Chó Trắng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv
Iv

❊ ❊ ❊

Tôi trở về Arden. Celia, bà bạn Tây Ban Nha của chúng tôi, bảo có một người đến tìm tôi hai lần để nói chuyện gì đó và ông ta sẽ trở lại vào buổi chiều.

Đã sáu giờ chiều. Tôi đang ngồi trước bể bơi, ở sân trong.

Jean đi quyên góp ủng hộ trường học Montessori mà cô đỡ đầu từ một năm nay. Một trong những mục đích của trường này là đem đến cho trẻ con da đen một nền giáo dục “không có hận thù”. Điều ấy được thể hiện ở tất cả các từ trên tờ quảng cáo. Một nền giáo dục không có hận thù. Điều đó mang đầy ẩn ý, vì nếu đó là một nhà trường khác với những nhà trường khác...

Cho đến nay, tôi vẫn ngỡ rằng ở đâu có hận thù thì ở đó không có giáo dục. Ở đó là bóp méo. Là luyện tập.

Tôi đang tự nhủ rằng vấn đề da đen ở Hoa Kỳ đặt ra một câu hỏi khiến cho nó trở thành gần như nan giải: đó là vấn đề của sự Ngu đần. Nó bắt rễ từ trong sâu xa của thế lực tinh thần lớn nhất của mọi thời đại, là cái Ngu ngốc. Trong lịch sử, chưa bao giờ trí tuệ có thể giải quyết thành công những vấn đề của con người khi tính chất chủ yếu của những vấn đề này là cái Ngu đần. Trí tuệ chỉ đi vòng tránh vấn đề, dàn xếp với chúng bằng sự khôn khéo hay bạo lực, nhưng mười lần thì hết chín, khi trí tuệ tưởng đã thắng lợi rồi, nó lại thấy tất cả sức mạnh của sự Ngu đần bất diệt mọc lên trên chính mảnh đất của nó.

Ngoài nỗi buồn của tôi, ngoài niềm khát khao của kẻ về hưu ở tôi “không muốn dính dấp vào chuyện gì nữa”, còn thêm một nỗi bực bội riêng tư hơn nhiều và hơi kỳ. Từ ngày tôi đến Hollywood, ngôi nhà của tôi, tức là nhà vợ tôi, đã trở thành một thứ đại bản doanh chính cống của cái thiện ý tự do chủ nghĩa da trắng-Mỹ. Những người chủ trương tự do, theo nghĩa Mỹ của từ này - trong tiếng Pháp, hình như từ gần nghĩa hơn cả là “nhân ái” hay đúng hơn là “nhân đạo chủ nghĩa” - chiếm lấy ngôi nhà mười tám trên hai mươi bốn tiếng, ngay cả khi Jean ở trường quay. Đó là tính thường trực của những tâm hồn cao cả, và ai nghi ngờ rằng tôi nói mấy từ đó với chút giọng chế giễu thì tốt hơn hết là nên gấp quyển sách lại ngay và bỏ đi chơi chỗ khác. Đã bốn mươi năm rồi tôi mang theo trong tôi lang thang khắp thế gian những ảo tưởng nguyên vẹn của tôi, mặc tất cả mọi cố gắng rũ bỏ chúng đi và đạt đến tuyệt vọng một lần cho xong, điều tôi đành bất lực về mặt sinh lý. Chính chuyện đó biến tôi thành kẻ thích gây gổ trong các mối quan hệ với những “tâm hồn cao cả” ấy, ở họ tôi nhận ra chính mình, như là tôi bị lây chất độc do bọ cạp đốt vậy, cũng giống như ở những người da đen căm ghét thân phận của mình mà họ thấy hiển hiện ở những người da đen khác, hay ở những người Do Thái theo chủ nghĩa bài Do Thái vậy. Cũng phải nói rằng càng ngày tôi càng bực bội vì số lượng bọn người ăn bám cứ bâu quanh Jean. Ngày nào cũng có những tổ chức, hội nhóm được lập thêm bên rìa cuộc đấu tranh vì dân quyền, chẳng có hoạt động và mục đích nào khác ngoài để bảo đảm cho sự tồn tại về mặt kinh tế của các “ủy ban lãnh đạo” của chúng. Chúng luôn luôn há miệng chờ, sẵn sàng đón nhận cái món ăn trời cho rơi xuống từ các cơ quan và các nhà cầm quyền liên bang. Tôi chẳng bao giờ nhúng mũi vào chuyện tiền nong của Jean Seberg. Nhưng từ ngày đến đây, tôi để ý thấy cả một nửa tá những tên giảo trá, những tên lừa bịp và du đãng “mãn tính”, chúng chơi đến cùng - và thắng - cái trò đặt cược vào cái mặc cảm hai lần tội lỗi của cô: mặc cảm là ngôi sao điện ảnh, tức là chẳng còn nghi ngờ gì nữa, một trong những loại người bị khinh rẻ nhất, bởi vì bị ghen ghét nhất thế giới, và mặc cảm là người theo thuyết Luther, tức là kẻ tôn sùng tội lỗi nguyên sơ.

