Không Chốn Nương Thân

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 25 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Moss ngồi với hai gót của đôi giày cao cổ lún sâu vào lớp sỏi của gờ núi lửa, dùng ống nhòm của Đức với độ phóng đại 12 để quan sát vùng sa mạc phía dưới. Vành mũ anh kéo ngược về phía sau đầu. Hai cùi chỏ chống lên hai đầu gối. Khẩu súng trường quàng qua vai với dây đeo súng bằng da là khẩu ’98 Mauser có cỡ nòng .270, với báng làm bằng gỗ phong và gỗ óc chó. Khẩu súng được trang bị một ống ngắm Unertl có độ phóng đại ngang bằng ống nhòm. Đàn linh dương ở khoảng cách một ki-lô-mét rưỡi. Mặt trời đã mọc không đầy một tiếng đồng hồ, bóng của những đỉnh núi và vách đá trải dài trên thung lũng trước mặt anh. Ở nơi đâu đấy cũng có cái bóng của chính Moss. Anh hạ ống nhòm xuống và ngồi quan sát vùng đất. Xa về hướng nam là những rặng núi hoang sơ của Mexico. Nơi con sông bị ngắt quãng, về hướng tây là vùng đất khô cằn bị nung chín dưới ánh mặt trời chạy dọc theo đường biên giới. Anh khô khan nhổ nước bọt rồi chùi miệng trên vai áo vải bông.

Vói cự ly chín trăm mét và cùng một đích nhắm, những viên đạn sẽ ghim vào mục tiêu cách nhau khoảng 7 xen-ti-mét. Điểm mà anh chọn để bắn nằm ngay dưới triền dốc trải dài của lớp đá vụn núi lửa và đặt anh trong khoảng cách ấy. Chỉ có điều là phải mất gần một tiếng đồng hồ để đi đến đấy và đàn linh dương đang vừa gặm cỏ vừa rời xa khỏi anh. Điều tốt nhất mà anh có thể nói về việc này là không có gió.

Khi đi đến chân triền dốc, anh từ từ đứng thẳng lên và dõi mắt tìm đàn linh dương. Chúng vẫn ở cùng vị trí anh thấy lần cuối nhưng cự ly bắn vẫn còn gần bảy trăm mét. Anh quan sát đàn thú qua ống nhòm. Qua lớp bụi không khí nén và hình ảnh méo mó vì hơi nóng. Một lớp mờ mờ bụi và phấn hoa sôi sục. Không có chỗ ẩn núp và sẽ không thể bắn thêm phát súng nào khác.

Anh dầm chân trong lớp đá vụn núi lửa, tháo một chiếc giày cao cổ ra đặt lên các hòn đá, hạ khẩu súng khỏi sợi dây da và mở chốt an toàn rồi nhìn qua ống nhắm.

Đàn thú đứng ngẩng cao đầu, tất cả đàn, nhìn về phía anh.

Anh thì thầm: “Mẹ kiếp!” Mặt trời ở phía sau lưng anh nên đàn thú không thể nhìn ánh sáng phản chiếu từ mặt gương của ống nhắm. Chúng chỉ nhìn anh trực diện.

Khẩu súng có cò súng Canjar được hiệu chỉnh ở mức 266 gram. Anh kéo khẩu súng và chiếc giày về phía mình thật cẩn thận, lại nhìn qua ống ngắm, xê dịch trung tâm của hai đường chỉ một chút về phía lưng của một con linh dương hiện ra với thân hình lớn nhất trong ống ngắm. Anh biết cứ mỗi 100 mét thì viên đạn xê dịch xa bao nhiêu. Chỉ có cự ly là anh không chắc chắn. Anh đặt một ngón tay theo đường cong của cò súng. Chiếc nanh heo rừng mà anh mang trên sợi dây chuyền vàng cuộn lên những viên đá bên trong cùi chỏ của anh.

Cho dù nòng và phần loe họng súng đều nặng, khẩu súng vẫn cân bằng. Khi nhìn lại qua ống ngắm, anh có thể thấy đàn thú vẫn đứng chỗ cũ. Viên đạn nặng gần 10 gram mất gần một giây đồng hồ thì đến mục tiêu nhưng âm thanh lại mất thời gian gấp đôi. Bầy thú đang đứng nhìn về phía chùm khói thì viên đạn bắn đến. Rồi chúng nhảy dựng lên. Hầu như lập tức bỏ chạy hết tốc độ dọc theo đáy thung lũng với tiếng rít của đạn súng trường cuốn theo chúng và va đập trên đá rồi dội chệch qua khoảnh đồng trống trong bầu không khí cô quạnh ban mai.

Anh đứng nhìn đàn thú chạy đi. Anh nâng ống nhòm. Một con thú đã ngã xuống, đang lê một chân. Anh nghĩ có lẽ viên đạn đã bắn trúng chân sau bên trái. Anh đứng tựa và nhổ nước bọt. Anh thốt lên: “Mẹ kiếp!”

Anh ngắm nhìn đàn thú chạy xa khỏi tầm mắt ở khoảnh đất mũi phủ đá xa về hướng nam. Đám bụi màu cam nhạt lơ lửng trong ánh sáng ban mai không một gợn gió, trở nên mỏng dần và rồi cũng tan biến. Đáy thung lũng trở lại yên ả và hoang vắng dưới ánh nắng. Như thể không có chuyện gì xảy ra. Anh ngồi kéo chiếc giày cao cổ lên, nhấc lấy khẩu súng, tống ra vỏ đạn rỗng, bỏ nó vào túi áo rồi đóng chốt súng. Rồi anh quàng khẩu súng lên vai và bước ra.

Anh mất khoảng bốn mươi phút để đi xuyên qua đáy thung lũng. Từ đây anh đi lên triền núi lửa dốc dài, lần theo đỉnh của gờ núi phía tây nam đến một mỏm đá nhìn xuống khoảng đồng trống nơi bầy thú đã biến mất. Anh chầm chậm dõi mắt qua ống nhòm. Một con chó to không đuôi, lông đen, đang đi ngang qua. Anh dõi mắt theo. Con chó có cái đầu khổng lồ, vành tai cụt ngủn, đang đi lặc lè. Nó ngừng lại. Nó nhìn về phía sau. Rồi nó tiếp tục đi. Anh hạ ống nhòm xuống và nhìn theo nó.

Anh đi dọc theo gờ núi với ngón tay cái bấu vào sợi dây đeo súng, vành mũ lật ngược phía sau đầu. Lưng áo anh ướt đẫm mồ hôi. Những tảng đá ở đây được khắc những chữ tượng hình có lẽ cả nghìn năm trước. Những người vẽ nên những chữ này đã là dân đi săn giống như chính anh. Không có dấu vết nào khác về họ.

Ở cuối gờ núi là khoảnh đá trượt, một con đường mòn gồ ghề dẫn xuống. Lùm cây đuôi chồn bụi rậm gai góc. Anh ngồi trên những phiến đá, tựa hai khuỷu tay lên hai đầu gối và dùng ống nhòm quan sát khu đồng trống phía dưới. Cách khoảng một ki-lô-mét rưỡi, trên khu đồng bằng có ba chiếc xe đang đỗ.

