Không Chốn Nương Thân

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Chigurh đi cà nhắc lên mười bảy dãy bậc thang bê-tông trong cái giếng bê-tông lạnh lẽo. Khi đến cánh cửa thép, hắn dùng khẩu súng bắn bò để bắn xy-lanh rời khỏi ổ khóa, mở cánh cửa, bước vào hành lang rồi đóng cánh cửa lại. Hắn đứng dựa vào cánh cửa, hai tay cầm khẩu shotgun, nghe ngóng, vẫn thở nhẹ nhàng như thể vừa bước ra khỏi một chiếc ghế. Hắn đi dọc lối đi, nhặt lấy thanh xy-lanh đã bị nghiền dẹp nằm trên sàn cho vào túi, đi đến thang máy rồi lại đứng nghe ngóng. Hắn tháo ra đôi giày cao cổ, để kế bên cửa thang máy rồi chỉ mang đôi bít tất đi dọc lối đi, đi chầm chậm, cảm nhận chân mình đang bị thương.

Các cánh cửa của văn phòng mở ra lối đi. Hắn dừng lại. Hắn nghĩ có lẽ người đàn ông không nhìn thấy cái bóng của hắn trên mặt tường dọc lối đi phía ngoài, tuy mờ mờ nhưng vẫn hiện lên. Chigurh nghĩ đấy là sự sơ sót kỳ lạ nhưng hắn biết nỗi sợ hãi về kẻ thù thường khiến cho người ta không nhìn ra những rủi ro khác, chưa nói gì đến khuôn mẫu mà họ tự tạo ra trên trần thế. Hắn tháo sợi dây đeo trên vai, đặt chiếc áo khoác trên mặt sàn. Hắn xem xét tư thế cái bóng của người đàn ông qua ánh sáng chiếu từ mặt kính mờ sau lưng hắn. Hắn mở ổ súng để xem xét buồng đạn rồi mở chốt an toàn.

Người đàn ông đang cầm một khẩu súng lục nhỏ ngang thắt lưng. Chigurh bước vào lối đi, bắn vào cổ họng anh ta một phát đạn chứa bi số mười*. Loại bi mà các nhà sưu tập dùng để thu thập mẫu vật chim. Người đàn ông ngã ra phía sau, kéo theo chiếc ghế xoay đổ vật xuống sàn, rồi nằm đấy dãy dụa, ồng ộc. Chigurh nhặt lên vỏ đạn từ mặt thảm cho vào túi, đi vào gian phòng trong khi họng súng vẫn còn tỏa khói. Hắn đi vòng qua phía sau bàn giấy, đứng nhìn xuống người đàn ông. Người đàn ông đang nằm ngửa, một tay đưa lên chặn cổ họng nhưng máu vẫn đều đặn thoát ra giữa các khe ngón tay và chảy xuống mặt thảm. Khuôn mặt anh chi chít những lỗ nhỏ do đạn bi ghim vào nhưng con mắt phải dường như còn nguyên vẹn. Anh nhìn lên Chigurh cố nói gì đấy từ cổ họng đang sủi bọt. Chigurh quỳ một gối xuống, tựa vào khẩu shotgun, nhìn anh nói: “Cái gì? Mày muốn nói gì với tao?”

Đầu người đàn ông khẽ cử động. Máu đang phun ra ồng ộc từ cổ họng.

Chigurh hỏi: “Mày nghe tao nói không?”

Người đàn ông không trả lời.

“Tao là người mà mày phái Carson Wells đi giết. Đó có phải là điều mày muốn biết không?”

Chigurh nhìn người đàn ông. Anh đang mặc bộ đồ chạy thể thao bằng nhựa màu xanh và mang đôi giày da màu trắng. Máu đang đọng thành vũng quanh đầu anh, và anh đang run rẩy như thể bị lạnh.

