Bóng Ma Ký Ức

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7. Libby Day

❊ ❊ ❊

Hiện tại

SAU KHI ĐẦU MẸ TÔI bị thổi bay một nửa, cơ thể bà bị chặt gần như làm hai, những người dân trong vùng Kinnakee phân vân liệu bà có phải là gái điếm. Ban đầu họ phân vân, rồi phỏng đoán, và sau đó ít nhiều đã coi là sự thật. Người ta đồn rằng đã nhìn thấy những chiếc xe hơi đỗ trong nhà tôi vào các thời điểm khác lạ của buổi tối và trông thấy bà nhìn những người đàn ông theo cách của một cô gái điếm. Những lúc thế này, Vern Evelee luôn nhấn mạnh rằng lẽ ra bà nên bán chiếc máy trồng cây vào năm 1983, như thể đó là bằng chứng cho thấy bà đã tự bán rẻ mình.

Đổ lỗi cho nạn nhân, luôn là vậy. Nhưng những tin đồn đã trở nên thực sự nghiêm trọng: ai cũng nói những điều như bạn của một người anh họ một người bạn đã từng làm tình với mẹ tôi. Ai cũng có một vài bằng chứng nào đó: họ bàn tán về nốt ruồi nằm ở đùi trong của bà, một vết sẹo ở mông bên phải. Tôi không nghĩ những câu chuyện này có thể là sự thật, nhưng cũng giống như bao điều từ thời thơ ấu, tôi không thể chắc được. Bạn có thể nhớ được những gì năm bạn 7 tuổi? Những bức ảnh của mẹ cho thấy bà không phải một người đàn bà lẳng lơ. Thời con gái, bà sở hữu mái tóc đuôi gà, những ngọn tóc tua tủa như pháo hoa, là một cô gái dễ thương ưa nhìn, khiến bạn nhớ đến cô hàng xóm hoặc một người trông trẻ mà bạn yêu quý. Rồi đến những hình ảnh của một, hai, hay bốn đứa trẻ đang leo lên người bà, nụ cười rộng mở hơn nhưng chứa đựng nhiều phiền muộn, và bà luôn tựa lưng vào một trong số chúng tôi. Tôi hình dung lúc nào mẹ cũng bị vây quanh bởi đám con nhỏ. Chúng tôi thực sự là một gánh nặng. Sau 30 tuổi, bà hầu như chẳng có tấm ảnh nào. Trong một vài tấm ít ỏi còn sót lại, bà đang mỉm cười một cách miễn cưỡng, nụ cười sẽ biến mất cùng ánh đèn chớp của máy ảnh. Tôi chưa xem lại ảnh bà nhiều năm rồi. Tôi đã từng lần những ngón tay lên chúng đầy ám ảnh, nghiên cứu quần áo, nét mặt bà, bất cứ chi tiết nào xuất hiện trong tấm ảnh. Tìm kiếm những manh mối: Bàn tay ai đang đặt trên vai bà? Bà đang ở đâu? Đây là dịp gì? Khi vẫn còn là cô gái tuổi mới lớn, tôi đã cất chúng vào thùng cùng với những thứ khác.

Giờ tôi đang nhìn những chiếc thùng nằm lộn xộn dưới chân cầu thang, cảm thấy hối lỗi. Tôi đang gồng mình tự tìm hiểu lại về gia đình mình. Tôi đã mang mẩu thư của chị Michelle tới câu lạc bộ Kill bởi tôi không thể chịu được khi thực sự mở những chiếc thùng này ra, thay vào đó, tôi đã với tới một góc thùng có sợi dây băng tuột ra, và đó là thứ đầu tiên tôi moi ra được. Nếu thực sự có ý định tìm hiểu về vụ án mạng sau ngần ấy năm làm lơ, tôi cần phải nhìn những đồ dùng hàng ngày của gia đình mà không bị hoảng loạn: que đánh trứng cũ phát ra âm thanh như tiếng chuông xe trượt tuyết khi đánh đủ nhanh, đám dao dĩa bị bẻ cong mà những người trong nhà tôi đã từng dùng, một hai cuốn sách tập tô với những đường viền rõ nét bằng bút chì màu là sách của chị Michelle, những đường gạch ngang nguệch ngoạc là sách của tôi. Hãy nhìn chúng xem, chỉ là những đồ vật thôi mà.

