Tôi trở về Arden và nhận được tin nhắn của Nicole Salinger. Bobby Kennedy[1] đã ngưng cuộc vận động tranh cử chống McCarthy của ông một hai ngày và mời chúng tôi đến gặp ông ở Malibu tại nhà đạo diễn: Frankenheimer. Tôi có biết anh ông khi ông ấy còn là thượng nghị sĩ và có gặp lại ông ấy ở Nhà Trắng, nhưng tôi chưa từng gặp Bobby. Tôi biết ông đã có thể tin tám mươi phần trăm người da đen ở California sẽ bỏ phiếu cho ông, nhưng Seberg bỗng sôi nổi lên: giá có thể tổ chức được một cuộc gặp mặt giữa Bobby, với người ôn hòa như Brooker và phần tử tích cực như Red? Cô tập hợp các tờ quảng cáo, báo tin cho Brooker. Tôi gọi điện cho Red, thoạt đầu anh từ chối, nhưng rồi lại quyết định đến và có mặt ngay chiều hôm đó.
Tôi thấy anh ta có vẻ bồn chồn, lo lắng, insecure như ở đây người ta thường nói. Từ sau vụ ám sát King, sự thể đã bị thổi bùng đến mức bất cứ nhà lãnh đạo phong trào nào đồng ý nói chuyện với một nhà chính trị của chế độ đều tự hỏi không biết có phải mình mắc tội phản bội, tội “cộng tác” không. Tôi chưa bao giờ thấy anh ta như vậy, cặp kính trật lên trên trán, một đống giấy tờ chất trên đầu gối... Suốt nửa đêm ấy anh ta luôn miệng chửi rủa nhà Kennedy “đã chẳng làm gì cả”, và ném cho tôi những từ mà hồi đó khiến tôi ngơ ngác, nhưng bây giờ thì chẳng hề làm tôi ngạc nhiên nữa, từ khi người ta xuất bản những công trình cực kỳ đầy đủ về thế lực tài chính và chính trị kỳ lạ của bọn Maíia, có thu nhập hằng năm ngày nay được ước lượng đâu đến những 40 tỷ đô la:
- Người da đen hoàn toàn bị các liên hiệp tội ác -công đoàn gạt ra một bên. Các tổ chức công đoàn đã tước đoạt hết quyền lao động của chúng tôi một cách có hệ thống, còn chúng tôi không có đủ thế lực tài chính cần thiết để gây sức ép có lợi. Bọn Mafia chơi con bài chống người da đen bởi vì điều đó khiến chúng đứng vào hàng những người có tư tưởng họp trào lưu và chúng lợi dụng tư tưởng phân biệt chủng tộc của cánh công nhân. Các nhóm thiểu số người Ý, người Ireland, người Do Thái, đã tự giải phóng mình về mặt chính trị bằng cách tổ chức những nhóm gây sức ép. Chúng tôi đứng ngoài tội ác có tổ chức, như là những người kém phát triển... Tình thế của người da đen sẽ thực sự bắt đầu thay đổi khi nào bọn Mafia nhường vị trí của chúng cho bọn tôi, và muốn có điều đó thì phải đánh vào bộ phận chóp bu, nơi chỉ có những người già.
Tôi tự nhủ: thật là điên loạn. Nhưng chỉ cần đọc những phát hiện mới đây nhất về thế lực chính trị của Cosa Nostra[2] là có thể hiểu rằng đơn giản là Red đã được thông tin đúng.
Tuy vậy đến hai giờ sáng, anh ta thừa nhận:
- Bobby là người tự do chủ nghĩa duy nhất mà chúng tôi có thể chờ đợi một điều gì đó. McCarthy chẳng hiểu gì về người da đen cả, đối với ông ta đấy chỉ là một vấn đề lý thuyết...
Anh ta ném cho tôi một câu bằng tiếng Pháp:
- Đối với ông ta cái đó “bình dân” quá.
Tôi hỏi:
- Có tin tức gì của Philip không?
Một nụ cười tự hào:
- Sĩ quan. Hai lần được thưởng huân chương...
Trông đúng là một người Mỹ “vững vàng” tự hào về đứa con trai mình đầy vinh quang trên chiến trường...