“Lý do tao dùng loại đạn bắn chim là vì tao không muốn làm vỡ kính. Phía sau mày. Không muốn mảnh kính vỡ rơi trên người đi ngoài đường.” Hắn hất hàm về phía khung cửa sổ nơi cái bóng phần trên người đàn ông đã chiếu lên và những viên bi bằng chì tạo thành những lỗ nhỏ trên mặt kính. Chigurh đứng dậy, đóng chốt an toàn, bước qua người đàn ông đi đến cửa sổ xem xét các lỗ đạn bi chi chít. Khi hắn quay lại, người đàn ông đã tắt thở. Hắn đi ngang qua gian phòng, dừng lại ở cửa ra nghe ngóng. Hắn bước ra, đi dọc lối đi, nhặt lấy chiếc áo khoác và khẩu súng bắn bò, mang vào đôi giày cao cổ. Rồi hắn đi dọc hành lang, đi qua cánh cửa thép, bước xuống các bậc thang bê-tông, đi đến nhà xe nơi chiếc xe của hắn đang đỗ.

Khi hai mẹ con đến bến xe buýt thì trời vừa hừng sáng, cơn mưa xám xịt và lạnh lẽo đang đổ xuống. Cô vươn người ra phía trước, trả tiền cho tài xế taxi cộng thêm hai đô tiền bo. Người tài xế bước xuống, đi vòng đến khoang hành lý lấy ra các chiếc túi của họ đặt lên ngạch cửa, rồi mang cái khung tập đi đến cho bà mẹ. Bà quay người, nhọc nhằn bước ra giữa cơn mưa.

“Mẹ ạ, chờ một chút. Con còn phải qua bên kia.”

Bà mẹ nói: “Mẹ biết sự thể sẽ như thế này. Ba năm trước mẹ đã nói vậy.”

“Chưa đến ba năm.”

“Mẹ đã từng nói nhiều lần.”

“Mẹ chờ con qua bên đó.”

Bà mẹ nói: “Chờ trong mưa.” Bà nhìn lên tài xế taxi. “Tôi bị ung thư. Bây giờ xem này. Thậm chí không có nhà để ở.”

“Vâng, thưa bà.”

“Chúng tôi đi El Paso, Texas. Anh có biết tôi quen bao nhiêu người ở El Paso, Texas không?”

“Không, thưa bà.”

Bà dừng lại, giơ bàn tay lên, ngón cái và ngón trỏ tạo thành con số zê-rô, nói: “Có bấy nhiêu người.”

“Vâng, thưa bà.”

Hai người ngồi trong quán café, chung quanh là mấy cái túi và gói, nhìn ra trời mưa và các chiếc xe buýt đang đỗ. Nhìn lên khung trời xám đang bắt đầu một ngày mới. Cô nhìn qua bà mẹ, hỏi: “Mẹ muốn dùng cà phê không?”

Người phụ nữ già không trả lời.

“Con nghĩ mẹ không thích nói.”

“Mẹ không biết nói chuyện gì.”

“Thế thì con nghĩ con cũng không biết.”

“Tất cả những gì hai con đã làm thì đã làm rồi. Mẹ không hiểu tại sao mình lại trốn lánh pháp luật.”

“Chúng ta không trốn lánh pháp luật, Mẹ ạ.”

“Con không thể yêu cầu họ giúp con hay sao?”

“Yêu cầu ai?”

“Pháp luật.”

“Không. Không được.”

“Mẹ cũng nghĩ thế.”

Người phụ nữ già đưa ngón tay cái chỉnh lại hàm răng và nhìn qua khung cửa sổ. Sau một lúc, chiếc xe buýt chạy đến. Tài xế xếp cái khung tập đi vào khoang hành lý phía dưới chiếc xe rồi họ đỡ bà bước lên và ngồi vào hàng ghế đầu. Bà nói với tài xế: “Tôi bị ung thư.”

Carla Jean đặt cái túi xách của cô vào ô hành lý trên đầu rồi ngồi xuống. Người phụ nữ già không nhìn đến cô. Bà nói: “Ba năm về trước. Không cần phải nằm mơ. Không cần có ai tiên tri. Mẹ không muốn kể công. Ai cũng nói như thế.”

“À, con không nói thế.”

Người phụ nữ già lắc đầu. Nhìn qua khung cửa xe đến cái bàn họ vừa ngồi. “Mẹ không muốn kể công. Mẹ sẽ là người cuối cùng trên thế gian này kể công.”

