Văn phòng nằm trên tầng mười bảy, nhìn ra đường chân trời của thành phố Houston* và vùng bình nguyên trải rộng cho đến luồng tàu và khu đầm lầy xa hơn. Rải rác nhiều bồn chứa sơn màu bạc. Những ngọn lửa khí thiên nhiên bừng sáng, ban ngày thì mờ nhạt hơn*. Khi Wells xuất hiện, người đàn ông bảo Wells bước vào và đóng cánh cửa lại. Ông không cần quay người. Ông có thể trông thấy Wells phản chiếu qua tấm kính. Wells đóng cánh cửa, đứng với hai bàn tay phía trước, bắt chéo nhau ở cổ tay. Theo cung cách của một giám đốc nhà tang lễ.
Cuối cùng người đàn ông quay lại và nhìn Wells. “Ông biết mặt Anton Chigurh, đúng không?”
Wells nói: “Vâng, đúng, thưa ông.”
“Lần cuối ông thấy hắn là lúc nào?”
“Ngày hai mươi tám tháng Mười một năm rồi.”
“Làm thế nào ông nhớ được ngày?”
Wells nói: “Tôi không làm thế nào cả. Tôi nhớ ngày. Nhớ những con số.”
Người đàn ông gật đầu. Ông đang ngồi phía sau bàn giấy của mình. Bàn giấy làm bằng thép không gỉ và gỗ óc chó, trên mặt bàn không có gì cả. Không có một tấm ảnh hoặc một mẩu giấy. Không có gì.
“Ta có một đội quân đang tung hoành ở đây. Còn sản phẩm thì biến mất và số tiền lớn thì không thấy đâu.”
Wells nói: “Vâng, thưa ông. Tôi hiểu chuyện này.”
“Ông hiểu chuyện này?”
“Vâng, thưa ông.”
“Thế thì tốt. Tôi vui thấy mình đã khiến ông chú ý.”
Wells nói: “Vâng, thưa ông. Ông làm cho tôi chú ý.”
Người đàn ông kéo ngăn kéo của bàn giấy, mang ra một chiếc hộp bằng thép, rút ra một tấm thẻ rồi đậy chiếc hộp lại. Ông cầm tấm thẻ giữa hai ngón tay, nhìn Wells, và Wells bước đến cầm lấy.
“Nếu tôi nhớ không lầm, ông tự trả các khoản chi phí.”
“Vâng, thưa ông.”
“Hóa đơn này chi trả một nghìn hai trăm đô cho hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Cao hơn mức một nghìn đô.”
“Vâng, thưa ông.”
“Ông có biết Chigurh rõ không?”
Wells nói: “Vừa đủ rõ.”
“Đó không phải là câu trả lời.”
“Ông muốn biết gì?”
Người đàn ông gõ các đốt khớp ngón tay lên mặt bàn. Ông nhìn lên: “Tôi chỉ muốn biết ông có nhận xét gì về tên đó. Nói chung chung. Cái tên Chigurh bất khả chiến bại.”
Wells nói: “Không ai là bất khả chiến bại.”
“Có người là vậy.”
“Tại sao ông nói ra điều này?”
“Ở đâu đó trên quả đất này có người bất khả chiến bại giỏi nhất. Cũng như ở đâu đó trên quả đất này có người dễ bị thiệt thân nhất.”
“Ông tin như thế à?”
“Không. Đấy gọi là thống kê. Tên đó nguy hiểm như thế nào?”
Wells nhún vai. “So với cái gì? Bệnh dịch hạch hở? Hắn phải là người xấu đến nỗi ông gọi tôi đến. Hắn là kẻ sát nhân bệnh hoạn về tâm thần, nhưng rồi sao nào? Có nhiều người như hắn.”
“Hắn tham gia cuộc đọ súng ở Eagle Pass hôm qua.”
“Cuộc đọ súng hở?”
“Cuộc đọ súng. Nhiều người chết trên đường phố. Ông không đọc báo hả?”
Wells nói: “Đúng vậy, thưa ông. Tôi không đọc.”