Anh hạ ống nhòm xuống và nhìn bao quát khu đồng trống. Rồi lại nâng ống nhòm lên. Trông như có những người đang nằm trên mặt đất. Anh bấm đôi giày vào khe đá và điều chỉnh ống nhòm. Ba chiếc xe thuộc loại bán tải hai cầu hoặc là loại xe Bronco với lốp xe dùng để chạy trên mọi địa hình, có máy tời phía trước và dàn đèn pha trên mui xe. Những người đang nằm có vẻ như đã chết. Anh hạ ống nhòm xuống. Rồi lại nâng lên. Rồi anh hạ xuống và chỉ ngồi đấy. Không có gì động đậy. Anh ngồi đấy một hồi lâu.

Khi đang tiến đến ba chiếc xe, anh đã tháo khẩu súng trường xuống khỏi vai, cầm ngang hông, chốt an toàn mở. Anh dừng lại. Anh quan sát khu đồng trống rồi quan sát ba chiếc xe. Cả ba xe đều bị bắn nát. Nhìn những lỗ đạn trên thành xe chạy theo vài đường thẳng hàng đều đặn, anh biết dấy là do đạn súng máy. Hầu hết các cửa kính bị bắn vỡ nát; các bánh xe đều bị xẹp. Anh đứng đấy. Nghe ngóng.

Trên chiếc xe thứ nhất, một người gục chết trên tay lái. Gần đấy là thêm hai xác chết nằm trên lớp cỏ vàng úa cằn cỗi. Từng vết máu đen sì trên mặt đất. Anh dừng lại và nghe ngóng. Không có gì cả. Đàn ruồi nhặng lao xao. Anh đi vòng qua phía sau chiếc xe. Có một con chó nằm chết, giống như loại chó anh đã thấy chạy ngang khu đồng trống. Con chó bị bắn nát bụng. Kế đấy là một xác chết thứ ba nằm úp mặt xuống. Qua khung cửa xe, anh nhìn đến người ngồi bên trong. Người này bị bắn vào đầu. Máu vương vãi khắp nơi.

Anh đi đến chiếc xe thứ hai, nhưng xe này trống rỗng. Anh đi đến chỗ xác chết thứ ba. Có một khẩu shotgun* trên mặt đất. Khẩu súng có nòng ngắn, được gắn báng súng lục và bằng đạn loại tròn chứa hai mươi viên đạn. Anh lấy mũi giày khẽ hích chân xác chết, rồi quan sát vùng đồi chung quanh.

Chiếc xe thứ ba là chiếc Bronco có bộ giảm sốc nâng cao và các cửa kính màu khói đậm. Anh mở cửa xe phía tay lái. Có một người đàn ông ngồi trên nệm ghế, nhìn đến anh.

Moss loạng choạng lùi về phía sau, cầm ngang khẩu súng. Khuôn mặt người đàn ông vấy máu. Anh ta mấp máy đôi môi khô. Anh ta nói: “Agua, cuate. Agua, por dios.*”

Đặt trên lòng người đàn ông là một khẩu súng lục tự động* nòng ngắn H&K với dây đeo vai bằng nhựa màu đen. Moss tiến đến thu lấy khẩu súng rồi bước lui lại. Người đàn ông lặp lại: “Agua. Por dios.”

“Tôi không có nước.”

“Agua.”

Moss vẫn để cánh cửa xe mở, quàng khẩu H&K lên vai và bước đi. Người đàn ông dõi mắt nhìn theo anh. Moss đi vòng qua phía đầu xe, mở cánh cửa phía bên kia. Anh nhấc chốt cài ghế và gấp lưng ghế về phía trước. Một tấm vải bạt màu trắng bạc phủ khoang hành lý phía sau ghế. Anh kéo tấm vải bạt qua một bên. Một đống gồm những gói có kích thước bằng viên gạch, mỗi gói được phủ trong bao nhựa. Một loại bột màu nâu tuôn ra. Anh thấm ướt ngón trỏ, nhúng vào trong bột nâu rồi đưa lên mũi ngửi. Rồi anh lau ngón tay trên vải quần jeans, kéo tấm vải bạt phủ lại đống gói, bước lui, lại nhìn ra khoảng đồng trống. Không có gì cả. Anh bước xa khỏi chiếc xe, đứng lại và nâng ống nhòm nhìn lên vùng đồi thấp. Nhìn đường gờ nham thạch. Nhìn vùng đồng phẳng lì về hướng nam. Anh rút ra chiếc khăn tay, quay lại, lau mọi nơi anh đã đặt tay lên. Nắm cửa xe, chốt cài ghế, tấm vải bạt, gói nhựa. Anh đi vòng qua bên kia chiếc xe và cũng lau khắp nơi. Anh cố nhớ lại những chỗ nào khác mình đã chạm tay vào.

Anh bước trở về chiếc xe thứ nhất, dùng chiếc khăn tay để mở cửa xe rồi nhìn vào bên trong. Anh mở hộc chứa găng tay của chiếc xe rồi đóng trở lại. Anh quan sát người chết ngồi trước tay lái. Anh vẫn để mở cánh cửa và bước qua phía ghế người lái xe. Cánh cửa xe lỗ chỗ vết đạn. Kính trước cũng thế. Đạn cỡ nhỏ. Sáu mi-li-mét. Các viên bi* có lẽ cỡ số bốn*. Dấu vết cho thấy như thế. Anh mở cửa xe và đẩy chốt cửa sổ nhưng chiếc xe đã không được mở máy. Anh đóng cửa xe lại, đứng đấy, quan sát vùng đồi thấp.

Anh ngồi xổm, tháo khẩu súng trường trên vai xuống rồi đặt trên bãi cỏ, cầm lấy khẩu H&K, kéo cần dẫn về phía sau. Còn một viên đạn trong buồng đạn, nhưng băng đạn chỉ còn hai viên. Anh ngửi đầu nòng súng. Anh tháo băng đạn ra, đeo khẩu súng trường qua một bên vai, đeo khẩu súng lục tự động qua vai bên kia, lại đi về phía chiếc Bronco, giơ cao băng đạn cho người kia nhìn thấy. Anh nói: “Otra. Otra”*.

Người đàn ông gật đầu: “En mi bolsa”*.

“Anh nói được tiếng Anh không?”

Người đàn ông không trả lời. Anh ta cố gắng cử động cằm để ra dấu. Moss có thể thấy hai băng đạn ló ra từ túi áo anh ta đang mặc. Anh đưa tay vào thu lấy hai băng đạn rồi bước lui lại. Có mùi máu và phân người. Anh đút một trong hai băng đạn đầy vào khẩu súng lục tự động và hai băng đạn kia trong túi áo mình. Người đàn ông nói: “Agua, cuate.”

Moss nhìn đảo một vòng vùng đồng trống chung quanh. Anh nói: “Tôi đã bảo anh là tôi không có nước.”

Người đàn ông nói: “La puerta.”*

Moss nhìn anh ta.

La puerta. Hay lobos.”*

“Không có chó sói.”

Sí, sí. Lobos. Leones.”*

Moss dùng khuỷu tay đóng sập cửa xe.