Tôi đau khổ không còn cái quyền của người chồng trong Bộ luật Napoléon thời xưa, song tôi vẫn thầm mong muốn được có để tống xéo ra khỏi nhà mình vài tên da đen nổi loạn cứ đòi cô vợ da trắng của tôi phải trả thuế cho “tội lỗi” của cô.

Một lần nữa tôi nhận ra rằng ở Mỹ tôi cũng chẳng thoải mái hơn ở Pháp. Tôi đã quá yêu đất nước này. Tôi đã sống quá lâu ở đây để còn cảm thấy là một người ngoại quốc.

Tôi gọi điện cho người đại diện của mình và yêu cầu anh sắp xếp cho tôi một chuyến đi làm phóng sự ở Nhật Bản. Tôi đã từng đến Nhật Bản, và dẫu lưu lại đó rất ngắn, đây là một trong những nước hiếm hoi ở đấy tôi cảm thấy thực sự là người ngoại quốc. Một thứ cảm giác tuyệt vời khi thấy mình không phải là người trong cuộc. Có một rào cản ngôn ngữ rất lớn, nó khiến anh được cách biệt ra một cách thú vị. Tôi đã phải rời Nhật quá sớm, nhưng tôi bắt đầu cảm thấy đối với người Nhật một thứ thiện cảm mà người ta chỉ có thể có được đối với những người có vẻ hoàn toàn khác biệt với chính mình.

Vậy là tôi bắt tay lên dây cót một cách nghiêm túc cái cơ chế quyết định của mình để tự thuyết phục mình soạn sửa va li, rời bỏ Hoa Kỳ và chạy đi bất kỳ nơi đâu, miễn là tôi không còn phải nghe cái điệp khúc muôn thuở: “Hẳn rồi, gã da đen nọ là một tên vô lại, nhưng chớ quên rằng chính những người da trắng đã biến y thành ra như vậy.” Cứ mãi cố nén để khỏi nhảy xổ vào cuộc, cuối cùng tôi đến đổ ốm mất.

Con Maï ngồi trên đầu gối tôi. Con mèo Xiêm này, cứ bám lấy tôi, ngồi trên vai tôi để kể cho tôi hết sức tỉ mỉ những câu chuyện chẳng thể nào hiểu được, bằng cái giọng lên bổng xuống trầm của nó, lần này nữa lại đang thổ lộ với tôi những bí mật của thế giới-mèo mà tôi cố mãi vẫn chẳng làm sao diễn dịch ra nổi. Một tác phẩm văn học dân gian kỳ diệu, mà chỉ có Pushkin mới diễn thành thơ được, thậm chí có thể là cả một nền triết học-mèo, đã trượt mất qua ngay bên cạnh tôi, quả là một tai họa ngữ văn chính cống. Con nhân sư cuối cùng đã lên tiếng với anh, đã nói với anh tất cả, vậy mà anh lại phải dừng bước trước ngưỡng cửa của một phát hiện vĩ đại chỉ vì cái tội dốt ngoại ngữ.

