Chó Trắng

Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vi
Vi

❊ ❊ ❊

Bốn mươi tám giờ sau khi tôi trở về Paris, một nhà báo ở tờ France-Suir đến báo cho tôi biết tin em trai của Jean vừa chết vì tai nạn ô tô. Mười tám tuổi. Tôi liền đáp máy bay về gặp gia đình Seberg ở Marshalltown, bang Iowa, tận giữa vùng Trung Tây, chắc chắn là nơi còn giữ chất “nước Mỹ của các cụ” nhiều hơn cả trong toàn nước Mỹ. Trong dòng người tử tế đầy phiền não đến chia buồn với gia đình, tôi nghe thấy người ta nói đến “tấn bi kịch khác” đang gây tang tóc cho cái thành phố nhỏ hai chục nghìn dân này: một cô gái “con nhà lành”, bố mẹ rất được trọng vọng ở đây, đã cưới một anh chàng da đen. Ông bố đã buồn vì chuyện đó mà chết, bà mẹ cũng chẳng khá gì hơn, vậy mà họ là những vị đáng kính biết bao, such nice people... Cái ý nghĩ người ta có thể coi một đám cưới “khác màu da” cũng ghê rợn như cái chết bi thảm của một cậu thanh niên mới lớn khiến tôi điên tiết. Tôi cố kìm mình lại, nhưng lặng thinh là tình đã thuận, dẫu sao tôi cũng không thể cứ đứng đó, làm ra mặt phiền muộn, hoàn toàn đồng tình, chỉ đơn giản vì lớp da ít nhiều trắng của tôi đã che giấu cho tôi thật tốt? Khiêu khích là lối tự vệ chính đáng tôi ưa thích. Tôi nói với những người đối thoại với mình rằng tôi hiểu “tấn bi kịch” này hơn ai hết, bởi vì người vợ đầu của tôi, kết hôn năm 1941, là một cô gái da đen châu Phi còn đi lại hoàn toàn trần truồng kia: quả là gần đúng như vậy thật, ngoại trừ một điều ở vùng sông Chari[1], hồi chiến tranh, các đám cưới như vậy được tiến hành theo phong tục bộ lạc, và ông bố đã gả cô con gái cho tôi đổi lấy một khẩu súng săn, hai chục mét vải và năm lọ mù tạt. Đám bè bạn cả gia đình im lặng rụng rời: lâu nay người ta cứ ngỡ Seberg đã cưới một người đàn ông lỗi lạc. Bao giờ cũng vậy, vốn tính luôn lao đến tận cùng, tôi càng lúc càng dấn sâu hơn: tôi giải thích cho họ biết là tôi đã có với người vợ da đen của tôi một đứa con trai, nay hai mươi sáu tuổi và là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Vài người trong số những kẻ đối thoại với tôi định chạy trốn, tôi giữ họ lại bằng cách ném ra từ “de Gaulle”[2] thần diệu. Tôi đã đến nước sắp nói với họ là de Gaulle cũng có dòng máu da đen đấy, nhưng tôi tự kiềm chế được, dẫu sao tôi cũng không có quyền Do Thái hóa nước Pháp, vậy đó, các bạn hiểu tôi muốn nói gì rồi. Tôi đành bằng lòng chỉ nói với họ rằng de Gaulle là người làm chứng trong đám cưới của tôi ở Bangui và ông ta là cha đỡ đầu cho cậu con trai da đen Cộng sản Pháp của tôi. Cái đám người tử tế ấy lặng ngắt đi, và những lời chia buồn của họ với gia đình vợ tôi càng thêm chân thành gấp bội.

Tuy nhiên tôi chẳng thể giận trách họ: họ mang nặng sau lưng bao thế kỷ nô lệ. Tôi không nói những người da đen. Tôi nói về những người da trắng. Đã hai thế kỷ nay họ là nô lệ của những thành kiến, những định kiến chí thánh được sùng kính truyền nối từ đời cha sang đời con, và họ bị trói chặt bởi cái nghi thức vĩ đại của những thành kiến, chúng là cái khuôn siết chặt đầu óc người ta lại, cũng giống như những đôi giày ngày xưa đã làm biến dạng đôi chân các cô gái Trung Hoa ngay từ lúc còn bé. Tôi cố kìm mình lại, trong khi người ta giải thích cho tôi một lần nữa rằng “anh không thể hiểu được, bên Pháp các anh đâu có mười bảy triệu người da đen”. Quả vậy: nhưng chúng tôi có năm mươi triệu người Pháp, đấy cũng chẳng phải là chuyện đùa. “Anh nên hiểu rằng đó không phải là chuyện ngược đãi những người da đen. Chúng tôi để cho họ được hưởng mọi quyền lợi của họ. Nhưng cái lối trộn giống chẳng bao giờ thành công đâu.”

