Cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng vừa lắng dịu đi hơn hai năm, hoàng đế Lưu Hoành đã không để mắt đến sự an nguy của thiên hạ, lại quay trở về với thái độ trước kia: một mặt ra sức vơ vét, thỏa lòng phung phí, mặt khác đánh đổ các công thần, trọng dụng hoạn quan. Thập thường thị ỷ vào việc được sủng ái, ngạo mạn mua quan bán tước, tựa hồ như đã chen bật hết các quan viên trung thành ngay thẳng ra khỏi kinh thành. Trước kia vốn chỉ có dân chúng bất mãn với triều đình, đến nay sĩ đại phu và các thổ hào địa phương cũng không nghe theo nữa.
Dưới sự đè nén của hôn quân và nịnh thần, các cuộc tạo phản và khởi nghĩa dưới mọi hình thức liên tục nổ ra. Triệu Từ ở Kinh Châu chém thái thú Tần Hiệt dựng cờ đứng lên, rồi khởi nghĩa của Khu Tinh ở Trường Sa, khởi nghĩa của Châu Triều ở Linh Lăng, khởi nghĩa của Quách Thạch ở Quế Dương, bộ lạc Tiên Ti vào cướp U Châu, thủ lĩnh giặc phỉ ở Hán Dương là Vương Quốc tạo phản, thái thú Lũng Tây là Lý Tương Như gây biến, thái thú Tửu Tuyền là Hoàng Diễn đầu hàng người Khương, thổ hào ở Lương Châu là Mã Đằng tạo phản, tộc Hưu Đồ Cách người Hồ gây rối ở Lũng Tây, Khưu Lực Cư người Ô Hoàn ở Liêu Tây gây biến, thái thú Trung Sơn là Trương Thuần tạo phản... Những văn thư cáo cấp gửi về sảnh trung chất đống như núi, công việc mà triều đình phải xử lý hằng ngày là điều quân hết chỗ này đến chỗ khác, dẹp loạn mãi không xong.
Hôm nay có người tạo phản, ngày mai phải đi tiễu trừ, ngày kia lại phản, ngày kìa lại đi dẹp, hết lần này đến lần khác ngày càng dữ dội hơn. Lương Châu ở Tây Bắc, U Châu ở Đông Bắc, Kinh Châu ở Trung Nguyên, Giao Châu ở Đông Nam đã hoàn toàn mất kiểm soát, mười hai châu toàn thiên hạ thì cơ hồ đã bị mất mất một phần ba rồi!
Nhưng ở huyện Tiều, Bái Quốc của nhà họ Tào thì vẫn yên tĩnh không có một gợn sóng. Tuy chính lệnh thuế khóa trưng thu hà khắc, nhưng trước sau vẫn không ai có thể dương cao cờ nghĩa. Một là vị trí vùng này ở bên cạnh Hà Nam, chưa bị quân Khăn Vàng đánh tới; hai là quốc tướng Bái Quốc Viên Trung là người thanh liêm ngay thẳng rất có uy vọng; ba là cũng may nhờ có Tào đại nhân - người từng tham gia dẹp loạn Khăn Vàng đang dưỡng nhàn ở quê nhà, đó cũng có thể coi là một uy lực khiến chúng phải kinh sợ.
Năm xưa nhà họ Tào từng bị liên lụy với Tống hậu mà suy yếu một thời kỳ, sau thời gian ấy, đã có thêm không ít những hiểu biết suy tính. Tào Tung lệnh cho tiểu nhi tử là Tào Đức mua thêm nhà cửa ruộng vườn, tích lũy cối xay lúa dùng sức nước, không ngờ rằng trong những ngày tháng rối ren này nó đã có hiệu quả to lớn.
Sau khi hoàng đế Lưu Hoành tu sửa lại Nam cung, vì muốn có uy nghi vượt hơn cả Ngọc Đường của Quang Vũ đế, đã cho trưng điều vô số đồ đồng, tiền đồng từ các nơi trên toàn quốc về, nấu lên đúc thành bốn pho tượng người đồng tay cầm mâm hứng sương, mỗi pho cao tới hơn hai trượng. Ngoài ra còn có bốn chiếc chuông lớn, cho tới thiên lộc[1], cóc, thú phun nước... tất cả đều to lớn uy nghiêm chạm trổ tinh xảo. Hoàng cung thì sang trọng, nhưng tiền của trong dân gian thì hiếm hoi, hàng hóa không lưu thông, buôn bán khó khăn. Lưu Hoành lại hạ lệnh đem tiền ngũ thù vốn có đúc lại thành tiền tứ xuất mỏng hơn. Loại tiền này thợ đúc thô kệch, chất lượng lại kém, nên tuy số lượng nhiều nhưng giá trị lại thấp, cho nên một thời gian dài tiền thì rẻ mạt mà vật thì đắt đỏ. Lại nhân vì thời cuộc rối loạn, nên giá lương thực một ngày một cao, tăng lên gấp mấy lần. Những người ở thành thị, muốn mua một hộc lương ăn, phải gùi hàng gùi tiền ra ngoài thành, khiến cho dân chúng chỉ có cách lấy vật đổi vật.
Trước tình hình như vậy, số điền sản đất đai ấy của nhà họ Tào đã thu được lợi lớn, lương thực thu được là đã thành tiền. Ruộng đất không ngừng sản xuất, cối xay không ngừng hoạt động, nông hộ trồng trọt lúa dâu, nông phụ nuôi tằm dệt lụa. Bên trái có trang viên của Hạ Hầu gia nuôi dê thả ngựa, bên phải có rừng núi của Đinh gia có thể hái quả, lấy gỗ.
Sản nghiệp ba nhà giao lưu với nhau, tự nhiên có thể tự cấp tự túc, đóng cửa lại là thành chợ rồi. Tào Đức, Hạ Hầu Liêm, Đinh Phỉ đều có khuôn phép trị nhà, không những người trong họ được sống no đủ, mà những nông dân làm thuê cũng đều có lương ăn dự trữ, còn có thể dư thừa đem bán lấy tiền để dự phòng.
Tào Tháo làm quan và đánh trận có thể nói cũng có ít nhiều bản lĩnh, nhưng ít có tài lo sinh kế, không quản lý được việc nông tang. Cả ngày nhìn tiểu đệ mình dẫn theo người trong họ cầm bàn tính, sổ sách chạy đi chạy lại, mà mình thì chẳng thể giúp được gì, không ngăn được cảm khái rằng mình đã xa rời cuộc sống của một người bình thường quá nhiều rồi. Con người muốn sống trước tiên phải có cái ăn, nhưng Tào Tháo ngay chút tài cán này cũng không có. Tuy nói rằng y đã làm quan mười năm, chưa từng tham ô một xu một hào nào, nhưng từ nhỏ gia tài trong nhà đã có hàng muôn vạn của cải, chút bổng lộc mà y kiếm được ấy còn không đủ đem cho, trên thực tế là nhờ vào gia tài trước đây mà sống qua ngày. Hiện nay không còn làm quan nữa, bổng lộc cũng hết, của cải trong nhà tất cả đều nhờ vào tiểu đệ kiếm ra, còn mình thì trở thành một kẻ vô dụng chỉ biết xòe tay cầm tiền mà thôi.
Những ngày tháng như vậy lâu dần, Tào Tháo cuối cùng cũng thấy mình không còn mặt mũi nào nữa, bèn bàn với tiểu đệ muốn học hỏi để cùng quản lý sản nghiệp, giúp Tào Đức bớt phiền hà. Tào Đức cười ha hả nói:
— A Man huynh cũng thật lắm chuyện! Huynh đệ trong nhà cần chi phải phân biệt đây đó? Tiểu đệ lo việc nhà đã lâu, như xe nhẹ quen đường cả rồi. Huynh trưởng cứ việc đọc sách tiêu dao là được. Hà tất phải để tâm vào công việc tầm thường này làm chi?
Câu nói ấy khiến Tào Tháo càng cảm thấy ngại ngùng hơn.
Một lần không được thì bàn hai lần, hai lần đề cập thì hai lần Tào Đức đều nói như vậy. Đến lần thứ ba, thì Tào Đức cũng thấy hơi phiền lòng:
— Phải chăng huynh trưởng không tin tưởng tiểu đệ? Số của cải trong nhà này huynh với đệ đều được giống nhau. Mấy năm trước, tiểu đệ đã cắt sản nghiệp cho huynh, ruộng tốt cây tốt đều rõ ràng, mang sổ sách ra là thấy rõ ngay. Khi nào huynh muốn chia nhà, chỉ cần nói với tiểu đệ. Nếu bản thân huynh không thông hiểu những việc đời thường này, đệ sẽ cắt mấy đứa ở giỏi giang sang làm cho huynh. Huynh có bằng lòng chia nhà không? Chúng ta có thể gửi thư cho phụ thân để bàn rõ việc này.
Câu nói ấy khiến Tào Tháo sợ hãi quá, vội vàng xua tay nói:
— Đệ hiểu lầm rồi, hiểu lầm rồi! Huynh với đệ từ nhỏ đã sống bên nhau sao lại nói đến chuyện chia nhà.
Từ đó không bao giờ Tào Tháo dám nói đến chuyện lo giúp công việc cho Tào Đức nữa.
Tào Tháo cảm thấy sống rảnh rỗi nhàn hạ như vậy thực buồn chán. Nhàn nhã không có việc gì lại cưỡi ngựa đi chơi, đột nhiên y nhớ đến mấy gian nhà cỏ năm xưa đã giấu tỷ đệ Biện thị. Ra ngoại ô phía đông huyện năm mươi dặm xem lại, thấy hàng rào, nhà tranh vẫn như xưa, chỉ có cỏ dại đã mọc cao quá đầu người. Khu đất này bốn phía xung quanh không có nhà cửa nào khác, lại dựng bên sườn núi vô cùng yên tĩnh. Tào Tháo vội về nhà dặn dò người ở dọn dẹp sửa chữa, dựng một căn nhà cỏ mới, lại làm thêm hai gian nữa. Từ đó Tào Tháo chuyển đến lều cỏ ở, xuân hè thì đọc sử sách, thu đông thì săn bắn, chỉ có phu nhân Biện thị dẫn theo a hoàn Hoàn nhi đến cùng, có thể nói là cách xa hẳn tất cả mọi phiền não.