Rồi quyết định sẽ bán thứ gì.

Với lũ người lập dị trong câu lạc bộ đó, những món đồ được mong đợi nhất lại không có ở đây. Khẩu súng săn 10 ly đã giết chết mẹ tôi – khẩu súng săn ngỗng của bà – đang nằm gọn trong một ngăn kéo đựng bằng chứng nào đó, cùng với chiếc rìu từ kho chứa đồ của chúng tôi. (Đó là một lý do khác khiến Ben bị kết án: những vũ khí này đều là vật dụng của gia đình tôi. Nếu hung thủ là người ngoài, hắn sẽ không đột nhập vào một ngôi nhà lúc nửa đêm với bàn tay trắng cùng hy vọng sẽ tìm thấy những vũ khí giết người tiện dụng.) Đôi khi, tôi cố gắng hình dung ra tất cả những thứ đó: chiếc rìu, khẩu súng, tấm ga trải giường nơi chị Michelle đã chết. Liệu tất cả những thứ vấy máu, ám khói, và lớp nhớp này có được đặt cùng một chỗ trong chiếc hộp lớn nào đó? Chúng có được làm sạch không? Nếu mở chiếc hộp đó ra thì sẽ ngửi thấy mùi gì? Tôi vẫn nhớ cái mùi tanh nồng ngột ngạt chỉ sau vài tiếng xảy ra án mạng ấy – liệu giờ chúng có nặng mùi hơn không, sau ngần ấy năm phân hủy?

Đã có lần tôi đến một bảo tàng ở Chicago xem những hiện vật của Lincoln: mớ tóc của ông ta, những mảnh đạn, chiếc giường hình con suốt mỏng manh mà ông ta đã nằm lúc chết, tấm đệm trũng xuống ở giữa như cố ý giữ lại dấu vết cuối cùng của ông ta. Cuối cùng tôi đã phải chạy vào nhà vệ sinh, úp mặt vào cánh cửa lạnh lẽo để không bị ngất đi. Ngôi nhà trưng bày hiện vật của người chết trong gia đình Day sẽ thế nào, nếu tập hợp lại toàn bộ các kỷ vật, những ai sẽ tới tham quan? Sẽ có bao nhiêu lọn tóc dính máu của mẹ tôi được đặt trong phòng trưng bày? Điều gì đã xảy ra với những bức tường loang lổ đầy những từ ngữ căm thù kia, khi ngôi nhà của chúng tôi bị san bằng? Có thể thu thập một bó sậy nơi tôi đã ẩn núp hàng giờ không? Hoặc trưng bày đầu ngón tay bị đông cứng, hoại tử cùng ba ngón chân đã mất của tôi thì sao?

Tôi quay đi rời khỏi những chiếc thùng – không thể vượt qua thử thách – và ngồi xuống bàn ăn. Tôi nhận được một hộp tặng phẩm điên rồ từ Barb Eichel gồm một cuốn băng video từ năm 1984, có tựa đề Mối Đe Dọa của Người Vô Tội: Chủ nghĩa tôn thờ quỷ Sa-tăng ở Mỹ; một tập những bài báo viết về vụ án mạng được kẹp lại bằng kẹp giấy; một vài tấm ảnh chụp Barb đang đứng bên ngoài trụ sở tòa án nơi Ben được xét xử; một cuốn cẩm nang quăn mép có tựa đề Gia Đình Tù Tội của Bạn: Hãy Vượt qua Những Song Sắt!