Anh đi trở lại chiếc xe đầu tiên, đứng ở cửa xe nhìn vào phía ghế đối diện người lái. Không có vết đạn ở cửa xe nhưng vẫn có máu trên nệm ghế. Chìa khóa xe vẫn gắn ở ổ đề máy. Anh đưa tay vào, xoay chìa khóa và đẩy chốt cửa sổ. Tấm kính được đẩy lên chầm chậm. Có hai lỗ đạn, một vệt máu mỏng trên mặt trong tấm kính. Anh suy nghĩ về việc này. Anh nhìn xuống mặt đất. Những vệt máu trên đất sét. Máu trên cỏ. Anh nhìn ra con đường mòn chạy ngang một lòng chảo núi lửa theo đó chiếc xe chạy đến. Phải có một người cuối cùng còn sống. Và đấy không phải là “anh bạn” đang xin nước uống trong chiếc Bronco.

Anh đi ra phía khoảnh đồng bằng, đảo mắt một vòng tròn để tìm dấu bánh xe trên nền cỏ mỏng sẽ hiện ra dưới tia sáng mặt trời. Anh tìm ra dấu vết cách khoảng ba mươi mét về hướng nam. Anh đi theo dấu chân cho đến khi thấy vết máu trên cỏ. Rồi có thêm vết máu.

Anh lẩm bẩm: “Mày không đi được xa. Mày có thể nghĩ mình đã đi xa. Nhưng không phải.”

Anh rời khỏi con đường mòn, đi đến khu đất cao nhất, cầm khẩu H&K trong tay với chốt an toàn đã mở. Anh quét ống nhòm qua vùng đồng trống phía nam. Không có gì. Anh đứng mân mê chiếc nanh heo rừng phía trước áo sơ-mi. Anh lẩm bẩm: “Bây giờ, mày đang trú nắng ở đâu đấy mà trông chừng đường rút lui. Khó cho mày nhìn thấy tao trước khi tao nhìn thấy mày.”

Anh ngồi xổm, chống hai khuỷu tay lên hai đầu gối, nâng ống nhòm quét qua những tảng đá ở đầu thung lũng. Anh ngồi bệt xuống, bắt chéo hai chân, quét qua khu đồng bằng chậm hơn rồi hạ ống nhòm xuống mà chỉ ngồi như thế. Anh lẩm bẩm: “Đừng có ngu xuẩn mà ra đó lãnh đạn. Đừng làm thế.”

Anh quay người, nhìn về hướng mặt trời. Khoảng mười một giờ. “Thậm chí mình không biết mọi chuyện này xảy ra đêm qua. Có thể là hai đêm trước. Thậm chí có thể ba.”

“Hoặc có thể là đêm qua.”

Một cơn gió dịu nổi lên. Anh đẩy vành mũ về phía sau đầu, dùng tấm khăn rằn lau mồ hôi trên trán rồi nhét tấm khăn vào túi quần. Anh nhìn ngang qua lòng chảo núi lửa, hướng đến dãy những tảng đá thấp dọc chu vi phía đông.

Anh lẩm bẩm: “Không ai bị thương lại đi lên triền dốc. Không có chuyện này.”

Khá vất vả mới đi lên được đến đỉnh gờ núi; gần giữa trưa anh mới đi đến đấy. Xa hơn về phía bắc, anh có thể nhìn thấy hình thể một chiếc xe kéo xe moóc theo sau đang chạy ngang qua vùng đất nóng bỏng. Hơn mười lăm cây số. Có lẽ hơn hai mươi cây số. Xa lộ 90. Anh ngồi xuống, đưa ống nhòm quét vùng đồng trống. Rồi anh ngưng lại.

Có một vệt đá lở, dưới chân vệt đá ở rìa khoảnh đồng bằng lũ tích* là một mảnh nhỏ gì đấy có màu như màu lam. Anh quan sát một hồi lâu qua ống nhòm. Không có gì động đây. Anh quan sát vùng đồng trống chung quanh. Rồi anh lại để mắt trông chừng thêm. Phải gần một tiếng đồng hồ sau anh mới đứng dậy và đi xuống.

Xác người đàn ông nằm tựa vào một tảng đá. Một khẩu súng tự động .45* bọc kền do nhà nước cấp nằm trên cỏ, giữa hai chân xác chết. Ông đã ngồi ngã qua một bên. Đôi mắt ông mở. Có vẻ như ông đang xem xét cái gì đấy trong đám cỏ. Có máu trên mặt đất và máu trên đá phía sau lưng ông. Máu vẫn còn có màu đỏ sậm nhưng chưa hẳn còn mới vì vẫn còn nằm trong bóng râm. Moss nhặt khẩu súng lục lên, khóa chốt an toàn. Anh ngồi xổm, cố lau vết máu khỏi báng súng trên ống quần của người đàn ông nhưng máu quá quánh đặc. Anh đứng dậy, giắt khẩu súng vào lưng quần, kéo vành nón lại, đưa tay áo lau mồ hôi trán. Có một chiếc cặp da dày dùng đựng tài liệu nằm dọc đầu gối của người đàn ông. Moss biết rất rõ bên trong cặp da là gì, và anh cảm thấy sợ hãi tuy không nhận rõ tại sao.

Cuối cùng anh nhấc chiếc cặp da lên, đi ít bước ra phía ngoài, ngồi trên cỏ, đặt khẩu súng trường xuống một bên. Anh ngồi với khẩu H&K đặt trên lòng và chiếc cặp da ở giữa hai đầu gối. Rồi anh tháo lỏng hai sợi dây buộc, mở hai chốt cài, nhấc nắp lên và gấp qua một bên.

Chiếc cặp da đựng đầy những tờ bạc một trăm đô, được xếp vào từng xấp 10.000 đô. Anh không biết chắc tổng số tiền là bao nhiêu nhưng có thể đoán gần đúng. Anh ngồi đấy nhìn những xấp giấy bạc rồi đóng nắp lại, đầu cúi xuống. Cả cuộc đời của anh đang ngồi đấy trước mặt anh. Từ ngày này qua ngày khác, từ tinh sương đến tối cho đến khi chết. Tất cả được cô đọng trong hai mươi kí giấy bạc.

Anh ngẩng đầu, nhìn qua khu đồng bằng lũ tích. Một cơn gió nhẹ từ hướng nam. Không khí mát lạnh. Trời quang đãng. Đã một giờ trưa. Anh nhìn xác người đàn ông nằm trên đám cỏ. Đôi giày da cá sấu còn mới vương đầy máu đã sẫm màu. Hồi kết cục của cuộc đời ông ta. Ở nơi chốn này. Những quả núi xa về hướng nam. Gió thổi qua các bụi cỏ. Không gian tĩnh lặng. Anh buộc lại hai sợi dây, bấm hai chốt cài, gấp nắp đậy lại, đứng lên quàng khẩu súng trường qua vai, nhấc chiếc cặp da và khẩu súng lục tự động lên, nhìn bóng mình trên mặt đất để định hướng, rồi bước đi.

