Không Chốn Nương Thân

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Bell vừa nâng chiếc nĩa để bắt đầu dùng bữa tối thì chuông điện thoại reo. Ông hạ chiếc nĩa xuống. Loretta vừa kéo chiếc ghế của mình ra phía sau thì ông lau miệng với chiếc khăn rồi đứng dậy. Ông nói: “Để anh nghe.”

“Được rồi.”

“Làm cái quái gì mà họ biết mình đang ăn? Mình chẳng bao giờ ăn muộn như thế này.”

Loretta nói: “Đừng chửi rủa.”

Ông nhấc máy lên: “Cảnh sát trưởng Bell đây.”

Ông lắng nghe một lúc. Rồi ông nói: “Tôi đang dùng bữa tối cho xong. Tôi sẽ đến gặp anh ở đấy trong vòng bốn mươi lăm phút. Chỉ cần để đèn hiệu trên xe của anh.”

Ông đặt điện thoại xuống, trở lại ghế ngồi, nhấc chiếc khăn lau miệng trải lên đùi rồi cầm lấy chiếc nĩa. Ông nói: “Có người gọi về việc một chiếc xe bốc cháy. Ở bên này vực núi Lozier.”

“Anh nghĩ có chuyện gì?”

Ông lắc đầu.

Ông ăn tiếp. Ông uống ngụm cà phê cuối cùng. Ông nói: “Đi với anh.”

“Để em đi lấy áo choàng.”

Khi xe chạy đến cánh cổng, họ lái qua hàng rào ngăn bò và đậu sau xe của Wendell. Anh này tiến lại và Bell kéo cửa kính xe xuống.

Wendell nói: “Cách đây khoảng nửa dặm*, sếp chỉ cần đi theo tôi.”

“Tôi thấy mà.”

“Dạ, thưa sếp. Khoảng một giờ trước ở đây nhìn thấy rất rõ. Người gọi điện báo nhìn thấy nó từ trên đường.”

Họ cho xe đỗ lại cách một quãng, bước ra khỏi xe và đứng nhìn. Họ có thể cảm thấy hơi nóng phả lên mặt. Bell đi vòng qua chiếc xe, mở cánh cửa và nắm lấy bàn tay vợ mình. Loretta bước ra đứng nhìn, hai cánh tay khoanh phía trước thân người. Có một chiếc xe bán tải đậu cách một khoảng ngắn; hai người đang đứng đấy trong ánh lửa đỏ bập bừng. Họ gật đầu chào nhau và kêu lên: “Cảnh sát trưởng.”

Loretta nói: “Đáng lẽ mình nên mang theo xúc xích để nướng.”

“Ừ. Hay là kẹo dẻo.”

“Anh hẳn nghĩ một chiếc xe không tự bốc cháy như thế.”

“Đúng, không ai nghĩ thế. Các anh có thấy gì không?”

“Không, thưa sếp. Chỉ thấy lửa.”

“Có trông thấy ai hoặc cái gì không?”

“Thưa sếp, không thấy gì.”

“Wendell, anh thấy nó giống như chiếc Ford đời 77 không?”

“Có thể.”

“Tôi nói nó giống như thế.”

“Có phải đó là chiếc cái anh già kia vẫn lái không?”

“Phải. Biển số Dallas*.”

“Đây không phải là ngày may mắn cho hắn, phải không hở sếp?”

“Đúng hẳn rồi.”

“Sếp nghĩ tại sao họ đốt chiếc xe?”

“Tôi không biết.”

Wendell quay người, nhổ nước bọt. “Đó có phải là chuyện hắn nghĩ đến khi rời Dallas không?”

Bell lắc đầu: “Không. Tôi đoán hắn không hề nghĩ đến chuyện này.”

Vào buổi sáng khi ông đi đến văn phòng thì chuông điện thoại đang reo. Torbert chưa trở lại. Cuối cùng, lúc chín giờ rưỡi anh này gọi về. Bell phái Wendell đi đón anh. Rồi ông ngồi đưa hai chân lên mặt bàn, nhìn chăm chăm đôi giày cao cổ của mình. Ông ngồi như thế một hồi lâu. Rồi ông lấy bộ đàm gọi Wendell.

“Anh đang ở đâu?”

“Vừa mới đi qua vực núi Sanderson.”

“Quay trở về.”

“Được. Còn Torbert thì sao?”

“Gọi bảo hắn cảnh giác. Tôi sẽ đến đón hắn chiều nay.”

“Dạ, thưa sếp.”

“Đi lấy xâu chìa khóa của chiếc xe bán tải Loretta đang giữ và nối toa rơ-moóc. Đóng yên cho ngựa của tôi và ngựa của Loretta rồi đưa lên toa. Tôi sẽ đến gặp anh ngoài đó trong khoảng một tiếng đồng hồ.”

“Dạ, thưa sếp.”

Ông treo ống nói lên, đứng dậy rồi đi xuống kiểm soát nhà giam.

Họ lái chiếc xe qua cánh cổng, đóng cánh cổng lại, chạy tiếp khoảng một trăm mét dọc hàng rào rồi dừng xe. Wendell mở hai cánh cửa toa rơ-moóc, dẫn hai con ngựa ra. Bell nắm lấy dây cương con ngựa của vợ ông, nói: “Anh cưỡi con Winston.”