Tôi tháo chiếc kẹp giấy ra và đặt nó trong chiếc cốc đựng kẹp của tôi ở nhà bếp (chúng ta không cần phải mua kẹp giấy, bút – hoặc bất kỳ thứ gì trong những đồ văn phòng phẩm đa chủng loại này,) sau đó nhét cuốn băng video vào chiếc đầu cũ. Hình ảnh những ngôi sao năm cánh và những gã mình người đầu dê, những ban nhạc rock đang gào thét và thi thể người chết lóe lên trên màn hình. Một người đàn ông với mái tóc kiểu cá đối ấn tượng đang đi dọc bức tường đầy những hình vẽ graffiti, giải thích rằng “Video này sẽ giúp bạn nhận dạng những tín đồ của quỷ Sa-tăng và thậm chí còn chỉ ra các dấu hiệu cho thấy những người mà bạn yêu quý nhất có thể đang bỡn cợt với mối nguy hiểm thực sự này.” Anh ta phỏng vấn những người thuyết pháp, cảnh sát, và một vài “tín đồ quỷ Sa-tăng thực sự.” Hai tín đồ quỷ Sa-tăng quyền lực nhất có đôi mắt kẻ đậm, mặc áo choàng đen và những ngôi sao năm cánh xung quanh cổ, nhưng họ lại đang ngồi trong phòng khách, trên một chiếc ghế bọc vải nhung, và bạn có thể nhìn thấy gian bếp phía bên phải, một chiếc tủ lạnh màu vàng trên tấm lót sàn nhà sặc sỡ. Tôi có thể hình dung, sau cuộc phỏng vấn ghi hình họ sẽ lục tủ lạnh để tìm món salad cá ngừ và một chai coca trong khi vẫn mặc những chiếc áo choàng vướng víu. Tôi tắt cuốn băng ngay khi người dẫn chương trình cảnh báo các bậc phụ huynh nên lục tìm phòng ngủ của con mình xem có hình nhân vật He-Man hoặc tấm bảng cầu cơ nào không?

Những mẩu báo vô nghĩa và tôi không biết Barb muốn tôi làm gì với những tấm ảnh của bà ta. Tôi ngồi thu mình lại. Và trở nên lười biếng. Tôi đã có thể tới thư viện để tra tìm mọi thứ một cách chính xác, hay lắp mạng Internet ở nhà từ cách đây ba năm, khi tôi tự nhủ rằng mình sẽ làm. Nhưng lúc này, tôi không muốn làm bất cứ việc gì – tôi rất dễ trở nên chán nản – vì vậy tôi gọi cho Lyle. Hắn nhấc máy ngay từ hồi chuông đầu tiên.

“Chàooo, Libby,” hắn reo lên. “Em đang chờ điện thoại của chị. Em thực sự muốn xin lỗi vì sự việc tuần trước. Chắc hẳn chị đã cảm thấy bị xúc phạm, và em không hề muốn điều đó xảy ra.” Diễn thuyết hay đấy.

“Phải, quá tệ.”

“Em đã không nhận ra mỗi người trong nhóm đều có những giả thiết riêng, nhưng không ai cho rằng Ben là kẻ phạm tội. Em đã không suy nghĩ thấu và xem xét kỹ vấn đề. Chỉ là. Chị biết đấy, vụ việc đó thực sự đã xảy ra với chị. Ý em là, những người trong câu lạc bộ đều biết điều đó nhưng chúng ta không ở cùng một thời điểm. Chị dành quá nhiều thời gian để thảo luận và tranh cãi đến nỗi nó trở thành… Nhưng. Chà, em xin lỗi.”

Tôi không ưa gì Lyle Wirth, bởi hắn là một kẻ ngu ngốc, nhưng tôi đánh giá cao một lời xin lỗi thẳng thắn. Cũng giống như người nốt nhạc bẻ đôi không biết thưởng thức một bản nhạc hay, tuy không thể mở mồm xin lỗi, nhưng tôi tán thưởng điều này ở người khác.

“Được rồi,” tôi nói.

“Chắc chắn vẫn còn những thành viên muốn có được thêm gì đó, chị biết đấy, những kỷ vật mà chị muốn bán. Có phải đó là lý do chị gọi cho em không?”