Ông quan sát Wells: “Ông Wells, có vẻ như ông sống một cuộc đời khá may mắn, phải không?”
“Thật tình mà nói, may mắn không can dự nhiều trong đời tôi.”
Người đàn ông nói: “Vâng. Còn gì nữa?”
Wells nói: “Chỉ có thế. Bọn họ là người của Pablo phải không?”
“Phải.”
“Ông biết chắc chứ?”
“Không phải theo ý ông nghĩ. Nhưng khá chắc. Họ không thuộc phe chúng tôi. Vài ngày trước hắn giết hai người khác và hai người đó thuộc bọn tôi. Cùng với ba người khác vài ngày trước. Đủ chưa?”
Wells nói: “Đủ rồi. Tôi nghĩ thế là xong.”
“Cuộc đi săn được nhiều chiến lợi phẩm, theo cách chúng tôi thường nói. Ngày xửa ngày xưa. Lâu lắm rồi.”
Wells nói: “Cảm ơn ông. Tôi xin hỏi ông một việc nhé?”
“Được mà.”
“Tôi không thể trở lại đi lên thang máy đó, phải không?”
“Lên tầng này thì không được. Tại sao?”
Wells nói: “Tôi chỉ muốn biết. An ninh. Lúc nào cũng hay ho.”
Người đàn ông nói: “Sau mỗi chuyến đi lên, thang máy đổi sang mã số khác. Một chuỗi số gồm năm con số được tạo ra ngẫu nhiên. Tôi gọi điện cho một số rồi nó đọc cho tôi mã số đó. Tôi cho ông biết mã số để ông bấm vào. Như thế đã trả lời câu hỏi của ông chưa?”
“Hay quá!”
“Đúng.”
Wells nói: “Tôi đếm số tầng lầu từ ngoài đường.”
“Rồi sao?”
“Có một tầng lầu bị bỏ sót.”
“Tôi sẽ xem xét việc này.”
Wells mỉm cười.
Người đàn ông nói: “Ông tự tìm đường đi ra được chứ?”
“Được.”
“Được rồi.”
“Có một việc khác.”
“Việc gì?”
Wells nói: “Tôi tự hỏi liệu thẻ gửi xe của tôi có thể được chứng nhận hay không*.”
Người đàn ông khẽ lắc đầu. “Tôi nghĩ đó là câu nói đùa.”
“Xin lỗi.”
“Xin chào, ông Wells.”
“Vâng.”
Khi Wells đi đến khách sạn, dải băng của cảnh sát không còn nữa, còn các mảnh vụn kính và gỗ đã được quét dọn khỏi tiền sảnh, khách sạn đang hoạt động lại bình thường. Ván ép được đóng lên các khung cửa cái và hai khung cửa sổ. Một nhân viên lễ tân mới đang đứng ở quầy thế chỗ người cũ. Anh này nói: “Thưa ông?”
Wells nói: “Tôi cần thuê phòng.”
“Dạ, thưa ông. Chỉ có mình ông phải không?”
“Phải.”
“Ông ở mấy đêm?”
“Có lẽ chỉ một đêm.”
Nhân viên lễ tân đẩy tập giấy về phía Wells rồi quay lại phía các chìa khóa treo trên tấm bảng. Wells điền vào mẫu phiếu. Ông nói: “Tôi biết anh chán phải nghe người ta hỏi han, nhưng chuyện gì xảy ra ở khách sạn?”
“Tôi không được phép bàn luận.”
“Được thôi.”
Nhân viên lễ tân đặt chìa khóa lên mặt quầy. “Ông trả tiền mặt hay thẻ tín dụng?”
“Tiền mặt. Bao nhiêu?”
“Mười bốn, cộng thêm thuế.”
“Bao nhiêu? Tổng cộng.”
“Thưa ông?”
“Tôi hỏi tổng cộng là bao nhiêu. Anh phải nói cho tôi biết bao nhiêu. Cho tôi một con số. Tất cả gộp chung.”
“Dạ, thưa ông. Cộng lại là mười bốn đô bảy mươi.”
