Không Chốn Nương Thân

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Khi đến giao lộ 131, Chigurh lái xe rời khỏi xa lộ rồi dừng lại, mở ra quyển niên giám điện thoại đặt trên lòng, gấp lại các trang vấy máu cho đến khi tìm đến trang liệt kê bác sĩ thú y. Có một phòng mạch thú y bên ngoài Bracketville, cách khoảng ba mươi phút đi ô tô. Hắn nhìn qua tấm khăn quấn quanh đùi. Tấm khăn thấm đẫm máu, và máu thấm lên băng ghế. Hắn ném quyển niên giám xuống sàn xe, rồi ngồi với hai bàn tay đặt trên bánh lái. Hắn ngồi như thế trong khoảng ba phút, rồi sang số xe và lái trở lại trên xa lộ.

Hắn đi đến giao lộ ở La Pryor rồi theo đường dẫn đến Uvalde. Chân hắn nhức nhối. Bên ngoài Uvalde, hắn đỗ xe trước cửa hàng Cooperative, tháo sợi dây quấn chân ra và rút tấm khăn ra. Rồi hắn bước ra cửa xe và khập khễnh đi vào.

Hắn mua một túi đựng vật liệu cho ngành thú y. Bông gòn, keo dán và băng quấn vết thương. Một ống tiêm và một chai nước ôxy già để rửa vết thương. Một chiếc kẹp. Một cái kéo. Một hộp băng thấm mười xen-ti-mét và một chai Betadine*. Hắn trả tiền, trở ra bước vào chiếc Ramcharger, nổ máy rồi ngồi quan sát tòa nhà qua kính chiếu hậu. Như thể hắn đang nghĩ về cái gì đấy mình cần đến, nhưng không phải. Hắn luồn các ngón tay vào bên trong ống tay áo, cẩn thận lau mồ hôi đọng trên hai mắt. Rồi hắn sang số chiếc xe, lùi ra khỏi bãi đỗ xe, chạy ra xa lộ để hướng về thị trấn.

Hắn lái qua phố Main, đến phố Getty thì rẽ về hướng bắc, đến phố Nopal thì rẽ về hướng đông rồi đỗ xe lại, tắt máy. Chân hắn vẫn chảy máu. Hắn rút ra cây kéo và băng keo dán, cắt ra một miếng tròn từ chiếc hộp giấy cứng đựng bông gòn. Hắn đặt miếng giấy cứng cùng băng keo dán vào túi áo. Hắn lấy cái móc áo nằm trên sàn xe phía sau ghế ngồi, vặn tháo ra hai đầu và bẻ cho thẳng. Rồi hắn cởi áo ra, dùng cái kéo cắt rời một tay áo, xếp lại, đặt trong túi áo, trả cái kéo vào cái bao của cửa hàng Cooperative, mở cửa xe, bước ra, đặt hai bàn tay dưới một đầu gối để nhấc cái chân bị thương lên. Hắn đứng đấy, vịn lấy cửa xe. Rồi hắn cúi người, đầu sát xuống ngực, để yên như thế trong gần một phút. Rồi hắn đứng thẳng người lại, đóng cửa xe và bắt đầu đi xuống con phố.

Bên ngoài cửa hiệu thuốc trên phố Main, hắn dừng lại, quay người tựa bên một chiếc ô tô đang đỗ ở đấy. Hắn kiểm tra đường phố. Không có ai đi đến. Hắn mở nắp bình xăng ở khuỷu tay, móc tay áo vào cái mắc áo, nhúng vào bình xăng rồi lại nhấc lên. Hắn dán miếng giấy cứng lên nắp bình xăng đang mở, cuộn tròn tay áo thấm ướt xăng phía trên, dán dài xuống, đốt một đầu rồi đi khập khễnh vào hiệu thuốc. Hắn chỉ mới đi được nửa chiều dài hành lang dẫn đến hiệu thuốc thì chiếc ô tô bên ngoài nổ tung thành một khối cầu lửa, phá nát phần lớn khung kính phía trước hiệu thuốc.

Hắn chui qua một ô trống nhỏ, đi dọc lối đi của dược sĩ. Hắn tìm thấy một bao kim tiêm, một chai thuốc viên Hydrocodone rồi đi lên lối đi tìm penicillin. Hắn chỉ tìm được tetracycline và sulfa. Hắn nhét các món thuốc này vào túi rồi từ phía sau quầy tính tiền bước ra giữa ánh lửa màu cam, đi xuống hành lang, chọn lấy một đôi nạng bằng nhôm, đẩy cánh cửa phía sau, khập khễnh đi qua bãi đỗ xe trải sỏi phía sau hiệu thuốc. Chuông báo động ở cửa sau vang lên nhưng không ai chú ý đến. Thậm chí Chigurh không nhìn ngoái lại phía trước cửa hiệu lúc này đang chìm trong ngọn lửa.

Hắn lái xe đến một motel bên ngoài Hondo, thuê một phòng ở cuối tòa nhà, bước vào và đặt cái túi trên giường. Hắn nhét khẩu súng lục dưới nệm giường, đi vào phòng tắm với cái túi của cửa hàng Cooperative, trút các thứ vào bồn rửa mặt. Hắn lấy ra các món trong túi đặt lên mặt kính - chìa khóa, hóa đơn, các lọ trụ sinh và ống tiêm. Hắn ngồi trên rìa bồn cầu, cởi đôi giày ra, cúi xuống đặt cái nút chặn lỗ thoát nước trong bồn tắm, rồi mở vòi nước. Rồi hắn cởi quần áo và luồn người xuống bồn tắm trong khi nước đang dâng lên.

Vết thương nơi chân trở màu xanh và đen, sưng phồng to. Trông giống như vết rắn cắn. Hắn xoay chân, xem xét vết đạn trổ ra. Những mảnh vụn của vải quần dính vào vết thương. Miệng vết thương rộng bằng ngón tay cái.

Khi hắn bước ra khỏi bồn tắm, nước đã trở thành màu hồng nhạt, hai vết thương trên chân vẫn còn rỉ máu. Hắn thả đôi giày vào nước, ngồi trên bàn cầu, nhấc lấy chai Betadine và hộp băng bông trên bồn rửa mặt. Hắn dùng răng cắn để mở ra hộp băng và nút chai rồi rót chầm chậm trên vết thương. Rồi hắn đặt cái chai xuống, dùng khăn băng bông và kẹp nhặt ra những mảnh vụn của vải quần. Hắn rửa cái kẹp trong vòi nước đang chảy vào bồn rửa mặt rồi lại tiếp tục công việc làm vệ sinh vết thương.

Xong xuôi, hắn khử trùng vết thương một lần cuối, mở ra các miếng bông đặt trên hai vết thương, rồi dùng miếng băng dành cho dê cừu mà cột lại. Rồi hắn đứng lên, lấy cái cốc bằng nhựa trên bồn rửa mặt hứng lấy nước từ vòi mà uống. Hắn lại hứng nước và uống cốc thứ hai. Rồi hắn đi trở ra phòng ngủ, nằm duỗi dài trên giường với cái chân bị thương gác lên chiếc gối. Ngoài những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán, không có dấu hiệu gì khác cho thấy hắn đã chịu vất vả về thể chất.

Khi đi trở vào phòng tắm, hắn rút ra một ống kim tiêm, cắm đầu kim vào một chai tetracycline để rút thuốc, đưa ống tiêm lên ánh sáng, đẩy pít-tông lên cho đến khi một giọt thuốc xuất hiện trên đầu mũi kim. Rồi hắn lấy ngón tay búng hai cái vào thân ống tiêm, cúi xuống cắm mũi kim vào bắp cơ chân, chầm chậm bơm thuốc.