Đêm ấy tôi ôm trong vòng tay mình cô vợ trẻ đang thổn thức khóc và nỗi tuyệt vọng của cô đối với tôi là lời trách móc cảm nhận thấu tận tim gan vốn không xa lạ với những người quan niệm rằng cái chất đàn ông ở con người trước hết là nhu cầu được đem đến sự bao bọc, bênh vực và bù đắp. Chưa bao giờ, trong những nỗi đau khổ của tôi, tất cả những gì khiến tôi trở thành một con người lại lên tiếng chất vấn man dại dữ dội và vô vọng đến thế về cái thứ do không còn một từ nào đê tiện hơn nên ta vẫn gọi là số phận: cái cuộc thất trận mà thậm chí chúng ta không được phép ra quân kia.

Trong những ngày tiếp sau đó một lần nữa tôi lại nghe nói tới “tấn bi kịch kia”, và điều không tránh được đã xảy đến: sợi dây kìm giữ của tôi đã đứt bung ra và tôi bảo với vị chủ nhà của tôi rằng với kiểu đầu óc chưa đủ hoàn chỉnh của ông ta và cái vẻ rỗng tuếch ấy của khối người da trắng, ông ta cần phải đặt cược đến cùng vào giống da đen đi, để cho lũ hậu sinh của ông ta có được chút ít màu sắc. Tôi rời nơi ấy ra đi trong sự im lặng của món đồ sứ bị đổ vỡ về mặt tâm lý và lái xe qua những cánh đồng ngô, cố nhớ ra rằng tôi đã năm mươi tư tuổi và với tất cả những vết sẹo mà tấm thân cùng tâm hồn đẹp đẽ của tôi còn in dấu, lẽ ra tôi nên học kiềm chế hơn đôi chút. Tôi tự hỏi không biết sự kiềm chế có tương hợp với một đời sống tình dục bình thường không. Cũng giống như sự hiền minh, nó phải đến với anh sau đó.

Nhiều nghiên cứu tâm thần học từ lâu đã chứng minh rằng nỗi lo sợ về tình dục đóng một vai trò ngầm kỳ lạ trong các mối quan hệ giữa người da trắng và người da đen. Về mặt này, câu chuyện đồn đại về cái công cụ da đen có gì đó thật kỳ cục.

Hồi tôi còn làm tổng lãnh sự ở Los Angeles, từ năm 1956 đến 1960, tôi đã phải làm nhiều báo cáo cho sứ quán của chúng tôi về vấn đề chủng tộc ở California. Vì cứ nghe khắp các phía nói mãi rằng nỗi lo sợ về “kích thước” là một yếu tố quan trọng trong nỗi căm ghét người da đen, rằng người da trắng cảm thấy bị ở vị trí thua kém trong lĩnh vực này, tôi đã nhờ một viện thăm dò dư luận địa phương làm cuộc thăm dò trong hơn một trăm hai mươi cô gái làm tiền ở Los Angeles cả trắng lẫn đen.

Kết quả vừa lạ lùng vừa kém xác chứng.