Anh nghĩ mình biết cách tìm đường trở lại chiếc xe của mình, và cũng có suy nghĩ lo âu về việc lang thang ngoài sa mạc trong đêm tối. Có những con rắn chuông* trong vùng này và nếu bị rắn cắn có phần chắc là anh sẽ gia nhập đám người chết kia, rồi chiếc cặp đựng tiền sẽ rơi vào tay người chủ mới nào đấy. Đối trọng với ý nghĩ này là vấn đề đi bộ qua vùng đất trống trải giữa thanh thiên bạch nhật với một khẩu súng tự động đeo một bên vai và xách một chiếc cặp da đựng vài triệu đô. Chắc chắn là có một người nào đấy đang đến để đi tìm số tiền. Có thể vài người nào đấy.

Anh nghĩ đến việc quay lại và thu lấy khẩu shotgun với băng đạn còn nguyên. Anh là người tin cậy nơi shotgun. Thậm chí anh còn nghĩ đến việc để lại khẩu súng lục tự động. Mang nó bên mình là một trọng tội.

Anh không để lại thứ gì và cũng không quay lại chỗ các chiếc xe. Anh đi qua vùng đồng trống, cắt ngang qua những khe hở của gờ núi lửa, băng ngang dải đất bằng phẳng hoặc khu bình nguyên ở giữa. Cho đến gần cuối ngày, anh đi đến con đường trang trại mà buổi sáng ấy anh đã đến. Rồi anh đi khoảng một dặm thì đến chiếc xe bán tải.

Anh mở cửa xe, đặt khẩu súng trường trên sàn xe. Anh đi vòng mở cửa phía ghế người lái, nắm lấy cái cần để đẩy chiếc ghế về phía trước rồi đặt chiếc cặp da và khẩu súng lục tự động phía sau. Anh đặt khẩu .45 và ống nhòm trên nệm ghế, bước lên xe, kéo chiếc ghế về phía sau đến hết mức xa nhất, cắm chìa khóa cho nổ máy xe. Rồi anh giở mũ ra, ngồi ngả người ra sau, tựa đầu vào mặt kính lạnh phía sau và nhắm mắt lại.

Khi lái đến xa lộ, anh cho xe chạy chậm lại dọc theo hàng rào chặn bò rồi chạy lên mặt đường và mở đèn pha. Anh lái về hướng tây cho đến Sanderson và suốt dọc đường vẫn giữ tốc độ trong mức cho phép. Anh dừng lại ở trạm xăng ở đầu cuối phía đông của thị trấn để mua thuốc lá và nước uống, rồi đi tiếp. Anh đỗ xe phía trước căn nhà di động* rồi tắt máy xe. Đèn bên trong căn nhà vẫn còn sáng. Anh lẩm bẩm: “Mình có thể sống cả trăm năm nhưng vẫn sẽ không có ngày nào như ngày này.” Ngay sau khi nói câu ấy, anh cảm thấy tiếc.

Anh lấy ra cây đèn bấm từ hộc chứa găng tay của chiếc xe, bước ra khỏi xe cùng với khẩu súng lục tự động và chiếc cặp da rồi bò phía dưới sàn của căn nhà di động. Anh nằm đấy trên bụi đất mà nhìn lên mặt dưới sàn nhà. Ống nhựa và ván ép rẻ tiền. Vật liệu này nọ dùng để cách nhiệt. Anh luồn khẩu H&K lên một góc, kéo vật liệu cách nhiệt bao phủ nó rồi nằm đấy mà nghĩ ngợi. Rồi anh bò ra cùng với chiếc cặp da, phủi bụi cho mình rồi bước lên các bậc thang vào nhà.

Cô đang xem TV, vừa xoài người trên ghế bành vừa uống một lon Coca-Cola. Không màng nhìn lên. Cô nói: “Ba giờ khuya.”

“Anh có thể trở lại sau.”

Cô nhìn anh qua mặt lưng của ghế bành rồi lại nhìn lên màn hình TV. “Anh có gì trong chiếc cặp đó?”

“Đầy những tiền.”

“Ừ. Đúng là một ngày may mắn.”

Anh đi vào gian bếp, mở tủ lạnh lấy ra một lon bia.

Cô hỏi: “Cho em mượn chìa khóa nhé?”

“Em đi đâu?”

“Mua ít thuốc lá.”

“Thuốc lá?”

“Đúng vậy, Llewelyn. Thuốc lá. Em đã ngồi ở đây cả ngày.”

“Còn cyanide thì sao? Chúng ta định làm gì với nó?”

“Chỉ cần đưa cho em chìa khóa. Em sẽ đứng ở ngoài sân mà hút.”

Anh uống một ngụm bia, đi trở vào phòng ngủ, quỳ một đầu gối xuống rồi đẩy chiếc cặp da dưới gầm giường. Rồi anh trở ra.

Anh nói: “Anh có ít thuốc lá. Để anh đi lấy.”

Anh đặt lon bia lên mặt quầy, đi ra, thu lấy hai gói thuốc, ống nhòm và khẩu súng lục, quàng khẩu .270 qua vai, đóng cánh cửa chiếc xe bán tải, rồi đi vào nhà. Anh đưa cho cô thuốc lá và đi vào phòng ngủ.

Cô nói với theo: “Anh thu được khẩu súng lục ấy ở đâu?”

“Ở nơi anh thu được.”

“Anh mua hả?”

“Không. Anh nhặt được.”

Cô ngồi nhổm dậy, kêu: “Llewelyn?”

Anh bước ra: “Cái gì? Đừng có tru tréo.”

“Anh phải tốn bao nhiêu để có nó?”

“Em không cần phải biết mọi chuyện.”

“Bao nhiêu?”

“Anh đã nói rồi. Anh nhặt được.”

“Không, anh không bao giờ làm vậy.”

Anh ngồi trên ghế bành, vừa đặt hai chân lên bàn cà phê vừa uống bia. Anh nói: “Nó không phải của anh. Anh không mua súng lục.”

“Anh đừng mua thì tốt hơn.”

Cô mở gói thuốc lá, rút ra một điếu rồi châm lửa. “Cả ngày anh đi đâu?”

“Đi mua ít thuốc lá.”

“Em không cần biết. Thậm chí em không muốn biết anh có dự tính gì.”

Anh hớp một ngụm bia: “Vậy là tốt.”

“Em nghĩ tốt nhất là đừng biết gì cả.”

“Nếu em cứ ba hoa cái miệng đó thì anh sẽ mang em trở vào đó mà chơi em.”

Cuộc đối thoại nghiêm túc.

“Anh cứ làm đi.”

Cô nói như thế.

Anh nói thầm: “Để mình uống xong lon bia này. Ta sẽ xem cô nói gì và không nói gì.”

Khi anh thức giấc, chiếc đồng hồ ở đầu giường chỉ 1 giờ 06 phút. Anh nằm nhìn lên trần nhà, ánh sáng ngọn đèn bên ngoài phủ phòng ngủ lạnh lẽo một màu xanh lam nhạt. Giống như ánh trăng mùa đông. Hoặc một thứ ánh trăng nào khác. Có cái gì đấy xa lạ trong ánh sáng mà anh đã cảm thấy dễ chịu. Bất cứ ánh sáng nào, còn hơn là ngủ trong bóng tối.

Anh vung đôi chân khỏi tấm chăn và ngồi lên. Anh nhìn đến tấm lưng trần của cô. Mái tóc xõa trên gối. Anh kéo tấm chăn lên che đôi vai cô, rồi đứng dậy đi vào bếp.