Hắn lưu lại khách sạn trong năm ngày. Chống nạng đi xuống phòng ăn rồi lại đi lên. Hắn mở TV, ngồi trên giường xem và không bao giờ đổi đài. Hắn xem bất cứ chương trình gì. Hắn xem phim truyện rẻ tiền nhiều tập, thời sự, bình luận tin tức. Hắn thay bông băng trên vết thương mỗi ngày hai lần, lau vết thương bằng epsom salt* và uống trụ sinh. Ngày đầu tiên khi người làm phòng đến, hắn đứng ở cửa bảo cô không cần làm dịch vụ nào cả. Chỉ cần thay khăn tắm và xà phòng. Hắn cho cô mười đô. Cô nhận lấy tiền, đứng đấy có vẻ băn khoăn. Hắn lặp lại câu nói bằng tiếng Tây Ban Nha. Cô gật đầu, dúi tờ bạc vào túi áo choàng, đẩy chiếc xe đi dọc hành lang. Hắn đứng đấy, nhìn qua những chiếc xe ngoài bãi đỗ xe rồi đóng lại cánh cửa.

Vào đêm thứ năm, khi hắn đang ngồi trong quán café, hai viên cảnh sát từ văn phòng Cảnh sát trưởng hạt Valdez bước vào, giở mũ ra đặt trên hai chiếc ghế trống hai bên, mở tờ thực đơn ra xem. Một trong hai người nhìn qua hắn. Chigurh quan sát tất cả mà không cần quay người và chăm chú nhìn. Họ trò chuyện với nhau. Rồi người kia nhìn qua hắn. Rồi người hầu bàn đi đến. Hắn uống nốt cốc cà phê, đứng dậy, để tiền trên mặt bàn rồi bước ra. Hắn đã để đôi nạng trong phòng; hắn đi chầm chậm và vững chãi qua khung cửa kính quán café, cố gắng không để lộ bước khập khễnh. Hắn bước qua phòng mình, đi đến vòm cây cảnh ở cuối tòa nhà rồi quay lại. Hắn nhìn chiếc Ramcharger ở cuối bãi đỗ xe. Người ngồi ở văn phòng hoặc bên trong nhà ăn không thể nhìn thấy chiếc xe. Hắn đi trở vào phòng, thu nhặt bộ cạo râu và khẩu súng lục vào chiếc túi, đi qua bãi đỗ xe, bước vào chiếc Ramcharger, nổ máy, chạy qua bãi đỗ xe của cửa hàng điện tử kế bên rồi chạy lên xa lộ.

Wells đứng trên cầu trong khi ngọn gió từ mặt sông thổi tung mái tóc. Ông quay người, đứng tựa lan can, giơ chiếc máy ảnh rẻ tiền lên chụp một bức ảnh mà không nhắm đến mục tiêu gì rõ ràng, rồi lại hạ máy ảnh xuống. Ông đang đứng chính ở nơi Moss đã đứng bốn đêm trước. Ông đã quan sát vết máu trên đường đi. Ở nơi vết máu mất dấu, ông dừng lại, hai cánh tay gấp lại và một bàn tay xoa cằm. Ông không màng chụp bức ảnh cụ thể nào. Không có ai nhòm ngó. Ông nhìn xuống dòng nước màu xanh lục chảy chầm chậm. Ông đi xuống hơn chục bước rồi đi trở lại. Ông băng qua bên kia đường. Một chiếc xe tải chạy qua. Thân cầu khẽ rung động. Ông đi dọc lối dành cho người đi bộ rồi dừng lại. Một dấu giày mờ mờ dính máu. Thêm một dấu mờ mờ nữa. Ông xem xét hàng rào chắn xem có vết máu nào không. Ông rút chiếc khăn tay từ túi quần, thấm ướt với nước bọt rồi chùi dọc thành lan can. Ông đứng nhìn xuống dòng nước. Một con đường chạy dọc phần đất Mỹ. Giữa con đường và con sông là một đám lau sậy cao, khẽ đong đưa lao xao trong ngọn gió thổi từ mặt sông. Ông thầm nghĩ: “Nếu hắn mang số tiền vào Mexico thì số tiền đã mất. Nhưng hắn không mang theo.”

Wells bước lùi, lại nhìn hai dấu giày. Vài người Mễ đang đi trở về dọc thành cầu, cầm rổ rá và túi xách. Ông rút ra máy ảnh chụp trời mây, con sông, chụp cả quang cảnh chung quanh.

Bell ngồi ở bàn giấy ký các tờ ngân phiếu, tính toán các con số qua máy tính cầm tay. Khi xong xuôi, ông ngả người trên ghế, nhìn qua khung cửa sổ đến khoảnh sân cỏ hoang vắng của tòa nhà tòa án. Ông kêu: “Molly.”

Cô đi vào, đứng ở khung cửa.

“Cô tìm thấy gì về mấy chiếc xe đó chưa?”

“Thưa Cảnh sát trưởng, tôi tìm ra được tất cả những gì hiện có. Mấy chiếc xe đó được cầm cố, được đăng ký dưới tên những người đã chết. Chủ nhân chiếc Blazer đó đã chết cách đây hai mươi năm. Ông có muốn tôi tìm thêm về mấy người Mễ không?”

“Không cần. Ôi Trời, không. Đây là mấy tấm ngân phiếu cho cô.”

Cô bước đến, nhận lấy tập ngân phiếu trên mặt bàn rồi kẹp dưới nách. “Đặc vụ DEA đó gọi lần nữa. Ông không muốn nói chuyện với ông ấy sao?”

“Tôi muốn tránh nếu có thể được.”

“Ông ấy nói sẽ đi ra đó lần nữa và muốn biết ông có muốn đi cùng không.”

“À, kể ra ông ấy cũng thân thiện. Tôi nghĩ ông ấy có thể đi bất cứ nơi nào nếu muốn. Ông ấy là đặc vụ được chứng nhận của Chính phủ Hoa Kỳ.”

“Ông ấy muốn biết ông định làm gì với mấy chiếc xe đó.”

“Ừ. Tôi sẽ thu hồi và đem bán đấu giá. Thêm tiền của hạt đổ sông đổ biển. Một chiếc xe có động cơ khá tốt. Ta có thể bán được dăm ba đô. Không có tin gì từ bà Moss sao?”

“Thưa ông, không có.”

“Được rồi.”

Ông nhìn lên đồng hồ treo trên tường ngoài của văn phòng. “Cô làm ơn gọi cho Loretta, nói với bà ấy tôi đi Eagle Pass và khi đến đấy tôi sẽ gọi về. Tôi đã gọi nhưng bà ấy muốn tôi trở về nhà và tôi có thể trở về.”

“Ông muốn tôi chờ cho đến khi ông rời khỏi văn phòng phải không?”

“Đúng thế.”

Ông đẩy chiếc ghế lùi ra, đứng lên, nhấc lấy dây súng từ giá áo phía sau bàn giấy, vắt qua vai, nhặt lấy chiếc mũ rồi đội lên đầu. “Torbert có nói gì thế? Về sự thật và công lý hở?”

“Chúng ta khánh thành một tờ nhật báo mới. Đại loại như vậy.”

“Tôi nghĩ mình sẽ bắt đầu khánh thành chính mình một ngày hai lần. Có thể là ba lần trước khi vụ này xong xuôi. Gặp lại cô sáng mai.”