Chớp mắt thời gian một năm đã trôi qua, suốt thời gian sống bán ẩn cư như vậy, Tào Tháo dường như đã tìm được cho mình sự yên lành vô ưu vô lo.
Bỗng một hôm, Tào Tháo đang đọc sách thì Biện thị đi lại ôm lấy cổ, ngâm một bài thơ:
Kìa trông trên khúc sông Kỳ;
Bờ tre mới mọc xanh rì thướt tha.
Có người quân tử tài ba;
Như lo cắt, giũa để mà lập thân.
Dùi mài dốc chí siêng cần;
Xem người thận trọng thêm phần nghiêm trang.
Hiển vinh danh tiếng rỡ ràng;
Có vua văn nhã hiên ngang đây rồi,
Rốt cùng dân chẳng quên người.
Khúc sông Kỳ hãy nhìn qua;
Bờ tre rậm rạp la đà bền dai.
Có người văn nhã anh tài;
Tú doanh đá quý bên tai đeo vào.
Mũ da ngọc sáng như sao;
Xem người thận trọng lại giàu nghiêm trang.
Hiển vinh danh tiếng rỡ ràng;
Có vua văn nhã hiên ngang đây rồi,
Rốt cùng dân chẳng quên người.
Khúc sông Kỳ hãy nhìn trông;
Hàng tre lớp lớp trập trùng lên cao.
Có người văn nhã anh hào;
Như vàng như thiếc luyện trau tinh thuần.
Như khuê như bích tinh nhuần;
Xem người hòa hoãn thêm phần khoan thai.
Ôi! Trên xe lẫm lẫm ngồi;
Tính hay đùa cợt nói cười tự nhiên,
Không hề châm biếm gây phiền.[2]
Nàng vốn xuất thân là ca nương, nên rất thuộc thi ca Kinh thi, giọng hát thật hay mà không hề lơi lả. Tào Tháo cười nói:
— Ta đây tướng mạo thế này, làm gì có điểm nào được coi là bậc mỹ nam? Nàng thật là khoa trương quá.
— Ai hát về chàng chứ? - Biện thị nhướng mày, - Chàng đã quá tuổi nhi lập rồi!
— Vậy thì đã sao? Bài Kỳ úc trong Vệ Phong này vốn là hát về Trịnh Vũ Công. Trịnh Vũ Công bảo vệ cho triều đình nhà Chu, phụ chính đến năm chín mươi tuổi. Ta giờ mới ba mươi ba, làm sao lại không thể hát về ta chứ?
Biện thị hờn dỗi nói:
— Chàng đúng là biết nhiều! Đó đều là cái học của kẻ sĩ phu làm quan, còn bọn thiếp là người hát xướng, chỉ biết khúc hát, làm sao biết được nhiều chuyện như thế.
Tào Tháo chợt thấy nhói lòng, năm xưa vì chuyện công danh, được Kiều Huyền chỉ dẫn, y đã ra công đọc Kinh thi, cuối cùng nhờ vào việc hiểu cổ học mà lại được làm quan. Đến nay trở về phận bạch đinh, những cái học của kẻ sĩ phu làm quan ấy há chẳng phải là uổng công ư?
Biện thị dường như nhìn thấu tâm tư của Tào Tháo, không để cho y nghĩ nhiều, kịp thời đặt một nụ hôn lên má Tào Tháo.
— Nàng làm gì vậy? Đã là phu thê lâu năm rồi, lại còn trước mặt a hoàn nữa chứ.
Biện thị ngoảnh lại nhìn, trông thấy Hoàn nhi đang che miệng cười đi vào, cũng cười theo nói:
— A hoàn nào chứ? Đó là nghĩa muội của thiếp, lại chẳng phải người xa lạ, trông thấy cũng đâu có sao.
Tào Tháo đưa mắt lườm Biện thị:
— Nàng không được cản trở ta đọc sách nhé.
Hoàn nhi chạy đến nói:
— Lão gia thật ngốc, Biện tỷ tỷ đã có mang rồi mà không biết.
— Có mang? - Tào Tháo giật mình, chằm chằm nhìn vào bụng Biện thị, - Nàng... nàng có rồi?
— Trời đất tổ tông ơi! - Biện thị nhéo mũi Tào Tháo, - Sắp được năm tháng, bụng thiếp đã hơi lớn lên rồi, mà chàng chẳng biết gì cả. Hoàn nhi nhanh miệng quá, nếu cứ như thiếp, trước sau sẽ chẳng bao giờ nói cho chàng biết, đến chín tháng mười ngày khai hoa nở nhụy, xem xem chàng được làm cha có thấy ngượng không?
Tào Tháo vội vàng úp tai mình vào bụng Biện Thị nghe thử.
— Mới hơn bốn tháng đã nghe thấy gì được? Thiếp hát bài Kỳ úc, đó là hát về tiểu nhi tử của thiếp, sau này tất sẽ dung mạo đường đường, không giống như chàng đâu!
— Làm sao nàng biết là con trai hay con gái?
Người ta nói người mẹ thường nhờ vào con trai mà quý hiển, Biện thị tất nhiên cũng muốn sinh được con trai, liền nói ra miệng:
— Tiểu tử này thật hư quá, cứ liên tục giẫy đạp trong bụng thiếp, chắc chắn là một đứa con trai nghịch ngợm.
Tào Tháo cười sung sướng bảo:
— Con trai hay con gái đều thế cả, đều nghịch ngợm chứ không ngoan như là nàng sinh một quả trứng đâu.
— Chàng thôi đi nào! Thật không nghiêm túc gì cả! - Biện thị gí tay lên trán Tào Tháo, - Hừ, ngày nào cũng loanh quanh một chỗ, bụng thiếp đã lớn lên rồi mà chàng cũng không nhận ra, không biết là ngày ngày chàng nghĩ những gì nữa?
— Ta thấy rồi, nhưng cứ nghĩ là cuộc sống hằng ngày của chúng ta tốt đẹp bình yên, nàng đã mập lên chứ!
— Hừ! Chàng lại huyên thuyên rồi. - Biện thị đứng dậy dọn dẹp sách vở để khắp xung quanh.
Tào Tháo thấy nàng phải cúi mình xuống nhặt, vội vàng giành lấy:
— Để đấy ta! Để đấy ta! Cẩn thận kẻo làm nàng lại bị ảnh hưởng đấy.
Hoàn nhi buồn cười nói:
— Lão gia cũng hay lo quá, mới hơn bốn tháng thôi.
Tuy nói như vậy, nhưng từ hôm ấy Tào Tháo cũng không dám bảo Biện thị làm việc gì nữa, mọi việc nếu không tự làm thì sẽ sai bảo Hoàn nhi đi làm. Hơn nửa tháng sau đó, Tào Tháo thực sự không thể kiên trì được, chẳng nói đến chuyện ngày ngày đều phải cẩn thận giữ gìn, đến đọc sách cũng không còn tâm tư đâu nữa. Biện thị thấy vậy than thở nói:
— Thiếp ở đây, chàng không được an tâm, chẳng bằng chúng ta quay về nhà, có nhiều kẻ ăn người ở cũng dễ sai bảo.
Tào Tháo đồng ý luôn, sai Hoàn nhi về nhà gọi xe, dặn kỹ phải chuẩn bị xe rộng, ngựa thuần, không được sóc. Sáng sớm ngày hôm sau, Biện Bỉnh đã đích thân đánh xe đến, Tào Tháo lấy ba lớp đệm cỏ lót lên làm đệm cho êm, rồi đỡ Biện thị lên xe tựa như tên người hầu đỡ chủ nhân lên vậy. Rồi bảo Hoàn nhi theo hầu, còn mình cùng với tiểu cữu ngồi hai bên xe. Biện Bỉnh liền lôi Tào Tháo ra đùa:
— Tỷ phu không làm quan, lại muốn đi làm người hầu. Thế này thì tỷ tỷ của đệ trông thấy sẽ sót lắm đây. Một là sót huynh, hai là sót tiền. Người hầu mà lương hai ngàn thạch, có dùng nổi không chứ!
Câu ấy tuy là đùa vui nhưng cũng khiến Tào Tháo trong lòng đau nhói, chỉ bảo:
— Ta chỉ là vì tỷ tỷ của đệ thôi.
— Chàng đừng nói bậy! - Biện thị ngồi phía sau nói chen vào, - Chàng vì nhi tử của chàng thôi!
— Phải phải phải, bà lớn nói đúng rồi! - Tào Tháo ra bộ thuận ý vâng theo, khiến tất cả mọi người trong ngoài xe đều buồn cười.
Năm mươi dặm đường cũng không phải gần, Tào Tháo lại không cho Biện Bỉnh ra roi đi nhanh, xe ngựa đi chậm chỉ như xe trâu. Sáng sớm ra khỏi khu nhà cỏ, đi đến đầu thôn thì đã quá trưa rồi, Lâu Dị đội nắng đứng đón đã gần một canh giờ.
Vừa tiến vào trang viên, các thẩm nương, tức phụ trong họ tộc đều đã đến cả, vây lấy xe trò chuyện cùng Biện thị, có người còn mang theo cả hoa quả trứng gà đến nữa. Đàn bà gặp nhau thật là nhiều chuyện để nói, nhất là khi nói đến chuyện sinh con. Tào Tháo xưa nay không thích chuyện đàn bà cà kê với nhau, nhưng hôm nay bản thân là cha đứa trẻ nên có phiền mấy cũng vui cười.