Anh ta bình tĩnh lại ngay:
- Vài tháng nữa nó sẽ về. Trước khi chiến tranh kết thúc chúng tôi sẽ có năm mươi nghìn lính Mỹ da đen, được huấn luyện tuyệt vời, có tổ chức, và nhất là có kỷ luật... Bỏi vì kỷ luật chính là thứ chúng tôi đang thiếu. Quá nhiều hành động bột phát dại dột mang tính cá nhân mà không có hành động phối hợp được tổ chức tốt...
- Bùng nổ chăng?
- Không nhất thiết. Chúng tôi sẽ dùng họ trước tiên như một lực lượng chính trị. Và bên lề, để chiếm lấy những dinh lũy của bọn Mafia và các pháo đài công đoàn... Nếu cuộc đấu tranh chính trị thất bại, thì chỉ đến lúc đó...
- Anh sẽ nói điều ấy với Bobby?
- Rõ ràng.
Tôi không chịu được nữa rồi. Làm sao anh ta lại không biết rằng thằng con cả của anh ta là một người anh hùng Mỹ chính cống, rằng nó định theo ngạch chuyên nghiệp trong quân đội, rằng ở bên ấy nó đã tìm thấy một “tình bằng hữu” không biết đến màu da, tình bằng hữu của những con người trong chiến tranh? Anh ta tự đóng kịch với mình chăng? Và việc binh lính Mỹ da đen từ Việt Nam về sẽ làm thay đổi thế nào được tương quan lực lượng ở Mỹ? Nếu họ là năm mươi nghìn “cựu chiến binh” - con số đơn thuần chỉ là về mặt lý thuyết và không hề tính đến những quyết định cá nhân -, thì họ sẽ đối mặt với hai trăm năm mươi nghìn “cựu chiến binh” da trắng...
Tôi nhìn anh ta mà rụng rời khó tin được. Tôi cố tìm trong mắt anh ta dấu hiệu cho thấy anh ta đang mơ. Con người hết sức thực tế, thực dụng, theo nghĩa truyền thống nhất và Mỹ nhất của từ này, lại đang trong tình trạng hoàn toàn không thực, hoàn toàn tưởng tượng, bị giày vò bởi một điều hoang tưởng bất khả, bởi một ham muốn điều kỳ diệu dường như đột nhiên kết nối với những truyền thuyết châu Phi cổ xưa nhất. Khuôn mặt anh ta mang cái vẻ bình thản thường che đậy cái phi lý hay cơn điên. Vậy ai, ngày xưa, đã thốt ra cụm từ “cơn mê sảng logic”? Tôi hơi do dự. Rồi thì, mặc kệ. Tôi phải để cho sự thật lên tiếng. Tôi nói:
- Anh biết rằng Ballard muốn trở về Mỹ. Nó thấy nhớ nước Mỹ. Nó không thể quen với châu Âu. Nó quá Mỹ...
Khuôn mặt anh ta kín bưng lại. Hai lượt khóa. Bên ngoài chỉ còn cái vẻ dửng dưng hoàn toàn. Anh ta nhún vai.
- Nó là một thằng bất định. Một thằng hippie. Chúng tôi không cần những kẻ ăn xin như nó. Nó ở lại Pháp là tốt hơn cả.
Hẳn anh ta lo lắng nếu Ballard trở về Mỹ, nó sẽ bị xử tội đào ngũ.
Anh ta nói thêm, giọng nghẹt lại, không nhìn tôi:
- Anh hãy nói với nó như vậy. Bảo nó ở lại bên ấy...
- Đồng ý.
Sáng hôm sau, tôi đi cùng Jean đến Malibu.
Bobby đang tắm biển, tôi thấy mái tóc ông nổi lên trên bọt sóng, sóng lớn, ông có vẻ lấy làm thích.
Mấy phút sau ông vào phòng khách, mặc chiếc quần lửng nhiều màu, ngồi xổm ra đất, mình trần.
Jean nắm lấy cánh tay ông, lấy giấy tờ của cô ra và cười.
- Này, tôi đến đây để nghỉ mà...
Tuy vậy ông vẫn lắng nghe chăm chú, hứa sẽ tiếp Brooker và Red.
Rồi ông trở lại ngồi xổm giữa Nicole Salinger và tôi. Vài ngày trước đó, luật sư Paul Ziffrin, cựu lãnh đạo đảng Dân chủ ở California, có yêu cầu tôi trình bày bằng văn bản nhũng nhận xét của tôi về “vấn đề”, như nó vốn có và, có thể gọi là, được nhìn từ bên ngoài, dưới con mắt một người ngoại quốc. Tôi đã chỉ ra rằng ý tưởng về một “nước Israel da đen”, Nhà nước Tân Cộng hòa châu Phi như “chính quyền da đen” đòi hỏi là đáng kinh ngạc và gây bất ngờ đến mức nào.