“Khi vụ việc xảy ra, anh có mặt ở đây không?”
“Thưa ông, không. Tôi chỉ mới bắt đầu làm việc ở đây ngày hôm qua. Bây giờ là ca thứ hai của tôi.”
“Vậy thì anh không được phép bàn luận là như thế nào?”
“Thưa ông?”
“Mấy giờ thì anh xong việc?”
“Thưa ông?”
“Để tôi hỏi cách khác. Ca của anh chấm dứt lúc mấy giờ?”
Nhân viên lễ tân có vóc người cao, mảnh khảnh, có thể là người Mễ mà cũng có thể không phải. Cặp mắt anh ta đảo nhanh qua tiền sảnh của khách sạn. Như thể là có cái gì đấy ngoài kia trợ giúp được anh ta. Anh nói: “Tôi mới đến lúc sáu giờ. Ca làm việc chấm dứt lúc hai giờ.”
“Rồi ai đến làm việc lúc hai giờ?”
“Tôi không biết tên. Ảnh làm lễ tân ban ngày.”
“Anh ấy không có mặt ở đây đêm hôm kia.”
“Thưa ông, không. Ảnh làm việc ban ngày.”
“Còn người làm việc đêm hôm kia? Anh ấy đâu?”
“Anh kia không còn làm việc với chúng tôi nữa.”
“Anh có tờ báo hôm qua ở đây không?”
Nhân viên lễ tân bước lùi lại, tìm kiếm phía dưới bàn. Anh nói: “Thưa ông, không có. Tôi nghĩ họ đã quẳng đi hết.”
“Được rồi. Mang đến cho tôi hai con điếm và một chai whisky với ít nước đá.”
“Thưa ông?”
“Tôi đùa đấy mà. Tôi cần thư giãn. Bọn họ sẽ không trở lại đâu. Tôi có thể hầu như đảm bảo như thế.”
“Dạ, thưa ông. Tôi rất mong vậy. Thực ra tôi đã không muốn nhận công việc này.”
Wells mỉm cười rồi đi lên cầu thang.
Ông ngạc nhiên nhìn thấy dải băng của cảnh sát vẫn còn giăng qua hai phòng. Ông vào phòng mình, đặt cái túi lên ghế, lấy máy cạo râu rồi đi vào phòng tắm bật đèn lên. Ông chải răng và rửa mặt rồi trở lại nằm dài trên giường. Được một lúc ông trở dậy, đi đến chiếc ghế, lật một bên túi, mở dây kéo ở một ngăn đáy và lấy ra một bao súng bằng da. Ông mở bao da rút khẩu súng ngắn ổ quay .357 bằng thép không gỉ và trở lại giường, cởi giày và lại nằm dài với khẩu súng ngắn bên cạnh.
Khi ông tỉnh dậy thì trời hầu như đã tối hẳn. Ông đứng dậy tiến tới cửa sổ và dựa lưng vào tấm rèm cửa cũ kỹ. Ánh sáng ngoài đường phố. Những dải mây dài màu đỏ nhờn nhợt giăng trên chân trời hướng tây. Những mái nhà thấp và tồi tàn nối nhau dọc dài. Ông giắt khẩu súng lục vào thắt lưng, kéo vạt áo phía ngoài quần để che lấp, rồi đi ra hành lang mà chân chỉ mang bít tất.
Chỉ cần mất mười lăm giây là đến phòng của Moss. Ông đóng cánh cửa lại và tránh làm xáo trộn dải băng của cảnh sát. Ông đứng dựa tường, ngửi mùi trong phòng. Rồi ông đứng đấy chỉ để nhìn khắp cùng.
Việc đầu tiên ông làm là bước đi một cách cẩn thận trên tấm thảm. Khi đi đến khoảng trống nơi đã đặt chiếc giường, ông kéo chiếc giường trở vào phòng. Ông quỳ xuống, thổi mạnh trên lớp bụi và quan sát lớp sợi của tấm thảm. Ông đứng dậy, nhấc các chiếc gối đưa lên mũi ngửi rồi lại đặt xuống. Ông bước đến tủ áo, mở hai cánh cửa, nhìn vào rồi đóng cửa lại.