“Sếp chắc không?”

“Còn hơn cả chắc nữa. Nếu có chuyện gì xảy đến cho ngựa của Loretta thì bây giờ tôi có thể cho anh biết là chắc chắn anh sẽ không hề muốn mình là người cưỡi nó.”

Ông trao cho Wendell một trong những khẩu súng trường ông mang theo, nhảy lên yên ngựa và kéo vành mũ xuống. Ông hỏi: “Sẵn sàng chưa?”

Họ phi ngựa song song bên nhau. Bell nói: “Ta đã chạy qua vết bánh xe của họ nhưng anh vẫn có thể nhìn ra. Loại bánh xe rộng để chạy băng đồng.”

Khi hai người đến nơi, chiếc xe chỉ còn là một cái khung cháy nám đen.

Wendell nói: “Anh đã nói đúng về cái biển số xe.”

“Nhưng tôi đã nói dối về bánh xe.”

“Nói dối thế nào?”

“Tôi đã nói các bánh xe lúc đó còn đang cháy.”

Chiếc xe nằm giữa bốn vệt trông giống như hắc ín, những sợi kim loại quấn quanh niềng bánh xe rối nùi như bòng bong. Họ tiếp tục phóng ngựa đi. Thỉnh thoảng Bell chỉ xuống đất. Ông nói: “Anh có thể phân biệt vệt bánh xe chạy ban ngày hoặc ban đêm. Họ đã lái xe trong đêm tối mà không bật đèn. Có thấy vệt bánh xe chạy xiên xẹo không? Giống như họ không thể nhìn được xa nên không kịp tránh lùm bụi phía trước. Hoặc có thể để lại vệt sơn trên vách đá như ở đàng kia.”

Đến một bãi cát, ông xuống ngựa, đi tới đi lui rồi nhìn ra xa về hướng nam. “Có cùng những dấu bánh xe khi chạy đến và chạy đi. Gần như cùng một lúc. Anh có thể thấy những vệt gai lốp xe rất rõ. Đó là đường họ chạy đi. Tôi có thể nói mỗi chiều có hai hoặc ba chuyến đi.”

Wendell vẫn ngồi trên lưng ngựa, hai tay bắt chéo nhau nắm lấy núm chiếc yên. Anh nghiêng người phun nước bọt. Anh nhìn về hướng nam cùng với Cảnh sát trưởng. “Sếp đoán ta tìm thấy gì ở đây?”

Bell đáp: “Tôi không rõ.” Ông đặt một chân lên bàn đạp bên hông ngựa, nhẹ nhàng nhấc người lên yên rồi phóng con ngựa nhỏ chạy tới. Ông lại nói: “Tôi không rõ. Chưa thể nói nếu chưa thấy gì.”

Khi họ chạy đến chiếc xe bán tải của Moss, viên Cảnh sát trưởng quan sát rồi cho ngựa đi chầm chậm vòng quanh. Cả hai cánh cửa chiếc xe đều mở.

Ông nói: “Có ai đấy đã nậy ra tấm thẻ kiểm tra.”

“Các con số thì nằm trên khung.”

“Ừ. Tôi nghĩ đấy không phải là lý do họ muốn lấy đi.”

“Tôi biết chiếc xe này.”

“Tôi cũng biết.”

Wendell nghiêng người lấy tay vỗ cổ con ngựa. “Anh này tên là Moss.”

“Ừ.”

Bell cho ngựa chạy vòng phía sau chiếc xe rồi quay đầu ngựa lại, nhìn Wendell. “Anh biết anh ta ngụ ở đâu không?”

“Thưa sếp, không.”

“Anh ta có vợ, phải không?”

“Tôi nghĩ vậy.”

Viên Cảnh sát trưởng nhìn chiếc xe bán tải. “Tôi vừa nghĩ ra rằng quả là điều kỳ lạ nếu anh ta mất tích hai hoặc ba ngày mà không nghe ai nói năng gì cả.”

“Quả là kỳ lạ.”

Bell nhìn xuống lòng chảo núi lửa. “Tôi nghĩ mình thật sự có mối tai họa ở đây.”

“Tôi tin sếp.”

“Anh nghĩ anh này buôn ma túy hở?”

“Tôi không biết. Tôi không nghĩ vậy.”

“Tôi cũng vậy. Đi xuống kia mà xem cái đám bầy hầy còn lại.”

Hai người cưỡi ngựa chạy xuống lòng chảo núi lửa, giữ khẩu súng trường Winchester tựa trên yên ngựa trước mặt. Bell nói: “Tôi hy vọng anh ta không nằm chết ở dưới đó. Anh ta là người tử tế; tôi đã trông thấy anh ta một, hai lần. Vợ anh ta cũng đẹp.”

Họ cưỡi ngựa qua các thi thể nằm trên mặt đất và dừng lại, xuống ngựa và để rơi dây cương. Hai con ngựa dậm chân bồn chồn.