Bobby đề cập ngay tức thì đến vấn đề đó:
- Không thể tưởng tượng được, điên rồ. Muốn đi đến chỗ đó thì phải có một thảm họa nguyên tử kinh khủng, một trăm triệu người chết, một tình trạng vô chính phủ hoàn toàn kéo dài nhiều năm như thời Trung cổ ở châu Âu, hay bất cứ hành vi sai lệch nào... Một thứ tinh thần dễ chấp nhận thất bại như thế tương đương với sự đầu hàng vô điều kiện của lý tưởng dân chủ Mỹ...
Ông ngồi xếp bằng trên thảm trải sàn, tay cầm một cốc nước cam. Trong cơ thể ông có một cái gì đó vẫn còn giữ lại dấu vết những chiếc chân chó to khỏe. Tôi tự nhủ rằng khuôn mặt ấy, những lọn tóc dày ấy, những đường nét thanh tú và mập mạp ấy, về già và trũng xuống sẽ mang đúng dáng vẻ khuôn mặt rất điển hình Mỹ của Cordel Hull hay của Wilson, ông chủ hãng General Motors, về sau trở thành cố vấn của Truman.
Mười lăm ngày trước, tôi đã nói với Pierre Salinger[3] trước mặt gia đình Ziffrin:
- Đương nhiên là anh biết rằng chàng trai của anh
sẽ bị ám sát phải không?
Salinger đã run lên. Anh lặng đi một lúc, rồi bảo tôi:
- Tôi sống với nỗi lo sợ đó. Chúng tôi làm tất cả những gì có thể để bảo vệ ông ấy. Nhung ông ấy cứ chạy lung tung, giống như giọt thủy ngân ấy...
Mickey Ziffrin đã hỏi tôi:
- Tại sao anh tin sẽ có vụ mưu sát?
- Truyền thống dân gian Mỹ mà. Tinh thần thi đua mà. Ý thích đua tranh và đấu giá. Từ sau vụ ám sát John[4] , Bobby trở thành nỗi cám dỗ không cưỡng lại được đối với lý lẽ Mỹ mắc chứng cuồng ám. Sự lây lan của bệnh xem-ai-hơn. Và còn chuyện khác nữa. Bobby là một sự khiêu khích đối với bất kỳ kẻ nào bị mất thăng bằng, bị công kích, bị giày vò bởi sự không tồn tại của mình... Bobby is too much. Bobby là quá ư. Quá ư trẻ, quá ư giàu, quá ư quyến rũ, quá ư hạnh phúc, quá ư mạnh, quá ư nhiều khả năng. Ông khơi dậy ở tất cả những kẻ mắc chứng cuồng ám một cảm giác bất công. Ông tác động như tủ kính bày hàng xa xỉ đối với một anh chàng nghèo khổ khốn khó ở khu Harlem, như là sự phơi bày cảnh giàu sang Mỹ trước mắt thế giới thứ ba. Ông là quá ư.
Khoe là đã “tiên đoán” được chuyện ấy thì dễ quá. Tôi kể lại ở đây vì đó là một yếu tố quan trọng trong sự phân tích quang phổ nước Mỹ ngày nay. Đất nước này, vốn tiên phong trong tất cả những gì là quá mức, cũng tiên phong trong chứng loạn thần kinh. Trong cái - cỗ máy công nghệ khổng lồ phân phối sự sống này, mỗi sinh linh ngày càng cảm thấy mình giống như một tấm thẻ bị gài vào một cái khe, bị những chu trình định trước điều khiển và văng ra ở đầu kia dưới dạng một kẻ hưu trí hay một xác chết. Để thoát ra khỏi sự không tồn tại, họ phải hoặc là tập họp lại thành những bộ lạc như người hippie và vô số các giáo phái, hoặc là tìm cách tự khẳng định hiển hách trong những happening chết người, để “trả thù”. Tôi cảm thấy mối đe dọa của chứng cuồng ám Mỹ đè nặng lên Bobby, ở đây nguy hiểm hơn mọi nơi khác, trong cái đất nước mà sự tôn thờ thắng lợi, thành công, càng làm sâu đậm hơn những mặc cảm tự ti, bị truy hại, bị tước đoạt và thất bại.