Ông đi vào buồng tắm. Ông dùng ngón tay trỏ quét dọc thành bồn rửa mặt. Một tấm khăn lau người và một khăn lau tay đã được sử dụng, nhưng cục xà phòng vẫn còn mới nguyên. Ông quét ngón tay dọc thành bồn cầu rồi lau lên ống quần. Ông ngồi trên rìa miệng bàn cầu và đập hai chân lên sàn gạch.
Phòng kia mang số 227. Ông đi vào, đóng cánh cửa lại, quay người và đứng nhìn. Mặt giường vẫn còn y nguyên. Cửa phòng tắm đang mở. Một chiếc khăn lau dính máu nằm trên sàn.
Ông bước đến, đẩy cánh cửa lại. Có một khăn lau dính máu nằm trong bồn rửa mặt. Tấm khăn kia đã biến mất. Dấu tay dính máu. Một dấu tay dính máu trên rìa tấm màn vòi hoa sen. Ông lẩm bẩm: “Tôi mong anh đã không bò đi trong một cái lỗ ở đâu đó. Chắc chắn là tôi muốn lĩnh tiền.”
Lúc trời vừa sáng, ông đi ra đường phố, ghi nhận các sự kiện trong đầu. Mặt đường đã được xịt nước rửa sạch nhưng người ta vẫn còn thấy những vết máu trên nền bê-tông của vỉa hè, nơi Moss bị bắn. Ông đi trở lại phố Main và bắt đầu lại. Những mảnh vụn kính vỡ trong cống thoát nước và dọc vỉa hè. Một số là kính cửa sổ, một số là kính cửa các ô tô dọc lề đường. Ván ép đã được đóng lên những khung cửa sổ bị bắn vỡ; nhưng người ta vẫn có thể thấy những lỗ đạn trên tường gạch hoặc những vết trầy do đạn bắn từ khách sạn xuống.
Ông đi trở lại khách sạn, ngồi trên các bậc thang mà nhìn ra đường phố. Mặt trời đang lên phía trên nhà hát Aztec. Có cái gì đấy ở tầng thứ hai làm cho ông chú ý. Ông đứng dậy, bước xuống, băng qua đường rồi leo lên các bậc thang. Hai lỗ đạn trên kính cửa sổ. Ông gõ cửa và chờ đợi. Rồi ông mở cánh cửa, đi vào.
Căn phòng tối tăm. Phảng phất mùi ẩm mốc. Ông đứng cho đến khi đôi mắt đã quen với ánh sáng lờ mờ. Một lối đi. Một chiếc dương cầm hoặc một đàn oóc-gan nhỏ. Một áo ngủ bằng hàng the. Một phụ nữ già gục trên chiếc ghế xích đu gần cửa sổ.
Wells bước đến quan sát người phụ nữ. Bà đã bị bắn qua trán, người chúi về phía trước, một phần xương sọ phía sau và một ít mô não khô dính trên thân ghế sau lưng. Một tờ báo trên lòng. Bà mặc một chiếc áo ngủ bằng vải bông dính nhiều vết máu đen quánh. Không khí lạnh lẽo trong căn phòng. Wells nhìn quanh. Một viên đạn thứ hai bắn trúng tấm lịch treo tường. Ông nhìn quanh quất những phía khác trong phòng. Ông rút ra chiếc máy ảnh nhỏ từ túi áo, chụp vài tấm ảnh của người phụ nữ đã chết rồi lại cất máy ảnh vào túi. Ông nói với bà: “Trong đầu bà không ngờ có việc này, phải không hở bà già thân mến?”
Moss thức giấc trong phòng bệnh với tấm màn giăng giữa giường anh nằm và giường bên tay trái anh. Bóng người thấp thoáng. Những tiếng nói trong ngôn ngữ Tây Ban Nha. Âm thanh lao xao từ đường phố. Một chiếc xe gắn máy. Một con chó. Anh quay đầu đang kê trên gối, nhìn vào đôi mắt của một người đàn ông đang ngồi trên một chiếc ghế kim loại dựa vào tường, tay đang cầm một bó hoa. Người đàn ông nói: “Anh cảm thấy thế nào?”