“À, không. Tôi chỉ đang phân vân. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về vụ này.”

CHÚNG TÔI GẶP NHAU tại một quán rượu gần khu tôi ở, Sarah’s Pub, một cái tên kỳ quặc dành cho quán rượu, nhưng đó là một nơi thoải mái với không gian vừa phải. Tôi không thích bị nhiều người soi mói. Lyle đã ngồi sẵn ở đó, hắn đứng dậy khi tôi tiến đến và cúi cơ thể cao kều xuống để ôm tôi. Kính của Lyle chọc vào má tôi, hắn mặc chiếc áo khoác bò theo phong cách thập niên 80 đính những cúc áo có in khẩu hiệu: Đừng uống rượu khi lái xe, hãy cư xử tử tế, hãy ra ứng cử. Những tiếng kin kít phát ra khi hắn ngồi trở lại. Tôi đoán Lyle trẻ hơn mình cả chục tuổi, và chẳng thể phân biệt được hắn có vẻ mặt hoài cổ mỉa mai chủ ý hay chỉ đơn thuần là vẻ ngu ngốc.

Hắn lại bắt đầu xin lỗi, nhưng tôi không muốn nghe thêm nữa. Tôi đã nghe đủ rồi, cảm ơn.

“Nghe này, tôi sẽ không nói mình hứng thú với ý kiến cho rằng Ben vô tội, hoặc tôi đã mắc lỗi trong lời khai của mình đâu.”

Hắn há mồm như thể muốn nói điều gì đó, nhưng rồi lại thôi.

“Nhưng nếu tôi muốn tìm hiểu việc này kỹ hơn, liệu câu lạc bộ có thể giúp tôi về mặt tài chính không? Hay nói cách khác, trả tiền cho thời gian của tôi.”

“Chúa ơi, Libby, thật mừng vì chị vẫn còn hứng thú với việc điều tra này,” Lyle nói. Tôi ghét tông giọng của thằng nhãi này, như thể hắn vờ không nhận ra mình đang nói chuyện với người lớn tuổi hơn. Hắn là kiểu người mà khi lớp học đã kết thúc, những đứa trẻ khác đang nhấp nhổm đứng lên và giáo viên hỏi, “Các em còn câu hỏi nào không?” thì hắn vẫn còn rất nhiều câu hỏi.

“Em muốn nói rằng bọn em đều có những giả thiết về vụ án này, nhưng rất nhiều cơ hội tìm hiểu chỉ dành riêng cho chị mà không phải một ai khác,” Lyle nói, chân hắn rung rung dưới gầm bàn. “Ý em là, mọi người thực sự muốn nói chuyện với chị.”

“Phải.” Tôi chỉ vào can bia bên cạnh Lyle, và hắn rót vào chiếc cốc nhựa, toàn bọt. Hắn dừng lại, quệt mũi, đợi tan bớt bọt rồi rót thêm một chút.

“Vậy. Số tiền mà chị đang nghĩ trong đầu là bao nhiêu?” Tôi đón lấy cốc bia, đặt trước mặt và phân vân có nên uống hay không.

“Tôi nghĩ cũng tùy từng trường hợp,” tôi nói, vờ như đây là lần đầu tiên nghĩ về việc này. “Tùy vào việc tìm người có khó hay không và câu hỏi mà các anh muốn làm rõ.”

“Em nghĩ là có một danh sách khá dài những người bọn em muốn chị nói chuyện. Chị thực sự không liên lạc gì với Runner sao? Runner là người xuất hiện đầu tiên trong hầu hết các danh sách.”

