Khi Bell bước vào quán café vào buổi sáng thứ Tư thì trời vừa hừng đông. Ông nhận lấy tờ báo rồi đi về bàn mình ở một góc. Những người ngồi ở chiếc bàn to đều gật đầu với ông, nói “Chào Cảnh sát trưởng.” Cô hầu bàn mang cà phê đến cho ông rồi đi vào bếp đặt làm món trứng. Ông ngồi khuấy ly cà phê với một chiếc muỗng dù rằng không có gì để khuấy vì ông uống cà phê đen không đường. Bức ảnh đứa con trai của Haskins được đăng trên trang nhất của tờ báo ở Austin. Bell đọc bài báo mà lắc đầu. Vợ của Haskins mới hai mươi tuổi. “Bạn có biết mình phải làm gì giúp cô ấy không? Chả giúp được cái quái gì cả.” Đã hơn hai mươi năm nay, Lamar chưa từng mất một người dưới quyền. Ông vẫn nhớ điều này. Điều này làm cho người ta nhớ mãi đến ông.
Cô hầu bàn mang món trứng đến. Bell gấp tờ báo lại, đặt qua một bên.
Bell dẫn Wendell theo. Họ lái xe xuống Desert Aire, đứng trước thềm nhà của Moss khi Wendell gõ cửa.
Bell nói: “Hãy nhìn ổ khóa.”
Wendell rút ra khẩu súng lục, mở cánh cửa. Anh gọi: “Sở Cảnh sát.”
“Không có ai ở đây.”
Bell nói: “Không có lý do để sơ suất.”
“Đúng vậy. Chẳng có lý do nào trên đời này.”
Họ bước vào. Wendell định tra khẩu súng lại vào bao súng nhưng Bell ngăn lại. Ông nói: “Phải theo thói quen cẩn thận.”
“Dạ, thưa sếp.”
Ông bước đến, cúi nhặt một thỏi đồng nhỏ trên thảm và giơ lên.
Wendell hỏi: “Cái gì vậy?”
“Cái xy-lanh từ ổ khóa.”
Bell xoa tay trên mặt tấm ván ép ngăn đôi căn phòng. Ông nói: “Đây là chỗ nó va vào.” Ông nắm thỏi đồng trong bàn tay và nhìn ra phía cánh cửa. “Anh có thể cân món này, đo khoảng cách, chiều cao và tính ra vận tốc.”
“Tôi nghĩ mình tính được.”
“Vận tốc khá cao.”
“Dạ, thưa sếp. Vận tốc khá cao.”
Họ bước qua các phòng.
“Sếp nghĩ gì?”
Bell nói: “Tôi tin là họ đã bỏ đi rồi.”
“Tôi cũng nghĩ vậy.”
“Có vẻ như rất vội nữa.”
“Dạ.”
Ông bước vào gian bếp, mở cánh cửa tủ lạnh, nhìn vào, rồi đóng lại. Ông nhìn vào tủ đông.
“Vậy anh ta đã ở đây khi nào, hở sếp?”
Bell nói: “Khó mà nói được. Có lẽ mình vừa vuột mất anh ta.”
“Sếp nghĩ anh chàng này có biết mấy tên khốn kiếp đang truy lùng mình là hạng người nào không?”
“Tôi không rõ. Anh ta hẳn phải biết. Anh ta đã thấy mọi thứ như tôi đã thấy và tôi có ấn tượng mạnh.”
“Họ đang bị rắc rối to, phải không?”
“Đúng thế.”
Bell bước trở ra phòng khách. Ông ngồi trên ghế bành. Wendell đứng giữa lối đi. Anh vẫn còn cầm khẩu súng trên tay. Anh hỏi: “Sếp đang nghĩ gì?”
Bell lắc đầu. Ông không nhìn lên.
Đến ngày thứ Tư, như thể phân nửa nhân sự của bang Texas đã đổ về Sanderson. Bell đang ngồi ở bàn ông trong quán café và đọc tin. Ông hạ tờ báo xuống và nhìn lên. Một người trạc ba mươi tuổi mà ông chưa từng quen biết đang đứng trước mặt ông. Anh này tự giới thiệu là phóng viên cho tờ báo San Antonio Light. Anh hỏi: “Có chuyện gì thế hở ông Cảnh sát trưởng?”