“Tôi thấy khỏe hơn. Anh là ai?”
“Tôi là Carson Wells.”
“Anh là ai?”
“Tôi nghĩ anh biết tôi là ai. Tôi mang hoa đến tặng anh.”
Moss nằm nhìn lên trần nhà. “Các anh có bao nhiêu người ở đây?”
Wells nói: “À, tôi nghĩ chỉ có một người mà anh nên quan tâm.”
“Đó là ông.”
“Phải.”
“Còn cái tên đi đến khách sạn thì sao?”
Wells nói: “Ta có thể nói về hắn.”
“Thế thì nói đi.”
“Tôi có thể khiến cho hắn mất hút.”
Moss nói: “Tự tôi có thể làm việc đó.”
“Tôi không nghĩ vậy.”
“Anh có quyền nghĩ theo ý mình.”
Wells nói: “Nếu người của Acosta không xuất hiện đúng nơi đó thì tôi nghĩ anh đã không thoát.”
Moss nói: “Tôi đã không thoát.”
“Anh đã thoát được. Anh làm khá lắm.”
Moss quay đầu lại nhìn người đàn ông: “Anh đến đây được bao lâu rồi?”
“Khoảng một tiếng đồng hồ.”
“Chỉ ngồi đó hay sao?”
“Đúng.”
“Anh không bận bịu công việc nhiều, phải không?”
Wells nói: “Tôi thích làm từng việc một, nếu đó là điều anh nghĩ.”
“Anh trông dại dột khi ngồi ở đây.”
Wells mỉm cười.
“Tại sao anh không đặt mấy cánh hoa chết tiệt đó xuống?”
“Được rồi.”
Wells đứng dậy, đặt bó hoa lên bàn ngủ, rồi lại đến ngồi trên chiếc ghế. Ông hỏi: “Anh có biết hai xen-ti-mét là gì không?”
“Biết. Đó là sự đo lường.”
“Đó là khoảng ba phần tư của một inch*.”
“Được rồi.”
Wells nói: “Viên đạn nằm cách lá gan anh một khoảng đó.”
“Bác sĩ nói với anh như vậy hả?”
“Đúng. Anh biết lá gan có chức năng gì không?”
“Không.”
Wells nói: “Không có nó thì anh chết. Anh có biết người bắn anh không?”
“Có lẽ hắn không cố ý bắn tôi. Có lẽ đó là một trong những người Mễ.”
“Anh có biết người đó là ai không?”
“Không. Tôi cần biết hay sao?”
“Bởi vì đó không phải là người mà anh thật sự muốn biết. Những người hắn đã gặp thường có tương lai rất ngắn. Thật ra là chẳng có tương lai gì cả.”
“À, thế thì tốt cho hắn.”
Wells nói: “Anh không chịu lắng nghe. Anh cần chú ý hơn. Người này sẽ không ngừng truy lùng anh. Ngay cả nếu hắn nhận lại được số tiền. Đối với hắn thì chuyện này không có khác biệt gì cả. Dù cho anh đi tìm hắn mà trao lại số tiền, hắn vẫn sẽ giết anh. Chỉ vì đã gây phiền toái cho hắn.”
“Tôi nghĩ mình đã gây nhiều hơn là phiền toái cho hắn.”
“Ý anh nói gì?”
Moss nói: “Tôi nghĩ mình đã hạ hắn.”
“Tại sao anh nghĩ vậy?”
“Tôi rưới trên người hắn hàng loạt đạn bi nhỏ. Tôi không tin hắn được ổn.”
Wells ngồi ngả người lại, quan sát Moss: “Anh nghĩ anh giết được hắn rồi hay sao?”
“Tôi không biết.”
“Bởi vì anh đã không giết được hắn. Hắn đi ra đường phố giết tất cả người Mễ rồi trở vô khách sạn. Giống như anh đi ra ngoài để mua một tờ báo hay đại loại như thế.”