Bell nói: “Anh dẫn lũ ngựa ra đàng xa kia. Chúng không cần phải nhìn cảnh này.”

“Dạ, thưa sếp.”

Khi Wendell trở lại, Bell đưa cho anh ta hai chiếc ví ông lấy từ các thi thể. Ông nhìn về phía những chiếc xe bán tải.

Ông nói: “Hai người này chết chưa lâu như đàng kia.”

“Họ từ đâu tới?”

“Dallas.”

Bell trao cho Wendell khẩu súng lục ông vừa nhặt lên rồi ngồi xổm tựa vào khẩu súng trường ông mang theo. Ông nói: “Hai anh này bị hành quyết. Tôi có thể nói do một đồng bọn. Anh già chưa hề mở chốt an toàn của khẩu súng lục này. Cả hai đều bị bắn giữa hai con mắt.”

“Người kia không có súng hay sao?”

“Có lẽ tên sát nhân đã lấy đi. Hoặc có lẽ anh ta không có súng.”

“Cách tồi tệ để đấu súng như vậy.”

“Đúng là tồi tệ.”

Họ đi giữa những chiếc bán tải. Wendell nói: “Mấy kẻ săn mồi này say máu như lợn rừng.”

Bell liếc qua anh.

Wendell nói: “Dạ. Tôi nghĩ ta nên cẩn thận mà đừng nguyền rủa người chết.”

Bell nói: “Tôi chỉ nói ít nhất có lẽ ta sẽ gặp chuyện không may khi làm thế.”

“Đó chỉ là một đám Mễ buôn ma túy.”

Bell nói: “Trước đây họ buôn ma túy. Bây giờ thì hết rồi.”

“Tôi không rõ sếp muốn nói gì.”

“Ý tôi chỉ nói dù họ đã là gì chăng nữa thì giờ đây họ chỉ là những xác chết.”

“Tôi sẽ gác chuyện đó qua một bên.”

Viên Cảnh sát trưởng nghiêng người đến ghế chiếc Bronco và nhìn về phía sau. Ông thấm nước bọt trên đầu ngón tay, quệt xuống mặt thảm rồi giơ ngón tay ra ánh sáng. “Đấy là một loại ma túy nâu của Mexico.”

“Bây giờ thì biến mất từ lâu, phải không sếp?”

“Lâu rồi.”

Wendell ngồi xổm, quan sát mặt đất dưới cánh cửa. “Trông như có thêm một ít trên mặt đất. Có thể ai đó đã cắt một trong mấy cái túi. Để xem bên trong là thứ gì.”

Bell nói: “Có thể là để kiểm tra chất lượng. Đang chuẩn bị giao dịch.”

“Họ không giao dịch. Họ bắn giết nhau.”

Bell gật đầu.

“Thậm chí tiền bạc có lẽ cũng không có.”

Bell nói: “Có lẽ đúng.”

“Nhưng sếp không tin.”

Bell đã nghĩ đến điều này. Ông nói: “Không. Có lẽ tôi không tin.”

“Có thêm chuyện lôi thôi thứ hai ở đàng kia.”

Bell nói: “Đúng. Ít nhất là thế.”

Ông đứng dậy, đẩy chiếc ghế về chỗ cũ. “Người công dân tốt này cũng bị bắn giữa hai mắt.”

“Ừa.”

Họ đi vòng quanh chiếc xe.

Bell lấy tay chỉ: “Đấy là súng máy, bắn thẳng từ đàng kia.”

“Tôi cũng thấy như vậy. Thế thì sếp nghĩ người lái xe đi đâu?”

“Có lẽ là một người trong bọn họ đang nằm đàng kia.”

Bell rút ra chiếc khăn tay đưa lên mũi, thò tay vào lấy ra một số vỏ đạn nằm trên sàn xe, nhìn qua các con số khảm trên mặt đáy vỏ.

“Đạn cỡ bao nhiêu vậy, hở sếp?”

“Chín mi-li-mét. Một vài viên thuộc loại .45 ACP*.”

Ông thả các vỏ đạn trở lại trên sàn xe, lui về sau, nhấc lấy khẩu súng trường ông đã để dựa vào chiếc xe. “Xem ra thì thấy ai đó đã dùng súng shotgun.”

“Sếp nghĩ các lỗ đạn là lớn hay sao?”

“Tôi nghĩ đạn bi cỡ số bốn thì đúng hơn.”

“Kể cũng đáng đồng tiền.”

Bell nói: “Anh nói thế cũng đúng. Nếu muốn quét sạch cả một con hẻm thì đấy là cách được việc.”

Wendell nhìn qua lòng chảo núi lửa. Anh nói: “À, có người đi ra khỏi đây.”

“Đúng thế.”

“Sếp nghĩ làm thế nào chó rừng không thịt bọn họ?”

Bell lắc đầu, nói: “Tôi không biết. Có lẽ chúng không thích ăn thịt bọn Mễ.”

“Bọn nằm đàng kia không phải là Mễ.”

“À, đúng thế.”

“Ngoài này trông giống như chiến trường Việt Nam.”

Viên Cảnh sát trưởng nói: “Việt Nam!”