Runner già nua với những thứ chết giẫm trong đầu. Ông ta chỉ gọi cho tôi một lần trong suốt những năm qua, lầm bầm một cách điên rồ qua điện thoại, mếu máo với những tiếng wee-heee! và bảo tôi chuyển tiền cho ông ta. Kể từ đó, chẳng có cuộc gọi nào nữa. Chết tiệt, cả trước đó cũng vậy. Thỉnh thoảng ông ta xuất hiện ở phiên tòa của Ben, có lần cũng mặc áo khoác và thắt một chiếc cà vạt cũ, còn hầu hết là đến trong tình trạng say xỉn với bất cứ thứ gì ông ta có thể khoác lên người. Cuối cùng ông ta cũng bị luật sư của Ben yêu cầu cấm xuất hiện. Quá tệ.

Giờ thì mọi việc còn tệ hơn, khi ai ai trong câu lạc bộ Kill cũng tin rằng ông ta là kẻ giết người. Trước khi xảy ra vụ sát hại, ông ta đã ngồi tù ba lần, nhưng ở tận nơi khỉ ho cò gáy chết giẫm nào đó. Ông ta vẫn luôn có những món nợ cờ bạc – Runner cá cược tất cả mọi thứ – thể thao, đua chó, bingo, thậm chí cả về thời tiết. Và ông ta nợ mẹ tôi tiền trợ cấp nuôi con. Giết chết toàn bộ chúng tôi là cách tốt nhất để ông ta thoát khỏi trách nhiệm.

Nhưng tôi không thể hình dung ra việc Runner đã làm mọi chuyện mà có thể thoát khỏi vụ này, ông ta không đủ thông minh, và chắc chắn là không to gan đến thế. Thậm chí ông ta còn không thể đảm nhiệm vai trò của một người cha với đứa con sống sót đơn độc này. Ông ta đã lang thang khắp vùng Kinnakee vài năm sau vụ án mạng, rồi lại ẩn dật ở đâu đó một vài tháng, gửi cho tôi những chiếc hộp dán kín băng dính từ Idaho, Alabama hoặc Winner, nam Dakota: bên trong là những bức tượng cô bé có đôi mắt to, tay cầm ô hoặc bế những con mèo con, và lúc nào chúng cũng vỡ trước khi đến được tay tôi. Tôi biết Runner quay lại thành phố không phải để tới thăm tôi, mà để đốt đống lửa chết tiệt ở túp lều trên đỉnh đồi. Bác Diane sẽ hát bài “Poor Judd Is Dead” mỗi khi trông thấy ông ta trong thành phố với khuôn mặt lấm lem vết khói. Có điều gì đó vừa đáng thương vừa đáng sợ ở người đàn ông này.

Việc ông ta tránh mặt tôi có lẽ lại là một điều may mắn. Khoảng thời gian quay lại sống với mẹ con chúng tôi vào mùa hè trước khi xảy ra vụ sát hại, ông ta đã thực sự chọc tức tôi. Ban đầu là những cái liếc mắt đểu cáng, véo mũi tôi và những trò tương tự – sau đó thì đúng là kinh khủng. Một ngày ông ta trở về sau buổi đi câu, bước huỳnh huỵch vào nhà với đôi ủng ướt nhẹp, đập cửa nhà tắm khi tôi đang ngồi trong bồn, rõ ràng là cố ý trêu tôi. Thôi nào, mở cửa ra, ta có điều ngạc nhiên cho con đây! Cuối cùng, Runner mở tung cửa, mùi bia từ người ông ta sộc vào. Ông ta cầm bọc gì đó trên tay, sau đó mở ra, và ném một con cá trê to tướng còn sống nguyên vào bồn tắm làm tôi phát khiếp. Tôi cố gắng quờ quạng trèo ra ngoài, lớp da nhớt nhớt của con cá trượt qua người tôi, miệng nó há hốc đầy râu, trông như một loài quái vật từ thời tiền sử. Có thể khi đưa chân vào cái mồm ấy, con cá sẽ nuốt trượt lên, dính chặt vào chân tôi như một chiếc ủng.

Tôi lạch bạch trèo ra khỏi bồn tắm, đứng trên thảm và khóc nức nở, nhưng Runner lại gào thét bắt tôi phải dừng ngay cái trò mè nheo trẻ con ấy lại. Tất cả lũ chúng mày đều ngu ngốc và nhát chết.