Moss nói: “Hắn không giết tất cả người Mễ.”
“Hắn giết tất cả người Mễ còn sót.”
“Có phải ý anh nói hắn không bị bắn hả?”
Wells nói: “Tôi không biết.”
“Nói cho tôi biết tại sao.”
“Nếu anh muốn.”
Moss hỏi: “Hắn là bạn của anh hả?”
“Không.”
Moss nói: “Tôi đã nghĩ có lẽ hắn là bạn anh.”
“Không, anh không nghĩ vậy. Làm thế nào anh tin hắn không tìm đường đến Odessa?”
“Hắn đi đến Odessa để làm gì?”
“Để giết vợ anh.”
Moss không trả lời. Anh nằm trên tấm trải giường thô ráp, nhìn lên trần nhà. Anh cảm thấy đau nhức thêm. “Anh không biết mình đang nói cái chết tiệt gì cả.”
Wells nói: “Tôi mang đến vài tấm ảnh cho anh xem.”
Ông đứng dậy, đặt hai tấm ảnh lên giường rồi lại ngồi xuống. Moss liếc qua hai tấm ảnh. Anh nói: “Tôi phải hiểu sự tình ra sao đây?”
“Tôi chụp hai ảnh này sáng nay. Bà già sống trong một căn hộ trên tầng hai trong tòa nhà mà anh bắn lên. Xác bà vẫn còn ở đó.”
Moss nói: “Anh thật là thứ thối tha.”
Wells quan sát Moss, rồi quay người nhìn qua khung cửa sổ. “Anh không có liên can gì đến việc này chớ?”
“Không.”
Wells nói: “Anh chỉ tình cờ tìm thấy các chiếc xe ở chỗ đó.”
“Tôi không biết anh đang nói gì.”
“Anh không lấy đi sản phẩm, phải không?”
“Sản phẩm gì?”
“Bạch phiến. Anh không giữ bạch phiến.”
“Đúng. Tôi không giữ.”
Wells gật đầu, có vẻ suy tư: “Có lẽ tôi nên hỏi anh định làm gì.”
“Có lẽ tôi nên hỏi anh.”
Wells nói: “Tôi chẳng định làm gì cả. Tôi không cần phải làm gì. Anh sẽ đến tìm tôi. Không sớm thì muộn. Anh không có chọn lựa nào khác. Tôi sẽ cho anh số điện thoại di động.”
“Điều gì làm cho anh nghĩ tôi sẽ không biến đi?”
“Anh có biết tôi mất thời gian bao lâu để tìm ra anh không?”
“Không.”
“Khoảng ba tiếng đồng hồ.”
Moss nói: “Anh sẽ không được may mắn như thế nữa.”
“Có lẽ đúng. Nhưng khi đó anh sẽ gây ra tin dữ.”
Moss nói: “Tôi đoán anh đã từng làm việc cho hắn.”
“Ai?”
“Cái tên đó.”
Wells nói: “Đúng. Có lúc tôi đã từng làm việc cho hắn.”
“Tên hắn là gì?”
“Chigurh.”
“Sugar hả?”
“Chigurh. Anton Chigurh.”
“Làm thế nào mà anh biết tôi sẽ không dàn xếp với hắn?”
Wells ngồi nghiêng người về phía trước, hai cánh tay chéo nhau trên hai đầu gối, các ngón tay đan vào nhau. Ông lắc đầu. “Anh chẳng chịu chú ý gì cả.”
Moss nói: “Có thể là vì tôi không tin lời anh nói.”
“Có, anh tin.”
“Hoặc là tôi sẽ xử hắn.”
“Anh bị đau lắm không?”
“Có đau. Ờ.”
“Anh bị đau nhiều. Nó làm cho anh khó suy nghĩ. Để tôi gọi y tá.”
“Tôi không cần anh ban ơn.”
“Được rồi.”
“Hắn là người như thế nào, một kẻ thủ ác cùng cực hả?”
Wells nói: “Tôi không muốn nhận xét hắn như thế.”