Phần lớn các cô gái chuyên nghiệp da trắng đều đã trả lời khẳng định khi được hỏi: “Trong kinh nghiệm của cô, cô có nhận thấy cái ấy của khách hàng da đen ‘to’ hơn của khách hàng da trắng không?” Nhưng các cô gái da đen lại chẳng hề thấy chút khác biệt đặc biệt nào giữa hai loại khách trên, theo họ, cái ấy tùy thuộc từng cá nhân. Vị đại sứ của chúng tôi hồi đó, ngài Couve de Murville, vốn là người thích các báo cáo rõ ràng và chính xác, và như vậy tôi chẳng thể cung cấp cho ông điều gì thật rõ ràng về đề tài này. Câu trả lời hay nhất là của một phụ nữ trẻ mà sau đó tôi đã yêu cầu được gặp riêng. Trên tờ phiếu điều tra, cô viết: “Không phải số lượng, mà chất lượng mới là điều quan trọng. Vả chăng còn có tình cảm nữa.” Phần đầu câu trả lời ta có thể gán cho tính tự tôn nghề nghiệp của người làm nghề thủ công, nhưng cái câu “vả chăng còn chuyện tình cảm nữa” đã khiến tôi xúc động. Tôi tự hỏi phải chăng cuối cùng tôi đã gặp được người đàn bà của đời mình. Sau một vài khó dễ ở viện thăm dò dư luận, tôi đã biết được tên cô và tôi mời cô đi ăn ở nhà hàng Romanoff. Đấy là một cô gái xinh xắn hai mươi ba tuổi đang dùng thời gian rảnh rỗi để chuẩn bị thi lấy bằng tốt nghiệp thiết kế sân vườn ở trường Đại học California. Vì chẳng có gì khiến một trí thức thấy bối rối hơn cái việc gặp một cô gái điếm đang theo học trường Sorbonne[3], hay một trường đại học tương tự ở California, nên quả thật tôi cảm thấy như được tắm mát trong một ngọn gió ân huệ. Mới ăn đến món dưa tây chúng tôi đã nói đến chuyện văn học, và đến món tráng miệng thì từ “chủ nghĩa hiện sinh” đã được nói ra. Các cô gái điếm Mỹ lạc hậu mất hai mươi năm. Ở bên chỗ chúng tôi, họ sẽ nói đến thuyết cấu trúc và Michel Foucault. Tôi không hề hỏi cô vì sao cô làm cái “nghề” này bởi vì chẳng có nghề nào là xấu xa cả. Tôi cũng có phần hơi tỉnh mộng đôi chút khi biết người đẹp của tôi đã có chồng, là mẹ của một bé gái năm tuổi và chồng cô, từ ngày anh ta trở thành nhà sản xuất chương trình truyền hình tại New York, vẫn dùng chiếc xe của anh ta để chở cô đi bắt khách. Tôi cảm thấy mệt mỏi rã rời: không phải là cơn khủng hoảng đạo đức, mà là cái cảm giác mình đã về già mất rồi, và các thế hệ trẻ đang vượt qua mình vùn vụt. Tôi bị nốc ao hoàn toàn vào lúc ăn tráng miệng khi biết rằng cô gái ấy, mỗi ngày “đi” hàng chục khách, lại không hút thuốc và kiêng cả cà phê. Quả là cô theo giáo phái Mormon và bị cấm dùng cà phê cũng như thuốc lá. Khi ấy là năm 1959. Cặp vợ chồng nọ ít nhất cũng đi trước thời đại mình đến mười năm. Tôi có hỏi bạn tôi, giáo sư Goldberg, theo ông vì sao các cô gái điếm da trắng, gần đến chín mươi phần trăm, đều khẳng định là bọn đàn ông đen “khỏe” hơn, còn các cô đồng nghiệp da đen của họ cũng trong một tỷ lệ tương đương lại khẳng định chẳng có sự khác biệt kích thước nào giữa đàn ông da đen và da trắng. Theo nhà phân tâm học lỗi lạc này, các cô gái da đen, vì sợ người da trắng nên cố tìm cách làm cho bọn đàn ông da trắng vững tin ở tiềm năng của họ, còn các cô gái da trắng, vì căm hờn bọn đàn ông da trắng “của mình” nên ngược lại đã tìm cách “hạ thấp” chúng. Có thể thế thật. Nhưng tôi vẫn không làm rõ được cho ngài Couve de Murville về điểm này, tôi phải nói ngay là ông cũng không hề đòi hỏi cái thông tin ấy.

Tuy nhiên tôi vẫn không hết ngạc nhiên về nỗi ám ánh kích cỡ ấy ở Mỹ, nhất là ở các nhà văn. Từ Mailer đến James Jones, từ Faulkner đến Hemingway và đến Philip Roth, nỗi lo lắng của anh chàng người Mỹ trưởng thành và có học về cái của quý ấy của mình bộc lộ theo cách khiến ta nghĩ họ bị một cuộc tổng thiến hoạn hay sao ấy.

Ví dụ thống thiết nhất và sầu não nhất là ở trong truyện Hội hè miên man của Hemingway nói về Scott Fitzgerald. Anh chàng này khốn khổ vì ý nghĩ mình “bé” quá. Hemingway, sau khi đã xem xét cái của quý của bạn, đã bảo đảm với vị đàn anh của mình là anh ta hoàn toàn đủ cỡ ra trò. Và để xua hết mọi nghi ngờ, Hemingway đã kéo bạn đến viện bảo tàng Louvre để chỉ cho anh ta xem kích cỡ dương vật ở các tượng Hy Lạp. Làm thế nào mà hai người đàn ông trưởng thành, hai trong số những nhà văn nổi tiếng nhất thời đại mình, lại có thể đi đến cái nước ấy? Có nỗi lo sợ sâu kín nào giấu đằng sau nỗi ám ảnh Mỹ mà tôi không hề gặp thấy ở bất cứ nước nào khác ấy? Vả lại đúng như đức Cha Charrel đáng kính đã nhận xét, có phải ngay cả Hemingway cũng không biết rằng kích cỡ cái ấy ở tư thế nghỉ chẳng có ý nghĩa gì cả và trong lĩnh vực này chỉ sự cao quý của thế căng cứng mới đáng kể?