“Có vẻ như là tai nạn săn bắn.”
“Tai nạn săn bắn à?”
“Đúng.”
“Làm thế nào đó lại là tai nạn săn bắn? Ông giễu cợt tôi!”
“Cho tôi hỏi anh một chuyện.”
“Được.”
“Năm rồi có mười chín vụ trọng án được mang ra xử ở Tòa án hạt Terrell. Anh biết có bao nhiêu vụ không liên quan đến ma túy?”
“Tôi không biết.”
“Hai vụ. Trong khi đó tôi đang phụ trách một hạt rộng bằng Delaware* với đầy những người cần đến tôi trợ giúp. Anh nghĩ sao về điều này?”
“Tôi không biết.”
“Tôi cũng không biết. Bây giờ, ở đây tôi phải dùng bữa sáng. Tôi có cả một ngày tất bật trước mặt.”
Bell đi cùng Torbert trên chiếc xe bán tải hai cầu của anh này. Tất cả đều giống như khi họ rời đi lúc trước. Hai người đỗ xe cách chiếc xe của Moss một quãng. Torbert nói: “Là mười.”
“Cái gì?”
“Là mười. Người chết. Chúng ta đã quên ông già Wyrick. Mười người chết.”
Bell gật đầu. Ông nói: “Đấy là con số mình được biết.”
“Vâng, sếp. Đấy là mình được biết.”
Chiếc trực thăng bay đến, lượn vòng rồi đáp xuống giữa đám bụi xoáy quanh trên khoảng đồng bằng lũ tích. Chưa có ai bước xuống. Họ còn chờ cho đám bụi bay đi. Bell và Torbert nhìn cánh quạt quay chậm dần.
Đặc vụ DEA* tên là McIntyre. Bell biết sơ qua ông này và cũng có phần mến ông nên thấy đáng để gật đầu chào. McIntyre bước về phía hai người, tấm bìa kẹp giấy tờ ghi chú trong tay. Ông mang giày cao cổ, đội mũ, mặc áo vét vải dày, trông đâu vào đấy cho đến khi mở miệng.
“Chào Cảnh sát trưởng Bell.”
“Chào Đặc vụ McIntyre.”
“Đây là xe gì thế?”
“Xe bán tải Ford đời 72.”
McIntyre đứng nhìn ra khoảng đồng bằng lũ tích. Ông cầm tấm bìa đập vào ống chân. Ông nhìn qua Bell: “Tôi vui mà được biết thế. Màu trắng.”
“Tôi có thể nói màu trắng. Đúng.”
“Có thể dùng một bộ lốp xe.”
Ông bước vòng quanh chiếc xe. Ông ghi chú trên tấm bìa. Ông nhìn vào phía trong. Ông gấp chiếc ghế về phía trước và nhìn phía sau.
“Ai đã cắt các lốp xe?”
Hai tay bỏ vào túi quần, Bell đứng nghiêng người nhổ nước bọt. “Phụ tá Hays đây tin là do băng nhóm thù nghịch.”
“Băng nhóm thù nghịch?”
Bell nói: “Đúng thế.”
McIntyre nói: “Tôi đã nghĩ mấy chiếc xe này bị bắn.”
“Đúng là bị bắn.”
“Nhưng chiếc này thì không.”
“Chiếc này thì không.”
McIntyre nhìn về phía chiếc trực thăng và nhìn xuống khoảng đồng bằng lũ tích hướng về phía các chiếc xe kia. “Tôi có thể đi nhờ xe cùng anh đến đấy được không?”
“Được chứ.”
Hai người đi về phía chiếc xe của Torbert. Viên đặc vụ nhìn qua Bell, lại cầm tấm bìa đập vào ống chân. “Anh nhất quyết làm cho ra lẽ chuyện này, phải không?”
Bell nói: “Chết thật, McIntyre ạ. Tôi đang dây dưa vào việc của anh.”