Họ bước ra giữa các chiếc xe. Bell nhặt lấy vài vỏ đạn, quan sát rồi lại thả cho rơi xuống. Ông nhặt lấy một bộ nạp đạn* bằng nhựa màu lam. Ông đứng nhìn qua quang cảnh, nói: “Để tôi nói cho anh nghe.”

“Sếp nói đi.”

“Không có lý do nào mà người cuối cùng không hề bị bắn.”

“Tôi đồng ý.”

Bell nói: “Tại sao mình không lấy ngựa đi tiếp lên một quãng và nhìn chung quanh? Có thể tìm thấy một vài chứng cứ.”

“Được ạ.”

“Anh có thể cho tôi biết họ muốn làm gì với một con chó ở đây?”

“Tôi không biết.”

Khi họ tìm ra người chết cạnh vách đá cách một dặm về phía đông bắc, Bell chỉ ngồi trên lưng con ngựa của vợ ông. Ông ngồi đấy một hồi lâu.

“Sếp đang nghĩ gì?”

Viên Cảnh sát trưởng lắc đầu. Ông xuống ngựa, bước đến bên người đàn ông đang ngồi gục chết. Ông đi quanh, khẩu súng trường lủng lẳng trên vai. Ông ngồi xổm, quan sát đám cỏ.

“Có thêm một vụ hành quyết hả sếp?”

“Không, tôi tin đây là cái chết do nguyên nhân tự nhiên.”

“Nguyên nhân tự nhiên hả?”

“Tự nhiên theo loại công việc hắn đã làm.”

“Hắn không có súng.”

“Đúng thế.”

Wendell nghiêng người nhổ nước bọt. “Có người đã đến đây trước ta.”

“Tôi cũng thấy thế.”

“Sếp có nghĩ người đó lấy đi số tiền không?”

“Tôi nói là có khả năng đó.”

“Thế thì chúng ta vẫn chưa tìm ra người cuối cùng, phải không?”

Bell không trả lời. Ông đứng lên, nhìn ra phía vùng đồng trống.

“Đây là một vụ quá phức tạp, phải không sếp?”

“Nếu ban đầu chưa phải là phức tạp thì có người đã đến gây chuyện phức tạp.”

Wendell hỏi: “Thế thì sếp nghĩ cái anh già hữu hảo đó đang ở đâu?”

“Tôi không biết.”

“Tôi nghĩ đi tìm ra anh ta là việc ưu tiên hàng đầu của sếp.”

Viên Cảnh sát trưởng gật đầu: “Ưu tiên hàng đầu.”

Họ quay về thị trấn. Viên Cảnh sát trưởng phái Wendell mang trả toa rờ-moóc và hai con ngựa.

“Nhớ gõ cửa cảm ơn Loretta.”

“Tôi nhớ. Dù sao tôi cũng phải mang trả chìa khóa.”

“Chính quyền hạt này không trả thù lao vì đã dùng ngựa của bà ấy.”

“Tôi nghe rồi.”

Ông gọi cho Torbert qua điện thoại di động. “Tôi sẽ đến đón anh. Cứ chờ đấy.”

Khi ông đi đến trước văn phòng của Lamar, dải băng cảnh sát vẫn còn giăng ngang sân cỏ của tòa án. Torbert đang ngồi trên các bậc thang. Anh đứng dậy, bước về phía chiếc xe.

Bell hỏi: “Anh ổn chứ?”

“Dạ, thưa sếp.”

“Cảnh sát trưởng Lamar đâu?”

“Ông ấy được gọi đi ra ngoài.”

Họ lái xe ra xa lộ. Bell kể cho người trợ lý về vụ việc ở vùng lòng chảo núi lửa. Torbert im lặng lắng nghe. Anh nhìn ra bên ngoài cửa sổ xe. Sau một lúc, anh nói: “Tôi đã nhận được báo cáo từ Austin*.”

“Họ nói gì?”

“Không nói gì nhiều.”

“Anh ta bị bắn bằng súng gì?”

“Họ không biết.”

“Họ không biết à?”

“Đúng vậy, thưa sếp.”

“Làm thế nào mà họ không biết? Vết thương không có miệng trổ ra.”

“Đúng, thưa sếp. Họ sẵn lòng nhìn nhận việc đó.”

“Sẵn lòng nhìn nhận hở?”

“Dạ, thưa sếp.”

“Thế thì họ nói cái quái gì, Torbert?”

“Họ nói có vẻ như một viên đạn cỡ lớn gây ra vết thương trên trán, và nói là vết thương đó đi sâu vào hộp sọ hơn năm phân đến thùy trán của bộ óc, nhưng họ không tìm ra viên đạn.”

“Họ nói đấy là vết thương.”

“Dạ, thưa sếp.”

Bell rẽ ra đường xa lộ liên tiểu bang. Ông gõ các ngón tay lên tay lái. Ông nhìn qua người trợ lý: “Torbert, việc anh vừa nói chẳng đúng lý gì cả.”

“Tôi đã nói với họ như vậy.”

“Họ trả lời ra sao?”