Chigurh lái xe băng qua đường rồi tắt máy. Hắn tắt đèn xe, ngồi nhìn ngôi nhà tối tăm. Những con số đèn màu xanh trên đồng hồ xe chỉ 1:17. Hắn ngồi cho đến 1:22 rồi lấy ra đèn bấm từ hộc chứa găng tay, bước ra, đóng cánh cửa xe lại, và đi băng qua đường đến ngôi nhà.

Hắn mở cánh cửa lưới, bắn ra xy-lanh ổ khóa, bước vào, đóng cánh cửa lại và nghe ngóng. Có ánh sáng chiếu từ gian bếp. Hắn bước dọc lối đi, một tay cầm đèn bấm, tay kia nắm khẩu shotgun. Khi đến ngạch cửa, hắn dừng lại, nghe ngóng. Ánh sáng chiếu từ một bóng đèn gắn phía trên ngạch cửa sau. Hắn bước vào gian bếp.

Một chiếc bàn bằng nhựa formica ở giữa gian bếp, trên mặt bàn là một hộp ngũ cốc. Bóng của khung cửa sổ gian bếp in lên mặt sàn lót vải sơn. Hắn đi qua, mở cửa tủ lạnh rồi nhìn vào. Hắn lấy ra một lon soda cam, mở nắp rồi đứng uống, nghe ngóng bất cứ chuyện gì có thể xảy ra tiếp theo tiếng mở nắp nhôm. Hắn để cái lon còn phân nửa xuống mặt bàn, đóng cánh cửa tủ lạnh lại, đi qua phòng ăn rồi đến phòng khác, ngồi trên chiếc ghế bành ở góc phòng mà nhìn ra đường.

Sau một lúc, hắn đứng dậy, đi qua gian phòng và bước lên cầu thang. Hắn đứng nghe ngóng ở đầu cầu thang. Khi bước vào phòng của người phụ nữ già, hắn có thể ngửi được cái mùi mốc mốc ngọt dịu của bệnh tật và trong thoáng chốc hắn nghĩ bà còn đang nằm trên giường. Hắn bật đèn bấm lên, đi vào phòng tắm. Hắn đứng đọc nhãn chỉ dẫn trên các chai thuốc. Hắn đứng nhìn qua khung cửa sổ xuống con đường bên dưới, ánh sáng mùa đông mù mờ từ các ngọn đèn đường. Hai giờ sáng. Khô ráo. Lạnh lẽo. Yên ắng. Hắn đi ra, bước dọc lối đi đến phòng ngủ nhỏ phía sau căn nhà.

Hắn trút ra mặt giường mọi thứ trong ngăn kéo bàn của cô, ngồi xem qua từng món, thỉnh thoảng giơ lên cao vài món, xem xét dưới ánh sáng xanh nhạt của bóng đèn ngoài sân sau. Một chiếc lược chải tóc bằng nhựa. Một chiếc kẹp tóc rẻ tiền. Nắm các món này trong bàn tay như thể muốn tìm ra vài chi tiết về người phụ nữ chủ nhân. Hắn lật qua các trang của tập ảnh. Bạn học ở trường. Gia đình. Một con chó. Một ngôi nhà không phải nhà này. Một người đàn ông có lẽ là cha cô. Hắn lấy hai tấm ảnh của cô cho vào túi áo.

Buổi sáng, hắn lại đi lên xuống trong căn nhà, rồi trở lại phòng tắm ở cuối lối đi để tắm dưới vòi bông sen. Hắn để cho tấm màn kéo ra, nước tung tóe trên sàn. Cửa thông ra lối đi vẫn mở, khẩu shotgun chỉ nằm cách một bước.

Hắn dùng máy sấy tóc để sấy khô bông băng trên vết thương ở chân, cạo râu, mặc quần áo, đi xuống gian bếp, vừa ăn một tô ngũ cốc rưới sữa tươi vừa bước qua căn nhà. Trong phòng khách, hắn dừng lại, nhìn thư từ nằm trên sàn gần khe cửa cái. Hắn đặt cái tô và chiếc muỗng lên mặt bàn, cúi nhặt xấp thư và xem qua từng phong bì. Hắn ngồi trên ghế gần cửa cái, mở hóa đơn điện thoại.