Anh lấy bình nước trong tủ lạnh, vặn chiếc nắp và đứng đấy uống trong ánh sáng của đèn tủ lạnh. Rồi anh đứng đấy cầm bình nước lạnh với những giọt nước đọng bên ngoài, qua cửa sổ nhìn xuống xa lộ. Anh đứng đấy một hồi lâu.

Rồi anh đi vào phòng ngủ, nhặt chiếc quần soọt trên sàn mặc vào, đi vào phòng tắm và đóng cửa lại. Rồi anh đi vào phòng ngủ thứ hai, kéo chiếc cặp da dưới gầm giường và mở ra.

Anh ngồi trên sàn, chiếc cặp da ở giữa hai chân, mò tay vào giữa các xấp giấy bạc và moi lên. Hai mươi lớp xấp giấy bạc đặt chồng lên nhau. Anh xếp lại các xấp giấy bạc, xốc xốc chiếc cặp da trên sàn để các xấp giấy bạc nằm ngay ngắn với nhau. Nhân cho mười hai. Anh có thể nhẩm tính trong đầu. Hai triệu bốn trăm nghìn đô. Tất cả đều là giấy bạc cũ. Anh nhìn món tiền. Anh lẩm bẩm: “Mình phải xem vụ này là nghiêm túc. Không thể xem đó là do may mắn.”

Anh đóng lại chiếc cặp da, bấm hai chốt cài, đẩy chiếc cặp da vào gầm giường, đứng lên, qua khung cửa sổ nhìn lên những vì sao trên các mỏm núi đá phía bắc thị trấn. Cái im lặng chết người. Ngay cả tiếng chó sủa cũng không có. Anh lẩm bẩm: “Mi đang nằm chết ngoài đấy phải không? Mẹ kiếp, không phải, mi chưa chết.”

Cô thức giấc trong khi anh đang mặc quần áo.

“Llewelyn?”

“Ừ.”

“Anh đang làm gì vậy?”

“Đang mặc quần áo.”

“Anh định đi đâu?”

“Đi ra ngoài.”

“Anh yêu, anh định đi đâu vậy?”

“Anh quên một việc. Anh sẽ trở lại.”

“Anh định làm gì?”

Anh mở ngăn kéo, lấy ra khẩu .45, tháo băng đạn ra kiểm tra rồi lắp băng đạn vào lại, giắt khẩu súng vào lưng quần. Anh quay lại nhìn cô.

“Anh định làm một việc rồ dại nhưng vẫn phải làm. Nếu anh không trở về, nói với Mẹ anh yêu bà.”

“Mẹ anh đã chết, Llewelyn à.”

“Thế thì để anh tự nói vậy.”

Cô ngồi lên trên giường: “Anh làm em sợ chết khiếp, Llewelyn. Anh có gặp rắc rối gì không?”

“Không. Ngủ tiếp đi.”

“Ngủ tiếp hả?”

“Anh sẽ trở lại nhanh.”

“Chết tiệt anh, Llewelyn.”

Anh bước ra ngạch cửa và nhìn lại cô. “Nếu anh không trở về thì sao? Có phải đó là những lời cuối cùng của em?”

Cô tròng vào chiếc áo ngủ, dõi mắt nhìn theo anh đi dọc lối đi đến gian bếp. Anh lấy một cái bình rỗng từ phía dưới bồn rửa mặt, rồi vặn vòi cho nước chảy vào bình.

Cô hỏi: “Anh có biết mấy giờ rồi không?”

“Có. Anh biết mấy giờ rồi.”

“Cưng à, em không muốn anh đi. Anh đi đâu? Em không muốn anh đi.”

“Em yêu, chúng ta đồng lòng ở điểm này vì anh cũng không muốn đi. Anh sẽ trở về. Đừng thức mà chờ anh.”

Anh lái xe đến trạm xăng, tắt máy xe, rút tấm bản đồ từ hộc chứa găng tay rồi trải rộng ra trên nệm ghế, ngồi đấy mà xem xét. Cuối cùng, anh ghi dấu địa điểm mà anh nghĩ các xe bán tải đang nằm, rồi anh dò một con đường dẫn về cổng trại bò của Harkle. Chiếc xe có loại bánh chạy trên mọi địa hình và còn có hai bánh xe dự phòng, nhưng địa hình vùng này rất xấu. Anh ngồi nhìn xuống con đường vừa đánh dấu. Rồi anh cúi xuống, ghi nhận các địa hình và vạch một đường khác. Rồi anh ngồi đó mà nghiên cứu tấm bản đồ. Khi anh cho nổ máy xe và chạy lên mặt xa lộ, đã là hai giờ mười lăm phút sáng. Con đường vắng ngắt, thậm chí từ băng tần này qua băng tần khác của bộ đàm chiếc xe bán tải không có tạp âm.

Anh dừng xe trước cổng trại bò, bước xuống, mở cánh cổng rồi lái xe vào, bước ra để đóng cánh cổng lại, và đứng lắng nghe bầu không khí yên ắng. Rồi anh lên xe, lái về hướng nam trên con đường của trang trại.

Anh giữ xe chạy ở chế độ hai cầu và gài hộp số ở số hai. Ánh sáng của mặt trăng còn khuất lấp trước mặt anh lan tỏa dọc các triền đồi như là ánh sáng nền tối trong một nhà hát. Đến điểm anh đã đỗ xe buổi sáng đó, anh rẽ vào một con đường cũ dành cho xe goòng đi về hướng đông xuyên qua đất trang trại của Harkle. Khi mặt trăng mọc lên, ánh trăng vàng vọt lan tỏa khắp các ngọn đồi, anh tắt đèn xe.

Nửa tiếng đồng hồ sau, anh đỗ xe lại, bước ra đi dọc theo gờ một khu đồi cao, nhìn xuống vùng đồng trống về hướng đông và hướng nam. Vầng trăng lên cao. Một thế giới màu xanh lam. Bóng từng cụm mây in lên đất bình nguyên. Chạy dọc dài trên các triền đồi. Anh ngồi trên mặt đá thô ráp với hai chiếc giày cao cổ bắt chéo nhau phía trước. Không có chó rừng. Không có gì cả. Đối với dân buôn lậu ma túy thế là tốt. Đúng thế. Mỗi người đều có vận may. Khi lái xe đi tiếp, anh rời khỏi con đường mòn, định phương hướng qua ánh trăng. Anh vượt qua một khoảnh đất mũi núi lửa ở đầu cuối thung lũng rồi lại rẽ về hướng nam. Anh có trí nhớ tốt đối với địa hình bằng phẳng. Anh đang chạy qua vùng mình đã đi thăm dò lúc trước trong ngày, rồi dừng lại nghe ngóng. Khi trở lại chiếc xe, anh cạy tấm nắp nhựa đèn trần xe, gỡ bóng đèn ra và đặt vào gạt tàn thuốc. Anh ngồi với cây đèn bấm để nghiên cứu tấm bản đồ lần nữa. Khi lái đến điểm đỗ kế tiếp, anh tắt máy xe, kéo cánh cửa sổ xuống. Anh ngồi đấy một hồi lâu.