“Họ chẳng trả lời gì cả. Họ đang gửi báo cáo qua đường chuyển phát nhanh FedEx. Phim X quang và mọi thứ. Họ bảo sếp sẽ nhận được ở văn phòng sáng mai.”

Hai người im lặng. Sau một lúc, Torbert nói: “Cả vụ việc này rối rắm quá, phải không sếp?”

“Ừ, đúng thế.”

“Tất cả có bao nhiêu người chết?”

“Câu hỏi hay. Tôi không chắc mình đã đếm. Tám. Cộng thêm phụ tá Haskins là chín.”

Torbert nhìn ra vùng đồng trống bên ngoài. Những bóng dài đổ trên mặt đường. Anh nói: “Bọn họ là đám người quái nào vậy?”

“Tôi không biết. Tôi thường nói họ là hạng người lúc nào mình cũng phải lo xử lý. Cùng hạng người mà ông nội tôi đã phải xử lý. Lúc đó họ đi ăn trộm bò. Bây giờ họ buôn bán ma túy. Nhưng tôi không biết bây giờ còn như thế hay không. Tôi giống anh. Tôi không chắc mình đã từng gặp bọn họ trước đây. Không rõ họ là hạng người nào. Thậm chí tôi không biết phải đối phó với họ ra sao. Nếu mình giết hết bọn họ thì địa ngục phải xây thêm cơ sở mới.”

Chigurh lái xe đến Desert Aire lúc gần giữa trưa, đỗ lại gần nhà di động của Moss rồi tắt máy xe. Hắn bước ra, đi qua khoảng sân trước, bước lên các bậc thang rồi gõ lên khung cửa nhôm. Hắn chờ một lúc. Rồi hắn lại gõ cửa. Hắn quay lưng về căn nhà di động, quan sát khu vườn nhỏ. Không có gì cử động. Không có con chó nào. Hắn quay lại, cầm lấy nắm cửa, dùng khẩu súng bắn bò* bắn cho xy-lanh ống khóa rơi ra, mở cánh cửa, đi vào rồi đóng cánh cửa lại.

Hắn đứng, lăm lăm trên tay là khẩu súng lúc trước hắn đã cướp của viên cảnh sát. Hắn nhìn vào gian bếp. Hắn đi vào phòng ngủ. Hắn đi qua phòng ngủ, mở cánh cửa nhà tắm rồi đi vào phòng ngủ thứ hai. Quần áo trên sàn nhà. Cửa tủ mở. Hắn mở ngăn kéo trên cùng rồi đóng lại. Hắn giắt khẩu súng vào lưng quần, kéo vạt áo phủ lên rồi bước vào gian bếp.

Hắn mở tủ lạnh, lấy ra một hộp giấy sữa tươi, mở ra, ngửi rồi uống. Hắn đứng đấy, chiếc hộp giấy trên một tay, nhìn ra ngoài khung cửa sổ. Hắn uống tiếp, đặt chiếc hộp giấy trở lại vào tủ lạnh, rồi đóng cánh cửa.

Hắn đi ra phòng khách, ngồi trên ghế bành. Có một TV 21 inch còn mới đặt trên mặt bàn. Hắn nhìn bóng mình phản chiếu trên màn hình xám đen.

Hắn đứng dậy, nhặt lấy thư từ trên sàn nhà, lại ngồi xuống xem xét từng phong thư. Hắn chọn lấy ba trong số các phong thư, bỏ vào túi áo, đứng dậy rồi bước ra ngoài.

Hắn lái xe đến đỗ phía trước văn phòng rồi đi vào. Người đàn bà nói: “Chào ông.”

“Tôi muốn tìm Llewelyn Moss.”

Người đàn bà quan sát hắn: “Ông có đi đến nhà di động của ảnh không?”

“Tôi có đến.”

“Thế thì tôi nghĩ ảnh đang đi lo làm ăn. Ông có muốn để lại tin nhắn không?”

“Anh ấy làm việc ở đâu?”

“Thưa ông, tôi không muốn tự tiện tiết lộ thông tin về cư dân của chúng tôi.”

Chigurh nhìn quanh văn phòng nhỏ đóng bằng ván ép.

“Anh ấy làm việc ở đâu?”

“Xin lỗi ông?”

“Tôi hỏi anh ấy làm việc ở đâu.”

“Ông không nghe tôi nói sao? Chúng tôi không thể tiết lộ thông tin.”

Tiếng dội nước bàn cầu ở đâu đấy. Tiếng chốt cửa kéo ra. Chigurh lại nhìn người đàn bà. Rồi hắn đi ra, bước vào chiếc Ramcharger và lái đi.

Hắn đỗ lại trước quán café, rút ra ba phong thư từ túi áo, mở ra rồi đọc các lá thư bên trong. Hắn mở ra hóa đơn điện thoại, nhìn qua các giá tiền. Có các cuộc gọi đi Del Rio* và đi Odessa.

Hắn đi vào, xin đổi tiền lẻ, bước ra tủ điện thoại công cộng, quay số ở Del Rio nhưng không có tiếng trả lời. Hắn quay số ở Odessa, giọng một phụ nữ trả lời, và hắn xin nói chuyện với Llewelyn. Người phụ nữ nói anh ấy không có ở đây.