Jean trở về, quanh quẩn bên tôi một hồi, tôi trơ như đá. Tôi chẳng có gì để tha thứ cho cô cả, nhưng có lẽ trong tôi có một chút bực bội khá kỳ cục của một anh chồng thấy vợ để tâm đến những nỗi khổ của đất nước nhiều hơn là những gì xảy ra trong nhà mình.

Có tiếng gọi cửa và tôi ra mở. Đó là hai đứa trẻ, một gái một trai, tầm bảy hoặc tám tuổi, rất đáng yêu, với cái vẻ thiên thần tóc vàng của bọn trẻ con Mỹ.

- Excuse us, sir. Fido có ở đây không ạ?

- Không, Fido không có ở đây.

Tôi lao về phía tủ lạnh và quay trở lại với một mớ bánh sô cô la hạnh nhân mà tôi bị buộc phải kiêng nhưng vẫn để đấy để nhìn cho sướng mắt.

- No, thank you, sir.

Rất khoái, tôi chén luôn.

Hai đứa trẻ nhìn nhau rồi nhìn tôi nghiêm khắc với cái vẻ đáng bỏ tù năm năm, không được hưởng án treo.

- Ở Hội bảo vệ động vật, người ta bảo đúng là Fido ở chỗ ngài.

Tôi bắt đầu hiểu ra Fido là ai, vừa lúc một chiếc Chevrolet đến đỗ trước nhà tôi và một người đàn ông bước ra, đã có tuổi, gầy và khô, mái tóc muối tiêu giống như lão già mà chúng ta từng thấy cách đây bốn mươi năm đang nhảy qua dãy hàng rào trên tấm biển quảng cáo “Sels Kruschen, mùa xuân vĩnh cửu”, và tôi vui mừng nhận ra là bây giờ vẫn còn sống và vẫn cường tráng như xưa. Ông ta nhẹ nhàng băng qua bãi cỏ. Đến bảy mươi tuổi rồi chẳng chơi, trông những nếp nhăn trên khuôn mặt rám nắng, vui vẻ, cởi mở kia thì rõ. Nhìn cái thân hình mặc áo sơ mi ca rô đỏ Pendleton kia, có thể đoán ra một cuộc sống hạnh phúc lâu dài, một chuyến về hưu đàng hoàng, nhiều tiền tiết kiệm, đã trả được tất cả các quyền cầm cố, bảo hiểm Blue Cross, lại cả thú đi câu cá và đi săn vịt trời. Ông ta đứng vào giữa hai đứa bé, mỗi tay đặt lên vai một đứa...

- Good afternoon, Sir... Ở Hội bảo vệ động vật, người ta bảo chúng tôi là cách đây ba tuần ngài có nhận một con chó hình như chính là con chó của chúng tôi. Một con béc giê Đức, có một nốt mụn hạt cơm trên mõm với túm lông màu hung... Xe moóc cắm trại của chúng tôi ở Gardenia bị cháy trong lúc chúng tôi đang đi chơi, con chó đã thoát ra và chạy mất...

- Fido is the name. Nó tên là Fido, thằng bé nói.

Tôi nghe có tiếng bước chân sau lưng. Vợ tôi. Tôi cố tình không quay lại. Jean không biết nói dối.

- Mời vào đi, mời vào đi...

Họ bước vào. Bọn trẻ con không rời mắt khỏi tôi. Hẳn là chúng đã khóc nhiều, khi con Fido cưng biến mất.

Tôi nhã nhặn cười với chúng, tôi cố ra vẻ lương thiện và thực thà. Tôi đã chuẩn bị cho tình huống này từ lâu rồi. Trong thâm tâm, tôi nghĩ là tôi còn xoa xoa hai bàn tay nữa kia.

- Con chó của các bạn không có vòng cổ à?

Lão già lắc đầu.

- Không, con chó đã mập ra và chúng tôi phải tháo vòng để nó khỏi bị siết cổ, nhất là khi chúng tôi buộc phải cột nó lại. Chúng tôi đang tính mua cho nó một cái vòng cổ khác có biển căn cước đúng quy cách, nhưng...