Khó khăn lắm mới đợi được đến khi đám đàn bà con gái giải tán, lại thấy nhi tử Tào Ngang và điệt nhi Tào An Dân nô đùa chạy tới. Hai đứa trẻ đã bảy tuổi rồi, lại sinh cùng ngày, cùng học cùng chơi, thân thiết nhau như hình với bóng. Chúng ôm lấy chân Tào Tháo gọi phụ thân, bá phụ, nũng nịu hồi lâu, rồi lại kéo Biện Bỉnh bắt cậu phải cùng chơi. Biện Bỉnh dỗ mấy câu, lại lôi trong áo ra một nắm xúc xắc làm bằng xương dê đưa cho, bọn chúng mới chịu chạy đi chơi.
— Đệ đúng là vua dỗ trẻ, đã dỗ trẻ nhỏ hai đời rồi. Đến bao giờ mới chịu dỗ con mình đây?
— Tỷ phu nói nghe dễ thế, đệ còn chưa lấy vợ đây!
Tào Tháo cười nói:
— Đệ thấy vừa mắt con gái nhà nào chưa, ta sẽ đứng ra lo cho.
— Đệ tưởng muốn ai, thì trong lòng huynh tỷ cũng đã tính rồi. - Vừa nói Biện Bỉnh vừa đưa mắt về phía Hoàn nhi đang ngồi trên xe, Tào Tháo chỉ cười, vờ như không thấy, chăm chú nhìn phía trước mặt không trả lời câu hỏi của Biện Bỉnh.
Đoàn người chậm chạp về đến trước nhà, đỡ hầu Biện thị vào nhà, rồi sắp đặt lại đồ đạc cũng mất một phen rối rít. Tào Tháo chẳng quan tâm đến việc gì, trước tiên đến phòng của chính thất Đinh thị báo tin cho biết. Vừa mở cửa đã thấy Đinh thị đang bận rộn trước khung cửi dệt, con gái cũng đang ở bên giúp đỡ. Con gái lớn đã mười tuổi, từ nhỏ đã có hôn ước với Hạ Hầu Mậu con trai Hạ Hầu Đôn, cả ngày theo giúp mẹ làm việc nhà, rất biết vâng lời.
Tào Tháo cười nói:
— Con gái, đi thăm di nương con đi.
Đinh thị thấy con gái đi rồi, mới quay sang phu quân trách cứ:
— Chàng cũng có lúc biết quay về ư! Nửa tháng trời mới về nhà một lần, coi chỗ thiếp ở đây là cái gì chứ?
Đinh thị dung mạo tầm thường, tính khí cố chấp, lại lớn hơn Tào Tháo hai tuổi, nhưng là vị hiền thê thay chồng dạy con. Đặc biệt là trong thời gian nhà họ Tào mắc nạn trước đây, Đinh thị lo toan việc nhà, khuyến khích Tào Tháo cố gắng, lại vất vả nuôi dạy đứa con mà tiểu thiếp Lưu thị sinh hạ trước khi chết là Tào Ngang khôn lớn nên người.
Cho nên Tào Tháo đối với nàng nói đến yêu thì không bằng nói đến sự kính trọng.
Bàn tay Đinh thị thật khéo léo, chiếc thoi dệt giống như một con cá nhỏ chạy qua chạy lại giữa sợi tơ gai. Vừa dệt vải, nàng vừa phàn nàn với phu quân:
— Chàng, gia nghiệp thì không biết quản lý, con cái lại cũng không biết thương ư? Ngang nhi là cốt nhục của chàng, chàng đi một mạch sáu năm trời, thế mà trở về đến gặp mặt con cũng không, con sắp quên mất mặt chàng thế nào rồi đấy! Lại nữa, tuy nói phụ thân không ở bên, nhưng chàng cũng phải có ý thức của người làm con. Phụ thân từ Lạc Dương gửi thư về hết bức này đến bức khác, chàng không chịu đi làm quan thì cũng thôi, cứ đàng hoàng đến Lạc Dương nói với lão nhân gia một câu! Cha con cứ người gửi đi kẻ gửi lại tranh cãi nhau trên thư từ, như vậy còn ra làm sao nữa? Lâu Dị suốt một năm nay chỉ có mỗi việc chạy đi đưa thư cho hai cha con chàng thôi. Chàng cũng là hiếu liêm, vậy mà có chút hiếu thuận nào đâu? Đã ba mươi ba tuổi rồi, một chút đứng đắn...
— Nàng chớ nói nữa. - Tào Tháo vẻ mặt buồn rầu vỗ về lên lưng Đinh thị, - Mỗi lần về nhà nàng đều có nhiều chuyện để nói như vậy. Ta biết nàng cũng rất vất vả, hãy nghỉ ngơi đi!
— Đúng là oan gia, con người thiếp nghỉ ngơi được, chứ làm sao tâm can có thể nghỉ ngơi được?
Trong lúc nói chuyện, Đinh thị đã dệt xong một tấm vải, Tào Tháo giúp nàng dỡ tấm vải xuống, sờ lên mặt vải dày dặn mịn màng, Tào Tháo cất tiếng khen ngợi:
— Hiền thê có tay nghề thật tuyệt. Nhưng nhà ta có thừa tiền, làm sao phải cần nàng tự dệt vải, nàng đừng tự làm vất vả mình quá thế.
Đinh thị không để ý đến câu nói ấy của Tào Tháo, chỉ cười nói:
— Chàng xem xem, đem may một bộ quần áo cho Ngang nhi nhà ta có được không? Số vải dư còn lại, vừa hay đem dùng cho tiểu tử mà Biện muội muội sinh hạ. Thế là ổn thỏa đôi đường.
Phải có những lúc thế này, Tào Tháo mới cảm thấy Đinh thị đáng yêu đáng mến, cười nói:
— Đều là con của người khác, khi nào nàng cũng vì ta mà nuôi một đứa đây?
Đinh thị thở dài:
— Ôi... Chàng không đến, khi nào thiếp mới có thể nuôi đây?
— Tối nay ta sẽ tới. - Tào Tháo cười ngượng.
— Tùy chàng thôi, muội muội trước lúc chết đã ký thác Ngang nhi cho thiếp, nó chính là cốt nhục của thiếp. Một khi thiếp đã là đại phu nhân của Tào gia chàng, thì con của ai sinh ra mà không phải là con thiếp chứ? Sinh hay không sinh cũng không quan trọng, chỉ mong Ngang nhi sau này có tiền đồ, đại nữ nhi có thể gả cho nhà Hạ Hầu yên ổn là thiếp đủ mãn nguyện rồi.
Tào Tháo tiến lại gần, muốn ôm hôn Đinh thị, chợt nghe bên ngoài có tiếng Tào Đức gọi to:
— Đại huynh! Mau ra đây nào, gã to con đến đây này!
Tào Tháo vội vã chạy ra sân, đã thấy Hạ Hầu Uyên bế một đứa bé to béo cởi truồng khoảng ba tuổi đang ha hả cười to.
— Huynh đúng là có một! Con nhỏ thế này mà để thể như thế ư? Mà phu nhân huynh cũng không nói gì sao. - Tào Tháo trách bảo.
— Mạnh Đức huynh không hiểu rồi, trẻ con là phải thế thật nhiều, sau này mới khỏe mạnh không bệnh tật. - Hạ Hầu Uyên nghếch mặt quay sang Tào Đức nói to, - Tử Tật, huynh mau đến nhìn kỹ xem này. Đây là con rể của huynh, có khi huynh không bế nổi nó đâu!
Đứa bé mà Hạ Hầu Uyên bế là con trai Hạ Hầu Uyên - Hạ Hầu Hành, đứa nhỏ từng chỉ phúc vi hôn với con gái của Tào Đức.
— Ôi dà, Hành nhi, Hành nhi! Con mập quá. - Tào Đức đùa đứa nhỏ, - Với con thì tướng mạo thế này có thể làm con rể ta đấy! Nhưng cha con thì ta còn phải suy nghĩ thêm đã.
Mọi người nghe thấy vậy cười ha hả cả lên. Trong lúc nói chuyện, lại có một nông dân cao lớn mặc áo vải thô chen đến, nách còn kẹp chiếc cần câu, tay xách mấy con cá lớn.
— Tần đại ca! Lại để huynh phải tốn kém rồi, tiểu đệ thật ngại quá. - Tào Tháo vội vàng ra đón.
Tần Thiệu nhoẻn cười nói:
— Bằng hữu mà... Nào! Như nhà ta đây thì còn thiếu gì đâu, ta lại là một kẻ cùng đinh, chỉ câu mấy con cá , để đệ muội bồi bổ thêm.
Tào Tháo nhận lấy cá rồi giao cho Lâu Dị, lại khách khí nói:
— Tần đại ca đã đến rồi, mau ngồi xuống nghỉ đã, lát nữa chúng ta cùng uống mấy chén rượu.
— Ta còn có việc phải làm, không ở lại được, hôm khác lại cùng uống vậy!
Tần Thiệu còn chưa nói dứt câu thì phía sau đã có người tiếp lời:
— Huynh không uống, thì tôi uống! - Hóa ra là con ma men Đinh Xung mặt đỏ phừng phừng đi vào, tay còn cầm chặt bầu rượu, phía sau còn có trưởng huynh là Đinh Phỉ, trên tay bưng một chiếc hộp.
Tào Tháo đùa bảo:
— Huynh còn muốn uống nữa ư? Cả ngày đã như một con mèo khướt rồi. Cẩn thận kẻo uống đến thủng ruột say chết mất đấy.
— Say chết thì say chết, chết rồi thì ngâm vào trong chum rượu! - Đinh Xung nói xong lại dốc một ngụm lớn.
Tào Tháo không để ý đến Đinh Xung nữa, vội giữ Tần Thiệu lại. Tần Thiệu chỉ xua tay, lại lôi từ trong giỏ tre sau lưng ra một con cá to nhất, cười nói:
— Vợ tôi cũng có mang rồi, còn đang ở nhà đợi món canh cá của tôi đấy! Hôm khác chúng ta sẽ tụ tập vậy.
Đinh Phỉ thấy vậy, túm chặt lấy Tần Thiệu, mở cái hộp trong tay, lôi ra một miếng ngọc như ý và một cây trâm vàng tinh xảo nói:
— Bá Nam huynh, chút quà nhỏ này hãy cầm lấy để cho trẻ nhỏ chơi nhé!