Họ đi vòng quanh trên khoảng đồng bằng lũ tích, quan sát các chiếc xe đã bị bắn. McIntyre đưa một chiếc khăn tay lên mũi. Các xác chết đã trương sình. Ông nói: “Đây gần như là cảnh tượng kinh khủng nhất mà tôi từng thấy.”
Ông đứng ghi chú trên tấm bìa. Ông bước ra xa, vẽ phác quang cảnh, ghi chép các bảng số xe.
Ông hỏi: “Không có súng ở đây à?”
Bell nói: “Không nhiều đến mức đáng lẽ phải có. Chúng tôi thu được hai khẩu làm vật chứng.”
“Anh nghĩ họ đã chết được bao lâu?”
Bell nói: “Bốn hoặc năm ngày.”
“Hẳn có người đã thoát đi.”
Bell gật đầu: “Có một xác khác cách đây khoảng một dặm.”
McIntyre nói: “Có bạch phiến đổ ra phía sau chiếc Bronco đó.”
Bell nói: “Vâng.”
Torbert nói: “Loại bạch phiến của Mexico.”
Bell nhìn qua Torbert. Torbert nghiêng người nhổ nước bọt, rồi nói: “Nếu bạch phiến biến mất và tiền biến mất thì tôi đoán có một người nào đó cũng biến mất.”
McIntyre nói: “Tôi thấy anh đoán đúng lý.”
McIntyre tiếp tục ghi chép. Ông nói: “Đừng lo. Tôi biết các anh chưa nắm hết tình tiết.”
Bell nói: “Tôi không lo.”
McIntyre chỉnh lại chiếc mũ, đứng nhìn về các chiếc xe. “Dân vệ* có đến đây không?”
Bell nói: “Họ đang đến. Hoặc là đơn vị chống ma túy.”
“Tôi nhận ra các loại đạn .380, .45, chín mi-li-mét dùng cho loại kép đạn Parabellum*, cỡ 12 và loại đặc biệt .38. Còn gì nữa không?”
“Tôi nghĩ chỉ có thế.”
McIntyre gật đầu. “Tôi đoán những người đang chờ nhận ma túy bây giờ thấy rằng hàng không đến. Còn Lực lượng Biên phòng thì sao?”
Bell nói: “Theo tôi biết thì các đơn vị đều đang đến. Tôi nghĩ sẽ náo nhiệt đây. Có thể còn đông hơn trong trận lụt vào năm 65.”
“Ừ.”
“Cái ta cần là để mang mấy xác chết ra khỏi đây.”
McIntyre cầm tấm bìa đập vào ống chân. Ông nói: “Không phải chiếc xe đằng kia.”
Torbert nói: “Chín mi-li-mét parabellum.”
Bell gật đầu: “Anh cần ghi vào hồ sơ chi tiết này.”
Chigurh nhận được tín hiệu từ thiết bị định vị* phát qua nhịp dài của cầu Sông Devil phía tây Del Rio. Đã gần nửa khuya. Không có chiếc xe nào chạy trên xa lộ. Hắn đưa tay qua băng ghế kế bên, chầm chậm vặn chiếc nút qua lại, lắng nghe.
Ánh đèn pha soi rọi một con chim lớn nào đấy đang đậu trên hàng rào chắn của cây cầu phía trước. Chigurh bấm cái nút để hạ tấm kính cửa xe xuống. Gió lạnh lùa vào từ mặt hồ. Hắn rút ra khẩu súng lục, lên cò rồi chĩa ra ngoài cửa sổ, để nòng súng tựa lên kính chiếu hậu. Khẩu súng được trang bị bộ phận hãm thanh ở phía cuối nòng. Bộ phận hãm thanh được làm bằng vòi khí đốt lắp trong một cái lon xịt tóc, tất cả được nhồi với vật liệu cách âm sợi thủy tinh và được sơn màu đen tuyền. Hắn nổ một phát khiến cho con chim chúc xuống và giang rộng đôi cánh.
Con chim xòe cánh trong vùng ánh sáng, thật trắng, đảo vòng rồi cất mình lên trong khoảng tối tăm. Viên đạn bắn trúng hàng rào chắn, bật đi trong đêm đen. Hàng rào chắn vang tiếng trầm trầm rồi tắt hẳn. Chigurh đặt khẩu súng trên nệm ghế rồi đẩy tấm kính cửa xe lên.