Anh đỗ xe khoảng gần một ki-lô-mét phía trên đầu cuối của lòng chảo núi lửa, nhấc bình nước ra khỏi xe, đặt đèn bấm vào túi quần. Rồi anh nhấc khẩu .45 từ nệm ghế, nhẹ nhàng đóng cửa xe lại, quay bước về phía các xe bán tải.

Các chiếc xe này vẫn ở cùng vị trí như anh thấy lúc trước, nằm ụp trên các bánh xe đã bị bắn xẹp. Anh tiến đến với khẩu .45 lăm lăm trong tay. Không gian yên ắng chết người. Có lẽ là do vầng trăng. Anh không thích cái bóng của chính mình. Có cảm giác đáng sợ gì đấy ở đây. Một người xâm nhập. Giữa những người chết. Anh lẩm bẩm: “Đừng có cảm thấy kỳ quặc. Mình không cùng bọn họ. Chưa cùng.”

Cánh cửa chiếc Bronco đang mở. Khi thấy thế, anh quỳ một gối xuống. Anh đặt bình nước xuống mặt đất. Anh lẩm bẩm: “Mình ngốc quá. Bây giờ lại đến đây. Ngốc quá nên khó sống.”

Anh chầm chậm xoay người, nhìn ra khắp vùng đồng trống. Âm thanh duy nhất mà anh nghe được là tiếng tim đập của chính mình. Anh bước đến chiếc xe, quỳ bên cánh cửa. Thân người đàn ông đã ngả qua một bên. Vẫn còn được buộc trong dây an toàn. Máu tươi vương vãi khắp nơi. Anh rút ra chiếc đèn bấm từ túi quần, dùng nắm tay che bớt chung quanh rồi bật đèn lên. Người đàn ông đã bị bắn qua đầu. Không có chó sói. Không có báo núi. Anh hướng tia đèn vào khoang chứa hành lý phía sau hai chiếc ghế. Mọi thứ đã biến mất. Anh tắt ngọn đèn, rồi chầm chậm bước đến những xác chết khác. Khẩu shotgun đã biến mất. Vầng trăng đã lên được một phần tư bầu trời. Mọi vật đều sáng tỏ. Anh cảm thấy bất an.

Anh đã đi lên được nửa đoạn lòng chảo núi lửa để về lại chiếc xe của mình thì có cái gì đó khiến cho anh phải dừng lại. Anh quỳ xuống, nắm khẩu súng đã lên đạn sẵn đặt tựa đầu gối. Anh có thể thấy chiếc xe bán tải dưới ánh trăng, trên đỉnh một ngọn đồi thấp. Anh nhìn qua một bên để quan sát rõ hơn. Có người nào đấy đứng kề bên. Rồi họ đi. Anh nói thầm: “Không có cái dại nào giống cái dại nào. Bây giờ mình chịu chết.”

Anh giắt lại khẩu .45 vào lưng quần và đi vội đến gờ nham thạch núi lửa. Anh nghe tiếng máy chiếc xe bán tải từ đằng xa. Ánh sáng chiếu từ đỉnh đồi. Anh bắt đầu chạy.

Khi anh chạy đến các tảng đá, chiếc xe bán tải đã chạy xuống được nửa lòng chảo núi lửa, ánh đèn pha nhấp nhô trên mặt đá gồ ghề. Anh tìm chỗ nấp. Không còn kịp nữa. Anh nằm úp mặt xuống đất, hai cánh tay ôm lấy đầu trên bãi cỏ, và chờ đợi. Hoặc là họ đã trông thấy anh hoặc không thấy. Chiếc xe bán tải chạy ngang qua. Khi nó khuất bóng, anh đứng dậy, đi lên triền núi.

Đi được nửa đường, anh dừng lại, hít hơi thở, cố gắng nghe ngóng. Ánh sáng ở đâu đấy phía dưới. Anh không thể nhìn thấy họ. Anh tiếp tục leo lên. Sau một hồi, anh có thể nhìn thấy hình thù màu đen của những chiếc xe phía dưới. Rồi chiếc xe bán tải chạy lên lòng chảo núi lửa, đèn xe đều tắt.

Anh nằm bẹp xuống trên các tảng đá. Một ánh đèn pha rọi ngang dọc qua lại trên mặt nham thạch. Chiếc xe chạy chậm lại. Anh có thể nghe tiếng máy chạy không tải. Triền dốc lài. Máy xe loại lớn. Ánh đèn pha lại chiếu trên các tảng đá. Anh lẩm bẩm: “Được rồi. Mày cần được thoát ra khỏi cơn khổ ải của mày. Hãy làm cách tốt nhất cho những người khác.”

Tiếng máy xe nổ mạnh rồi lại chạy không tải rầm rì. Âm thanh ùng ục ở ống khí xả. Tiếng bạc đạn cùng máy chạy không tải và còn tiếng gì khác có Trời mà biết. Sau một lúc, chiếc xe tiến lên trong bóng tối.

Khi lên đến đỉnh núi lửa, anh nằm xuống, nắm lấy khẩu .45 từ thắt lưng, thả cò súng xuống rồi giắt vào lại, nhìn về hướng bắc và hướng đông.

Anh lẩm bẩm: “Mình có muốn ra ngoài đó trên chiếc xe cà tàng mà cố chạy nhanh hơn chiếc xe kia không?” Rồi anh nhận ra rằng mình sẽ không còn gặp lại chiếc xe của mình nữa. Anh lẩm bẩm: “Không sao. Còn có nhiều thứ khác mà mình sẽ không được gặp lại.”

Ánh đèn pha lại chiếu rọi trên miệng lòng chảo núi lửa và quét dọc gờ núi. Moss nằm sấp, quan sát. Ánh đèn pha quay trở lại.

“Nếu bạn biết ở ngoài kia có kẻ nào đấy đang giữ hai triệu đô của bạn, thì điểm dừng trong cuộc tìm kiếm của bạn là ở đâu?”

“Đúng thế. Chẳng có điểm dừng nào cả.”

Anh nằm nghe ngóng. Anh có thể nghe tiếng máy chiếc xe bán tải. Sau một lúc, anh đứng dậy bước xuống đến rìa bên kia của lòng chảo núi lửa. Quan sát vùng đồng trống. Khu bình nguyên mở rộng và yên ắng dưới ánh trăng. Không có cách nào đi băng ngang qua đấy và cũng không có đường khác. “Này anh bạn, giờ phải tính sao đây?”

Bốn giờ sáng. “Mày có biết tên bạn hữu hảo của mày đang toan tính gì không?”

“Tao nói cho mày biết. Tại sao mày không bước lên xe của mày mà chạy ra ngoài đó và mang cho cái tên khốn kiếp ít ngụm nước?”

Vầng trăng đang ở trên cao, thu nhỏ lại. Khi leo lên triền dốc, anh vẫn để mắt trông chừng vùng bình nguyên phía dưới. Anh lẩm bẩm: “Mày có động lực như thế nào?”

“Có động lực hay đến chết tiệt.”

“Thế là tốt.”