— Không dám không dám! - Tần Thiệu xua tay:
— Năm mất mùa đói kém, mấy gia đình các huynh đã chu cấp cho tôi bao nhiêu rồi, cái này tôi không thể lại cầm nữa.
Đinh Phỉ vốn nổi tiếng là thần giữ của, hôm nay lại hào phóng đến hiếm có như vậy, đem hai món đồ vật ấn vào tay Tần Thiệu:
— Ta đâu có cho huynh, là cho đứa nhỏ cơ mà. Nếu là con trai thì tặng miếng ngọc như ý, còn cây trâm thì giữ lại để sau này đem hỏi vợ. Còn nếu là con gái thì tặng cây trâm vàng, còn miếng ngọc như ý thì sau làm của hồi môn.
— Ha ha ha... Huynh đúng là biết lo xa. - Tào Tháo cười ha hả.
Tần Thiệu không tiện từ chối mãi, nhận lấy tặng vật, muôn vàn cảm tạ rồi lui đi. Đinh Phỉ đem những đồ vật còn lại đưa luôn cả hộp vào tay Tào Tháo:
— Tất cả những thứ này đều tặng cho tiểu tử nhà huynh đấy.
— Ối! Thế này nhiều quá.
— Huynh nhận lấy đi! - Tào Đức cười nói, - Đinh Văn Hầu có thể nói là giữ của không rời, khó có khi được rộng rãi thế này lắm, huynh không nên làm bẽ mặt huynh ấy.
Tào Tháo nhìn tất cả thân bằng đang ngồi đầy sân cười nói:
— Tào Tháo ta chẳng qua muốn nuôi một đứa con, mọi người hà tất phải khách sáo như vậy chứ?
Đinh Phỉ xua tay:
— Mọi người đều muốn tìm một cơ hội để cùng nhau tụ tập. Cuộc đời như bóng câu qua cửa, không thể không xét điều ấy. Năm xưa chúng ta còn là bọn thiếu niên cùng tụ tập đá cầu với nhau, thế mà nay đã đều làm cha rồi! Huynh nói xem, ngày tháng trôi có nhanh không!
Tào Tháo vô cùng cảm khái, trong lòng thầm nhủ: “Phải rồi! Đã là những kẻ làm cha cả, thời gian trôi đi thật nhanh quá! Chỉ có điều đến nay ta vẫn chẳng làm được việc gì, nhàn cư ở nhà, tháng ngày lần lữa biết bôn ba thế nào? Chẳng biết năm nào tháng nào mới đến được thời thái bình, còn có thể dấn thân vào chốn triều đường mà thành tựu công danh nữa hay không?”
Trong lúc Tào Tháo đang suy nghĩ, lại nghe tiếng cười vui liên tục. Một thanh niên trắng trẻo khôi ngô thong thả bước vào: mặt mũi tướng mạo, đoan trang chỉnh tề. Con mắt sáng ngời, lông mày cong cong, vóc người cân đối, cốt cách cao lớn. Người này mặc chiếc áo dài, gấm thêu rực rỡ, đi đứng cử chỉ, sang trọng phi phàm - đó chính là Tào Thuần - người con út của nhị thúc Tào Xí, tiểu đệ của Tào Nhân. Lại có tiểu đồng Lã Chiêu ôm theo sách vở đi theo bên cạnh.
— Tử Hòa, sao cậu bây giờ mới đến?
— Đệ vừa mới cho bọn trẻ con tan học.
Tào Tháo giật mình, ngạc nhiên nói:
— Hiện giờ đệ dạy ở nhà hương học ư?
Tào Thuần chắp tay cười nói:
— Tiểu đệ cũng miễn cưỡng mà đảm đương.
Tào Tháo trộm ngắm nghía hắn hồi lâu: Năm xưa nhà họ Tào gặp nạn, Tào Xí - phụ thân hắn bạo tử trên đường hồi hương, khi ấy hắn mới có mười bốn tuổi. Huynh trưởng là Tào Nhân làm chức lại ở Hoài Nam, không thể không chia nhà. Cũng may mà Tào Xí giàu có nức tiếng giỏi kiếm tiền, rốt cuộc để lại cho hắn một phần điền sản sung túc nhất trong họ, kẻ hầu hạ người làm thuê đông đến hàng trăm. Tào Thuần từ rất nhỏ đã tự mình lo việc nhà, cai quản hơn một trăm người mà vẫn dư sức, còn có thể đọc sách học hành. Tào Tháo không ngăn được thán phục bảo:
— Tử Hòa tinh minh hơn người, thật là trời phú.
Tào Thuần lại chỉ vào Lã Chiêu bảo:
— Đệ chả có gì đáng kể, tiểu tử này mới là thần đồng này! Mới chỉ vài tháng ngắn ngủi, mà đã học đến Kinh thi rồi.
Lã Chiêu nghe Tào Thuần khen ngợi, gãi đầu ngượng nghịu bảo:
— Là thầy và Tử Tật thúc thúc dạy hay đấy ạ.
Tào Đức đang lo lắng chuẩn bị cỗ bàn, tiếp lời nói:
— Ta thì có dạy dỗ được gì đâu! Hiện giờ chẳng qua chỉ là một tay thổ tài chủ thôi, đó là công lao của Tử Hòa đấy. A Man, huynh vẫn chưa biết nhỉ? Mấy hôm trước phụ thân vừa gửi thư về, nói là đã sắp đặt đâu đấy, Tử Hòa nhà ta năm tới sẽ được xét hiếu liêm rồi.
Tào Tháo gật gật đầu:
— Tử Hòa, đệ sắp làm ông hiếu liêm thứ ba trong số huynh đệ chúng ta rồi.
Tào Thuần cảm thán nói:
— Ngày nay thiên hạ rối loạn, dân đen đói khổ rên xiết vô cùng nguy cấp. Bọn sĩ nhân chúng ta đều nên dốc sức mà làm việc, đợi đệ vào triều làm quan, nhất định sẽ vì sự an nguy của xã tắc mà không ngại sống chết. Trên thì nâng đỡ cho phong khí của xã tắc, dưới thì vỗ về những khốn khổ của chúng dân!
— Hay lắm! Rất có chí khí! - Mọi người đều lũ lượt khen ngợi.
Tào Tháo không biết làm sao chỉ mỉm cười: “Mình năm xưa cũng đầy chí khí có khác gì cậu ta hôm nay? Nhưng kết quả thì thế nào đây? Con người ta tất nhiên phải cố gắng hành động, nhưng trước thói đời này, ai thực sự có thể trên nâng đỡ, dưới vỗ về như vậy? Đợi đến khi cậu ta vào triều rồi sẽ hiểu ra...”
Rượu thịt hoa quả đã bày ra, mọi người lần lượt vào chỗ ngồi, đưa chén nâng ly bày biện đủ cả, mọi người đều nói cười vui vẻ. Chỉ có Tào Tháo ăn không thấy ngon, uống không thấy ngọt. Tào Tháo nhìn khắp trong nhà, tất cả mọi người đang ồn ào vui vẻ. Giờ đây Tào Tháo có những bằng hữu thân thiết như Quản Bão, Dương Tá bên mình, lại có tình phu thê, là những niềm vui phải lẽ, vậy mà sao vẫn không phấn chấn nổi tinh thần? Không biết ai nói chuyện mãi, lại nói đến chuyện Hạ Hầu Đôn, Tào Nhân, Tào Hồng đang đi làm quan ở nơi khác, càng khiến Tào Tháo buồn bã không chịu nổi. Lúc này đây chỉ có Đinh Xung là hay nhất, Tào Tháo cứ việc đối ẩm với hắn ta, chẳng cần phải nói một câu nào cả.
Tiệc rượu kéo dài mãi đến khuya mới tan, Tào Tháo đi đến phòng Đinh thị, nằm trên giường ngủ nhìn vợ đang dệt vải nói:
— Nàng còn chưa đi ngủ sao?
— Dệt thêm một tấm nữa cho An Dân điệt nhi may bộ quần áo mới đã. Tử Tật đối với chúng ta tốt như vậy, thiếp là bác cả cũng phải yêu thương cháu chứ. - Đinh thị bóp bóp sau gáy, dừng công việc đang làm lại, - Thiếp vừa đến thăm Biện muội muội rồi, muội muội đã có mang gần năm tháng mà sao chàng cũng không nhận ra chứ?
— Ta sơ ý đấy.
— Sơ ý hay là trong lòng chàng còn đang lo nghĩ những việc khác? Bụng đã lớn ra thế mà chàng cũng không trông thấy?
Tào Tháo trùm tấm chăn che kín đầu:
— Ôi chao, bà lớn của ta! Nàng không thể nhàn nhã được một chút sao, vừa làm việc lại còn vừa lo nghĩ thế.
Đinh thị cởi áo nói:
— Người ta dù thế nào cũng không thể nhàn nhã được, nhàn nhã là lười biếng ngay.
Câu nói ấy của nàng chỉ là buột miệng nói ra, nhưng Tào Tháo đang nằm trong chăn nghe thấy lại vô cùng khó chịu, cứ như câu ấy là nói với mình vậy. Tối hôm ấy, hai người họ vẫn không có niềm vui chăn gối gì, Tào Tháo chỉ cùng Đinh thị nghĩ đến tương lai của con cái.
Ngày hôm sau, tất cả mọi việc lại trở lại như bình thường. Tào Đức cầm sổ sách của mình tính toán; Đinh thị ở trong phòng tiếp tục dệt vải; Biện thị đang mang bầu cùng ngồi trò chuyện với Đinh thị; Hoàn nhi và con gái lớn của Tào Tháo thì giúp đỡ việc nọ việc kia cho hai vị phu nhân; Lâu Dị lại mang thư từ tiếp tục lên đường; Biện Bỉnh thổi sáo dỗ bọn trẻ con các nhà; Tào Ngang, Tào An Dân theo tiểu thúc thúc Tào Thuần đến nhà hương học, Lã Chiêu ôm sách vở đi theo... Chỉ còn lại một mình Tào Tháo!