Chúng tôi không thể tắm rửa ba ngày liền bởi ông ta quá mệt nên đã không mổ con cá. Tôi đoán là mình thừa hưởng sự lười nhác từ ông ta.

“Tôi chưa bao giờ biết Runner ở đâu. Lần cuối cùng tôi nghe tin thì ông ta đang ở Arkansas, nhưng đã cách đây một năm rồi.”

“Cố gắng tìm ra Runner lúc này là một ý tưởng hay, một số người chắc chắn sẽ muốn nói chuyện với ông ta. Dù em không nghĩ Runner đã làm chuyện này,” Lyle nói, “bất chấp những khoản nợ và quá khứ bạo lực của ông ta.”

“Và điên rồ nữa.”

“Điên rồ.” Lyle cười xấc xược. “Nhưng, ông ta không thông minh đến mức có thể thoát tội. Em không có ý xúc phạm.”

“Không sao. Vậy, giả thiết của cậu là gì?”

“Em vẫn chưa sẵn sàng tiết lộ điều đó.” Hắn vỗ nhẹ vào tập hồ sơ tài liệu bên cạnh. “Em sẽ để chị đọc qua các bằng chứng xác đáng của vụ này trước đã.”

“Ôi, vì Chúa,” tôi mỉa mai. Khi nhấn môi vào chữ C, tôi chợt nhận ra đó là cụm từ mẹ tôi thường nói. Vì Chúa, chạy quắn lên thôi, chùm chìa khóa chết tiệt của tôi đâu rồi?

“Vậy nếu Ben thực sự vô tội, tại sao anh ta không cố thoát khỏi vụ này?” Tôi hỏi. Giọng vút lên cao và liến thoắng ở những từ cuối, như tiếng hí của một đứa trẻ: nhưng tại sao con không được ăn món tráng miệng cơ chứ? Tôi nhận ra mình đang thầm hy vọng Ben vô tội, và anh sẽ trở về với tôi như Ben mà tôi từng biết, trước lúc tôi ghê sợ anh. Tôi đã cho phép bản thân thoáng nghĩ về lúc anh ra tù, sải bước trên đường về nhà tôi, hai tay đút túi quần (một ký ức khác hiện về: Ben luôn đút tay trong túi quần, lúc nào cũng tỏ ra bối rối.) Ben đang ngồi ở bàn ăn trong nhà tôi – nếu tôi có một cái bàn ăn – vui vẻ, khoan dung, không làm hại ai cả. Nếu như anh vô tội.

Nếu như “nếu” và “nhưng” là những viên kẹo và quả hạch thì chúng ta sẽ có một Giáng sinh vui vẻ, tôi nghe thấy tiếng bác Diane vang vọng trong đầu. Những từ đó là nỗi đau tột cùng của tuổi thơ tôi, luôn thường trực nhắc tôi rằng chẳng có gì là công bằng hết, không chỉ riêng tôi mà ai cũng vậy, và đó là lý do người ta nghĩ ra cách nói như vậy. Vậy nên chúng ta đều biết rằng chúng ta sẽ không bao giờ có được cái mình cần.

Bởi vì – hãy nhớ lấy, nhớ lấy, Day Bé Nhỏ – Ben đã ở nhà vào đêm hôm ấy. Khi tôi ra khỏi giường để vào phòng mẹ, tôi đã nhìn thấy ánh đèn bên dưới cánh cửa phòng anh cùng với những tiếng lầm bầm bên trong. Anh đã ở đó.

“Có lẽ chị nên đi hỏi anh ta, coi như điểm đến đầu tiên của chị là tới gặp Ben.”

