóng thuận lợi của một khung cửa. Cậu cảm thấy một cơn đau nhói tột cùng ở lồng ngực và chính điều này là thứ cậu muốn nói với Daaé ngay lập tức.
Bỗng nhiên cánh cửa phòng thay đồ bật mở và người hầu gái một mình bước ra, trên tay xách lỉnh kỉnh những bọc đồ. Cậu chặn ả lại và hỏi thăm tình hình của nữ chủ nhân. Người đàn bà cười và bảo rằng cô ấy hoàn toàn khỏe mạnh, nhưng anh không được phép làm phiền vì cô ấy muốn ở một mình. Rồi ả bước đi. Chỉ duy nhất một ý nghĩ chiếm trọn bộ não đang bốc cháy của Raoul: chắc chắn là Daaé muốn ở một mình LÀ VÌ CẬU! Chẳng phải cậu vừa nói với cô rằng mình có chuyện riêng muốn thưa đó sao?
Nín thở, cậu tiến đến trước phòng thay đồ và áp tai vào cánh cửa để ngóng chờ câu trả lời, sẵn sàng giơ tay gõ cửa. Nhưng rồi bàn tay cậu buông thõng xuống. Cậu vừa nghe thấy GIỌNG CỦA MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG phát ra từ bên trong phòng, cất lên bằng một điệu bộ mang chất uy quyền kỳ lạ:
– Christine, em phải yêu anh!
Và giọng nói của Christine, vô vàn buồn bã và run rẩy, tựa như đang hòa cùng nước mắt, đáp lại:
– Sao ngài có thể nói thế được chứ? KHI MÀ EM CHỈ HÌNH VÌ MỘT MÌNH NGÀI!
Raoul tựa lưng vào tấm ván cửa để xoa dịu nỗi đau. Trái tim cậu, thứ tưởng chừng đã vĩnh viễn mất đi, nay lại quay trở về lồng ngực và đang đập thình thịch liên hồi. Cả đoạn hành lang như vang dội tiếng đập của nó và đôi tai Raoul như bị ù đi. Chắc chắn rằng nếu trái tim cậu cứ tiếp tục gây ra tiếng động lớn thế kia, họ sẽ nghe thấy ở bên trong, họ sẽ mở cửa ra và chàng thanh niên sẽ bị đuổi cổ đi trong sự nhục nhã. Thật là một hoàn cảnh trớ trêu đối với một thành viên nhà Chagny! Bị bắt quả tang đang đứng nghe trộm sau cánh cửa! Cả hai tay cậu phải ôm lấy ngực để bắt nó thôi đập.
Giọng người đàn ông lại cất lên: – Em có mệt lắm không?
– Ôi, tối nay em đã dâng hiến linh hồn cho ngài và em kiệt sức rồi! – Christine đáp.
– Linh hồn em là một điều tuyệt vời, đứa trẻ ạ, – giọng người đàn ông trầm ngâm đáp, – và anh cảm ơn em. Chưa từng có vị hoàng đế nào nhận được một món quà đẹp đến thế. CÁC THIÊN THẦN ĐÃ KHÓC TRONG ĐÊM NAY.
Sau câu đó, Raoul chẳng còn nghe thấy gì nữa. Tuy nhiên, cậu không rời đi, mà cứ như thể sợ bị bắt quả tang, cậu lùi về góc tối của mình, quyết tâm đợi cho bằng được gã đàn ông kia bước ra khỏi phòng. Chỉ trong một khoảng khắc, cậu vừa thấu hiểu thế nào là tình yêu, vừa nếm trải nỗi căm hờn. Cậu biết rằng mình đang yêu. Và cậu muốn biết kẻ mà mình đang căm ghét là ai. Đến sự kinh ngạc tột độ của cậu, cánh cửa bật mở và Christine Daaé xuất hiện, người quấn đầy khăn lông thú, che khuất khuôn mặt sau lớp voan ren, đi một mình. Cô khép cửa lại phía sau, nhưng Raoul nhận thấy cô không hề khóa nó. Cô lướt qua mặt cậu. Cậu thậm chí chẳng buồn đưa mắt dõi theo, bởi vì ánh mắt cậu đã dán chặt vào cánh cửa vốn chẳng hề mở ra lần nữa.
Khi dãy hành lang một lần nữa chìm vào tĩnh mịch, cậu băng qua đó, đẩy cửa phòng thay đồ, bước vào trong và khép lại. Cậu thấy mình chìm nghỉm trong bóng tối đặc quánh. Ngọn đèn hơi đã bị tắt ngấm.
– Có ai ở đây phải không! – Raoul cất giọng run rẩy, đứng áp lưng vào cánh cửa đã đóng chặt. – Mày trốn cái gì chứ?
Chỉ có bóng tối và sự im lặng bao trùm. Raoul chỉ nghe thấy tiếng thở của chính mình. Cậu hoàn toàn không nhận ra rằng sự vô lối trong hành động của mình đã vượt quá mọi giới hạn.
– Mày đừng có mong bước chân ra khỏi đây cho đến khi tao cho phép! – cậu gầm lên. – Nếu mày không trả lời, mày chỉ là một kẻ hèn nhát! Nhưng tao sẽ vạch mặt mày ra cho xem!
Và cậu quẹt một que diêm. Ngọn lửa bùng lên soi sáng căn phòng. Chẳng có một bóng người nào ở trong này cả! Raoul vặn chìa khóa khóa trái cửa lại, rồi bật sáng những ngọn đèn hơi. Cậu bước vào phòng thay đồ nhỏ, mở tung các tủ đựng, lục lọi khắp nơi, dùng đôi bàn tay ẩm ướt rờ rẫm từng bức tường. Trống không!
– Nhìn xem kìa! – cậu lớn tiếng nói một mình. – Có phải mình đang phát điên lên rồi không?
Cậu đứng đó suốt mười phút đồng hồ lắng nghe tiếng ngọn lửa xì xì phát ra từ chiếc đèn trong không gian trống trải của căn phòng; dẫu là một kẻ đang yêu, cậu thậm chí chẳng mộng tưởng đến việc đánh cắp dù chỉ một dải ruy băng—thứ có thể mang lại cho cậu hương thơm từ người phụ nữ cậu khắc cốt ghi tâm. Cậu bước ra ngoài, chẳng biết mình đang làm gì hay đi về đâu. Giữa chừng bước chân lạc lối, một luồng gió lạnh buốt thốc thẳng vào mặt cậu. Cậu thấy mình đang đứng ở chân một cầu thang, nơi ngay phía sau cậu, một đoàn thợ đang khiêng một thứ gì đó giống như chiếc cáng thương được phủ một tấm vải trắng.
– Xin hỏi đường ra ngoài đi đằng nào vậy? – cậu cất tiếng hỏi một người trong số họ.
– Cứ đi thẳng trước mặt cậu là thấy cửa mở. Nhưng nhường đường cho chúng tôi qua cái đã.
Chỉ tay về phía chiếc cáng, cậu máy móc hỏi: – Cái gì thế kia?
Mấy người thợ đáp lời:
– “Cái đó” là Joseph Buquet, người vừa được tìm thấy ở tầng hầm thứ ba, bị treo lủng lẳng giữa một mô hình nông trại và một cảnh trí trong vở ROI DE LAHORE.
Cậu ngả mũ, lùi lại nhường chỗ cho đoàn người di chuyển rồi bước thẳng ra ngoài.