Tào Tháo nhàn dạo nửa ngày, nhưng trong lòng vẫn buồn bã không thể nào chịu nổi, tất cả mọi người đều có công việc phải làm của mình, còn Tào Tháo thì nên làm việc gì đây? Ăn nháo nhào xong bữa trưa, Tào Tháo bèn cưỡi con ngựa đại uyển lại quay trở về khu nhà cỏ. Nhưng Tào Tháo không đi thẳng về, mà để mặc cho con ngựa thong dong khắp làng mạc, tận đến khi nó đã mệt sức, bầu trời cũng đã dần tối, mới về tới khu nhà cỏ trống trơn.
“Tất cả đều yên ổn! Chuyện này chẳng qua là không ốm mà rên, không ốm mà rên thôi...” - Tào Tháo nằm một mình trong gian nhà cỏ tối thui, không ngớt tự an ủi mình như vậy.
Rồng vàng xuất hiện ở huyện Tiều
Từ sau khi Biện thị về nhà, cuộc sống của Tào Tháo ở lều cỏ càng thêm vắng vẻ. Không có ai hát cho nghe, không có ai ngồi uống rượu cùng, càng không có ai để Tào Tháo ôm ấp nói những câu yêu đương. Nhưng nếu quay về nhà, Tào Tháo lại không chịu nổi không khí vụn vặt ấy, dường như y đã không thể thuộc về cuộc sống bình thường như vậy nữa rồi.
Nghĩ đi nghĩ lại, Tào Tháo hốt nhiên nhớ lại chuyện theo Chu Tuấn đi đánh trận năm xưa, liền tìm mấy cuốn Tôn Tử, Ngô Tử, Quỷ Cốc Tử, Lục Thao, dự tính soạn cuốn Binh thư Tiết yếu của mình. Khoảng thời gian này, Biện Bỉnh và Lâu Dị thỉnh thoảng lại đến chăm lo công việc cho Tào Tháo, mang gạo mang củi đến. Đinh phu nhân thì cứ cách khoảng mươi ngày lại đến kể cho nghe chuyện ở nhà, nhân tiện mang quần áo thay ra về giặt giũ. Có việc để làm, thời giờ dường như có ý nghĩa hơn. Hằng ngày tầm chương trích cú, bút mực ghi chép, chớp mắt đã đến mùa đông. Mấy cuốn sách viết xong xuôi, lại có thể cưỡi ngựa đi săn được rồi, trong mấy ngày có đủ cả văn lẫn võ cũng coi như thỏa thích.
Hôm ấy tiết trời mát mẻ, Tào Tháo bỏ bút đi ra ngoài ngõ, nhân buổi đẹp trời có thể ra ngoài sưởi nắng, bỗng nghe thấy từ xa có người gọi tên mình:
— Mạnh Đức... Mạnh Đức...
Tào Tháo nghe tiếng gọi vang vang rất quen tai, nhưng nhất thời không nhớ ra là ai, vội trông khắp bốn xung quanh. Thấy không có ai, cho rằng mình ở một mình vắng vẻ, nên sinh ra ảo giác. Một cảm giác thất vọng ùa về, Tào Tháo muốn quay về phòng nằm nghỉ một lúc, lại nghe thấy:
— Mạnh Đức... Tào Mạnh Đức... Huynh ở đâu...
Quả thực có người đang gọi mình! Tào Tháo tìm không thấy bóng ai, cũng kêu theo một câu:
— Ta ở đây... ở bên này! - Liên tục kêu một lúc lâu, thì thấy khu đồi núi phía chính tây xuất hiện một người cưỡi ngựa, người ấy vóc dáng cao lớn, mặc võ phục, đội mũ hạt vĩ, hai chiếc lông đuôi trĩ trông thật nổi bật, quất ngựa vun vút phi đến. Đợi đến gần trước mặt mới nhận ra, người đó chính là Thôi Quân.
— Nguyên Bình huynh, huynh đấy ư? - Tào Tháo vội bước đến đón.
— Ha ha ha... Mạnh Đức, lâu lắm không gặp rồi! - Thôi Quân xuống ngựa chắp tay nói.
Tào Tháo dắt ngựa thay cho Thôi Quân:
— Sao huynh lại tới đây?
— Đến đây để thăm vị ẩn sĩ cao hiền trong núi sâu này là huynh đó thôi.
— Đừng có đùa thế, huynh xem thảo lư này của ta cũng không tệ đấy chứ?
— Ôi chao, huynh ở chỗ này khiến ta tìm vất vả quá! - Thôi Quân không có lòng dạ ngắm cảnh, - Đầu tiên là đến nhà huynh, gặp được Lâu Dị, nói huynh hiện ở trên thảo lư ẩn cư rồi. Lâu huynh đệ nói là sẽ dẫn đường, nhưng ta bảo không cần phiền, để tự ta đi tìm. Nào ngờ nhiều đồi núi quá, lạc mất đường đi, ta không biết làm sao, mới lấy giọng mà kêu thôi!
— Mời huynh mau vào trong ngồi. - Tào Tháo vừa nói vừa dắt tay Thôi Quân.
Thôi Quân hơi ngại ngần, xoa xoa bụng nói:
— Ta hỏi câu này, Mạnh Đức. Có cái gì ăn được không?
Tào Tháo giật mình, vội nói:
— Có có, huynh đợi một chút.
Nói rồi để Thôi Quân vào trong thảo lư, còn Tào Tháo buộc ngựa xong liền chạy xuống bếp lấy canh cá mà Đinh thị để lại bưng lên. Vừa mới định bụng nhóm lửa, nấu lại cho nóng, thì Thôi Quân đã theo chân vào:
— Không cần phiền phức huynh thế, nguội thế cũng được. - Nói rồi giành lấy ăn luôn.
Tào Tháo trông thấy lấy làm ngạc nhiên, món canh cá này vốn là Tào Tháo sợ tanh nên mới chưa ăn hết, thế mà Thôi Quân ăn cứ như sơn hào hải vị. Trông Thôi Quân bưng bát, đứng ngay trước cửa bếp ăn, cứ như mấy ngày rồi chưa được cái gì vào bụng vậy. Tào Tháo lại tìm thêm một chiếc bánh bột mì nướng, chỉ nháy mắt, Thôi Quân lại đã chén sạch. Đợi Thôi Quân ăn xong, Tào Tháo mới đưa trở lại thảo lư, ngồi xuống hỏi:
— Nguyên Bình huynh, huynh làm sao thế? Cứ y như đang chạy nạn vậy!
Thôi Quân lau miệng nói:
— Cũng chẳng khác gì chạy nạn. Ta bị phụ thân đuổi khỏi nhà rồi.
— Ồ! Có chuyện gì vậy? - Tào Tháo càng thêm ngạc nhiên, có chuyện gì mà khiến cho ông già Thôi Liệt vốn rất hòa nhã lại nổi giận đến vậy.
Thôi Quân thở dài, bỏ chiếc mũ hạt vĩ vướng víu trên đầu xuống, vuốt chiếc long đuôi trĩ nói:
— Tất cả là chuyện gia phụ bỏ tiền ra mua chức tam công gây ra cả.
— Sao cơ? Lệnh tôn tư cách như vậy, cũng... - Tào Tháo buột miệng hỏi một câu không ra sao.
— Bỏ tiền mua chức thái úy! Chuyện ấy không giấu được ai, giờ thành ra chuyện cười ở khắp kinh thành rồi.
Tào Tháo không hiểu:
— Ở đây không có ai khác, huynh đệ chúng ta cứ nói thẳng thắn. Lệnh tôn nổi danh ở bắc châu, đứng vào ngôi cửu khanh quận thú hơn hai mươi năm, từ lâu cũng đáng vào bậc công rồi. Hơn nữa những nhân vật lớp tuổi cao lại ngày càng ít, nếu xét về tư cách thì ngoài lệnh tôn ra còn có ai xứng đáng hơn? Chỉ vì chức vị một hai năm này, sao lại phải hủy hoại cả danh dự mà bỏ tiền ra mua quan chứ?
— Ai chẳng nói thế! - Thôi Quân thở dài, - Mấy tháng trước, thái úy Trương công chết, thế nên...
— Huynh nói ai chết? - Tào Tháo cắt ngang hỏi.
— Trương Diên, Trương đại nhân.
— Ông ấy cũng chết rồi?
Thôi Quân đập tay xuống mặt bàn:
— Bị thập thường thị hại chết rồi!
Tào Tháo than khổ một hồi:
— Bọn loạn thần tặc tử lại giết hại một người trung lương rồi.
Trương Diên ở Hà Nội nổi tiếng là người trung trực, là con trai lão tướng công Trương Hâm triều trước, phụ tử hai đời liền làm đến bậc tam công, rốt cuộc lại phải chết dưới tay bọn tiểu nhân thập thường thị.
Thôi Quân lại nói:
— Không chỉ có Trương Diên, Lưu Khoan cũng chết rồi. Ông ấy không cứu được Trương Diên tức giận mà chết. Nhị thúc của Viên Thiệu là Viên Phùng năm ngoái cũng đã mất. Các vị lão thần đều đã đi gần hết cả, hiện chỉ còn một mình Mã công hình đơn bóng chiếc ở Đông Quán mà thôi, ai trông thấy cũng phải buồn lòng...
Tào Tháo nói chen vào:
— Hoàng thượng đúng là không còn thuốc chữa nữa rồi, những vị lão thần này nào có ai là không vì giang sơn xã tắc dốc hết lòng, bạc hết tóc. Đã là những bậc già lão phụ tá mấy triều vua, rốt cuộc từng người từng người một đều có kết cục thế này, đó chẳng phải là tự phá bức trường thành của mình đi ư? Hơn nữa, ông già Lưu Khoan còn là thầy dạy của vua, làm gì có kẻ học trò nào lại chống lại thầy dạy của mình như vậy?