Ben đang ngồi tù. Trong suốt hai mươi năm thừa thãi của đời mình, tôi đã cố không nghĩ về nơi này. Còn giờ đây, tôi đang hình dung anh trai mình ở đó, bên trong hàng rào, sau bức tường bê tông, cuối một hành lang đá màu xám, trong xà lim. Liệu anh có giữ những tấm ảnh gia đình ở đâu đó? Liệu anh có được phép giữ chúng ở đó? Một lần nữa, tôi nhận ra mình chẳng biết gì về cuộc sống của Ben. Thậm chí còn không biết nhà tù trông thế nào ngoài những thứ tôi đã nhìn thấy trong phim.

“Không, không phải Ben. Chưa đến lúc.”

“Có phải vấn đề tiền bạc không? Bọn em sẽ chi tiền cho việc này.”

“Không chỉ là vấn đề về tiền,” tôi càu nhàu.

“Được rồiiiiiii. Vậy chị muốn điều tra Runner trước hay… cái gì khác?”

Chúng tôi ngồi im lặng, những đôi tay thừa thãi, không thể nhìn vào mắt nhau. Khi còn nhỏ, tôi thường bị gửi tới các buổi trao đổi theo nhóm để chơi với những đứa trẻ khác – các bác sĩ tâm thần một mực bắt tôi phải chơi và tương tác với những đứa còn lại. Đó là những gì đang diễn ra trong buổi gặp mặt của tôi và Lyle lúc này: 10 phút giam lỏng kinh khủng đầu tiên, và khi người lớn đã đi, chẳng đứa nào biết đứa kia muốn gì, bạn chỉ biết đứng cạnh chiếc tivi mà họ dặn bạn không được bật lên, và nghịch chiếc ăng-ten.

Tôi bốc một nắm lạc còn nguyên vỏ trong bát, giòn và mỏng như cánh của lũ bọ, bỏ vài hạt vào cốc bia để lấy vị mặn. Tôi chọc vào khiến chúng nhấp nhô trong cốc. Toàn bộ kế hoạch của tôi dường như vẫn còn ngây ngô, chưa rõ ràng. Tôi sẽ thực sự nói chuyện với những người có thể chính là hung thủ giết chết gia đình mình ư? Tôi sẽ thực sự cố gắng để giải quyết một vấn đề nào đó ư? Ngoài việc mơ tưởng, liệu còn cách nào khác khiến tôi tin rằng Ben vô tội? Và nếu anh ấy vô tội thật, điều đó có biến tôi thành một kẻ đáng khinh nhất trong lịch sử không? Đó là cảm giác rối bời mỗi khi tôi định từ bỏ một kế hoạch, là luồng khí mạnh mẽ lúc tôi nhận ra những cố gắng thiên tài của mình còn nhiều thiếu sót, và tôi không có đủ sức lực và trí lực để sửa chữa.

Tôi không còn quyền lựa chọn quay trở về giường và quên hết mọi thứ. Tôi sắp phải trả tiền thuê nhà, và cần tiền để mua đồ ăn. Tôi có thể sống nhờ vào quỹ phúc lợi, nhưng tôi thà chết đói còn hơn phải đối mặt với một đống giấy tờ thủ tục.

“Tôi sẽ nói chuyện với Ben,” tôi lầm bầm. “Nên bắt đầu từ đó, nhưng tôi cần 300 đô-la.”

Miệng thì nói vậy nhưng trong đầu, tôi vẫn nghĩ không dễ gì có được số tiền này, nhưng Lyle đã thò tay vào chiếc ví nhựa cũ kỹ được dán băng dính và đếm ra 300 đô-la. Trông hắn vẫn rất vui vẻ.

“Cậu lấy số tiền này từ đâu, Lyle?”

Hắn hơi sững người một chút, rồi ngồi thẳng lưng lên. “Em là thủ quỹ của câu lạc bộ Kill nên có một khoản nhất định để tùy nghi sử dụng. Và em sử dụng số tiền vào việc này.” Đôi tai nhỏ bé của Lyle đỏ lựng lên.

“Cậu đang biển thủ đấy.” Bỗng nhiên tôi thấy mến hắn ta hơn.

nh Thám, Kỳ Bí ebook©MotSAch —★— Nhà xuất bản: NXB Lao Động TVE-4U
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.