Hắn liếc nhanh danh sách các cuộc gọi. Ở phần giữa là văn phòng Cảnh sát trưởng của hạt Terrell. Hắn xếp lại tờ hóa đơn, cho vào phong bì trở lại và đút phong bì vào túi áo. Rồi hắn lại nhìn qua xấp thư. Hắn đứng dậy, đi vào gian bếp, cầm lấy khẩu shotgun trên bàn, rồi trở lại đứng ở chỗ cũ. Hắn bước đến chiếc bàn gỗ xà cừ rẻ tiền, mở ngăn kéo trên cùng ra. Ngăn kéo chứa đầy thư từ. Hắn đặt khẩu shotgun xuống, ngồi trên chiếc ghế, rút các xấp phong bì ra đặt trên mặt bàn rồi bắt đầu xem qua.

Moss qua đêm trong một motel rẻ tiền ở rìa thị trấn, ngủ khỏa thân trên giường trong khi quần áo mới treo trong tủ. Khi anh thức giấc, mặt trời đang tạo những cái bóng dài trên bãi đỗ xe. Anh ngồi dậy, ngồi bên thành giường. Một vết máu đỏ nhạt lớn bằng bàn tay trên vải giường. Có một cái túi giấy trên bàn ngủ đựng mấy món anh mua ở nhà thuốc trong thị trấn. Anh nhấc lấy cái túi rồi cà nhắc đi vào phòng tắm. Anh tắm dưới vòi bông sen, cạo râu, chải răng lần đầu tiên trong năm ngày qua, rồi ngồi trên thành bồn cầu mà băng bó lại vết thương. Rồi anh mặc quần áo và kêu taxi.

Khi anh đang đứng đợi trước văn phòng motel, chiếc taxi chạy đến. Anh bước vào băng ghế sau, thở dốc, rồi đóng cửa xe lại. Anh nhìn khuôn mặt người tài xế taxi qua kính chiếu hậu, hỏi: “Anh có muốn kiếm tí tiền không?”

“Ờ. Tôi muốn kiếm tí tiền.”

Moss rút ra năm tờ trăm đô, xé tất cả ra làm hai rồi đưa phân nửa cho người tài xế. Anh ta đếm các tờ giấy bạc bị xé, nhét vào túi áo, nhìn Moss qua kính chiếu hậu rồi chờ đợi.

“Tên anh là gì?”

Người tài xế taxi đáp: “Paul.”

“Paul, anh có tác phong đúng mực. Tôi sẽ không gây rắc rối cho anh. Tôi chỉ muốn anh đừng bỏ tôi ở nơi mà tôi không muốn bị bỏ rơi.”

“Được rồi.”

“Anh có đèn bấm không?”

“Có. Tôi có đèn bấm.”

“Cho tôi mượn.”

Người tài xế taxi trao cho anh đèn bấm.

Moss nói: “Anh được lắm.”

“Ta đi đâu?”

“Đường đến bờ sông.”

“Tôi không muốn đón ai.”

“Ta không đón ai cả.”

Người tài xế taxi nhìn Moss qua kính chiếu hậu: “Không có drogas* chớ?”

“Không có drogas.”

Tài xế chờ đợi.

“Tôi đi lấy một chiếc cặp. Nó là của tôi. Anh có thể nhìn bên trong nếu muốn. Không vi phạm pháp luật gì cả.”

“Tôi có thể nhìn bên trong?”

“Đúng, anh có thể.”

“Tôi mong anh đừng lừa tôi.”

“Không.”

“Tôi muốn có tiền nhưng càng muốn tránh xa nhà tù hơn.”

Moss đáp: “Đó cũng là cung cách của tôi.”

Chiếc taxi chạy chầm chậm trên con đường dẫn đến cây cầu. Moss nghiêng người về phía trước, nói: “Tôi muốn anh đậu xe bên dưới cầu.”

“Được rồi.”

“Tôi muốn tháo cái bóng đèn trên trần xe.”