“Anh nhận xét hắn như thế nào?”
Wells suy nghĩ về điều này. “Tôi đoán hắn không phải là típ người có óc khôi hài.”
“Người như vậy không phải là phạm nhân.”
“Tôi không nói theo ý đó. Tôi muốn nói với anh một việc.”
“Nói cho tôi nghe.”
Wells nói: “Anh không thể dàn xếp với hắn. Để tôi nói lần nữa. Ngay cả nếu anh trao lại số tiền cho hắn thì hắn vẫn giết anh. Ai lôi thôi với hắn một tiếng là không sống được. Bọn họ đều đã chết. Không có cơ may nào cả. Hắn là con người kỳ quặc. Thậm chí anh có thể nói hắn có những nguyên tắc. Nguyên tắc trong việc giao dịch tiền bạc hoặc giao dịch ma túy hoặc đại loại như vậy.”
Moss nói: “Thế thì tại sao anh kể về hắn cho tôi nghe?”
“Anh hỏi tôi về hắn.”
“Tại sao anh lại nói ra?”
“Có lẽ bởi vì nếu tôi giải thích cho anh hiểu được thì công việc của tôi sẽ dễ dàng hơn. Tôi không biết gì về anh. Nhưng tôi biết anh không phải là người có bản lĩnh trong mấy chuyện này. Anh nghĩ anh có bản lĩnh. Nhưng không phải vậy.”
“Chúng ta sẽ thấy, được không?”
“Vài người trong bọn tôi sẽ thấy. Anh đã làm gì với số tiền?”
“Tôi đã xài khoảng hai triệu đô cho mấy con điếm và whisky, phần còn lại tôi chỉ việc phung phí hết.”
Wells mỉm cười. Ông ngồi ngả người ra sao, hai chân chéo nhau. Ông mang một đôi giày da cá sấu hiệu Lucchese đắt tiền. “Anh nghĩ hắn đã tìm ra anh bằng cách nào?”
Moss không trả lời.
“Anh đã nghĩ đến việc này không?”
“Tôi biết hắn đã tìm ra tôi. Sau này hắn sẽ không tìm tôi được nữa.”
Wells mỉm cười. “À, thế thì tốt cho anh.”
“Đúng. Tốt cho tôi.”
Có một chiếc vại nhỏ đựng nước đặt trên khay nhựa trên bàn ngủ. Moss nhìn đến đấy.
Wells hỏi: “Anh có muốn uống nước không?”
“Nếu tôi cần gì nơi anh thì anh sẽ là kẻ khốn kiếp đầu tiên được biết.”
Wells nói: “Cái đó gọi là thiết bị định vị.”
“Tôi biết cái đó gọi là gì.”
“Đó là cách duy nhất hắn truy lùng ra anh.”
“Ừ.”
“Tôi có thể cho anh biết đôi điều hữu ích.”
“À, tôi lặp lại câu tôi vừa nói. Tôi không cần anh ban ơn.”
“Anh không thấy hiếu kỳ muốn biết tại sao tôi nói cho anh nghe, hả?”
“Tôi biết tại sao anh muốn nói.”
“Nói gì?”
“Anh thích dàn xếp với tôi hơn là với cái tên Sugar* đó.
“Đúng. Để tôi rót nước cho anh.”
“Mặc xác tôi.”
Wells ngồi im lặng, hai chân vẫn bắt chéo nhau.
Moss nhìn người đàn ông, nói: “Anh nghĩ anh có thể làm cho tôi sợ tên đó đến chết khiếp. Anh chẳng biết mình đang nói gì cả. Nếu anh muốn, tôi dẫn anh đến gặp hắn.”
Wells mỉm cười, khẽ nhún vai. Ông nhìn xuống mũi giày mình, thả hai chân rời ra, cọ mũi giày dưới ống quần jeans để lau bụi rồi bắt chéo hai chân trở lại. Ông hỏi: “Anh làm gì?”
“Hả?”
“Anh làm nghề gì?”
“Tôi nghỉ hưu.”