Có lẽ nên coi nỗi lo lắng này chẳng qua chỉ là một biểu hiện của chủ nghĩa cầu toàn Mỹ, đối với các thứ đồ mới lạ, họ luôn bận lòng lo lắng sao cho mình luôn là mẫu mạnh nhất, mới nhất, tốt nhất?

Tuy nhiên tôi e rằng nguyên do còn sâu xa hơn. Bị nhốt chặt trong cái phức tạp của một thế giới ngày càng không nắm bắt được và trong những khớp nối tự động và khít chặt của một xã hội ngày càng thống trị và đè nát con người, con người Mỹ, hơn ở đâu hết, bị kéo vào những chu trình được lên sẵn của một cuộc sống giả tạo, cái cá nhân mỗi lúc lại càng thấy mọi thứ tuột mất khỏi mình, ra sức tìm lại trong chính mình một sức mạnh nguyên sơ nào đấy. Mất phương hướng và bất lực trong tự khẳng định mình, chỉ đơn giản là một tấm thẻ được nhét vào trong chu trình phân phối của guồng máy xã hội biến anh ta thành món đồ được sản xuất ra bởi một lò luyện vị lợi, được nhào nặn ra bằng máy móc để phục vụ cho máy móc, con người của những lối đi dành cho khách bộ hành qua đường và của bộ máy sống quan liêu không còn tìm thấy khả năng tự khẳng định “sức mạnh” của mình ở đâu nữa ngoài sự cương cứng lên. Làn sóng khiêu dâm đang diễn ra, cái lối các diễn viên phô bày mọi thứ trên sân khấu, là một thách thức, là cái ý muốn khốn khổ “tự khẳng định mình” ở kẻ, về phương diện ý thức hệ, triết học, đạo đức, muốn đấu tranh chống lại tình trạng bị thiến hoạn, trong tất cả ý nghĩa của từ này. Dẫu thế nào thì có một điều chắc chắn: the American dream is becoming a prick. “Giấc mơ Mỹ” đang trở thành một nỗi cắn rứt.

Bản “tuyên ngôn dương vật” là một dấu hiệu của sự hoảng loạn, lo âu và lưỡng lự. Khi mọi giá trị sụp đổ hết, thì hưởng thụ là niềm tin cuối cùng còn lại. Tôi nhớ lại trong những giờ phút đen tối nhất của chiến tranh, trước khi ra đi lao vào chỗ chết, những người lính vừa tù trong các nhà chứa bước ra vừa nói: “Thêm một phát nữa mà bọn Đức sẽ không thể có được.”

Trong bối cảnh tâm lý như vậy, người “khổng lồ da đen”, nhân vật anh hùng của các sân vận động, của các đường chạy có vạch kẻ chỉ, của bóng đá, bóng chày, “anh chàng châu Phi”, mới từ giã rừng rậm chỉ có ba thế hệ, “con hổ” ấy, “con báo” ấy, hẳn trở thành một hình tượng được thèm muốn, và do đó đáng sợ và phải căm ghét.

Chứng phô bày bộ phận sinh dục là một trong những khía cạnh khôi hài hơn cả của sự “về nguồn” ấy, vốn hẳn là một trong những ước mơ lâu đời nhất của nhân loại, cùng với thiên đàng đã mất. Lý trí càng bất lực không giải quyết và khẳng định được, thì giao hợp càng là giải pháp thế phẩm. Chỉ cần đọc văn học Mỹ hôm nay là có thể thấy rằng mọi sự diễn ra cứ như thể tất cả những Philip Roth, những Norman Mailer và bao nhiêu con người tài năng khác đang ngắm nhìn cái của quý cương cứng lên của mình trong bóng tối mà thì thào: “Look, Ma, no hands!”“Xem này, mẹ ơi, cừ không!”

❀ ❀ ❀

[1] Một con sông ở Trung Phi, đổ vào hồ Tchad.

[2] Charles de Gaulle: lãnh tụ kháng chiến Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai, về sau trở thành tổng thống Pháp.

[3] Trường Paris Sorbonne, một trường đại học danh tiếng ở Paris.

t giọng khác rên rỉ: “Mắt tôi, mắt tôi!” Kravitz là một nhà sưu tầm lớn, thứ anh sưu tầm là những câu chuyện bằng âm thanh. Trong kho ghi âm của anh ở Magnolia, tôi đã được nghe tiếng thở cuối cùng của những người sắp chết, thu ở Việt Nam,
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.