Tôi đưa một bàn tay lên:

- Chẳng hề gì cả. Tôi tin chắc đúng là con chó này rồi, có mụn hạt cơm, có chòm lông màu hung quanh mõm, trông như một lão nghiện hút thâm căn cố đế, hà hà hà...

- Rất tiếc. Con chó không còn ở đây nữa. Tôi đã báo cho Hội bảo vệ động vật, thậm chí tôi còn cho đăng cả tin trên tờ Examiner... Mà chẳng thấy ai lên tiếng cả.

- Chúng tôi đang nghỉ hè ở đây, lão già nói. Con trai tôi và vợ nó đi Los Angeles để xem thử có thích nơi ấy và tùy tình hình tìm một căn nhà. Rồi nó trở về Alabama để giải quyết công việc, trước khi trở lại ở hẳn đây.

- Xứ Alabama ấy đẹp thật đấy, tôi thân mật nói.

Lão già cười sáng cả căn phòng.

- Không đâu đẹp bằng.

- Nhưng California cũng chẳng kém, tôi nói thêm.

Lão ta đồng ý.

- Ở đây có nhiều khả năng tìm được một công việc thú vị hơn. Con trai tôi đã nghỉ hưu sau hai mươi năm phục vụ trong ngành cảnh sát, nó có ý đinh tự mình làm chủ. Nó muốn mở một trại nuôi chó. Nó mới bốn mươi bảy tuổi. Vâng, nó từng ở trong lực lượng cảnh sát bang. Cả tôi, trước tôi cũng là quận trưởng...

Tôi mỉm cười.

- Vậy là cha truyền con nối!

- Vâng, bố tôi đã là phó quận trưởng và...

Tôi cảm thấy lão ta sắp trưng ra cho tôi cả lô ảnh nữa kia.

Tôi nghe trong bóng tối lờ mờ, giọng vợ tôi hơi run rẩy nói bằng tiếng Pháp:

- Nếu anh trả con chó cho họ, em sẽ bỏ đi ngay.

Nụ cười của tôi càng nở rộng ra.

- Đừng nói nữa, tôi nhẹ nhàng nói. Anh chỉ giả vờ ngu thôi.

Lão Kruschen rất mừng.

- Ngài là người Pháp?

- Vâng, tôi sinh ở Verdun, đấy là nơi người ta gọi là phép lạ của trận Mame.

- Tôi đã ở Pháp hồi 1917, lão ta nói. Lính tình nguyện. Bài hát La Madelon. Thống chế Foch... Chuyện ấy chẳng làm tôi trẻ lại...

- Lão chẳng chừa một lời sáo rỗng, cái lão ngu xuẩn này, Jean bảo.

Khi Jean dùng tiếng lóng với giọng Mỹ, tức là có chuyện không bình thường.

- Tôi lấy làm tiếc về chuyện con chó, tôi bảo. Tôi không còn giữ nó ở đây nữa.

Tôi nhìn lão già.

- Một con chó được huấn luyện rất giỏi, tôi nói.

Nhưng tôi quên mất rằng, đối với lão già, tất cả những chuyện đó là hoàn toàn tự nhiên, lão ta chẳng có gì phải tự trách mình cả. Lời bóng gió cay chua của tôi chẳng hề động chạm đến lão.

Lão giải thích:

- Đó là một con chó cảnh sát. Một trong những con cừ nhất. Chính con trai tôi trực tiếp huấn luyện nó đấy. Con trai tôi chuyên huấn luyện chó cảnh sát. Thằng bé rất yêu súc vật, nó còn huấn luyện cả họ hàng nhà con chó kia nữa. Hai thế hệ trước con Fido cũng là chó cảnh sát đấy. Quá tám năm tuổi, bọn chó được về hưu. Chúng đắt hàng lắm. Con trai tôi đã mua lại con chó nó yêu thích nhất. Con Fido mà giữ nhà thì chẳng con nào bằng.

- Anh đùa hả Charles, Jean nói, đột ngột nhớ lại một lời thoại của cô với Belmondo, trong phim Ngút hơi. Tôi phiên dịch:

- Xin thứ lỗi cho vợ tôi, cô ấy chẳng nói được một từ tiếng Anh nào... Cô ấy hỏi ngài có muốn uống chút gì chăng...