“Anh làm gì trước khi nghỉ hưu?”
Moss nói: “Tôi làm thợ hàn.”
“Hàn bằng khí acetylene hoặc bằng khí gì?”
“Mọi thứ. Nếu thứ gì hàn với nhau được thì tôi làm được.”
“Hàn gang được chứ?”
“Được.”
“Ý tôi không nói tới đồng thau.”
“Tôi không nói đồng thau.”
“Anh đã chiến đấu ở Việt Nam hả?”
Moss nói: “Đúng. Tôi chiến đấu ở Việt Nam.”
“Tôi cũng vậy.”
“Thế thì việc đó ảnh hưởng tới tôi ra sao? Biến tôi thành chiến hữu của anh hả?”
“Lúc trước tôi ở trong Lực lượng Đặc biệt*.”
Moss nói: “Tôi nghĩ anh làm tôi nhầm lẫn với ai đó mà họ cóc cần biết anh thuộc lực lượng nào.”
“Lúc trước tôi là trung tá.”
“Nhảm nhí.”
“Tôi không nghĩ vậy.”
Moss nói: “Còn bây giờ anh làm gì?”
“Tôi lo tìm kiếm người. Dàn xếp chuyện ân oán. Đại loại như vậy.”
“Anh là tay sát thủ.”
Wells mỉm cười: “Tay sát thủ!”
Moss nói: “Tùy anh muốn gọi là gì cũng được.”
Wells nói: “Những người thuê tôi muốn giữ kín tung tích. Họ không muốn can dự vào các vụ việc dễ gây chú ý. Họ không muốn báo chí đăng tải.”
“Tôi biết mà.”
Wells nói: “Chuyện này sẽ không chấm dứt đâu. Ngay cả nếu anh may mắn hạ được một, hai người - mà việc này khó xảy ra - thì họ chỉ việc phái người khác. Họ vẫn sẽ truy lùng ra anh. Không có chốn nương thân. Anh còn gặp thêm chuyện lôi thôi nữa bởi vì phe đi giao hàng cũng bị mất hàng. Thế nên thử đoán xem họ đang truy lùng ai? Chưa kể đặc vụ DEA và vài cơ quan công quyền khác. Danh sách truy lùng của mỗi nhóm đều ghi cùng một cái tên. Và đó là cái tên duy nhất. Anh phải cho tôi một ân huệ. Tôi thực sự không có lý do gì để bảo vệ anh.”
“Anh sợ cái tên đó phải không?”
Wells nhún vai: “Nói tôi oải vì hắn thì đúng hơn.”
“Anh đã không nhắc tới Bell.”
“Bell? Thì sao nào?”
“Tôi đoán anh không nghĩ nhiều về ông này.”
Wells nói: “Tôi không nghĩ gì về ông ấy. Ông ta là cảnh sát trưởng lỗ mãng trong một thị trấn dân dã của một hạt dân dã. Trong một bang dân dã. Để tôi gọi y tá. Coi bộ anh không được thoải mái lắm. Đây là số điện thoại của tôi. Tôi mong anh suy nghĩ thêm, về những điều ta trao đổi.”
Wells đứng lên, đặt tấm danh thiếp cạnh bó hoa trên mặt bàn. Ông nhìn Moss: “Anh nghĩ không muốn gọi cho tôi, nhưng anh sẽ gọi. Chigurh là kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Thời gian không đứng về phía anh. Chúng ta có thể níu kéo thêm ít thời gian cho anh. Nhưng nếu tôi phải lấy lại số tiền từ tay Chigurh thì lúc đó là quá muộn cho anh. Chưa nói đến vợ anh.”
Moss không trả lời.
“Được rồi. Có thể anh muốn gọi cho vợ anh. Khi tôi nói chuyện với cô ấy thì cô tỏ vẻ rất lo lắng.”
Khi Wells đã ra đi, Moss lật lên hai tấm ảnh trên mặt giường. Giống như người chơi bài lật lên con bài chủ của mình. Anh nhìn đến chiếc vại đựng nước, nhưng cô y tá đã bước vào.