Ông dừng lại ở quán café, mua một cốc cà phê để mang theo rồi đi đến chiếc xe tuần tra thì một chiếc xe tải không mui chạy đến trên con đường. Chiếc xe phủ đầy bụi đất xám của sa mạc. Ông dừng lại, nhìn chiếc xe tải rồi bước vào chiếc xe tuần tra, chạy vòng, vượt qua chiếc xe tải rồi ra hiệu cho tài xế đỗ lại. Khi ông bước ra khỏi xe mình và đi lại, người tài xế ngồi trước tay lái đang nhai kẹo cao su, nhìn ông với vẻ kiêu ngạo hiền lành.

Bell đặt một tay lên thành xe, nhìn người tài xế. Anh này gật đầu: “Chào Cảnh sát trưởng.”

“Lúc gần đây anh có xem qua những gì anh chở không?”

Anh tài xế nhìn qua kính chiếu hậu. “Cảnh sát trưởng, có chuyện gì vậy?”

Bell lui lại. Ông nói: “Anh bước ra đây.”

Anh tài xế mở cửa xe bước ra. Bell hất hàm về phía mặt sàn chất hàng. Ông nói: “Đấy là sự xúc phạm trắng trợn.”

Anh tài xế bước về phía sau xem xét. Anh nói: “Một sợi dây buộc bị lỏng.”

Anh nắm lấy một góc tấm vải bạt kéo lại để che phủ những xác chết nằm đấy, mỗi xác chết được quấn trong lớp nhựa dày màu xanh và được bịt kín bằng băng keo. Có tám xác chết như thế. Được bó chặt và bịt kín.

Bell hỏi: “Anh còn lại bao nhiêu xác?”

“Thưa Cảnh sát trưởng, tôi không bị mất cái xác nào.”

“Anh có lấy đi chiếc xe nào không?”

“Tụi tôi không thấy chiếc xe bán tải hai cầu nào.”

Anh ta cột lại góc tấm vải bạt rồi đứng đấy.

Bell nói: “Được rồi.”

“Ông không phạt tôi vì lỗi chuyên chở thiếu an toàn chớ?”

“Anh xéo đi khỏi nơi đây.”

Bell đi đến cầu Sông Devil lúc trời chạng vạng tối. Khi đến giữa cầu, ông dừng xe lại, mở đèn hiệu trên nóc xe, bước ra, đóng cửa xe lại, bước quanh phía trước chiếc xe, đứng dựa vào ống nhôm làm hàng rào chắn. Nhìn mặt trời đang lặn xuống mặt hồ màu xanh lam bên kia cầu xe lửa. Một chiếc xe tải chạy về hướng tây vòng quanh đoạn đường cong dài. Tài xế sang số thấp khi nhận ra ánh sáng đèn hiệu từ chiếc xe tuần tra. Anh nhoài người ra khỏi cửa sổ xe. “Cảnh sát trưởng, đừng nhảy xuống. Bà ấy không đáng giá cho ông làm thế.” Rồi chiếc xe tải chạy đi kéo theo làn gió, động cơ diesel nổ dòn lên, người tài xế sang số cao. Bell mỉm cười. Ông lẩm bẩm: “Sự thật là, bà ấy đáng giá.”

Cách giao lộ đường số 481 và đường số 57 hơn ba ki-lô-mét, chiếc hộp nằm trên nệm ghế kế bên phát lên một tiếng “bíp” rồi lại im lặng. Chigurh lái xe vào bên lề đường rồi dừng lại. Hắn nhấc lấy chiếc hộp, xoay đi xoay lại. Hắn điều chỉnh cái nút. Không có gì cả. Hắn lại cho xe chạy trên xa lộ. Mặt trời thấp thoáng qua dãy đồi thấp phía sau. Một bầu ánh sáng lành lạnh và mờ mờ phủ trên sa mạc. Hắn gỡ ra đôi kính mắt cho vào hộc chứa găng tay và bật đèn pha lên. Đúng lúc ấy, chiếc hộp vang lên một tiếng “bíp”.

Hắn đỗ xe phía sau khách sạn, bước ra, đi cà nhắc quanh chiếc xe tải với chiếc hộp, khẩu shotgun và khẩu súng lục - tất cả nằm trong cái túi có khóa kéo. Hắn đi qua bãi đỗ xe và bước lên các bậc cầu thang của khách sạn.

Hắn ghi tên thuê phòng, nhận chìa khóa, bước thấp bước cao lên cầu thang và dọc hành lang đến căn phòng, bước vào, khóa cánh cửa, nằm trên giường với khẩu shotgun đặt trên ngực mà nhìn lên trần nhà. Hắn không thể nghĩ ra lý do tại sao thiết bị định vị nằm ở khách sạn này. Hắn loại trừ Moss bởi vì hắn nghĩ Moss hầu như chắc chắn đã chết. Còn lại là cảnh sát. Hoặc nhân viên nào đấy của Tập đoàn Dầu hỏa Matacumbe. Người ta hẳn nghĩ rằng trong ý nghĩ của hắn thì họ cho rằng hắn xem họ là rất ngu xuẩn. Hắn đã nghĩ về điều này.

Khi hắn thức giấc thì đã là mười giờ rưỡi tối. Hắn nằm trong bóng tối mờ mờ và yên tĩnh, nhưng hắn đã tìm ra câu trả lời. Hắn đứng dậy, đặt khẩu shotgun phía sau mấy chiếc gối, giắt khẩu súng lục vào thắt lưng quần. Rồi hắn bước ra, đi cà nhắc xuống các bậc thang để đến quầy lễ tân.

Nhân viên lễ tân đang ngồi đọc một tờ tạp chí. Khi thấy Chigurh, anh nhét tờ tạp chí dưới bàn và đứng dậy, nói: “Chào ông.”

“Tôi muốn xem sổ đăng ký.”

“Ông có phải là cảnh sát không?”

“Không. Không phải.”

“Tôi e không cho ông xem được.”

“Được mà.”

Khi trở lên, hắn dừng lại, nghe ngóng ở hành lang bên ngoài phòng mình. Hắn bước vào, cầm lấy khẩu shotgun và máy thu sóng rồi bước xuống căn phòng với dải băng cảnh sát quấn quanh, cầm chiếc hộp đặt cạnh cánh cửa và bật lên. Hắn đi xuống tầng hai và cố bắt lấy tín hiệu. Rồi hắn trở lại căn phòng đầu tiên, mở cánh cửa bằng chìa khóa lấy ở quầy lễ tân, bước lui lại, đứng dựa tường hành lang.

Hắn có thể nghe tiếng xe cộ lưu thông bên ngoài bãi đỗ xe nhưng hắn vẫn nghĩ cửa sổ đã đóng kín. Không có luồng gió nào. Hắn nhìn nhanh vào trong căn phòng. Chiếc giường được kéo ra xa khỏi chân tường. Cửa phòng tắm đang mở. Hắn kiểm tra chốt an toàn của khẩu shotgun. Hắn bước qua phòng, đi đến đầu kia.

Không có ai trong phòng. Hắn cầm chiếc hộp quét quanh và tìm thấy thiết bị định vị nằm trong ngăn kéo của bàn ngủ bên giường. Hắn ngồi trên giường xoay xoay thiết bị định vị. Đấy là một thỏi kim khí sáng bóng có kích thước bằng quân cờ domino. Hắn nhìn qua khung cửa sổ đến bãi đỗ xe. Chân hắn đau nhức. Hắn bỏ thỏi kim khí vào túi, tắt máy thu tín hiệu, đứng dậy và bước ra, đóng cửa phòng lại. Bên trong phòng, chuông điện thoại reo. Hắn nghĩ ngợi trong khoảng một phút. Rồi hắn đặt thiết bị định vị trên ngạch cửa sổ ở đầu hành lang, quay người và đi trở lại tiền sảnh.