- Còn với hai cái tai, anh chẳng làm gì à? Jean lại hỏi tôi.

Đây là một câu nói then chốt trong quan hệ giữa hai chúng tôi. Câu ấy tôi học của diễn viên Mario David. Một hôm trông thấy anh ta đang ngồi ở quầy rượu tại sân bay Madrid, mừng quýnh, tôi chạy bổ về phía anh ta, đánh đổ cả chai rượu, vì cố chụp cái chai tôi lại giẫm phải chân người phục vụ, tôi quay lại, lại chọc một phát cùi tay trúng vào mắt Mario, và há mồm để xin lỗi Mario tôi lại đánh rơi luôn một cái răng vàng vào bát xúp. Mario David nhìn tôi chăm chú và hỏi:

- Còn hai cái tai, Romain, cậu không làm gì với chúng à?

Tôi hỏi:

- Một cốc whisky Scotland nhé?

- Không, cảm ơn... Có đúng là ngài đã cho ai con chó không?

- Vâng, biết làm thế nào được, vì chẳng thấy ai lên tiếng nhận cả... Một người bạn tôi đã rất quý con vật...

- Ngài có địa chỉ của ông ta không?

Tôi làm ra vẻ chần chừ.

Lão quận trưởng của tôi hơi xẵng giọng. Trịnh trọng:

- Tôi xin ngài cho tôi địa chỉ của bạn ngài.

- Nghe này, tôi nói. Tôi xin ngài hãy suy nghĩ. Tôi ngạc nhiên khi nhận thấy giữa con chó của ngài và anh bạn tôi có một sự tương hợp bản năng thế nào ấy, gần như là thú tính vậy... Cần phải nói với ngài rằng anh bạn tôi là người châu Phi... Một người da đen.

Lão Kruschen sững người. Trái cổ lão ta chạy lên chạy xuống như cái thang máy rất chi là đẹp còn nụ cười của lão tắt ngấm mà mồm thì vẫn cứ ngoác ra tạo thành vẻ hoảng hốt tột độ. Trong đời sống của một đôi vợ chồng, có những lúc mà cuộc sống chung lâu dài bỗng biểu hiện thật bất ngờ: một trong hai người bỗng đột ngột nói ngôn ngữ của người kia. Bởi tôi bỗng nghe tận cuối phòng, vang lên từ đôi môi mê hồn của vợ tôi, đượm vẻ quý mến và cả cảm phục nữa các từ lóng mà tôi đã cóp nhặt được ngày xưa khi còn ở trong đội quân Lê Dương:

- Ôi, con lợn của em! Seberg nói.

Được cổ vũ, tôi càng bay bổng hơn:

- Bạn tôi là một anh chàng sinh viên châu Phi được học bổng một năm ở Đại học California tại Los Angeles. Anh ta đã gặp con chó của ngài, và như tôi đã thưa với ngài đấy, đã nảy nở một tình bạn tức thì... Vâng, một cú sét đánh thật sự. Hai nhân vật ấy, có thể nói là họ gắn bó mặn nồng với nhau. Có thể ngài sẽ không tin khi tôi nói với ngài là không cách gì chia cắt họ được nữa...

Lão Kruschen dần dần hồi tỉnh. Tôi không rõ lão ta đã rơi xuống tận đâu, nhưng đó là loại người có quai hàm chắc chắn và không chịu nằm gục dưới sàn đấu. Lão có tố chất của loại người đi khai phá những vùng đất hoang. Chính những con người như vậy đã xây dựng nên nước Mỹ. Giọng lão hơi rè đi:

- Anh bạn da đen của ngài đã mang con chó về châu Phi rồi à?

- Vâng, tôi bảo. Chính tôi đã mua vé cho cả hai. Tôi không muốn họ rời nhau. Có những điều không thể khác được.

Bé gái òa khóc, hai nắm tay dụi vào mắt.

- I want Fido, con bé rên rỉ, giọng đến não lòng. Cháu muốn con Fido!