Người tài xế taxi nói: “Người ta tuần tra con đường này đêm ngày.”

“Tôi biết.”

Người tài xế taxi đỗ xe bên vệ đường, tắt máy và đèn xe, nhìn Moss qua kính chiếu hậu. Moss tháo bóng đèn ra, trao cho tài xế rồi mở cửa xe. Anh nói: “Khoảng vài phút tôi sẽ quay lại.”

Bãi lau lách bám đầy bụi, các thân cây mọc dày đặc. Anh cẩn thận vạch lối đi, giữ đèn bấm ngang đầu gối, bàn tay che một phần mặt kính.

Chiếc cặp da vẫn còn nguyên như thể có người đặt nằm ở đấy. Anh tắt đèn bấm, nhấc lấy chiếc cặp, tìm đường quay lại trong bóng tối, dọ dẫm hướng đi bằng nhịp cầu phía trên. Khi đến chiếc taxi, anh mở cửa xe, đặt chiếc cặp da trên băng ghế, cẩn thận luồn người vào rồi đóng cửa xe lại. Anh trao đèn bấm lại cho tài xế, ngả người ra sau, nói: “Ta đi.”

Người tài xế hỏi: “Cái gì trong đó?”

“Tiền.”

“Tiền hả?”

“Tiền.”

Người tài xế nổ máy, chạy lên đường.

Moss nói: “Bật đèn xe lên.”

Anh ta bật đèn xe lên.

“Bao nhiêu tiền?”

“Rất nhiều tiền. Anh tính bao nhiêu để đưa tôi tới San Antonio?”

Người tài xế suy nghĩ. “Ý ông nói là ngoài năm trăm đô hả?”

“Đúng.”

“Tất cả là một ngàn được không?”

“Tất cả hả?”

“Đúng.”

“Vậy thì được.”

Người tài xế gật đầu. “Còn phân nửa năm trăm kia thì sao?”

Moss móc trong túi ra phần còn lại của năm tờ trao cho tài xế.

“Nếu cớm Migra* chận xe lại thì sao?”

Moss đáp: “Họ sẽ không chận xe.”

“Làm sao ông biết?”

“Có quá nhiều chuyện lôi thôi ở cuối đường mà tôi phải đối phó. Nó sẽ không chấm dứt ở đây.”

“Tôi hy vọng ông đúng.”

Moss nói: “Cứ tin nơi tôi.”

Người tài xế nói: “Tôi ghét nghe câu đó.”

“Anh đã từng nói với người ta chưa?”

“Có. Tôi đã nói. Chính vì vậy mà tôi biết câu đó vô nghĩa ra sao.”

Moss qua đêm trong motel Rodeway Inn nằm kế xa lộ 90 ở ngoài hướng đông thị trấn. Buổi sáng, anh đi xuống mua một tờ báo rồi nhọc nhằn leo lên phòng mình. Anh không thể mua súng từ cửa hiệu vì không có giấy tờ, nhưng có thể mua qua quảng cáo trên báo. Khẩu Tec-9* thêm hai băng đạn và một hộp rưỡi đạn. Anh trả tiền mặt cho người giao hàng. Anh xoay xoay khẩu súng trong lòng bàn tay. Lớp mạ màu xanh lục nhạt. Bán tự động. Anh hỏi: “Lần sau cùng anh bắn khẩu súng này là khi nào?”

“Tôi chưa từng bắn.”

“Anh có chắc nó bắn được không?”

“Sao lại không được?”

“Tôi không biết.”

“Vậy thì tôi cũng không biết.”

Sau khi người giao hàng ra về, Moss kẹp một chiếc gối của motel dưới nách, bước ra đồng cỏ phía sau. Anh quấn chiếc gối quanh họng súng rồi bắn ba phát. Anh đứng nhìn những cánh lông từ chiếc gối bay lả tả trên vùng đồng cỏ xám, nghĩ ngợi về đời mình, về những gì đã qua và những gì sắp đến. Rồi anh vứt chiếc gối trên đất, quay người bước chầm chậm về motel.