Hắn chờ đợi Wells ở đây. Không ai khác lại làm thế. Hắn ngồi trên chiếc ghế bành bằng da được đẩy vào góc phòng, nơi hắn có thể quan sát cả cửa trước và hành lang phía sau.

Wells bước vào lúc mười một giờ rưỡi. Chigurh đứng dậy, đi theo ông lên các bậc thang, khẩu shotgun được gói một cách lỏng lẻo trong tờ báo hắn đang đọc. Nửa đường giữa cầu thang, Wells quay người nhìn lại. Chigurh buông rơi tờ báo, nâng khẩu shotgun ngang thắt lưng. Hắn nói: “Chào, Carson.”

Họ ngồi trong phòng của Wells; Wells trên giường và Chigurh trên ghế đặt gần cửa sổ. Wells nói: “Anh không cần phải làm thế. Tôi chỉ là người chạy việc lặt vặt. Tôi có thể trở về nhà luôn.”

“Đúng là anh có thể.”

“Tôi có thể đem lợi lộc đến cho anh. Dẫn anh đến máy rút tiền tự động. Ai nấy đều tản đi. Có khoảng mười bốn nghìn đô trong đó.”

“Khoản thù lao khá.”

“Tôi nghĩ thế.”

Chigurh nhìn qua khung cửa sổ, khẩu shotgun gác lên đầu gối. Hắn nói: “Vết thương làm tôi thay đổi. Thay đổi cái nhìn của tôi. Tôi đã tiến bước, theo cách nào đó. Có cái gì đó sa vào chỗ trước kia không có nó. Tôi nghĩ là có, nhưng không phải. Cách diễn giải tốt nhất là tôi bị bất ngờ. Đấy không phải là chuyện tồi tệ. Nhưng mà đã muộn rồi.”

Wells nói: “Nhưng vẫn là khoản thù lao khá.”

“Đúng vậy. Có điều là theo đồng tiền khác.”

Wells lấy mắt ước lượng khoảng cách giữa hai người. Điên rồ. Có lẽ hai mươi năm về trước. Thậm chí có lẽ không phải lúc đó*. Ông nói: “Anh cứ làm việc phải làm.”

Chigurh ngồi thõng trên chiếc ghế, cằm tựa lên các đốt ngón tay. Nhìn đến Wells. Nhìn những ý nghĩ cuối cùng của ông này. Trước đây hắn đã thấy tất cả. Wells cũng thế.

Wells nói: “Chuyện này bắt đầu từ trước. Lúc ấy tôi không nhận ra. Khi đi xuống vùng ranh giới, tôi ghé vào một quán café ở thị trấn này. Có vài người đang uống bia ở đó; một người trong bọn nhìn lại tôi. Tôi không để ý đến hắn. Tôi gọi bữa ăn chiều. Nhưng khi tôi bước đến quầy thu ngân để trả tiền, tôi phải đi ngang qua họ, họ đều cười và hắn nói cái gì đó khiến cho tôi không thể bỏ qua. Anh có biết tôi đã làm gì không?”

“Có. Tôi biết anh đã làm gì.”

“Tôi phớt lờ hắn. Tôi trả tiền và vừa đi tới cửa thì hắn lặp lại cũng câu nói ấy. Tôi quay lại nhìn hắn. Tôi chỉ đứng đó xỉa răng bằng cây tăm, và tôi khẽ hất đầu ra hiệu cho hắn. Để hắn đi ra ngoài. Nếu hắn muốn. Và rồi tôi đi ra ngoài. Tôi chờ ở bãi đỗ xe. Rồi hắn và đám bạn đi ra; tôi giết hắn ở bãi đỗ xe rồi bước vào xe mình. Bọn họ đều xúm lại quanh hắn. Họ không biết chuyện gì đã xảy ra. Họ không biết rằng hắn đã chết. Một người nói tôi đã ra một đòn đánh vào động mạch chủ, rồi cả bọn đều nói thế. Họ đang cố vực cho hắn ngồi dậy. Họ đang lay tỉnh hắn để ngồi dậy. Một tiếng đồng hồ sau, một cảnh sát viên chặn đường tôi bên ngoài Sonora Texas và còng tay tôi dẫn vào thị trấn. Tôi không hiểu tại sao mình chịu cho anh ta làm thế nhưng tôi nghĩ mình muốn xem liệu có thể tự mình thoát ra bằng một hành động tự nguyện hay không. Bởi vì tôi tin rằng người ta có thể làm được. Nhưng đấy là việc làm điên rồ. Việc làm vô vọng. Anh hiểu không?”

Chigurh nói: “Tôi hiểu không hả?”

“Ừ.”

“Anh có biết anh điên rồ đến chết tiệt như thế nào không?”

“Bản chất của cuộc trao đổi này hả?”

“Bản chất của chính anh.”

Chigurh ngả người về phía sau. Hắn quan sát Wells, nói: “Cho tôi biết điều gì đi chứ.”

“Điều gì?”

“Nếu quy tắc dẫn anh đến tình thế này thì quy tắc có ích gì?”

Wells nói: “Tôi không hiểu anh muốn nói gì.”

“Tôi muốn nói về cuộc đời anh. Trong đó mọi thứ bây giờ đều được nhận rõ ngay.”

“Tôi không quan tâm đến cái vớ vẩn của anh, Anton.”

“Tôi nghĩ anh có thể tự giải thích.”

Wells nói: “Tôi không cần giải thích với anh.”

“Không phải giải thích với tôi. Mà với chính anh. Tôi đã nghĩ anh có thể muốn nói gì đấy.”

“Đồ chết tiệt anh.”

Chigurh nói: “Anh làm tôi ngạc nhiên, thế thôi. Tôi đã mong điều gì khác. Nó đặt ra nghi vấn về những sự kiện trong quá khứ. Anh có nghĩ vậy không?”

“Anh nghĩ tôi hoán đổi nghề nghiệp với anh hay sao?”

Chigurh nói: “Đúng. Tôi nghĩ vậy. Tôi ở đây và anh ở kia. Trong vài phút tới, tôi sẽ vẫn còn ở đây.”

Wells nhìn ra ngoài cửa sổ tối đen, nói: “Tôi biết số tiền ở đâu.”

“Nếu anh biết số tiền ở đâu thì anh đã thu được.”

“Tôi đang chờ cho đến khi không có ai ở đó. Chờ cho tới tối. Hai giờ sáng. Áng chừng như thế.”

Chigurh nói: “Anh biết số tiền ở đâu hả?”

“Đúng.”

Chigurh nói: “Tôi biết nhiều hơn anh.”

“Gì vậy?”

“Tôi biết nó sẽ ở đâu.”

Wells nói: “Ở đâu?”

Chigurh nói: “Nó sẽ được mang đến cho tôi và đặt dưới chân tôi.”

Wells lau miệng với lưng bàn tay. “Anh không mất mát gì cả. Đi từ đây đến đó chỉ cần hai mươi phút.”

“Anh biết việc này sẽ không xảy ra. Đúng không?”

Wells không trả lời.

“Đúng không?”

Wells nói: “Đồ chết tiệt anh.”

“Anh nghĩ có thể lần lữa với đôi mắt của anh.”

Wells hỏi: “Anh có ý gì?”