Tôi hỏi Bobby xem ông đề phòng một vụ mưu sát có thể xảy ra như thế nào. Ông mỉm cười.
- Không có cách gì bảo vệ được một ứng cử viên trong chiến dịch tranh cử. Phải lao vào đám đông và từ đó... cần phải tin ở may mắn thôi.
Ông cười, hất lọn tóc trẻ trung cứ rủ xuống trán.
- Dẫu sao, cần phải có may mắn thì mới được bầu làm Tổng thống Hoa Kỳ. Hoặc là ta có được may mắn ấy, hoặc là không, vậy thôi. Tôi biết sớm muộn cũng sẽ có mưu sát. Không hoàn toàn chỉ vì lý do chính trị đâu: mà vì loạn trí. Chúng ta sống trong thời kỳ lây nhiễm bệnh tâm thần một cách kỳ lạ. Vì một kẻ nào đó đã giết Martin Luther King ở đây, cho nên một tên bị “nhiễm bệnh” lập tức sẽ tìm cách giết một nhà lãnh đạo sinh viên Đức ở Berlin. Phải có nghiên cứu sâu về việc các cá nhân bị chấn thương tâm thần bởi những phương tiện truyền thông đại chúng chuyên sống bằng những hoàn cảnh bi thảm mà họ thổi phồng lên và khai thác, do đó làm nảy sinh một nhu cầu thường trực những sự kiện gây ấn tượng mạnh. Chưa ai làm gì cả trong lĩnh vực này. Và phải nói rằng sự trống rỗng về tinh thần đã đến mức, ở phương Đông cũng như phương Tây, sự kiện bi thảm, happening, đã trở thành nhu cầu thực sự. Và từ happening này đến happening khác, có phản ứng dây chuyền... Còn có sự sung huyết nhân khẩu học, nhất là ở các thành phố: đám trẻ bùng nổ đúng theo nghĩa của từ đó. Các cá nhân - ta thấy rõ điều này trong các khu ổ chuột toàn người da đen của chúng ta - bị kìm nén hoặc đàn áp đến mức họ chỉ có thể tự giải phóng bằng cách bùng nổ. Anh biết không, thậm chí tôi tự hỏi có phải một kiểu nhu cầu sáng tạo cuối cùng sẽ đẩy những thanh niên không có tài năng nghệ thuật hay những phương cách khác để thể hiện mình đến với bạo lực... Và rồi lại có Hemingway. Tôi rất thích Hemingway với tư cách một nhà văn, nhưng phải nói thật rằng ông ta là người đã sáng tạo ra một huyền thoại nực cười và nguy hiểm: huyền thoại về khẩu súng và về cái đẹp hùng tráng của hành động giết người... Ở Quốc hội, tuyệt đối không thể đạt được một đạo luật cấm tự do bán súng.
Chúng tôi nói về sinh viên, lúc này đang đặt trường đại học trong tình trạng giới nghiêm. Phản ứng đầu tiên của ông, trước nhất rất đặc trưng của một nhà chính trị, là đưa ra các con số: ông giải thích cho tôi rằng “những nhóm tuổi” trong cuộc bầu cử năm 1972 sẽ không để lại một chút tính chất quyết định đối với việc bỏ phiếu của những người đấu tranh hôm nay. Ông nói với một nụ cười hơi gượng, như để xin lỗi là đã buộc phải theo kiểu “chủ nghĩa hiện thực tranh cử”: “Tuy nhiên tôi không thể không cảm thấy đôi chút ngập ngừng đối với đám sinh viên.” Có phải vì một tỷ lệ lớn trong số họ đứng về phía đối thủ của ông, là McCarthy? Ông thú nhận ngay, gần như hung tợn:
- Tôi sẵn sàng nhường một số điểm trong giới đại học cho McCarthy. Những sự kiện như đang diễn ra lúc này ở Đại học Columbia khiến tôi không được dựa vào tất cả những gì chỉ đơn giản là “trẻ” mà không có chút phân biệt nào. Tôi ủng hộ tất cả những hình thức phê phán và tranh cãi có suy nghĩ, nhưng ở Đại học Columbia, cũng như năm ngoái ở Berkeley, ta chứng kiến một hiện tượng chuyển dịch: người ta phá tan khu học xá chỉ vì thấy bất lực trong việc đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam... hay đòi thả Siniavski[5].