Tôi phải nói ngay rằng đó chỉ là một lối nói tu từ.

Tôi cảm động vì những giọt nước mắt kia cũng gần bằng như Thành Cát Tư Hãn xúc động vì Những bất hạnh của Sophie[1].

- Tội nghiệp, đứa nhỏ, Seberg bảo, và tin hay không tùy bạn nhưng quả là trong giọng cô có niềm thương cảm thật sự chân thành.

Hãy hiểu chúng tôi. Tôi yêu trẻ con, từ khi chính tôi có một đứa con. Nhưng nếu hai đứa bé đáng yêu kia khóc sướt mướt như vậy vì con chó lạc mất của chúng lại khiến tôi ít xúc động đến thế, thì chính là vì nhìn lão quận trưởng tôi cứ tự hỏi tại sao lứa tuổi trung bình của những nạn nhân bị bọn cảnh sát hạ thủ trong các cuộc bạo loạn phản đối phân biệt chủng tộc ở các khu ổ chuột lại cứ ở trong khoảng giữa mười bốn và mười tám tuổi.

Giữa chúng tôi ngự trị khoảng im lặng nặng nề, im lặng trắng.

Lão quận trưởng hiểu. Chúng tôi hiểu nhau.

Lão ta bảo:

- Ngài không có quyền muốn làm gì con chó đó thì làm.

Tôi đấu dịu:

- Ngài nghe đây, tôi sẽ viết thư sang Phi châu. Tôi tin chắc rằng con chó của ngài được đối xử như một ông vua ở bên ấy. Dù thế nào thì nó cũng chẳng thiếu gì đâu. Họ có những hai trăm triệu người, những người da đen, bên châu Phi ấy, cho nên, ngài thử nghĩ...

Lão ta đứng dậy. Đôi bàn tay to bè, chai sạn của lão lại đặt lên hai đứa bé tóc vàng, dáng vẻ che chở. Lão là một người ông tuyệt vời, cái lão khốn nạn ấy.

Nhưng điều kinh khủng nhất, là ở chỗ lão không phải một tên khốn nạn. Mà là một người tử tế.

- Chúng tôi sẽ tìm một luật sư, lão bảo.

- Xin ngài cứ việc. Rồi xin báo lại cho tôi biết ông ta định làm gì.

Vợ tôi tiễn lão ra tận cửa. Tính hiếu khách kiểu Mỹ. Rồi cô quay vào, quàng tay ôm lấy cổ tôi, kề má vào mái đầu tôi. Chúng tôi đứng vậy một hồi lâu, chẳng nói gì với nhau. Rồi tôi đã phạm sai lầm khi lên lớp cho cô cái bài học vô vị của mình về sự chín chắn, nghĩa là sự chán chường.

- Jean ạ, em hãy vứt bỏ mọi thứ đi. Em không thể tìm được những người chân chính đâu, họ ở ngoài tầm với của chúng ta, họ là hàng triệu, hàng triệu, còn những bọn khác, những bọn rỏm, những bọn giả trá, những bọn chuyên lo cho nỗi đau khổ của người khác, thì quá buồn, quá đáng nản lòng. Có một rào cản không phải là rào cản về màu da, nhưng cũng không thể vượt qua như vậy, đó là rào cản do cái nghề nghiệp của em... Một nữ minh tinh điện ảnh, dẫu là chân thật nhất, tận tâm nhất, lương thiện đến tận cùng nhất, khi cô ta chạm đến một nỗi đau lớn của xã hội, một vết thương thật sự, tức thì mọi thứ sẽ biến thành... biến thành minh tinh màn bạc. Em thường xuyên bị vây bủa bởi quá nhiều quảng cáo và nhiều bọn chụp ảnh nên công chúng khó có thể thấy trong tất cả những gì em làm một cái gì khác hơn là một lối tìm cách quảng cáo, một lối tạo dáng để chụp ảnh... Hoặc là phải vứt bỏ điện ảnh đi, phải xuống tận đáy sâu mà âm thầm làm việc, nhưng ở đấy trong những kẻ vây quanh em lại chẳng có kẻ nào cần em cả, bởi chúng chỉ quan tâm đến các minh tinh màn bạc thôi...