“Anh nghĩ cứ lấy mắt nhìn tôi thì anh có thể lần lữa.”

“Tôi không nghĩ điều đó.”

Chigurh nói: “Có, anh có nghĩ. Anh phải nhận ra hoàn cảnh của mình. Còn có thêm phẩm giá trong đó. Tôi cố giúp anh.”

Wells nói: “Anh là đồ khốn kiếp.”

“Anh nghĩ mình sẽ không nhắm mắt lại. Nhưng anh sẽ nhắm mắt.”

Wells không trả lời. Chigurh nhìn ông, nói: “Tôi còn biết anh nghĩ tới cái gì khác.”

Wells nói: “Anh không biết tôi đang nghĩ gì.”

“Anh nghĩ tôi giống anh. Đó chỉ là lòng tham. Nhưng tôi không giống anh. Tôi sống một đời đơn giản.”

Wells nói: “Thì cứ sống như thế đi.”

“Anh không hiểu. Một người như anh thì không hiểu.”

“Cứ làm đi.”

Chigurh nói: “Ừ. Họ luôn nói như vậy. Nhưng họ không có ý đó, phải không?”

“Khốn kiếp anh.”

Chigurh nói: “Carson, thế là không ổn. Anh cần phải giữ bình tĩnh. Nếu anh không tôn trọng tôi thì anh phải nghĩ về chính anh như thế nào? Hãy nhìn vào vị thế của mình.”

Wells nói: “Anh nghĩ anh tránh được mọi thứ. Nhưng không đúng.”

“Không phải mọi thứ. Đúng vậy.”

“Anh không thể tránh khỏi cái chết.”

“Cái đúng với anh thì không đúng với tôi.”

Wells nói: “Anh nghĩ tôi sợ chết hả?”

“Đúng.”

“Cứ làm đi. Làm đi và chết tiệt anh.”

Chigurh nói: “Chuyện đó không giống nhau. Trong nhiều năm anh đã từ bỏ nhiều thứ để tới mức này. Tôi không hiểu nổi điều đó. Làm thế nào một người quyết định rời bỏ đời sống của mình theo hạng nào? Hai chúng ta đều làm ăn giống nhau. Cho đến một điểm. Anh khinh thường tôi như thế hả? Tại sao anh lại làm vậy? Làm thế nào anh lại để mình lâm vào nông nỗi này?”

Wells nhìn ra đường phố. Ông hỏi: “Mấy giờ rồi?”

Chigurh nâng cổ tay lên nhìn đồng hồ. “Mười một giờ năm mươi bảy phút.”

Wells gật đầu. “Theo lịch của bà già kia, tôi có thêm ba phút. Mặc xác. Tôi nghĩ mình đã nhìn thấy mọi chuyện như thế này từ lâu rồi. Gần giống như một giấc mộng mị. Déjà vu*.” Ông nhìn qua Chigurh, nói: “Tôi không quan tâm tới ý kiến của anh. Cứ làm đi. Anh là cái mẫu người bệnh tâm thần chết tiệt. Cứ làm và chết tiệt anh.”

Wells thật sự nhắm mắt. Ông nhắm đôi mắt lại, quay mặt đi, giơ một tay lên để gạt đi cái mà ông không gạt được. Chigurh bắn vào mặt ông. Mọi thứ mà Wells đã từng nhận biết hoặc suy nghĩ hoặc yêu thương đều thoát đi chầm chậm trên mặt tường phía sau ông. Khuôn mặt của mẹ ông, lễ ban Thánh thể đầu tiên, những người phụ nữ ông yêu. Gương mặt của những người khi họ quỳ chịu chết trước mặt ông. Xác của một đứa trẻ chết dưới một hẻm núi bên đường ở một nước khác. Ông ngồi trên giường với cái đầu vỡ toang một nửa, hai cánh tay thõng ra ngoài, phần lớn bàn tay bên phải đã biến mất.

Chigurh đứng dậy, nhặt lấy vỏ đạn nằm trên thảm, đưa lên miệng thổi rồi cho vào túi áo và nhìn đồng hồ. Còn một phút nữa mới qua ngày mới.

Hắn đi xuống cầu thang phía sau, đi đến chiếc xe của Wells ở bãi đỗ xe, lục tìm chìa khóa trong chùm khóa của Wells, mở cửa xe, sục sạo phía trước, phía sau và bên dưới ghế. Đấy là một chiếc xe cho thuê, chỉ có tờ hợp đồng thuê xe để trong túi ở cửa xe. Hắn đóng cửa xe lại, lặc lè đi đến thùng xe phía sau. Không có gì. Hắn đi vòng qua phía ghế người lái, mở cửa xe, bật nút nắp xe, mở nắp xe và nhìn vào buồng máy, đậy lại nắp xe và đứng nhìn về phía khách sạn. Trong khi hắn đang đứng đấy thì điện thoại di động của Wells reo. Hắn lục chiếc điện thoại trong túi quần, bấm nút và đưa lên tai. Hắn nói: “Vâng.”

Moss đi tới lui trong khu người bệnh, tay níu lấy cánh tay của cô y tá. Cô tỏ lời khuyến khích anh bằng tiếng Tây Ban Nha. Hai người đi đến đầu cuối rồi quay lại. Mồ hôi lấm tấm trên trán anh. Cô nói: “Ándale. Qué bueno.*” Anh gật đầu, nói: “Đúng là bueno cái con khỉ gió.”

Lúc đêm khuya, anh thức dậy từ một giấc mộng mị, cố gắng đi xuống hành lang và yêu cầu cho sử dụng điện thoại. Anh quay số ở Odessa, nặng nề đứng tựa vào quầy và nghe tiếng chuông ở đầu bên kia. Chuông reo một hồi lâu. Cuối cùng, mẹ của cô trả lời.

Moss nói: “Con là Llewelyn đây.”

“Nó không muốn nói chuyện với anh.”

“Cô ấy muốn mà.”

“Anh có biết mấy giờ rồi không?”

“Con không cần biết mấy giờ. Mẹ đừng gác máy.”

“Mẹ đã nói với nó chuyện này sẽ xảy ra, đúng không? Nói rất rõ. Mẹ đã nói: Đây là chuyện sẽ đến để kết thúc. Bây giờ nó đã đến để kết thúc.”

“Mẹ đừng gác máy. Mẹ kêu cô ấy đến để nói chuyện với con.”

Khi nhận lấy ống nghe, cô nói: “Em đã không nghĩ anh lại làm thế.”

“Này em yêu, em khỏe không?”

“Llewelyn, anh yên ổn chứ? Chuyện gì đã xảy ra với lời hứa của họ? Anh đang ở đâu?”

“Piedras Negras.”

“Llewelyn, em phải làm gì đây?”

“Em ổn không?”

“Không, em không ổn. Em ổn sao được! Nhiều người gọi đến đây hỏi về anh. Có Cảnh sát trưởng hạt Terrell đến tìm em. Gõ tận cửa. Em nghĩ anh đã chết.”

“Anh không chết. Em trả lời ông ấy ra sao?”

“Em có thể nói được gì?”

“Ông ấy có thể lừa cho em nói ra gì đó.”

“Anh bị thương, phải không?”

“Cái gì khiến cho em nói vậy?”

“Em có thể nghe qua giọng nói của anh. Anh ổn không?”

“Anh ổn.”

“Anh đang ở đâu?”

“Anh đã nói với em rồi.”

“Anh nói như là đang ở trạm xe buýt.”

“Carla Jean, anh nghĩ em cần phải thoát ra khỏi nơi đó.”