Moss trả tiền cho tài xế, bước ra phía trước văn phòng motel, quàng chiếc túi ngang vai, đóng lại cửa xe rồi quay người bước vào. Người phụ nữ đang ở phía sau quầy. Anh đặt chiếc túi xuống sàn, đứng tựa vào quầy. Cô có vẻ phấn khởi. Cô nói: “Chào ông. Ông định lưu lại một thời gian phải không?”
“Tôi cần một phòng khác.”
“Ông muốn đổi phòng hay muốn có thêm một phòng ngoài phòng ông đang ở?”
“Tôi muốn giữ phòng đang có và nhận thêm một phòng khác.”
“Được rồi.”
“Cô có bản đồ của motel không?”
Cô gái lục tìm phía dưới quầy. “Có một tấm loại như thế. Chờ một phút. Tôi nghĩ nó đây.”
Cô đặt một tờ bướm cũ kỹ lên mặt quầy. Tờ bướm cho thấy một chiếc xe thời thập niên năm mươi đỗ phía trước. Anh mở tờ bướm ra, vuốt cho thẳng thớm rồi nghiên cứu.
“Phòng một trăm bốn mươi hai được không?”
“Nếu muốn, ông có thể nhận phòng kế bên phòng hiện giờ. Một trăm hai mươi.”
“Được rồi. Phòng một trăm bốn mươi hai thì sao?”
Cô với lấy chìa khóa từ tấm bảng phía sau. Cô nói: “Ông còn thiếu tiền phòng hai đêm.”
Anh trả tiền, nhấc lấy chiếc túi, bước ra và đi dọc hành lang ra phía sau motel. Cô đứng tựa mặt quầy nhìn anh bước đi.
Trong phòng, anh ngồi trên giường với tấm bản đồ trải rộng. Anh đi vào phòng tắm, đứng trong bồn tắm, đặt tai sát bức tường. Âm thanh TV vọng đến từ đâu đấy. Anh bước ra, ngồi xuống mở khóa kéo chiếc túi, lấy ra khẩu shotgun đặt qua một bên, rồi trút các món khác ra trên mặt giường.
Anh lấy cây vặn vít, dời chiếc ghế bên bàn đến, đứng lên, mở tấm vỉ che ống dẫn hơi, bước xuống, đặt tấm vỉ trên giường. Rồi anh lại đứng lên, đặt tai vào ống dẫn hơi, lắng nghe. Anh bước xuống, lấy đèn bấm rồi lại đứng lên.
Có một điểm giao cắt trong đường ống, và cách quãng hơn ba mét anh có thể thấy phần cuối của chiếc túi nhô ra. Anh tắt đèn, đứng lắng nghe. Anh nhắm hai mắt lại để cố thu nhận mọi âm thanh.
Anh bước xuống, cầm lấy khẩu shotgun đi đến cánh cửa, tắt đèn, đứng trong bóng tối nhìn qua màn cửa đến khoảnh sân bên ngoài. Rồi anh trở lại, đặt khẩu shotgun trên giường, bật đèn bấm lên.
Anh mở cái túi nhựa, trút các cây cọc ra. Đấy là những ống nhẹ bằng nhôm, dài gần một mét. Anh ráp ba ống lại với nhau, dùng băng dính dán quanh các điểm nối. Anh đi đến tủ quần áo lấy ba chiếc móc áo rồi đến ngồi trên giường, dùng kềm cắt ba cái móc rồi dùng băng keo dán để ghép ba cái móc lại với nhau. Anh dán cả ba cái móc vào đầu cây cọc, đứng lên luồn cây cọc vào ống dẫn hơi.
Anh tắt đèn bấm, đặt lên giường, trở lại cửa sổ nhìn ra bên ngoài. Tiếng rầm rì của một chiếc xe tải chạy trên xa lộ. Anh chờ cho chiếc xe chạy khuất. Một con mèo chạy ngang khoảnh sân, dừng lại rồi chạy tiếp.