Tướng de Gaulle chưa từ Rumani trở về và Kennedy lo lắng hỏi tôi về tình hình ở Pháp hình như ngày càng trầm trọng. Liệu tướng de Gaulle có cố ý để cho nước Pháp rơi vào tình trạng get out of hand - trở thành không kiểm soát được - để rồi sau đó chộp lấy đối phương đang mất cảnh giác, vì quá tự tin không? Tôi trả lời ông là chẳng biết gì về chuyện đó cả, nhưng theo tôi hình như nước Pháp đang bị giày vò bởi một nhu cầu muốn thách thức quyền lực dưới mọi hình thức, có thể chỉ đơn giản là vì sự phô trương quyền lực trên thế giới, phô trương về quân sự, chính trị, hạt nhân, kinh tế, cộng sản, tư bản, đã trở thành một thứ tease thật sự, một sự khiêu khích không thể chịu đựng được.
- Dẫu sao de Gaulle cũng là người cuối cùng, Kennedy bảo. Sẽ không bao giờ còn có ai như ông ấy nữa. Anh có tin rằng cái cách chúng tôi xử sự với ông ấy thời chiến tranh đã ảnh hưởng đến chính sách hiện nay của ông ấy đối với thế giới Anglo-saxon không?
Tôi trả lời ông rằng cũng có thể, nhưng không phải theo chiều hướng thù địch trả đũa nào đâu: đơn giản là Roosevelt và Churchill đã dạy cho ông ấy một bài học quyền lực mà ông ấy không bao giờ quên. Ông ấy đã có thể nhận ra rằng cái từ “nước Pháp” chẳng hề gợi lên trong tai các đồng minh của mình âm vang thần diệu khi đó là một đất nước bị xé vụn thành nhiều mảnh.
Tôi cảm thấy ông bị ám ảnh bởi de Gaulle, cũng như anh trai ông trước đây, lúc ở Nhà Trắng, cứ luôn hỏi tôi về ông tướng già, tỏ ra bị mê hoặc thật sự.
- Chính xác thì ông ấy đã thoát khỏi bao nhiêu vụ mưu sát?
- Hình như năm hay sáu.
- Tôi đã nói với anh rồi đấy: sự may mắn. Không thể trở thành tổng thống nếu không có the good old luck.
Vậy là hết. Ở đó có hai cố vấn trực tiếp của ông, Dick Goodwin và Pierre Salinger cùng vợ, Nicole, nữ diễn viên Angie Dickenson cùng chồng, nhà viết kịch Alan Jay Lerner và vợ, diễn viên Warren Beatty, đạo diễn John Frankenheimer và vợ, nhà du hành vũ trụ Glenn cùng ba hay bốn người thuộc bộ tham mưu tranh cử của Bobby Kennedy mà tôi không biết tên.
Trước khi chúng tôi đi, ông hứa với Jean là sẽ nói chuyện với Brooker và Red ngay trong ngày.
Ông đã giữ lời hứa.
Buổi tối, từ sân bay Red gọi điện cho tôi.
Tôi hỏi, có phần lo lắng:
- Tốt chứ?
Tôi cảm thấy Red cố giấu niềm phấn khởi của mình, to play it cool:
- Tôi dè chừng với tất cả các ứng cử viên tổng thống. Họ hứa đủ thứ. Tuy vậy ông ta là người duy nhất. Chẳng còn có ai được như thế nữa...
Anh ta vội chữa ngay:
- Nhưng điều đó không có chút ý nghĩa gì hơn là như tôi đã nói: chẳng còn có ai được như thế nữa. Vậy thôi. Ta sẽ đánh giá ông ta theo hành động của ông ta.
❀ ❀ ❀
[1] Robert Francis Kennedy (1925-1968), từng là thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, em trai tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ John Fitzgerald Kennedy.
[2] Tức Mafia.
[3] Pierre Salinger(1925 – 2004) nhà báo người Mỹ, ông phụ trách truyền thông trong chiến dịch tranh cử tổng thống của John Fitzgerald Kennedy, sau đó trở thành phát ngôn viên của nhà trắng. Nicole Salinger là vợ thứ tư của ông.
[4] Tức John Fitzgerald Kennedy tổng thống Mỹ, bị ám sát năm 1963.
[5] Nhà văn người Nga.