“Tôi cố đi tìm anh ấy ở Sanderson nhưng tôi nghĩ anh ấy không còn ở đó nữa.”

Một khoảnh khắc im lặng. Rồi người phụ nữ nói: “Tôi không biết anh ấy ở đâu. Ông là ai?”

Chigurh gác máy, đi đến quầy bar, ngồi xuống và gọi một ly cà phê. Hắn hỏi thầm: “Liệu Llewelyn đã từng ở đây không?”

Khi hắn đỗ xe phía trước ga-ra, có hai người đàn ông đang ngồi ăn trưa, lưng dựa vào tường. Hắn bước vào. Có một người đàn ông ở bàn giấy, đang uống cà phê và nghe máy thu thanh. Anh nói: “Chào ông.”

Chigurh nói: “Tôi muốn tìm Llewelyn.”

“Ảnh không có ở đây.”

“Khi nào anh ấy đến?”

“Tôi không biết. Ảnh không báo trước, nên anh có thể đoán giỏi như tôi.” Anh khẽ nghiêng đầu. Như thể anh muốn nhìn Chigurh rõ hơn. “Tôi có thể giúp ông việc gì không?”

“Tôi nghĩ là không.”

Bên ngoài, hắn đứng trên mặt đường mấp mô dính dầu máy. Hắn nhìn đến hai người đàn ông đang ngồi ở đầu cuối của tòa nhà.

“Hai anh có biết Llewelyn ở đâu không?”

Họ lắc đầu. Chigurh bước vào chiếc Ramcharger, lái trở về thị trấn.

Chiếc xe buýt chạy vào Del Rio sau giữa trưa. Moss xách lấy chiếc túi, bước xuống xe. Anh bước đến bến xe taxi, mở cánh cửa sau của một chiếc taxi đang đỗ ở đấy rồi bước vào. Anh nói: “Đưa tôi đến một motel*.”

Tài xế taxi nhìn anh qua kính chiếu hậu: “Ông có chủ định đi đến chỗ nào không?”

“Không. Chỉ cần anh đưa tôi đến nơi nào đó giá rẻ.”

Chiếc taxi chạy đến một nơi có tên Trail Motel. Moss bước ra với chiếc túi xách và chiếc cặp da, trả tiền cho tài xế, rồi đi đến quầy lễ tân. Một phụ nữ đang ngồi xem TV. Cô đứng dậy đi vòng phía sau bàn giấy.

“Cô có phòng trống không?”

“Tôi có vài phòng trống. Ông ở mấy đêm?”

“Tôi chưa biết.”

“Lý do tôi hỏi là vì chúng tôi có giá tuần. Ba mươi lăm đô cộng một đô bảy mươi lăm cent thuế. Tổng cộng ba mươi sáu đô bảy mươi lăm cent.”

“Ba mươi sáu đô bảy mươi lăm cent.”

“Thưa ông, đúng vậy.”

“Giá một tuần?”

“Thưa ông, đúng vậy. Giá một tuần.”

“Đó là giá rẻ nhất hả?”

“Vâng, thưa ông. Giá tuần thì không giảm bớt.”

“Thế thì cứ tính theo từng ngày.”

“Được, thưa ông.”

Anh nhận chìa khóa, đi vào phòng, đóng lại cánh cửa, đặt hai chiếc túi trên mặt giường. Anh kéo lại các màn cửa, đứng nhìn qua tấm màn hướng mắt đến khoảng sân nhỏ bẩn thỉu. Im ắng đến chết người. Anh cài sợi dây xích qua chốt khóa cửa, rồi đến ngồi trên giường. Anh mở khóa kéo của cái túi, lấy ra khẩu súng lục tự động đặt trên tấm trải giường rồi nằm xuống kế bên.

Khi anh thức giấc thì trời đã về chiều. Anh vẫn nằm đấy, nhìn lên tấm trần amiăng hoen ố. Anh ngồi dậy, tháo ra đôi giày cao cổ và đôi bít tất, xem xét miếng băng trên gót chân. Anh đi vào nhà tắm, nhìn mình qua tấm gương, cởi chiếc áo sơ-mi, xem xét phía sau cánh tay. Vùng da tái lại từ bả vai xuống đến cùi tay. Anh đi trở ra, lại ngồi trên chiếc giường. Anh nhìn khẩu súng đang nằm đấy. Sau một lúc, anh leo lên mặt bàn gỗ rẻ tiền, dùng con dao nhíp mở các con ốc vít của tấm vỉ che ống dẫn hơi máy lạnh, tuần tự đặt từng con ốc vít ngậm vào miệng. Rồi anh dỡ tấm vỉ xuống, đặt trên mặt bàn, nhón chân lên để nhìn vào bên trong ống dẫn hơi.

Anh cắt một đoạn dây kéo rèm cửa sổ, cột một đầu dây vào chiếc cặp da. Rồi anh mở nắp cặp, đếm ra một nghìn đô, gấp các tờ giấy bạc cho vào túi áo, đóng nắp cặp lại và cột lại hai sợi dây buộc.