Anh đứng lên chiếc ghế với đèn bấm trong tay, bật đèn lên, đặt ngọn đèn chĩa vào thành kim loại mạ của ống dẫn hơi để giảm ánh sáng, đẩy cây cọc vào ống dẫn hơi đi qua chiếc cặp, xoay vòng rồi kéo cây cọc lại. Cái móc vướng vào chiếc cặp một chút rồi sút ra. Anh làm đi làm lại vài lần, cuối cùng cái móc móc vào dây quai của chiếc cặp. Anh nhẹ nhàng kéo cái cọc ra cho đến lúc anh nắm được chiếc cặp.
Anh bước xuống, ngồi trên ghế, lau lớp bụi trên chiếc cặp, mở hai chốt cài, tháo lỏng hai sợi dây buộc, mở nắp chiếc cặp và xem xét các xấp giấy bạc. Anh lấy ra một xấp, lật qua các tờ giấy bạc. Rồi anh xếp xấp giấy bạc trở lại vào chiếc cặp, tháo sợi dây buộc, tắt đèn bấm và ngồi nghe ngóng. Anh đứng lên, đẩy các cây cọc vào ống dẫn hơi, đậy tấm vỉ lại, thu xếp các vật dụng. Anh đặt chiếc chìa khóa trên bàn, đặt khẩu shotgun và các vật dụng vào chiếc túi, cầm lấy chiếc túi và chiếc cặp da và bước ra khỏi cửa, để lại mọi thứ ở cùng tình trạng như lúc trước.
Chigurh lái xe chầm chậm dọc theo dãy phòng motel trong khi cửa kính xe được kéo xuống và bộ thu sóng nằm trên lòng. Đến đoạn cuối, hắn quay xe chạy trở lại. Hắn dừng xe, lùi chiếc Ramcharger lại một tí rồi dừng. Cuối cùng, hắn lái xe vòng quanh văn phòng, đỗ xe lại và bước vào.
Đồng hồ trên tường văn phòng chỉ mười hai giờ bốn mươi hai phút. TV vẫn mở nhưng người phụ nữ có vẻ như ngái ngủ. Cô hỏi: “Thưa ông, tôi có thể giúp gì được không?”
Hắn nhận chiếc chìa khóa cho vào túi áo, đi ra khỏi văn phòng, bước vào chiếc Ramcharger, lái vòng quanh tòa nhà, đỗ lại, bước đến căn phòng với chiếc túi đựng bộ thu sóng và các khẩu súng. Khi vào phòng, hắn đặt chiếc túi lên giường, tháo ra đôi giày cao cổ, trở ra với bộ thu sóng, bộ pin và khẩu shotgun lấy từ chiếc xe. Khẩu shotgun thuộc loại Remington bán tự động với cỡ nòng mười hai và báng súng bằng nhựa. Đầu nòng súng được gắn ống hãm thanh thô sơ dài ba tấc và đường kính lớn bằng lon bia. Hắn mang đôi bít tất bước dọc hành lang, lắng nghe tín hiệu khi đi qua các phòng.
Hắn quay lại căn phòng, đứng ở cánh cửa mở dưới ánh sáng trắng bệch từ một ngọn đèn ở bãi đỗ xe. Hắn đi vào phòng tắm, bật bóng đèn ở đây. Hắn nhìn quanh phòng, quan sát các đồ vật, tính toán vị trí công tắc điện. Rồi hắn đứng giữa phòng quan sát tất cả chung quanh một lần nữa. Hắn ngồi, mang vào đôi giày cao cổ, nhấc lấy lọ khí vắt qua vai, cầm lấy khẩu súng hơi bắn bò rồi bước ra đi đến phòng kia.
Hắn đứng nghe ngóng ngoài cánh cửa. Rồi hắn dùng khẩu súng hơi bắn bò bắn ổ khóa cho xy-lanh rơi xuống rồi đá cánh cửa mở ra.