- Em biết và em chẳng thèm quan tâm... Nhưng còn có ngôi trường... Còn ba chục đứa trẻ không thể bỏ rơi. Bill Fisher vẫn gửi đến cho chúng ta từ Marshalltown một tờ séc năm nghìn đô và...

Tôi nghe nước mắt cô lăn trên cổ tôi.

- Nghe anh đây, Jean. Hãy nói một chút về ngôi trường cứ muốn “không có hận thù” ấy... Nếu quả thật bọn trẻ khốn khổ ấy được nuôi dạy không biết đến hận thù, trong một nhà trường được đặc biệt lập nên vì mục đích đó, chúng sẽ hoàn toàn bị tước hết vũ khí, hoàn toàn không thể dung hợp được trước mắt mọi đứa trẻ khác...

- Em muốn giúp chúng. Em biết là có cái khía cạnh “minh tinh màn bạc” đáng nguyền rủa ấy. Em sẽ thôi không đóng phim nữa.

- Nếu không đóng phim nữa, em sẽ không còn phải xin được tha thứ vì đã trót là Jean Seberg, một minh tinh màn bạc, và hẳn là em cũng sẽ không muốn giúp đỡ chúng nữa...

- Bởi vì chính cái vị trí minh tinh đó đã khiến em hành động chăng?

Tôi đứng dậy.

- Anh chẳng biết gì về chuyện ấy cả. Nhưng anh chán ngấy hết rồi. Anh cuốn xéo đây. Anh không chịu đựng được nữa. Mười bảy triệu người da đen Mỹ trong nhà, là quá nhiều, ngay cả với một nhà văn chuyên nghiệp. Với anh, tất cả những gì chuyện ấy có thể đem lại cho anh, là thêm một quyển sách nữa. Anh đã làm văn học về chiến tranh, về thời bị chiếm đóng, về mẹ anh, về nền tự do của châu Phi, về bom đạn, anh dứt khoát từ chối làm văn học về người da đen Mỹ. Nhưng em hiểu điều ấy nghĩa là thế nào: khi anh vấp phải một cái gì đó mà anh không thể làm thay đổi được, không thể giải quyết được, không thể vực dậy được, thì anh loại trừ nó. Anh tống nó vào một quyển sách. Sau đó anh không bị nó đè nặng lên mình nữa. Anh ngủ ngon hơn. Vậy nên, anh chuồn đây. Anh không thể xuất bản văn học về người da đen. Anh dứt khoát từ chối. Anh...

- Thế nào rồi anh cũng viết một cuốn sách về chuyện đó, cô bảo.

- Jean, hãy thôi chuyện đó đi. Em đã sống mười năm ngoài nước Mỹ. Lấy chồng, em đã là người Pháp.

- Em vẫn cứ là Mỹ cho đến chết...

- Còn anh, anh từ chối sống với cái gánh nặng nước Mỹ trên lưng...

Có tiếng gọi cửa. Tôi ra mở. Năm vị, đàn bà lẫn đàn ông, ăn mặc theo lối bộ lạc. Tôi hét lên bằng tiếng Pháp: “Không, mẹ kiếp! Thôi đi!” và tôi đóng sập cửa lại trước mũi họ. Tôi quay lại phía Jean. Tôi ngỡ là mình đã rống lên, nhưng không biết chắc có đúng vậy không.

- Họ đến đó. Họ trình diện đấy. Họ năn nỉ đấy, những kẻ khốn nạn ấy. Bởi vì họ nằn nì, nên anh sẽ làm. Anh không cưỡng lại được, em biết rõ quá rồi. Anh sẽ thí cho họ một quyển sách về nỗi đau khổ của những người da đen, một cú vẩy đũa thần sẽ chấm hết mọi nỗi đau khổ của người da đen, cũng như Chiến tranh và Hòa bìnhhay Phía Tây không có gì lạ đã chấm dứt các cuộc chiến tranh. Chẳng còn ai đếm nổi nữa, những cuốn sách đã làm thay đổi thế giới, nhưng nếu em kể dù cho anh một cuốn, anh sẽ xin cúi xuống mà hôn chân em... Vậy thì, hoặc là em tống khứ cái vấn đề da đen ra khỏi nhà này đi cho anh, hoặc là tự anh sẽ tống khứ nó. Anh sẽ tống mười bảy triệu người da đen của em vào một cuốn sách và sẽ chẳng còn ai nghe nói đến họ nữa. Một cách tự vệ chính đáng đấy.