Anh có thể nghe tiếng chiếc xe. Nó tắt đèn chạy vòng theo gờ núi lửa rồi chạy xuống rìa khu bình nguyên giữa ánh trăng. Anh nằm rạp xuống các phiến đá. Ngoài những tin xấu khác, ý nghĩ của anh còn hướng về bọ cạp và rắn chuông. Ánh đèn pha vẫn quét qua lại trên mặt gờ núi. Một cách có hệ thống. Anh không dám cử động.

Chiếc xe bán tải chạy cắt ngang đến rìa bên kia rồi quay lại. Chạy với số hai, ngừng lại, rồi xồng xộc chạy tiếp. Anh trườn mình tới trước để nhìn rõ hơn. Từ một vết cắt trên trán, máu chảy qua tròng mắt anh. Anh không biết mình bị vết cắt ấy ở đâu. Anh chùi hai mắt với lưng bàn tay rồi chùi lưng bàn tay trên ống quần. Anh rút chiếc khăn tay ra, áp trên trán.

“Mình có thể đi về phía nam con sông.”

“Ừ. Mình có thể.”

“Địa hình ít trống trải.”

“Những thứ khác thì không ít hơn.”

Anh quay người, vẫn giữ chiếc khăn tay áp trên trán. Không thấy có bóng mây nào.

“Đến khi trời sáng thì mình phải ở nơi nào khác. Nằm trên giường ở nhà thì tốt.”

Anh quan sát vùng bình nguyên màu xanh lam trong bầu không khí tĩnh lặng ngoài kia. Một sân khấu ngoài trời mênh mông và nín thở. Đang rình rập. Anh đã có cảm giác như thế này lúc trước. Ở một đất nước khác. Anh không bao giờ nghĩ mình có cảm giác như thế này lần nữa.

Anh chờ đợi một hồi lâu. Chiếc xe vẫn chưa trở lại. Anh tìm đường đi dọc gờ núi về phía nam. Anh dừng lại và nghe ngóng. Không có chó rừng, không có gì cả.

Vào lúc anh đi xuống đến vùng đồng bằng của con sông, bầu trời về hướng đông đã nhuốm ánh sáng nhàn nhạt đầu tiên trong ngày. Đây là một đêm tăm tối nhất. Vùng đồng bằng chạy dài đến nơi con sông chuyển dòng. Anh nghe ngóng lần cuối rồi chạy lúp xúp.

Đoạn đường đi khá dài. Khi còn cách con sông gần hai trăm mét, anh nghe tiếng máy chiếc xe bán tải. Ánh sáng xám đang chiếu qua các đỉnh đồi. Khi nhìn lại, anh có thể thấy bụi bốc lên chân trời mới. Vẫn còn cách xa khoảng một ki-lô-mét rưỡi. Trong bầu tĩnh lặng ban mai, tiếng máy xe nghe ra hiền hòa như tiếng một con thuyền trên mặt hồ. Rồi anh nghe tiếng xe sang số thấp. Anh rút khẩu .45 từ thắt lưng để không bị rơi mất, rồi bắt đầu chạy trối chết.

Khi anh nhìn lại, chiếc xe bán tải đã chạy được phân nửa lòng chảo núi lửa, rút ngắn một khoảng cách đáng kể. Anh vẫn còn cách con sông gần một trăm mét và không biết mình sẽ gặp gì khi chạy đến đấy. Một vực núi đá dốc. Những tia nắng đầu tiên đang chiếu qua khe hở giữa các ngọn núi ở hướng đông và trải rộng qua vùng đồng trống trước mặt anh. Chiếc xe bán tải đang rừng rực lao đến với ánh sáng đèn. Tiếng máy nghe gầm gừ mỗi khi bánh xe nhảy lên khỏi mặt đất.

Anh lẩm bẩm: “Họ sẽ không bắn mình. Họ không dám làm thế.”

Tiếng nổ của khẩu súng trường vang dội trên đồng trống. Cái mà anh nghe như tiếng rít trên đầu, anh nhận ra đấy là viên đạn bay qua và biến mất về hướng con sông. Anh nhìn lại và thấy một người đàn ông đang đứng đưa nửa người khỏi khung cửa nóc xe, một tay nắm lấy trần xe, tay kia cầm một khẩu súng trường.

Nơi anh chạy đến con sông, dòng nước chảy mạnh ra khỏi một vực núi và đổ xuống qua một đám lau sậy sao. Phía hạ lưu, dòng nước va vào một vách đá rồi chảy về hướng nam. Vực núi tối đen sâu thẳm. Nước tối đen. Anh thả người xuống triền dốc rồi ngã lăn rồi đứng dậy, rồi bắt đầu chạy theo một luống cát trải dài xuống con sông. Anh chỉ mới tiến được khoảng dăm bảy mét thì mới nhận ra là mình không có đủ thời giờ. Anh nhìn ngoái lại phía sau, rồi ngồi xổm và tựa người vào một bên triền dốc, hai tay cầm khẩu .45 chĩa về phía trước.

Anh lăn và trượt người, hai mắt gần như nhắm nghiền do đất cát anh cày xới lên, ôm khẩu súng lục sát vào ngực. Rồi tất cả đều dừng lại, chỉ có thân người anh là rơi tự do. Anh mở mắt ra. Thế giới ban mai tươi tắn phía trên anh, đang quay chầm chậm.

Thân người anh va vào một bờ đá sỏi; anh cất một tiếng kêu rên. Rồi anh lăn trên một bãi gì đấy giống như cỏ thô ráp. Rồi anh dừng lại, nằm sấp ở đấy, thở dốc.

Khẩu súng đã biến mất. Anh bò trở lại qua mặt cỏ bị bẹp dí cho đến khi tìm thấy khẩu súng, rồi quay đầu nhìn rìa bờ sông dốc phía trên đầu, huơ nòng súng qua cánh tay để rũ đất cát. Miệng anh đầy cát. Hai hốc mắt cũng thế. Anh thấy hai người xuất hiện trên nền trời. Anh bắn hai phát về phía họ và họ bỏ chạy.

Anh biết mình không có thời giờ bò đến bờ sông. Anh đứng dậy chạy thật nhanh làm bắn tóe lên những viên sỏi, chạy xuống một bãi cát cho đến dòng nước chính. Anh lấy các chìa khóa và cuộn tiền cho vào túi áo rồi cài cúc túi. Cơn gió lạnh thổi qua mặt nước có mùi gỉ sắt. Anh có thể nếm được. Anh ném đi chiếc đèn bấm, hạ xuống chiếc cần lên đạn của khẩu .45 và giắt vào đũng quần. Rồi anh cởi ra hai chiếc giày cao cổ, cột chúc xuống vào dây thắt lưng ở mỗi bên hông, thắt lại dây thắt lưng cho chặt, rồi quay người phóng xuống dòng nước.

Nước lạnh khiến cho anh nín thở. Anh quay lại phía sau, nhìn về phía rìa bờ sông, vừa hít khí trời vừa đạp chân qua làn nước xanh xám. Không có gì. Anh quay người rồi bơi tiếp.