Một người Mễ ngồi bật dậy trên giường, tay với lấy khẩu súng máy bên cạnh. Chigurh bắn anh ta ba phát liên tiếp nhanh đến nỗi nghe như một tiếng nổ dài khiến cho nửa thân trên anh Mễ bị nát vương vãi trên đầu giường và bức tường phía sau. Khẩu shotgun tạo ra tiếng bình bịch trầm nghe lạ kỳ. Giống như có người ho trong một cái thùng. Hắn bật đèn lên, bước ra lối đi, đứng tựa lưng vào bức tường phía ngoài. Hắn nhìn nhanh vào bên trong. Cánh cửa phòng tắm lúc trước đã đóng nhưng bây giờ mở ra. Hắn bước vào trong phòng, bắn hai phát vào cánh cửa và một phát qua bức tường, rồi lại bước ra. Một luồng ánh sáng lọt ra từ phía cuối căn phòng. Chigurh đứng chờ. Rồi hắn lại nhìn vào trong phòng. Cánh cửa đã bị bắn thành từng mảnh ván ép vỡ vụn còn dính vào bản lề, và một dòng máu đã bắt đầu chảy trên sàn gạch phòng tắm màu hồng.
Hắn bước vào lối đi, bắn thêm hai phát qua bức tường phòng tắm, rồi bước vào với khẩu shotgun cầm ngang thắt lưng. Người đàn ông đang nằm gục dựa bồn tắm, tay cầm khẩu AK-47. Anh ta bị bắn vào ngực và cổ, đang chảy máu xối xả. Hắn khò khè nói: “Đừng giết tôi. Đừng giết tôi.” Chigurh bước lùi lại để tránh mảnh vụn của bồn tắm bằng men rồi bắn vào mặt anh ta.
Hắn bước ra, đứng trên vỉa hè. Không có bóng người. Hắn đi vào, lục soát căn phòng. Hắn nhìn vào tủ quần áo, nhìn dưới gầm giường, mở ra tất cả ngăn kéo. Hắn nhìn vào phòng tắm. Khẩu súng lục tự động H&K của Moss nằm trong bồn rửa mặt. Hắn vẫn để khẩu súng ở đấy. Hắn chùi hai chân tới lui trên mặt thảm để lau lớp máu vấy dưới đế đôi giày cao cổ, đứng nhìn khắp căn phòng. Rồi đôi mắt hắn bắt gặp ống dẫn hơi.
Hắn nhấc cây đèn kế bên giường ngủ, giật dây điện rời ra, bước lên bàn ngủ, lấy đáy đèn đập cho thủng tấm vỉ, kéo tấm vỉ xuống rồi nhìn vào bên trong. Hắn có thể nhìn thấy dấu vết của một vật gì đấy được kéo đi. Hắn bước xuống, đứng đấy. Chiếc áo hắn vấy máu và những mảnh mô của cơ thể người từ bức tường. Hắn cởi áo ra, đi vào phòng tắm, cọ rửa rồi dùng một khăn tắm lau người. Rồi hắn nhúng ướt chiếc khăn để lau đôi giày, gấp chiếc khăn lại để lau hai ống quần. Hắn nhấc khẩu shotgun lên, bước ra, vẫn mình trần, chiếc áo được vo vào một cuộn trong tay. Hắn lại lau đế giày trên thảm, nhìn quanh căn phòng một lần cuối rồi bước ra.
Khi Bell bước vào văn phòng, Torbert ngồi ở bàn viết nhìn lên, đứng dậy, bước vòng và đặt một tờ giấy trước mặt Bell.
Bell hỏi: “Chỉ có thế hở?”
“Dạ, thưa sếp.”
Bell ngả người trên ghế để đọc, ngón tay trỏ chầm chậm khỏ môi dưới. Sau một lúc, ông đặt bản báo cáo xuống. Ông không nhìn đến Torbert. Ông nói: “Tôi biết những gì đã xảy ra ở đấy.”
“Dạ.”
“Anh đã từng đi đến lò sát sinh chưa?”
“Có, thưa sếp.”
“Thế thì anh biết ra sao rồi.”
“Tôi đến đó khi còn nhỏ.”
“Dẫn một đứa trẻ vào đó là chuyện lạ đời.”
“Tôi tự đi. Lẻn vào.”
“Họ giết con bò thịt như thế nào?”
“Họ có một người đứng ngang cái máng, rồi họ dẫn từng con bò vào, và người này cầm một cây vồ đập vào đầu con bò. Ông ta làm việc này cả ngày.”