“Khỏi nơi đâu?”

“Khỏi căn nhà đó.”

“Llewelyn, anh làm em sợ. Thoát khỏi nơi đây để đi đâu?”

“Đâu cũng được. Anh chỉ nghĩ em không nên ở đó. Em có thể vào một motel.”

“Rồi sẽ làm gì với Mẹ?”

“Bà sẽ ổn thôi.”

“Bà sẽ ổn à?”

“Đúng.”

“Anh không biết điều đó.”

Llewelyn không trả lời.

“Anh biết hả?”

“Anh chỉ nghĩ không ai sẽ đụng chạm đến bà ấy.”

“Anh nghĩ vậy sao?”

“Em phải thoát ra. Đưa bà đi theo.”

“Em không thể đưa bà vào motel. Anh quên là bà có thể ngã bệnh.”

“Ông Cảnh sát trưởng nói gì?”

“Nói đang tìm anh, chớ anh nghĩ ông ấy nói gì?”

“Ông ấy nói gì nữa?”

Cô không trả lời.

“Carla Jean?”

Dường như cô đang khóc.

“Ông ấy còn nói gì nữa, Carla Jean?”

“Ông ấy bảo việc anh làm dễ khiến cho người ta giết anh.”

Cô im lặng một hồi lâu.

“Carla Jean?”

“Llewelyn, dù là tiền em vẫn không muốn. Em chỉ muốn ta sống như lúc trước.”

“Ta sẽ như trước.”

“Không đúng. Em đã nghĩ về việc này. Đó là ơn phước giả tạo.”

“Ừ. Nhưng đó là tiền thật.”

Cô kêu tên anh lần nữa rồi lại bật khóc. Anh cố nói chuyện với cô nhưng cô không trả lời. Anh đứng đấy nghe tiếng cô thổn thức ở Odessa. Anh nói: “Em muốn anh làm gì?”

Anh gọi tiếp: “Carla Jean?”

“Em muốn cuộc sống như lúc trước.”

“Nếu anh nói với em anh sẽ cố gắng và dàn xếp mọi thứ thì em sẽ làm theo lời yêu cầu của anh không?”

“Được. Em sẽ làm.”

“Anh có một số điện thoại ở đây mà anh có thể gọi. Một người có thể giúp chúng ta.”

“Anh có thể tin cậy họ không?”

“Anh không biết. Anh chỉ biết mình không thể tin cậy ai khác. Ngày mai anh sẽ gọi lại cho em.”

Anh gác máy, rồi quay số di động mà Wells đã cho anh. Đến tiếng reo thứ hai thì có người trả lời nhưng đấy không phải là Wells. Anh nói: “Tôi gọi nhầm số.”

“Anh không nhầm số. Anh cần đến gặp tôi.”

“Ai đó?”

“Anh biết tôi là ai.”

Moss đứng tựa vào quầy, bàn tay bóp trán. “Wells đâu?”

“Bây giờ hắn không thể giúp anh được nữa. Anh thỏa hiệp với hắn ra sao?”

Moss nói: “Tôi không thỏa hiệp gì hết.”

“Có, anh có thỏa hiệp. Hắn định cho anh bao nhiêu?”

“Tôi không biết anh nói gì.”

“Tiền đang ở đâu?”

Moss hỏi: “Ông đã làm gì với Wells?”

“Chúng tôi có mâu thuẫn về quan điểm. Anh không cần quan tâm tới Wells. Hắn bây giờ là người ngoài cuộc. Anh cần phải nói chuyện với tôi.”

Moss nói: “Tôi không cần phải nói chuyện với anh.”

“Tôi nghĩ anh cần. Anh biết tôi đang đi đâu không?”

“Tại sao tôi lại quan tâm anh đang đi đâu?”

“Anh biết tôi đang đi đâu không?”

Moss không trả lời.

“Anh còn ở đó chứ?”

Moss nói: “Tôi còn ở đây.”

“Tôi biết anh đang ở đâu.”

“Vậy hả? Tôi đang ở đâu?”

“Anh đang nằm trong bệnh viện ở Piedras Negras. Nhưng tôi sẽ không đi tới đó. Anh biết tôi đang đi đâu không?”

Moss nói: “Biết. Tôi biết anh đang đi đâu.”

“Anh có thể thay đổi tình hình.”

“Làm thế nào tôi tin anh được?”

“Anh đã tin Wells.”

Moss nói: “Tôi không tin Wells.”

“Anh đã gọi cho hắn.”

Moss nói: “Ừ thì tôi gọi cho hắn.”

“Cho tôi biết anh muốn tôi làm gì.”

Moss thay đổi thế đứng. Mồ hôi đang vã ra trên trán. Anh không trả lời.

“Nói cho tôi biết. Tôi đang đợi.”

Moss đáp: “Tôi có thể đang chờ đón anh khi anh đi đến, anh biết đó. Thuê máy bay. Anh đã nghĩ đến việc này chưa?”

“Được thôi. Nhưng anh sẽ không đi.”

“Làm thế nào anh biết tôi sẽ không đi?”

“Vì đáng lẽ anh đã không nói cho tôi biết. Dù sao chăng nữa, tôi phải đi.”

Moss nói: “Anh biết họ sẽ không ở đó.”

“Họ ở đâu thì cũng vậy thôi.”

“Thế thì anh đi lên đó để làm gì?”

“Anh biết tình thế sẽ chuyển biến như thế nào, phải không?”

Moss nói: “Không. Anh biết hả?”

“Vâng, tôi biết. Tôi nghĩ anh cũng biết. Có điều anh chưa chấp nhận. Tôi sẽ làm như thế này. Anh mang tiền đến cho tôi rồi tôi sẽ tha mạng sống cô ấy. Nếu không, cô ấy chịu trách nhiệm. Anh cũng vậy. Tôi không biết liệu anh có quan tâm đến chuyện này không. Nhưng đó là cách tốt nhất cho anh. Tôi sẽ không bảo anh rằng anh có thể tự cứu chính mình vì anh không cứu được.”

Moss nói: “Được, tôi sẽ mang đến cho anh cái gì đó. Tôi đã quyết định thực hiện một việc đối với anh. Anh sẽ không phải đi tìm tôi nữa.”

“Rất vui khi nghe anh nói thế. Anh bắt đầu làm cho tôi thất vọng.”

Moss nói: “Anh sẽ không thất vọng.”

“Tốt.”

“Anh sẽ không lo bị thất vọng.”

Moss ra đi trước khi trời sáng, mặc áo bệnh viện với áo choàng bên ngoài. Vạt áo choàng vấy máu đã khô cứng. Anh không có giày. Trong túi trong của áo choàng là xấp giấy bạc anh cất giấu, dính máu khô cứng.

Anh đứng ngoài đường nhìn về hướng các ngọn đèn. Anh không rõ mình đang ở đâu. Bê-tông lạnh dưới hai bàn chân anh. Anh đi đến một góc phố. Vài chiếc ô tô chạy qua. Anh đi đến góc phố kế tiếp, dừng lại và đứng tựa vào bức tường một tòa nhà. Anh còn hai viên thuốc trong túi chiếc áo choàng và bây giờ anh nuốt một viên. Anh nghĩ mình sẽ nôn mửa. Anh đứng đấy một hồi lâu. Có một ngạch cửa sổ mà anh có thể ngồi lên, nhưng có những thanh sắt nhọn nhằm ngăn chặn người lảng vảng. Một chiếc taxi chạy qua, anh giơ một tay lên nhưng chiếc xe vẫn tiếp tục chạy. Sau một lúc, anh bước ra lòng đường. Anh đứng lảo đảo ở đấy một hồi, rồi một chiếc taxi chạy đến, anh giơ tay ra hiệu và chiếc xe dừng lại.