Anh gỡ cái ống trong tủ quần áo, để các chiếc mắc áo trên sàn, rồi lại đứng trên mặt bàn đẩy chiếc cặp da vào bên trong ống dẫn hơi. Anh cầm cái ống đẩy chiếc cặp da sâu thêm vào bên trong cho đến khi tay anh chỉ còn nắm được đầu sợi dây. Anh lắp lại tấm vỉ, siết lại các ốc vít, đi vào phòng tắm để tắm dưới vòi hoa sen. Khi bước ra, anh nằm trên giường, chỉ mặc chiếc quần đùi, kéo tấm chăn phủ lên mình và phủ luôn khẩu súng tự động kế bên. Anh mở chốt an toàn của khẩu súng. Rồi anh ngủ thiếp đi.

Khi anh tỉnh dậy thì trời đã tối. Anh vung hai chân xuống, ngồi lắng nghe động tĩnh. Anh đứng dậy, bước đến khung cửa sổ, kéo tấm màn qua một chút và nhìn ra ngoài. Những bóng tối thăm thẳm. Hoàn toàn yên lặng. Không có gì cả.

Anh mặc quần áo, đặt khẩu súng đã mở chốt an toàn dưới nệm, ngồi trên giường mà nhấc điện thoại gọi taxi.

Anh phải trả thêm mười đô cho tài xế taxi đưa anh qua cây cầu dẫn đến Ciudad Acuña*. Anh bước dọc hè phố, nhìn vào khung kính các cửa hàng. Trời chiều ấm dịu; sáo đá đang gọi nhau trên những cành cây. Anh bước vào một hiệu giày, nhìn qua các sản phẩm hiếm lạ - làm bằng da cá sấu, đà điểu hoặc voi - nhưng chất lượng các đôi giày cao cổ kém xa đôi giày hiệu Larry Mahans anh đang mang. Anh đi vào một hiệu thuốc, mua một hộp băng, rồi đến ngồi ở công viên để băng lại gót chân bị thương. Đôi bít tất đã vấy máu. Nơi một góc đường, một tài xế taxi hỏi anh có muốn đi tìm gái không. Moss giơ bàn tay lên cho anh tài xế thấy chiếc nhẫn cưới, rồi đi tiếp.

Anh ngồi ăn trong nhà hàng có khăn phủ bàn trắng và người phục vụ mặc áo veston trắng. Anh gọi một ly rượu vang đỏ và một đĩa bít-tết. Giờ này vẫn còn sớm, cả nhà hàng chỉ có anh ngồi ăn. Anh nhấm nháp rượu vang và khi đĩa bít-tết được dọn lên, anh ăn một cách chậm rãi và suy nghĩ về cuộc đời mình.

Sau mười giờ tối, anh trở về motel, ngồi trên taxi trong khi xe còn nổ máy để đếm tiền. Anh trao những tờ giấy bạc qua băng ghế trước, chuẩn bị bước ra nhưng rồi dừng lại. Anh vẫn ngồi đấy, bàn tay đặt lên tay cầm cửa xe. Anh nói: “Cho tôi đi vòng qua bên hông.”

Tài xế taxi sang số. Anh hỏi: “Phòng nào?”

“Chỉ cần lái đi vòng. Tôi muốn xem có ai ở đó không.”

Chiếc xe chầm chậm chạy qua phòng của anh. Màn cửa mở hé ra một khoảng nhỏ mà anh nhớ khá rõ mình đã không để như thế. Khó mà nói được. Nhưng không khó lắm. Chiếc taxi chầm chậm chạy qua. Không có chiếc xe nào trên bãi đỗ mà anh không thấy lúc trước. Anh nói: “Chạy tiếp đi.”

Tài xế taxi nhìn anh qua kính chiếu hậu.

Moss nói: “Anh đi tiếp. Đừng dừng.”

“Tôi không muốn vướng vào chuyện lôi thôi nào cả, anh bạn ạ.”

“Cứ đi tiếp.”

“Tôi muốn thả anh xuống đây và ta sẽ không cãi vã gì hết.”

“Tôi muốn anh đưa tôi đến một motel khác.”

“Ta phải sòng phẳng với nhau.”

Moss nghiêng người đến trước, cầm tờ một trăm đô đưa qua băng ghế trước. Anh nói: “Bạn vướng vào chuyện lôi thôi rồi. Tôi đang giúp bạn thoát ra. Bây giờ đưa tôi đến một motel.”

Tài xế taxi cầm lấy tờ giấy bạc, cho vào túi áo, cho xe chạy vòng quanh rồi chạy ra đường.

Anh qua đêm ở khách sạn Ramada Inn nằm kế xa lộ. Đến sáng, anh xuống ăn sáng và đọc báo. Rồi anh cứ ngồi đấy.

“Bọn họ không thể ở trong phòng khi có người vào làm vệ sinh.”

“Giờ trả phòng là mười một giờ sáng.”

“Có thể bọn họ đã tìm ra số tiền và đã bỏ đi.”

Dĩ nhiên ngoại trừ trường hợp là có hai nhóm đang truy lùng anh, và nếu một nhóm đã bỏ đi thì nhóm kia vẫn còn đó.