Cô bước ra, mở hé cửa:

- Xin chờ cho một lát, cô bảo. Chồng tôi đang thay quần áo...

Tôi nói:

- Mẹ kiếp! Tôi đi đây.

- Anh đi đi.

Tôi ra ga ra và ngồi vào sau tay lái.

Trong bản các câu hỏi trứ danh của Proust, với câu: “Hành động quân sự mà anh khâm phục nhất là gì?”, tôi đã trả lời: “Đào tẩu.”

Trong đời mình, tôi đã đánh đấm nhiều lắm rồi. Tôi đã làm xong phần mình rồi. Tôi chẳng muốn gì nữa.

Tất cả những gì tôi đòi hỏi bây giờ là xin hãy để tôi được yên mà hút vài điếu xì gà.

Nhưng, không đúng như vậy. Không còn gì kinh khủng hơn là không thể tuyệt vọng.

Vậy thì, đào tẩu thôi. Đừng có ngần ngừ.

Tôi lái dọc đại lộ Sunset về phía Đại Dương, nhưng lại đột ngột quay ngoắt lại, theo đường Coldwater Canyon đến tận chỗ con tàu của “Noah” Jack Carruthers. Tôi băng qua khu chăn nuôi và vào tới chuồng chó. Con Batka đứng dựng trên hai chân liếm lên mặt tôi, và tôi ôm siết lấy nó trong vòng tay.

- Vĩnh biệt, Batiouchka...

Tôi nói với nó bằng tiếng Nga, để cho không ai khác có thể hiểu được chúng tôi:

- Hãy nghe kỹ đây, anh bạn già thân mến. Ta không yêu cầu mi đừng cắn những người da đen. Ta yêu cầu mi đừng chỉ cắn những người da đen thôi.

Tôi tin rằng nó hiểu tôi. Lũ chó biết nhận ra đồng loại của chúng.

Tôi mua một chiếc bàn chải đánh răng và lên chuyến bay đầu tiên đi Honolulu. Sau đó, Manila, Hồng Kông, Calcutta, Tehran... Tôi dừng lại chỗ này chỗ nọ, một đôi ngày, để mà tự mình sao nhãng đi, tự trốn mình đi bằng cách xát vào mình cái “màu sắc địa phương”, cái “chất ngoại lai”, chất “mặn mà”, chất “xa xứ”, vài ngày chỗ này, vài ngày chỗ nọ, trôi nổi, không gắn bó, không kịp để mình tự nhận ra rằng những trò cải trang này chỉ nhằm che giấu đi cái cứ liệu đầu tiên không xứng đáng và không thể chấp nhận của chúng ta, và tôi lại sẽ phải đối diện với chính mình.

Tôi ghi những dòng này ở Guam trước mặt người anh em của tôi là Đại Dương. Tôi lắng nghe, tôi hít thở sự xao động của nó, sự xao động giải phóng cho tôi: tôi cảm thấy mình được thông cảm và được bày tỏ. Chỉ Đại Dương mới có những phương tiện âm thanh cần thiết để lên tiếng nhân danh con người.

❀ ❀ ❀

[1] Tiểu thuyết của nữ bá tước de Ségur, xuất bản năm 1858.

t giọng khác rên rỉ: “Mắt tôi, mắt tôi!” Kravitz là một nhà sưu tầm lớn, thứ anh sưu tầm là những câu chuyện bằng âm thanh. Trong kho ghi âm của anh ở Magnolia, tôi đã được nghe tiếng thở cuối cùng của những người sắp chết, thu ở Việt Nam,
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.