Anh dừng lại nghỉ mệt ở tiền sảnh rồi lại leo lên phòng mình. Anh ngâm mình trong bồn tắm, nhìn xuống lỗ thoát nước, trông thật xấu xí. Anh tháo bông băng của vết thương trên cánh tay, nhìn đường rãnh sâu do viên đạn khoét qua, rồi đậy bông băng lại. Anh mặc quần áo, nhét thêm vài tờ giấy bạc vào túi quần sau, đặt khẩu súng và các băng đạn vào chiếc cặp da rồi đậy nắp cặp lại. Anh gọi một chiếc taxi, nhấc lấy chiếc cặp rồi bước ra khỏi phòng và đi xuống thang lầu.

Ở điểm bán ô tô trên đường North Broadway, anh mua một chiếc xe bán tải hai cầu hiệu Ford, đời 1978, có động cơ 460, trả bằng tiền mặt, nhận giấy chủ quyền được công chứng cho vào hộc chứa găng tay, rồi lái đi. Anh về đến motel, trả phòng rồi lối đi, khẩu Tec-9 trên nệm ghế, chiếc cặp đựng tiền và túi đựng quần áo nằm trên sàn phía ghế ngồi hành khách.

Gần Boerne, có một cô gái vẫy tay xin đi nhờ. Moss đỗ lại, bấm còi xe, nhìn cô qua kính chiếu hậu. Cô chạy đến, ba lô bằng nhựa màu xanh lam đeo một bên vai. Cô bước vào xe, nhìn anh. Mười lăm hoặc mười sáu tuổi. Tóc đỏ. Cô hỏi: “Ông đi đến tận đâu?”

“Em lái xe được không?”

“Ừ. Em lái được. Không có cần sang số phải không?”

“Không có. Em bước qua bên này.”

Cô gái để ba lô trên nệm ghế, bước ra và đi ngang qua trước đầu xe. Moss nhét ba lô dưới nệm ghế, dịch thân người sang ghế kế bên. Cô bước vào rồi lái lên đường xa lộ liên tiểu bang.

“Em bao nhiêu tuổi?”

“Mười tám.”

“Vờ vịt. Em làm gì ngoài này? Em có biết rằng đi nhờ xe là nguy hiểm không?”

“Ờ. Em biết.”

Anh giở mũ xuống đặt trên nệm ghế kế bên, ngả người ra sau rồi nhắm mắt lại. Anh nói: “Đừng chạy quá tốc độ. Nếu không bọn cớm sẽ chặn xe lại rồi tôi và em sẽ bị rắc rối to.”

“Được rồi.”

“Tôi nói nghiêm túc đó. Nếu em chạy quá tốc độ tôi sẽ quẳng em xuống đường.”

“Được rồi.”

Anh cố dỗ giấc ngủ nhưng không ngủ được. Anh bị đau nhức nhiều. Sau một lúc, anh ngồi dậy, nhặt lấy chiếc mũ đội lên đầu và nhìn qua đồng hồ tốc độ.

Cô gái nói: “Em có thể hỏi ông một việc được không?”

“Em có thể hỏi.”

“Có phải ông đang trốn lánh pháp luật không?”

Moss nhìn qua cô rồi lại nhìn ra bên ngoài xa lộ. “Cái gì khiến em hỏi như vậy?”

“Vì câu ông nói hồi nãy. Về việc bị cảnh sát chặn xe.”

“Nếu vậy thì sao?”

“Vậy thì em phải xuống xe ở đây.”

Moss nói: “Em không nghĩ vậy. Em chỉ muốn biết mình đang đứng ở đâu.”

Cô nhìn anh qua đuôi mắt. Moss nhìn ra quang cảnh bên ngoài. Anh nói: “Nếu em đi với tôi trong ba ngày, tôi có thể bắt em cướp tiền ở trạm xăng. Không có gì là khó.”

Cô cười mỉm, nửa nụ cười lạ lùng. “Ông làm chuyện đó hả? Cướp tiền trạm xăng hả?”

“Không. Tôi không cần làm vậy. Em có đói không?”

“Em ổn.”

“Em dùng bữa lần cuối lúc nào?”

“Em không thích người ta hỏi em dùng bữa lần cuối lúc nào.”