Dòng nước cuốn anh đến một đoạn uốn cong và va vào một vách đá. Anh cố đẩy người mình ra xa. Dốc đứng phía trên đầu anh vươn lên tăm tối, khum sâu vào trong, còn dòng nước trong bóng râm thì đen ngòm và dậy sóng. Cuối cùng, khi lướt xuống dòng hạ lưu và nhìn lại, anh có thể nhìn thấy chiếc xe bán tải đang đỗ ở phía trên dốc đứng nhưng anh không thể thấy người nào. Anh kiểm tra để biết chắc mình vẫn còn đôi giày cao cổ và khẩu súng, rồi quay người và bắt đầu bơi sang bờ bên kia.

Vào lúc run rẩy lê người lên khỏi dòng nước lạnh, anh đã cách xa điểm khởi hành khoảng một ki-lô-mét rưỡi. Đôi bít tất đã tuột mất, anh phải chạy chân trần đến đám lau sậy. Khi anh nhìn lại lần nữa, chiếc xe bán tải đã biến mất. Hai người đàn ông đang chạy dọc bờ dốc đứng, thân người họ in trên nền trời. Anh chạy gần đến đám lau sậy thì thình lình chung quanh đều dao động, có một tiếng “bùm” nặng nề rồi có tiếng vọng lại qua mặt sông.

Cánh tay anh bị một viên đạn bắn trúng, anh cảm thấy nhức nhối như bị ong vò vẽ đốt. Anh đặt bàn tay lên vết thương và phóng mình vào bụi lau sậy, viên đạn đi sâu vào phía sau cánh tay. Chân anh như muốn khuỵu xuống, hơi thở anh trở nên mệt nhọc.

Ẩn khuất sâu trong lùm bụi, anh ngồi quỳ xuống, há miệng hút lấy không khí. Anh tháo thắt lưng, để đôi giày rơi xuống nền cát, với lấy khẩu .45 đặt ở một bên, rồi lần mò trên vết thương. Viên đạn đã biến mất. Anh tháo cúc áo, cởi chiếc áo ra, giơ cao cánh tay để xem xét vết thương. Miệng vết thương chỉ có hình dạng như viên đạn, rỉ ra ít máu, vài sợi vải áo quyện vào. Cả phần phía sau cánh tay anh đã trở thành một vết bầm tím xấu xí. Anh vắt chiếc áo cho ráo nước, mặc lại vào, cài cúc, mang lại đôi giày, gài lại thắt lưng. Anh nhặt lấy khẩu súng lục, tháo băng đạn ra, trút viên đạn ra từ nòng súng, vung vẩy khẩu súng, thổi vào nòng súng, rồi lại lắp ráp như cũ. Anh không chắc liệu khẩu súng còn bắn được không, nhưng nghĩ rằng bắn được.

Khi bước ra khỏi bụi lau sậy phía bên trong, anh dừng lại để nhìn về phía sau. Bụi lau sậy cao khoảng mười mét và anh không thấy gì phía ngoài. Dọc theo con sông là một khoảnh đất rộng và một hàng cây dương. Khi đi đến đấy, hai bàn chân anh bắt đầu phồng rộp vì phải đi chân trần trong đôi giày ướt. Cánh tay anh sưng lên, nhức nhối nhưng hình như máu đã ngưng chảy. Anh bước đi ra trên một lớp sỏi, dưới ánh mặt trời, rồi ngồi đấy, tháo đôi giày ra, nhìn đến vết phồng rộp màu đỏ ở gót chân. Khi anh vừa ngồi xuống, chân anh lại bị đau.

Anh mở nắp một túi da ở thắt lưng, lấy ra con dao, rồi đứng dậy và lại cởi áo ra. Anh cắt lấy nửa ống tay áo rồi ngồi xuống, quấn vải tay áo quanh hai bàn chân rồi mang giày cao cổ vào. Anh dắt con dao vào túi da, rồi đứng nghe ngóng. Một con chim két cánh đỏ. Không có gì khác.

Khi quay mặt bước đi, anh nghe âm thanh rất nhỏ của máy chiếc xe bán tải ở bờ bên kia. Anh cố dõi tìm nhưng không thấy gì. Anh nghĩ bây giờ có lẽ hai người kia đã vượt qua con sông và đang ở đâu đấy phía sau mình.

Anh đi xuyên qua hàng cây. Phù sa bám dính các thân cây từ mức nước cao; rễ chùm quấn quanh các tảng đá. Anh lại cởi giày ra, cố bước trên nền sỏi mà không để lại dấu vết, rồi đi qua một khoảng đất dài, bằng phẳng, phủ đá hướng về bờ vực con sông phía nam, tay mang đôi giày và khẩu súng, để mắt trông chừng về phía sau. Ánh mặt trời đang chiếu xuống vực; những tảng đá anh bước qua sẽ khô trong vòng vài phút. Ở một khúc quanh gần bờ vực, anh dừng lại, nằm sấp với đôi giày đặt trên đám cỏ kế bên. Chỉ cần mất mười phút là lên đến đỉnh bờ vực nhưng anh nghĩ mình không có mười phút. Phía trên bờ sông bên kia, một con diều hâu cất cánh từ chỏm đá, cất tiếng huýt khe khẽ. Anh chờ đợi. Sau một chốc, một người đi ra khỏi bụi lau sậy rồi dừng lại. Anh ta mang một khẩu súng máy. Một người thứ hai xuất hiện phía sau. Họ liếc nhìn nhau rồi đi tiếp.

Họ đi ngang qua phía dưới anh rồi khuất bóng dưới con sông. Anh không thực sự nghĩ về họ. Anh đang nghĩ về chiếc xe bán tải của mình. Khi tòa án mở cửa lúc chín giờ sáng thứ Hai, sẽ có ai đấy khai ra số xe của anh cùng tên họ và địa chỉ của anh. Đấy là trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ sau. Lúc ấy, họ sẽ biết anh là ai và sẽ chẳng bao giờ ngưng truy lùng anh. Chẳng bao giờ cả.

Anh có một người em ở California mà anh sẽ kể những gì? Arthur ạ, có vài đứa đang đi đến đó gặp em và sẽ tra khảo em dù em có biết anh đang ở đâu hay không. Có lẽ mình nên nghĩ đến việc rời đi Trung Quốc.

Anh ngồi lên, bó mảnh vải quanh hai bàn chân, mang lại đôi giày, rồi đứng lên để đi hết đoạn cuối đến đỉnh bờ vực. Vùng đồng bằng phía dưới mở rộng đến hướng nam và hướng đông. Bụi đỏ và nhựa đường. Các ngọn núi ở xa xa và khoảng giữa. Không có gì ở đấy. Hơi nóng hừng hực. Anh giắt khẩu súng vào thắt lưng, nhìn xuống con sông một lần nữa rồi bước đi về hướng đông. Langtry Texas cách gần năm mươi ki-lô-mét theo đường chim bay. Có lẽ gần hơn. Mười tiếng đồng hồ. Mười hai. Hai bàn chân anh đang đau nhức. Hai ống chân đau nhức. Lồng ngực. Cánh tay. Con sông uốn khúc phía sau anh. Thậm chí anh chưa hớp được ngụm nước nào.

giả: Diệp Minh Tâm KHÔNG CHỐN NƯƠNG THÂN ebook©MotSAch —★— tve-4u.org Nhà xuất bản Hội nhà văn - 2010
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.