— Huynh hãy nghe ta nói xong đã, chuyện mới mẻ còn ở phía sau cơ. Sau khi Trương Diên chết, bỗng một hôm Phàn Lăng và Hứa Tương đến nhà ta, hai người ấy nói hoàng thượng có ý muốn để phụ thân ta làm chức thái úy, nhưng phải bỏ ra một ngàn vạn tiền để tu sửa phủ đệ ở Hà Gian.
— Thật là hoang đường! - Tào Tháo vung tay, - Hai lão “Bất Khai Khẩu” và “Tiếu Diện Hổ” này lại còn quản những chuyện rảnh rỗi thế này ư?
— Tính khí của phụ thân ta huynh đã biết rồi, thà không làm thái úy chứ không thể làm chuyện bại hoại thanh danh như vậy được! Nhưng thà đắc tội với quân tử chứ không thể đắc tội với tiểu nhân, phụ thân ta cũng không thể nhục mạ hai người bọn họ, chỉ còn cách từ chối khéo, để đuổi bọn họ đi. Nào hay qua mấy hôm sau, nhũ mẫu của đương kim hoàng đế là Trình phu nhân lại đến. Lão thái thái thực là biết cách ăn nói, bảo phụ thân ta không nên làm xấu mặt hoàng đế, chí ít bỏ chút tiền ra cũng tránh được việc mắc phải tai vạ. Ngồi trong nhà ta nói đến nửa ngày, không đồng ý thì bà ấy còn không chịu đi. Huynh nói xem, một bà cụ lại là nhũ mẫu của hoàng đế, chúng ta biết làm sao được? Phụ thân ta cũng thấy phiền lòng quá, cuối cùng chấp nhận bỏ ra năm trăm vạn tiền, vậy là chuyện ấy coi như xong.
Tào Tháo dở khóc dở cười:
— Ta càng nghe càng chẳng hiểu ra sao cả, chuyện đại sự của triều đình, lão thái thái ấy đứng ra khuấy động làm cái gì chứ?
— Ai bảo là không được? Mà thực tình là bà ấy đã đến rồi. Đến tám phần là hoàng thượng hoặc hoạn quan sai bà ấy đến. - Thôi Quân vẻ mặt cam chịu, - Sau đó cử hành đại lễ, hoàng thượng trao ngôi vị thượng công cho phụ thân ta. Văn võ bá quan đều đến cả, Trình phu nhân cũng đi. Đức hoàng thượng của chúng ta lúc trao ấn tỉ lại còn nói với các hoạn quan bên cạnh: “Thật tiếc quá, nếu một câu xong ngay, thì chắc chắn có thể bán được một ngàn vạn!”
— Thật đáng ghét! Đấy chẳng phải là làm nhục người khác ư!
— Lúc ấy phụ thân ta đỏ bừng mặt nhưng không dám nói lại câu nào, may là không có mấy người nghe thấy. Nhưng Trình phu nhân kia lại không bằng lòng, mới từ trong đám cung nhân đứng ra, ngay trước mặt bá quan trách cứ hoàng thượng rằng “Bệ hạ thật quá đáng, Thôi công là kẻ sĩ trong sáng, làm sao chịu bỏ tiền mua quan? Ta đã nói giúp cho bệ hạ bao nhiêu lời hay ý đẹp, ông ấy mới chịu bằng lòng bỏ tiền ra, làm sao bệ hạ còn chưa biết thế nào là đủ?” Bà ấy đã tranh cãi với hoàng thượng ngay trên điện, cuối cùng lễ sách phong cũng láo nháo rồi giải tán.
— Ha ha ha... - Tào Tháo cười đến độ chảy cả nước mắt, - Thực ra bà ấy cũng tốt bụng, thật lòng nói ra như thế.
— Bà ấy tốt bụng thôi, nhưng nói ra như vậy, thành thử thiên hạ chẳng ai là không biết chức thái úy của phụ thân ta là bỏ tiền ra mua. - Thôi Quân vỗ đùi than thở, - Mạnh Đức, huynh nói xem, chuyện này có thể trách chúng ta không?
— Ồ! Không thể trách nhà huynh được, trách là trách hoàng thượng tham lam thôi... Vậy tại sao huynh lại bị đuổi ra khỏi nhà?
Thôi Quân đỏ mặt ngập ngừng nói:
— Mấy hôm trước ta từ bên ngoài về nhà, trông thấy phụ thân đang chống gậy giận dữ ở ngoài sân. Ông nói từ khi làm chức tam công, mọi người đều nhìn ông với ánh mắt lạnh nhạt, sau lưng thì bàn tán xì xào. Ông hỏi mấy người bạn của ta như Bản Sơ, Công Lộ nhìn nhận về ông thế nào. Cũng đáng trách cho ta, không nhận ra sắc mặt của phụ thân, lại cứ tình thực mà nói ra.
— Thế rốt cuộc huynh nói thế nào?
— Ta nói, mọi người đều biết phụ thân vất vả công cao, danh vọng hơn người, được làm thái úy cũng là xứng đáng. Nhưng danh thanh đã bị tổn hại quá lớn. Phụ thân hỏi ta vì sao, ta vừa trả lời xong thì ông đã nổi đóa lên.
Lúc này Tào Tháo như được nghe chuyện hài, không chờ được vội hỏi:
— Rốt cuộc là huynh đã nói thế nào?
— Ta nói... những kẻ bàn luận cho là có mùi tiền!
— Ha ha ha! - Tào Tháo cười đến đau bụng. - Nguyên Bình ơi là Nguyên Bình, huynh cũng giỏi thật đấy!
— Gia phụ tức giận nhảy dựng lên, muốn đánh ta kỳ chết! - Thôi Quân nhăn mày, - Ta từ nhỏ đến lớn chưa từng bị đánh bao giờ. Vậy mà lần ấy phụ thân đã vác gậy đuổi đánh ta khắp sân. Đừng tưởng gia phụ tuổi tác đã cao, ông vốn là xuất thân là võ quan đấy! Cuối cùng ta buộc phải chạy ra khỏi nhà, phụ thân lại quát quản gia đóng cổng lại, chốt khóa thật chặt, không cho ta về nhà nữa. Ta quỳ ở bên ngoài nửa ngày, không biết bao nhiêu người qua đường nhìn thấy chê cười, nhưng ông vẫn không mở cửa. Cuối cùng tiểu đệ của ta là Châu Bình từ trên đầu tường ném xuống cho ta một túi tiền, nói là nếu lúc trước ta không bỏ chạy thì phụ thân đánh một trận rồi thôi, đằng này ta bỏ chạy nên ông không cần ta nữa. Châu Bình bảo ta ra ngoài lánh mấy hôm, đợi phụ thân bớt giận rồi hãy quay về.
Tào Tháo cười đến chảy nước mắt. Tào Tháo cũng nhận ra rằng, tuy bảo Thôi Châu Bình được sinh ra khi Thôi Liệt đã già, nhưng so với Thôi Nguyên Bình thì còn lanh lợi hơn nhiều. Tào Tháo lau nước mắt nói:
— Huynh thật không bằng tiểu đệ mới mười tuổi đấy! Cậu ta nói không sai, khi làm bề trên buồn bực, cứ nói mấy câu cho thành khẩn, để họ đánh mấy cái, hết giận thì thôi. Huynh càng chạy càng làm lão nhân gia mất mặt.
— Ôi... Ta rời khỏi nhà, đến nhà Bản Sơ ở mấy ngày, đến nhà huynh đệ họ Bào đợi hai ngày, đại tướng quân muốn giữ ta ở đấy, nhưng sao có thể làm phiền họ được? Phụ thân ta vẫn chưa nguôi giận, ta cứ phải ra ngoài đến thăm bằng hữu cũ các nơi.
— Số tiền kia tiêu hết rồi à?
— Ra khỏi Lạc Dương mới biết, tiền chẳng làm ăn được gì! Mua một miếng bánh cũng phải mất mấy trăm tiền, tiền tứ xuất mà hoàng đế mới đúc vốn kém giá trị. Các huyện nhỏ đều lấy vật đổi vật, còn chưa đến Trung Mâu ta đã hết tiền rồi. Đến chỗ một viên tiểu công tào ở huyện thành, ta phải bán đi nửa xấp lụa, ít ra cũng coi như đến được chỗ huynh. Mặt mũi nhà họ Thôi ở Bác Lăng đã bị ta bôi tro trát trấu vào rồi.
— Hiện giờ huynh đã thấy được nỗi thống khổ của dân gian rồi chứ. - Tào Tháo nói vẻ sâu xa.
— Ta ba năm không ra khỏi Lạc Dương. Mấy ngày ra khỏi nhà này, những điều được nghe được thấy đúng là muôn vàn cảm xúc, khi nào trở về ta phải phụ tá đại tướng quân cho tốt.
Tào Tháo nghe câu nói ấy cảm thấy có gì không phải, hỏi lại:
— Phụ tá Hà Tiến?
— Mạnh Đức huynh có điều chưa rõ, hai năm nay Hà quốc cữu đãi hiền nạp sĩ, trưng mời không ít danh sĩ. Những tướng cầm quân phần lớn từ trong phủ của ngài mà ra, nhưng bề tôi trung trực cũng toàn nhờ ngài bảo toàn. Mọi người đều đang giúp ông trù hoạch việc trừ diệt thập thường thị đấy!
Tào Tháo yên lặng hồi lâu.
— Mạnh Đức, hiện giờ là lúc lập công dựng nghiệp, sao huynh lại trốn ở nhà thế, đi ra làm quan đi! - Thôi Quân khẩn thiết nhìn Tào Tháo, - Chúng ta cùng nhau trừ diệt hoạn quan, chấn chỉnh lại triều cương.
— Ta... Ta vẫn chưa muốn ra. - Tào Tháo cúi đầu, - Hiện nay lề thói ngày càng thay đổi, ai biết được ngày mai sẽ lại ra sao. Ta vẫn một lòng muốn làm việc vì triều đình, nhưng cũng không thể quá hồ đồ mà để phải mất mạng. Mưu lược của Hà Tiến há có thể so được với Đậu Vũ năm xưa, tư cách của chúng ta cũng còn xa mới sánh kịp Trần Phồn, Doãn Huân, việc này cần phải suy nghĩ thêm cho thật kỹ.