“Được rồi. Em dùng bữa lần cuối lúc nào?”

“Lúc bước lên xe, em đã biết liền ông là người lém lỉnh.”

“Ờ. Em rẽ ra đường kế tiếp. Khoảng bốn dặm. Và trao cho tôi khẩu súng máy đó ở dưới ghế.”

Bell lái xe chầm chậm qua cổng rào bò, bước ra, đóng lại cánh cổng, bước vào chiếc xe bán tải chạy qua đồng cỏ, đỗ lại gần cái giếng, bước ra rồi đi đến thùng chứa nước.

Ông nhúng tay vào nước, vốc nước lên trong lòng bàn tay rồi cho nước chảy xuống. Ông giở mũ xuống, luồn bàn tay ướt qua mái tóc và nhìn lên cối xay gió. Ông nhìn các cánh đang quay chầm chậm giữa đồng cỏ khô xào xạc trong gió. Một bánh xe nhỏ bằng gỗ đang quay dưới chân ông. Rồi ông đứng đấy, các ngón tay vuốt quanh vành mũ. Giống như cử chỉ của một người vừa lo chôn cất ai. Ông lẩm bẩm: “Mình chẳng biết cái chết tiệt gì cả.”

Khi ông trở về nhà, bà đã nấu món xúp chờ ông. Ông ném xâu chìa khóa của chiếc xe vào ngăn kéo trong gian bếp rồi đi đến bồn rửa tay. Vợ ông trao cho ông một mảnh giấy, và ông đứng xem qua.

“Cô ấy có nói đang ở đâu không? Số điện thoại này là ở Texas.”

“Cô ấy chỉ nói tên là Carla Jean rồi cho số điện thoại này.”

Ông gọi điện cho cô. Carla Jean và bà ngoại đang ở trong một motel bên ngoài El Paso. Cô nói: “Tôi cần ông cho biết một chuyện.”

“Được rồi.”

“Lời nói của ông đáng tin không?”

“Đáng tin.”

“Ngay cả đối với tôi chứ?”

“Đặc biệt là đối với bà.”

Ông có thể nghe cô thở mạnh qua điện thoại. Tiếng xe cộ chạy xa xa.

“Cảnh sát trưởng?”

“Vâng, thưa bà.”

“Nếu tôi cho ông biết anh ấy gọi cho tôi từ đâu, thì ông có hứa là sẽ không làm hại anh ấy không?”

“Tôi hứa với bà là tôi sẽ không làm hại ông nhà.”

Sau một lúc, cô nói: “Được.”

Người đàn ông ngồi trên chiếc bàn nhỏ bằng ván ép lấy từ tấm tường đặt trên chân xếp. Anh ta đã viết xong trên một mảnh giấy. Anh ta bỏ ống nghe xuống, đặt trên bàn trước mặt mình rồi đưa hai bàn tay ra phía sau ôm lấy mái tóc đen. Anh ta quay người, nhìn đến người đàn ông thứ hai đang nằm dài trên giường. Ông này hỏi: “Listo?”

Người trên giường ngồi lên, rồi đứng dậy bước đến.

“Anh bắt được chứ?”

“Tôi bắt được.”

Anh ta rứt trang giấy từ quyển tập đưa cho ông. Ông xem qua, gấp mảnh giấy lại, cho vào túi áo. Rồi ông mở cánh cửa tủ nhà bếp, lấy ra một khẩu bán tự động sơn hoa văn ngụy trang và hai băng đạn, đẩy cánh cửa bước ra rồi đóng cánh cửa lại. Ông bước qua khoảng sân trải sỏi đến một chiếc Barracuda Plymouth màu đen đang đỗ, mở cửa xe, đặt khẩu bán tự động lên nệm ghế kế bên, chui vào xe và mở máy. Ông bật đèn xe, chuyển sang số hai rồi chạy ra đường, lốp xe kêu ken két và để lại một đám khói phía sau.

giả: Diệp Minh Tâm KHÔNG CHỐN NƯƠNG THÂN ebook©MotSAch —★— tve-4u.org Nhà xuất bản Hội nhà văn - 2010
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.