Tài xế taxi quan sát anh. Moss đứng tựa vào cửa kính xe, nói: “Anh đưa tôi đi qua cầu được không?”

“Qua bên kia cầu hả?”

“Đúng. Qua bên kia.”

“Ông có tiền không?

“Có. Tôi có tiền.”

Tài xế ra vẻ nghi ngờ: “Hai mươi đô la.”

“Được.”

Ở cổng gác, một người lính biên phòng nhoài người ra quan sát anh đang ngồi trong ánh sáng mờ tối trên băng ghế sau. “Ông sinh ở nước nào?”

“Hoa Kỳ.”

“Ông có mang gì vào không?”

“Không có gì cả.”

Người lính biên phòng quan sát anh. “Xin ông cảm phiền bước ra ngoài.”

Moss kéo cần cửa xuống, tựa người vào băng ghế trước để bước ra khỏi chiếc taxi.

“Giày anh đâu?”

“Tôi không biết.”

“Anh không mặc quần áo phải không?”

“Tôi có quần áo.”

Người lính biên phòng đang ra hiệu các chiếc xe khác chạy qua. Anh này chỉ tay đến tài xế taxi: “Xin anh vui lòng đưa xe vào ô thứ hai ở đàng kia.”

Tài xế taxi di chuyển chiếc xe.

“Xin ông vui lòng đứng cách xa chiếc xe.”

Moss bước ra xa. Chiếc taxi chạy vào bến đỗ rồi tài xế tắt máy. Moss nhìn qua người lính biên phòng. Anh này có vẻ như định nói gì đấy, nhưng vẫn im lặng.

Họ dẫn anh vào bên trong, cho anh ngồi vào một chiếc ghế thép trong một văn phòng nhỏ. Một người khác bước vào, đứng tựa một bàn giấy bằng thép, quan sát Moss.

“Ông đã uống bao nhiêu rượu?”

Moss nói: “Tôi không uống gì cả.”

“Chuyện gì đã xảy ra với ông?”

“Ông có ý nói gì?”

“Chuyện gì đã xảy ra với quần áo ông?”

“Tôi không biết.”

“Ông có giấy tờ gì không?”

“Không.”

“Không có gì hả?”

“Đúng.”

Người đàn ông ngả người ra sau, hai cánh tay chéo nhau trước ngực. Ông ta nói: “Ông nghĩ ai được đi qua cổng này để vào Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ?”

Moss nói: “Tôi không biết. Công dân Mỹ.”

“Một số công dân Mỹ. Ông nghĩ ai có quyền quyết việc này?”

“Tôi nghĩ đó là ông.”

“Tôi thường đặt vài câu hỏi. Nếu tôi nghe câu trả lời đúng lý thì họ được phép vào đất Mỹ. Nếu câu trả lời không đúng lý thì họ không được vào. Có những điều gì khác mà ông không rõ không?”

“Thưa ông, không.”

“Thế thì có lẽ ông muốn bắt đầu.”

“Được rồi.”

“Chúng tôi muốn nghe tại sao ông đi ra đây mà không mặc quần áo.”

“Tôi mặc áo choàng bên ngoài.”

“Ông định giỡn mặt với tôi hả?”

“Thưa ông, không.”

“Đừng giỡn mặt với tôi. Ông đang phục vụ trong quân ngũ hả?”

“Thưa ông, không. Tôi là cựu chiến binh.”

“Binh chủng nào?”

“Lục quân Hoa Kỳ.”

“Ông có chiến đấu ở Việt Nam không?”

“Thưa ông, có. Tôi phục vụ hai chuyến.”

“Đơn vị nào?”

“Sư đoàn Hai mươi lăm Bộ binh.”

“Ông làm nhiệm vụ vào thời gian nào?”

“Ngày bảy tháng Tám một nghìn chín trăm sáu mươi sáu đến ngày hai tháng Chín một nghìn chín trăm sáu mươi tám.”

Người đàn ông nhìn anh một lúc. Moss nhìn lại ông rồi quay mặt đi. Anh nhìn về phía cánh cửa, hành lang trống trơn. Ngồi gục về phía trước trong áo choàng, hai khuỷu tay đặt trên hai đầu gối.

“Ông ổn chứ?”

Moss nói: “Vâng, thưa ông. Tôi ổn. Vợ tôi sắp đi đến đón tôi nếu các ông để cho tôi đi qua.”

“Ông có mang theo tiền không? Ông có tiền lẻ để gọi điện thoại không?”

“Thưa ông, có.”

Anh nghe tiếng móng vuốt cào trên mặt sàn gạch. Một người lính biên phòng đang đứng đấy với con chó berger Đức có dây dắt. Người đàn ông hất hàm về phía người lính biên phòng. “Tìm ai đó để giúp ông này. Ông ấy cần đi vào thị trấn. Chiếc taxi đi rồi phải không?”

“Đúng, thưa sếp. Nó trong sạch.”

“Tôi biết. Tìm ai đó để giúp ông này.”

Ông nhìn qua Moss: “Ông cư ngụ ở đâu?”

Moss nói: “Tôi cư ngụ ở San Saba, Texas.”

“Vợ ông có biết ông đang ở đâu không?”

“Thưa ông, có. Tôi vừa nói chuyện với cô ấy mới ít phút gần đây.”

“Hai bên có xích mích với nhau không?”

“Ai xích mích với nhau?”

“Ông và bà nhà.”

“À. Tôi nghĩ có, theo cách nào đó. Thưa ông, có.”

“Ông cần nói với bà nhà rằng ông xin lỗi.”

“Thưa ông?”

“Tôi bảo ông cần nói với bà ông xin lỗi.”

“Vâng, thưa ông. Tôi sẽ nói.”

“Ngay cả nếu ông nghĩ đó là do lỗi của bà.”

“Vâng, thưa ông.”

“Đi đi. Xéo khỏi nơi đây.”

“Vâng, thưa ông.”

“Đôi lúc ông có một vấn đề nhỏ nhưng nếu ông không giải quyết thì bỗng dưng nó không còn là vấn đề nhỏ nữa. Ông có hiểu tôi nói gì không?”

“Vâng, thưa ông.”

“Ông đi đi.”

“Vâng, thưa ông.”

Trời đã gần sáng và chiếc taxi đã đi từ lâu. Anh bước ra đường. Máu đang rỉ ra từ vết thương, chảy dọc bên trong ống chân anh. Không ai để ý đến.

Anh rẽ qua phố Adams, dừng lại trước một cửa hàng bán quần áo và ghé mắt nhìn vào. Đèn thắp sáng phía sau. Anh gõ cửa, chờ đợi rồi lại gõ cửa. Cuối cùng, một người có vóc dáng nhỏ thó, mặc áo sơ-mi màu trắng và mang cà vạt đến mở cửa, nhìn anh. Moss nói: “Tôi biết anh chưa mở cửa, nhưng tôi rất cần mua quần áo.”

Người đàn ông gật đầu, mở rộng cánh cửa, nói: “Mời ông vào.”

Họ đi bên nhau dọc khu trưng bày giày cao cổ. Các hiệu Tony Lama, Justin, Nocona. Có vài chiếc ghế thấp. Moss ngồi xuống, hai tay nắm chặt thành ghế. “Tôi cần đôi giày cao cổ và ít bộ quần áo. Tôi có vài vấn đề về sức khỏe nên tôi không muốn đi lại nhiều nếu không cần thiết.”