— Tuy nói như vậy, nhưng huynh cứ thế này, biết đến ngày nào mới thôi? Học Bá Di chẳng bằng học Liễu Hạ Huệ. Huynh còn chưa biết đấy, chức kỵ đô úy mà huynh đảm đương năm xưa, giờ đây đã không còn là chức quan hiếm có nữa. Hiện giờ đánh nhau khắp nơi, cứ có một chút quân công binh mã là có thể làm kỵ đô úy. Bào Tín cũng đã làm một chức kỵ đô úy, Bào Hồng thì làm huyện trưởng Phù Phong, cầm quân dẹp loạn lập được không ít quân công. Mọi người đều thăng chức rồi!
— Bản Sơ huynh hiện giờ thế nào? - Người Tào Tháo coi trọng nhất vẫn là Viên Thiệu.
— Viên Bản Sơ được đại tướng quân vời vào làm dưới trướng rồi.
Tào Tháo gần như bị lay động. Viên Thiệu là một kẻ có nhiều tài năng, vậy mà cũng chịu ra giúp sức cho Hà Tiến, tức là nhất định vị quốc cữu này có thể bảo toàn được cho Viên Thiệu.
Thôi Quân nhân đà nói thêm:
— Không phải chỉ có Viên Thiệu thôi đâu, còn Bá Cầu huynh, huynh ấy cũng là thuộc hạ của đại tướng quân.
— Hả!? - Tào Tháo gần như kinh ngạc lặng đi.
— Còn có Lưu Cảnh Thăng, Trương Mạnh Trác, Hoa Tử Ngư, Khổng Văn Cử, Biên Văn Lễ, Điền Phong - Điền Nguyên Hạo ở Hà Bắc, Khoái Việt - Khoái Dị Độ ở Kinh Tương, Tuân Du - Tuân Công Đạt ở Dĩnh Xuyên. Vương Khiêm đã làm trưởng sử cho đại tướng quân... - Thôi Quân kể ra một loạt các danh sĩ, ai nấy đều danh tiếng vang dậy hơn cả Tào Tháo.
Tào Tháo mồ hôi toát ra ướt đẫm, than rằng:
— Mới ở lều cỏ một năm, thế gian đã biến đổi quá nhiều, ta đã thành ra ếch ngồi đáy giếng rồi.
— Mạnh Đức, đi ra làm quan đi! Một câu nói của Hà Quốc cữu đã đành, mà mọi người cũng đều mong mỏi huynh đấy.
Trong lòng Tào Tháo thấy hơi mâu thuẫn, nghĩ mãi hồi lâu, vẫn cứ nói:
— Ta với chư huynh không giống nhau, trong lòng ta đã nguội lạnh rồi! Khi xưa đánh chết Kiển Đồ, đắc tội với hoạn quan, bị đưa ra khỏi kinh sư; Ở Đốn Khâu trăm họ ca ngợi ta, kết quả lại gặp phải đại nạn; Nhận chức nghị lang ngồi rỗi hai năm, dẫn quân đánh trận lại phải giết bao nhiêu người dân vô tội; Ở Tế Nam vất vả một năm trời cũng không làm nên được gì... Chúng ta tuổi tác tương đương nhau, nhưng các huynh có ai từng trải nhiều vấp váp trên đường đời bằng ta? Thất vọng hết lần này đến lần khác, triều đình như thế này còn có thể hy vọng gì chứ? Ta thấy việc này coi như thôi đi thôi.
Thôi Quân lặng im hồi lâu, mới nói:
— Có lẽ huynh cũng cần phải suy nghĩ thêm, tất nhiên ta không thể ép buộc làm khó huynh. Nhưng xin huynh nhớ kỹ, tất cả mọi người đều không ai quên huynh đâu. Lúc nguy nan huynh nhận mệnh dẹp loạn Khăn Vàng, công lao ấy mọi người đều ghi nhớ trong lòng. Dẫu sao huynh cũng mới có ba mươi ba tuổi, phụ thân huynh lại...
— Ý ta đã quyết! - Tào Tháo cắt ngang lời Thôi Quân nói dứt khoát, - Ta không muốn lại hưởng bổng lộc trong đời ô trọc này nữa. Thiên hạ không trong sáng thì ta sẽ còn tiếp tục ẩn cư ở đây. Một đời này không trong sáng thì ta sẽ chết già ở đây!
Thôi Quân lặng người nhìn Tào Tháo, rất lâu sau khóe miệng mới cử động. Tào Tháo cảm thấy mình đã thất thố, vội giải thích:
— Xin lỗi huynh... ta...
— Không sao, không sao. Không nói đến chuyện này nữa... không nói nữa... - Thôi Quân cảm thấy không khí có vẻ nặng nề, bèn đổi mặt, cười nói, - Ta thấy huynh sống ẩn dật ở đây cũng không tệ nhỉ.
— Cũng tạm qua ngày.
— Huynh đang viết gì ư? - Thôi Quân nhìn thấy đống sách thẻ tre trên bàn.
— Binh thư. Ta muốn đem nhiều cuốn binh thư khác nhau gộp lại làm một, viết cuốn Binh pháp tiết yếu.
— Tài học như vậy, thật là đáng tiếc.
— Sách viết ra có thể truyền lại cho đời, có gì mà đáng tiếc chứ. - Tào Tháo lừ mắt với Thôi Quân, nhìn chiếc lông trĩ Thôi Quân đang vung vẩy trong tay. - Ta thấy huynh đi ra ngoài xa như vậy, mà vẫn đội mũ hạt vĩ, có trở ngại gì không?
— Ồ, hiện nay ở kinh sư đang chuộng loại mũ này. Cắm hai chiếc lông chim trĩ lớn vào, trông uy vũ lắm!
— Lòe loẹt không thực chất. - Tào Tháo bĩu môi, - Đầu óc huynh thật không nhanh trí chút nào, hai chiếc lông trĩ này nếu gặp người biết nhìn hàng, cũng giúp huynh kiếm đủ được lộ phí. Làm sao để đến nỗi như thế này!
— Thế ư? - Thôi Quân thận trọng vuốt ve chiếc lông trĩ, - Vậy ta cũng không đem nó bán lấy tiền được.
— Nếu đã không bỏ được, vậy huynh hãy mau về kinh đi thôi.
— Ta cũng muốn về, nhưng không được vào nhà. Mà vào nhà rồi, gặp phụ thân ta, ông lại mắng ta bất hiếu, không cần ta nữa thì ta biết trả lời thế nào?
— Để ta chỉ cho huynh. - Tào Tháo cười nói, - Huynh hãy nói với lệnh tôn chuyện vua Thuấn thờ phụ thân khi xưa, bị phụ thân đánh bằng gậy nhỏ thì chịu, đánh bằng gậy lớn thì chạy, đâu có phải là bất hiếu chứ.
— Ờ... Khổng Tử cũng đã nói. - Thôi Quân dừng lại nghĩ ngợi, - Chắc chắn là được chứ?
— Chắc là được.
— Được, vậy để ta thử đi xem sao. Đa tạ huynh! - Thôi Quân nói rồi đứng dậy chực đi.
— Huynh từ xa xôi đến đây, không ở lại đây với ta đôi ngày ư?
— Không có thời gian đâu, ta còn phải đi Nam Dương liên lạc với mấy danh sĩ. Lúc trở về còn phải đi Dĩnh Xuyên một chuyến, giúp đại tướng quân bái yết hai vị lão tiên sinh Trần Trọng Cung, Tuân Từ Minh. - Trần Thực và Tuân Sảng là những bậc cao sĩ ở Dĩnh Xuyên, hai người ấy cùng với Trịnh Huyền - tông sư Nho học ở Bắc Hải là ba đại hiền sĩ ẩn dật đương thời. Bọn họ tuy chưa từng làm quan nhưng đều là những mẫu mực về đạo đức được người đời thừa nhận, mỗi khi ngôi tam công bị khuyết thiếu, triều đình đều ban một đạo chiếu vời các ông ra làm quan, nhưng bọn họ chưa bao giờ đồng ý. Lâu dần, chuyện ấy trở thành một thứ hình thức.
— Huynh trong túi đã sạch nhẵn, lấy gì mà đi đến Nam Dương rồi lại quay về?
Thôi Quân cười:
— Vậy chỉ có thể trông cậy vào Mạnh Đức thôi.
Tào Tháo tìm lấy ba xấp lụa mang ra nói:
— Tài sản của ta đều để ở nhà hết, ở đây chỉ có ba xấp lụa, là phu nhân của ta tự dệt bảo ta chu cấp cho dân chúng xung quanh. Hôm nay trước tiên hãy chu cấp cho huynh đã!
— Vâng vâng, chỉ cần đủ tiền cho ta đến Nam Dương là được. Lộ phí quay về, ta sẽ lại tìm nhà Hứa Du xin!
— Huynh là con quan thái úy, mà đi hết chỗ nọ đến chỗ kia xin xỏ, còn ra thể thống gì nữa?
— Nhà ta giờ đã không còn thanh danh gì nữa rồi. - Thôi Quân nhận lấy lụa, cẩn thận buộc lại thành một gói, - Không làm phiền huynh viết sách nữa, xin tạm biệt tạm biệt... Sau khi ta về kinh nhất định sẽ kể về huynh với đại tướng quân. Huynh hãy đợi người của triều đình đến mời nhé! - Nói vọng lại câu ấy xong, Thôi Quân đã chạy đi như một trận gió.
— Huynh!? Đáng ghét...
Tào Tháo tức hầm hầm chạy xông ra đuổi theo, thấy Thôi Quân đã nhanh chân nhảy lên mình ngựa rồi, hai chiếc lông trĩ trên đầu vấn vít quanh dây cương, đầu nghiêng đi trông vô cùng lôi thôi.