Đến lúc phải đứng dậy, anh biết rằng có lẽ mình phải giết một ai đấy. Có điều là anh không biết người ấy là ai.

Anh gọi taxi đi đến thị trấn, vào một cửa hàng bán đồ thể thao, mua một khẩu shotgun hiệu Winchester cỡ nòng 12 và một hộp đạn có sức công phá tương đương một quả mìn claymore*. Anh yêu cầu cửa hàng gói khẩu súng rồi đi bộ dọc phố Pecan đến một cửa hiệu bán đồ sắt. Anh mua một cưa sắt, một chiếc dũa và vài món vụn vặt. Một cây nhíp và kềm cắt. Một cây vặn vít. Đèn bấm. Một cuộn băng keo.

Anh đứng trên vỉa hè với các món vừa mua được. Rồi anh quay người đi trở lại dọc hè phố.

Trong cửa hàng bán đồ thể thao, một lần nữa anh hỏi cùng người bán hàng lúc trước để tìm mua cọc nhôm chăng lều. Anh cố giải thích rằng mình không cần biết lều loại gì; anh chỉ cần các cây cọc.

Người bán hàng quan sát anh. Anh này nói: “Dù cho loại lều nào thì chúng tôi vẫn có loại cọc đặc biệt. Ông cần cho biết tên nhà sản xuất và mã số kiểu.”

“Anh bán lều, phải không?”

“Chúng tôi có ba kiểu khác nhau.”

“Kiểu nào có nhiều cọc nhất?”

“À, tôi nghĩ đấy là kiểu lều tường, cao ba mét. Ông có thể đứng thẳng trong lều. Ý tôi nói là một số người có thể đứng thẳng trong đó. Ở đỉnh lều có độ tĩnh không là gần hai mét.”

“Tôi muốn mua một bộ.”

“Vâng, thưa ông.”

Người bán hàng đi vào nhà kho mang ra chiếc lều đặt trên mặt quầy, trong một túi nhựa màu cam. Moss đặt khẩu shotgun và gói dụng cụ trên mặt bàn, tháo ra các sợi dây, kéo chiếc lều cùng với các cọc và dây nhợ ra khỏi túi nhựa.

Anh bán hàng nói: “Đây là trọn bộ.”

“Bao nhiêu?”

“Một trăm bảy mươi chín, cộng thêm thuế.”

Anh đặt hai tờ trăm đô lên mặt quầy. Các cọc nằm trong một túi khác. Anh rút chiếc túi này ra đặt cùng các món kia. Người bán hàng trao tiền thối cùng hóa đơn. Moss thu lấy khẩu shotgun, các món anh đã mua cùng với các cọc căng lều, ngỏ lời cảm ơn rồi bước ra ngoài. Người bán hàng gọi theo: “Còn lều thì sao?”

Trong phòng khách sạn, Moss rút ra khẩu shotgun rồi chèn vào ngăn kéo đang mở, nắm chặt nòng súng rồi cưa cho ngắn lại ngay phía trước ổ đạn. Anh dũa vết cưa cho láng rồi dùng chiếc khăn mặt ẩm lau đầu nòng súng. Rồi anh cưa bớt báng súng theo một đường để tạo thành khẩu súng lục. Anh ngồi trên giường dũa láng vết cưa báng súng. Xong xuôi, anh kéo phần thân súng từ trước ra sau và kéo lại về phía trước, rồi kéo cò súng qua một bên để quan sát phía trong. Anh thấy khẩu súng vận hành khá hoàn hảo. Anh mở hộp đạn, nạp từng viên vào ổ đạn. Cuối cùng, anh đặt khẩu súng trên lòng. Chiều dài khẩu súng chỉ còn có 60 xen-ti-mét.

Anh gọi điện cho Trail Motel, yêu cầu giữ phòng cho anh ở tiếp. Rồi anh giấu khẩu súng và các viên đạn dưới tấm nệm và lại đi ra ngoài.

Anh đi đến trung tâm bách hóa Wal-Mart, mua vài bộ quần áo cùng một cái túi có khóa kéo để đựng. Một quần jeans, vài áo sơ mi và vài đôi bít tất.

Vào buổi chiều, anh đi dọc bờ hồ, mang theo đoạn nòng súng đã được cưa rời ra và các món linh tinh đựng trong cái túi. Anh ném đoạn nòng thật xa xuống mặt hồ và chôn các món linh tinh dưới lớp đá phiến sét. Có những con nai chạy nhảy qua những lùm bụi trên sa mạc. Anh nghe tiếng chúng khụt khịt và có thể thấy chúng khi chúng chạy ra, đứng trên một chỏm đồi cách anh gần một trăm mét mà nhìn đến anh. Anh ngồi trên một bãi sỏi với cái túi trống không đặt trên lòng, nhìn mặt trời lặn. Nhìn vùng đất trở màu xanh và se lạnh. Một con chim ưng bay lướt xuống mặt hồ. Rồi tất cả chìm vào bóng tối.

giả: Diệp Minh Tâm KHÔNG CHỐN NƯƠNG THÂN ebook©MotSAch —★— tve-4u.org Nhà xuất bản Hội nhà văn - 2010
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.