Người đàn ông gật đầu: “Vâng, thưa ông. Được rồi.”

“Anh có hiệu Larry Mahans không?”

“Không, thưa ông. Chúng tôi không có.”

“Được rồi. Tôi cần một quần jeans hiệu Wrangler số ba mươi hai, dài ba mươi bốn. Một áo sơ-mi cỡ lớn. Vài đôi bít tất. Và cho tôi xem vài đôi Nocona số mười rưỡi. Tôi còn cần một dây thắt lưng.”

“Vâng, thưa ông. Ông có muốn xem nón không?”

Moss nhìn qua cửa hàng. “Tôi nghĩ có một cái nón cũng tốt. Anh có loại nón cao bồi với vành hẹp không? Cỡ sáu và ba phần tám?”

“Vâng, chúng tôi có. Chúng tôi có nón ba X hiệu Resistol và có hiệu Stetson tốt hơn chút ít. Tôi nghĩ đó là loại năm X.”

“Cho tôi xem hiệu Stetson. Lấy màu bạc.”

“Được, thưa ông. Còn vớ màu trắng được không?”

“Tôi chỉ mang vớ màu trắng.”

“Còn nội y thì sao?”

“Có lẽ một quần soọt. Số ba mươi hai. Hoặc cỡ vừa.”

“Được, thưa ông. Ông cứ ngồi đây cho thoải mái. Ông ổn chứ?”

“Tôi ổn.”

Người đàn ông gật đầu và quay đi.

Moss hỏi: “Tôi hỏi anh một chuyện được không?”

“Được, thưa ông.”

“Anh có nhiều khách hàng vào đây mà không mặc quần áo không?”

“Không, thưa ông. Tôi có thể nói không có nhiều.”

Anh mang một đống quần áo mới đến phòng thay đồ, cởi ra chiếc áo choàng rồi mắc lên cái móc sau cánh cửa. Một mảng máu khô phía trên miệng vết thương lõm xuống màu tái xám. Anh nhấn dọc rìa miếng băng dán xuống nhưng băng vẫn không dính. Anh ngồi xuống băng ghế, mang vào đôi bít tất, mở gói quần soọt, kéo hai ống quần lên đến đầu gối rồi đứng lên, kéo tiếp lên một cách cẩn thận qua vết thương. Anh lại ngồi xuống, mở ra chiếc áo sơ-mi từ những mảnh giấy bìa cứng và vô số kim cài.

Khi bước ra khỏi phòng thay đồ, anh mang chiếc áo choàng trên cánh tay. Anh bước lên xuống lối đi giữa hai quầy hàng lót ván kêu răng rắc. Người bán hàng nhìn xuống đôi giày, nói: “Phải mất thời gian dài hơn mới cho con cá sấu vào khuôn phép.”

“Ừ. Cũng nóng vào mùa hè. Đôi giày này mang vừa. Để tôi thử cái mũ. Từ lúc rời quân ngũ, chưa khi nào tôi chưng diện như bây giờ.”

Viên Cảnh sát trưởng địa phương hớp một ngụm cà phê rồi đặt cái cốc xuống ở đúng dấu vết đáy cốc trên mặt kính mà ông đặt cốc lúc trước. Ông nói: “Họ đang lo chuẩn bị đóng cửa khách sạn.”

Bell gật đầu: “Tôi không lấy làm lạ.”

Viên Cảnh sát trưởng địa phương nói: “Họ đều nghỉ việc. Cái anh đó chỉ mới làm hai ca. Tôi tự trách mình. Không hề nghĩ rằng cái tên chó đẻ đó quay lại. Tôi không bao giờ tưởng tượng được chuyện này.”

Bell nói: “Có lẽ hắn không hề rời đi.”

“Tôi cũng nghĩ vậy.”

“Lý do không ai biết hắn trông ra sao là vì họ đều bị giết quá nhanh nên không khai báo kịp.”

“Ed Tom à, đó là cái tên sát nhân mất trí chết tiệt.”

Bell nói: “Ừ. Nhưng tôi nghĩ hắn không mất trí.”

“Thế thì anh gọi hắn là gì?”

Bell nói: “Tôi không biết. Khi nào họ chuẩn bị đóng cửa?”

“Trên thực tế đã đóng cửa rồi.”

Bell hỏi: “Anh có chìa khóa không?”

“Ừ. Tôi có chìa khóa. Đó là hiện trường vụ án.”

“Tại sao ta không đi đến đấy và xem xét lần nữa?”

Viên Cảnh sát trưởng địa phương nói: “Được thôi. Ta nên đi.”

Cái đầu tiên họ thấy là thiết bị định vị nằm trên ngạch cửa sổ ở hành lang. Bell nhấc lên, xoay xoay trong lòng bàn tay, nhìn qua mặt kính và các nút.

Viên Cảnh sát trưởng địa phương nói: “Đây không phải là quả bom chết tiệt hở Cảnh sát trưởng?”

“Không phải.”

“Ta chỉ mong có thế.”

Bell nói: “Đây là thiết bị định vị.”

“Thế thì họ đã tìm được cái mà họ muốn dò theo.”

“Có lẽ. Anh nghĩ nó nằm đây đã bao lâu rồi?”

“Tôi không biết. Tôi nghĩ mình có thể đoán được họ muốn tìm cái gì.”

Bell nói: “Có lẽ. Có cái gì đấy trong cả vụ việc này nghe ra không ổn.”

“Đáng lẽ không phải thế.”

Bell nói: “Ở đây ta có một cựu trung tá quân đội bị bay mất phần lớn cái đầu khiến cho ta phải nhận dạng ông này qua dấu vân tay. Tức là vân tay của mấy ngón không bị bắn nát. Sĩ quan chính quy. Mười bốn năm phục vụ trong quân ngũ. Trên người không mang giấy tờ gì cả.”

“Ông ta đã bị trấn lột.”

“Ừ.”

Viên Cảnh sát trưởng địa phương hỏi: “Cảnh sát trưởng, còn chuyện gì khác anh biết mà anh chưa nói ra?”

Bell nói: “Anh nhận được tất cả dữ kiện như tôi đã nhận.”

“Tôi không nói về dữ kiện. Anh có nghĩ cả vụ việc hỗn loạn này đã di chuyển về Nam* không?”

Bell lắc đầu: “Tôi không biết.”

“Anh có chó trong chuyến đi săn này không*?”

“Không hẳn. Vài chú nhóc trong hạt tôi có thể tham gia phần nào.”

“Tham gia phần nào?”

“Ừ.”

“Ý anh nói đến dân trong nghề hả?”

Bell nói: “Không. Chỉ là dân ở hạt tôi. Những người tôi có nhiệm vụ bảo vệ.”

Bell trao thiết bị định vị cho viên Cảnh sát trưởng địa phương.

“Tôi phải làm gì với cái này?”

Bell nói: “Nó là tài sản của hạt Maverick. Chứng cứ hiện trường tội phạm.”

Viên Cảnh sát trưởng địa phương lắc đầu, nói: “Ma túy!”

“Ma túy?”

“Họ bán cái thứ chết tiệt đó cho con trẻ ở trường học.”

Bell nói: “Còn tệ hơn nữa.”

“Là sao?”

“Con trẻ ở trường học bỏ tiền ra mua nó.”

giả: Diệp Minh Tâm KHÔNG CHỐN NƯƠNG THÂN ebook©MotSAch —★— tve-4u.org Nhà xuất bản Hội nhà văn - 2010
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.