Tào Tháo đang giận cũng buồn cười, nói:
— Đáng chết! Huynh thật lắm chuyện... Ta khuyên huynh mau bỏ ý định khó nhọc đó đi, bái kiến cao hiền ẩn sĩ nhất định chớ có khoe khoang như thế.
— Ta biết rồi. - Thôi Quân đã buông lỏng dây cương, - Người khác nói câu ấy thì ta không tin, chứ huynh nói ta nhất định sẽ nghe. Hiện giờ chẳng phải huynh cũng là một bậc cao hiền ẩn dật ư. Xin hẹn ngày tái ngộ! - Nói xong ruổi ngựa chạy về phía nam.
Tào Tháo trông theo bóng dáng Thôi Quân, tận đến khi không thấy gì nữa, mới chậm rãi trở về lều cỏ, ngồi xuống cầm bút nhưng không viết nổi một chữ nào. Tào Tháo chẳng còn cảm hứng gì nữa, cuộc ghé thăm ngẫu nhiên của Thôi Quân đã làm đảo lộn cuộc sống này. Vì sao? Vì sao? Tào Tháo vứt bút xuống, nằm vật ra giường, vị ẩn sĩ cao hiền của chúng ta lại rơi vào một nỗi buồn rầu vô hạn.
Không biết nằm thế bao lâu, thì Tào Tháo chợt nghe một loạt tiếng ngựa hí, cửa tre vừa mở ra, Biện Bỉnh đã chạy xô vào:
— Tỷ phu! Huynh mau về nhà đi, tỷ tỷ của đệ sắp sinh rồi!
— Gì cơ!?
— Đứa bé phải sinh non, mau theo đệ về đi! - Biện Bỉnh túm lấy Tào Tháo lôi dậy.
Tào Tháo cũng không kịp mặc thêm áo ngoài, chạy theo ra cửa dắt con ngựa đại uyển, nhảy lên chảy nhanh về nhà. Chỉ qua lần chạy như thế là có thể nhận ra con ngựa có tốt hay không. Đại uyển mã là giống ngựa tốt chọn từ ngàn dặm mang về, ngựa của Biện Bỉnh làm sao có thể đuổi kịp, không lâu sau, đã bị tụt lại phía sau không nhìn thấy bóng dáng đâu nữa. Tào Mạnh Đức lòng như lửa đốt, chỉ hận không thể mọc được đôi cánh mà bay thẳng về nhà. Tào Tháo càng sốt ruột càng giục ngựa mau, những cơn gió thổi lại trước mặt càng ngày càng mạnh hơn.
Điều khiến người ta bực mình là, những cơn cuồng phong ấy lại cuốn theo đất cát, không chú ý là bụi sẽ bay vào mắt ngay. Trong khoảnh khắc bỗng nhiên đất cát cuộn lên, bụi bay mù mịt đất trời, nhuộm vàng cả bầu không. Cơn gió lốc trước mặt cuốn lên, cuộn tròn cả đất cát trên đồng hoang, trông tựa như một con rồng vàng từ trên trời giáng xuống!
Tào Tháo cũng không quan tâm xem có nguy hiểm gì không, dùng tay bưng chặt lấy mũi miệng, nhíu mắt lại, thả ngựa cúi đầu lao về phía trước. Đợi lao qua trận cát bụi ấy, gió dần dần ngớt đi, thì Tào Tháo đã bụi đất bám đầy trên mặt, chỉ thầm nguyền rủa thời tiết rồi tiếp tục chạy về nhà. Chuyến đi hôm nay, con ngựa đại uyển dường như đã thể hiện hết sức lực của mình, còn hơn cả khi đột kích cứu trận Trường Xã năm xưa.
Chẳng mấy chốc đã chạy hết năm mươi dặm đường, Tào Tháo không xuống ngựa, chạy thẳng vào tận trang viên, từ rất xa đã thấy cả đám đông đang tụ tập trước cổng nhà mình.
— Về chậm rồi! - Hạ Hầu Uyên cất lời đầu tiên, - Thằng bé sinh rồi, sau này nhất định huynh sẽ không làm chủ được thằng bé này đâu!
Tào Tháo cảm thấy mắt hoa lên như đom đóm, lật đật xuống ngựa, chỉ chạy thẳng vào trong chẳng đáp lại câu nào. Đến lúc hấp tấp chạy tới trước cửa phòng Biện thị, thì phu nhân Đinh thị từ trong phòng đi ra, hỏi:
— Sao trông chàng lôi thôi thế này? Mau vào xem đi, con sinh ra từ nãy rồi, đã tắm rửa xong xuôi cả. Là con trai! Con trai đấy!
Nghe Đinh thị nói là con trai, Tào Tháo cũng không nói gì, trong lòng vẫn còn lo sợ.
Năm xưa phu nhân Lưu thị vì sinh con mà mất, thảm kịch ấy không biết đã làm Tào Tháo khốn khổ bao lâu. Dường như Tào Tháo không dám lại đối diện với chuyện phu nhân sinh con nữa. Sợ sệt bước vào phòng, y đã thấy Biện thị nằm trên giường, mồ hôi hai bên trán đã lau sạch, đang quay về phía mình cười!
Biện thị dường không giống những người vừa sinh con xong, vẫn nói vẻ khỏe khoắn:
— A Man, nhi tử chúng ta đúng là thương thiếp, không để thiếp phải nhọc tí sức lực nào.
Phu nhân của Tào Đức cười hỉ hả, bế đứa nhỏ quấn trong tã đưa lại trước mặt Tào Tháo - đứa nhỏ trắng trẻo, mập mạp, khóc ré lên thật sướng tai!
Mẹ tròn con vuông tất cả đều tốt đẹp, sự lo lắng trong lòng Tào Tháo coi như đã được giải tỏa hết.
— Huynh có muốn bế con không? - Vợ Tào Đức cười nói.
— Ơ. - Tào Tháo đưa tay định bế lấy con.
Đinh thị vội ngăn lại:
— Chớ bế, chớ bế! Trông chàng đất bụi đầy trên người thế kia, mau đi rửa mặt rửa tay, phủi sạch áo quần đi đã.
Tào Tháo nghe lời Đinh thị, quay ra chậu nước để bên cạnh rửa tay.
— Ôi chao! Chàng làm gì thế? Đó là nước tắm rửa cho con khi nãy, chàng không trông thấy sao? - Đinh thị vừa bực vừa buồn cười nói, - Chậu nước lẫn máu bẩn mà rửa tay à? Đi ra ngoài rửa đi.
Biện thị thấy cử chỉ khác thường của chồng thì hơi thất vọng, trông thấy con trai sao không thấy chàng cười? Chàng tuy đã chạy về đây nhưng cơ bản vẫn để tâm ở chỗ nào. Nàng nhìn theo bóng chồng, cười nói vẻ không tự tin lắm:
— Chàng chắc là vui quá hóa mê đấy... có lẽ là vui quá hóa mê... hoặc là thế thôi... - Đinh thị không biết làm sao lại quay sang nhìn Biện thị, đều là những người cùng chung chăn gối với Tào Tháo, cảm giác của hai người giống như nhau, điều ấy chẳng cần nói cũng hiểu được.
Tào Tháo đi ra mà bồng bềnh như đi trên mây, Hạ Hầu Uyên, Tào Đức vội chạy lại đập đất cát trên người cho y, các bạn bè thân hữu đều vây chặt lấy.
— Lại được thêm con trai có thích không?
— Nhà bác trưởng lại thêm nhân đinh hưng vượng rồi.
— Huynh ấy hóa ngây rồi!
— Đặt tên là gì vậy?
— Đúng rồi, đặt một cái tên cho nó đi.
Tào Tháo chỉ cảm thấy đám người đen đặc vây chặt lại trước mặt, chẳng biết là bụi đất làm mờ mắt hay là làm sao, tất cả đều mờ mờ ảo ảo. Chỉ trông thấy Lã Chiêu giơ tay đưa đến một cây bút:
— Ông ơi, ông viết tên của tiểu đệ đệ lên tay con đi!
Tào Tháo nhận lấy cây bút, không nói gì thêm, viết lên bàn tay Lã Chiêu một chữ “Bất”.
— Đặt tên là gì vậy? - Mọi người nhao nhao hỏi han, lại thấy Tào Tháo nhấc bút lên nặng nhọc viết thêm vào phía dưới một nét ngang, tự hồ như còn muốn đưa nét bút cong xuống, nhưng bỗng nhiên lại dừng lại. Tào Tháo sợ sệt lắc lắc đầu, không nói một câu nào, cầm bút để vào tay đệ đệ, rồi theo Lâu Dị đi rửa mặt.
Mọi người vẫn đi theo sát phía sau tiếp tục trêu đùa Tào Tháo, chỉ còn lại Tào Đức với Lã Chiêu đứng tại chỗ. Lã Chiêu quay bàn tay lại nhìn, cười nói:
— Điệt nhi biết chữ này, là chữ “Phi”! Tiểu đệ đệ tên là Tào Phi.
— Phi nghĩa là to lớn vậy. Cái tên này thật có khí bá vương đấy! - Tào Đức cười, nhưng khi nhìn kỹ nét chữ trên tay Lã Chiêu, thì nụ cười chợt ngưng bặt, - Chữ “Phi” này làm sao lại là... huynh ấy định viết chữ “Bĩ” ư?
— Nhị thúc, cái tên ấy không hay ư?
Tào Đức muốn nói gì đó, nhưng nén lại không thốt ra nữa, chỉ gượng cười nói:
— Không có, gọi là Tào Phi rất hay... rất hay...
Lã Chiêu chớp chớp đôi mắt đen như hai hạt nhãn, không hiểu là có chuyện gì.
❀ ❀ ❀
[1] Thời xưa, Hoàng Đế đúc ba đỉnh tế trời, đất, người; còn thời Chu đúc chín đỉnh tượng trưng cho chín châu.
[2] Thời nhà Hán, anh em Hứa Thiệu ở vùng đất Nhữ Nam hay bàn luận về các nhân vật đương thời, mùng một mỗi tháng lại đổi chủ đề một lần, được gọi là “nguyệt đán bình”.