“Nghe gần đúng thế. Bây giờ họ không làm như vậy nữa. Họ dùng một khẩu súng hơi để bắn ra một thanh thép. Chỉ bắn ra xa đến chừng này. Họ chĩa miệng súng giữa hai mắt con bò rồi bóp cò và con bò gục xuống. Nhanh là thế.”
Torbert đang đứng kế một góc bàn của Bell. Anh chờ một phút cho viên Cảnh sát trưởng nói tiếp, nhưng ông im lặng. Torbert vẫn đứng đấy. Rồi anh quay mặt đi. Anh nói: “Ước gì ông đừng kể cho tôi nghe.”
Bell nói: “Tôi biết. Trước khi anh nói ra tôi đã biết anh sẽ nói gì.”
Moss đi đến Eagle Pass* lúc hai giờ khuya kém mười lăm. Anh đã ngủ trong phần lớn chặng đường trên chiếc taxi, và chỉ thức dậy khi chiếc xe tách ra khỏi xa lộ và chạy xuống phố Main*. Anh nhìn bầu ánh sáng trắng nhạt của những ngọn đèn đường chạy dọc rìa trên cửa kính xe.
Tài xế hỏi: “Ông muốn đi qua sông phải không?”
“Không. Chỉ cần đưa tôi đến trung tâm thị trấn.”
“Ông đang ở trung tâm thị trấn.”
Moss nghiêng người tới trước với hai khuỷu tay tựa trên băng ghế.
“Cái gì ở đây vậy?”
“Đó là Tòa án hạt Maverick.”
“Không. Ngay ở đây, chỗ có tấm bảng.”
“Đó là Khách sạn Eagle.”
“Cho tôi xuống đây.”
Anh trả cho tài xế năm mươi đô như hai người đã đồng ý lúc trước, nhấc lấy hai chiếc túi, đi lên các bậc thang đến cửa chính rồi bước vào. Người nhân viên lễ tân đứng ở quầy như đang chờ đợi anh.
Anh trả tiền, cho chìa khóa vào túi áo, bước lên các bậc thang, đi dọc theo hành lang cũ kỹ của khách sạn. Bầu không khí im lặng chết chóc. Không có ánh sáng từ các ô cửa nhỏ. Anh tìm đến căn phòng, tra chìa khóa vào ổ khóa, mở cửa ra, bước vào rồi đóng cánh cửa lại. Ánh sáng từ các ngọn đèn đường soi rọi qua các tấm màn cửa bằng the ở khung cửa sổ. Anh đặt hai chiếc túi trên mặt giường, trở ra phía cánh cửa để bật lên bóng đèn trên trần. Công tắc đèn theo kiểu cũ, có nút bấm vào. Bàn ghế bằng gỗ sồi theo kiểu đầu thế kỷ trước. Tường sơn màu nâu. Cũng tấm trải giường bằng vải dày.
Anh ngồi trên giường suy nghĩ về những sự việc vừa qua. Anh đứng dậy, bước đến khung cửa sổ nhìn ra bãi đỗ xe, rồi đi vào phòng tắm lấy một ly nước, trở vào và lại ngồi trên giường. Anh hớp một ít nước rồi đặt ly nước trên mặt bàn nhỏ bằng gỗ cạnh đầu giường. Anh lẩm bẩm: “Không có cách chết tiệt nào tốt toàn vẹn.”
Anh tháo lỏng hai sợi dây buộc của chiếc cặp da, mở hai chốt cài, lấy ra các xấp giấy bạc đặt trên mặt giường. Khi chiếc cặp đã rỗng, anh xem xét tìm kiếm ngăn bí mật ở đáy và hai bên, rồi đặt chiếc cặp qua một bên. Anh nhấc từng xấp giấy bạc, lật nhanh qua từng xấp rồi đặt lại tất cả vào trong chiếc cặp. Anh vừa chất đầy được một phần ba chiếc cặp thì tìm thấy thiết bị định vị.
Các tờ giấy bạc ở phần giữa của một xấp đã được cắt ở khoảnh trung tâm để chứa thiết bị định vị lớn bằng chiếc bật lửa Zippo*. Anh tháo tấm băng keo, nhấc thiết bị ra, đặt trong lòng bàn tay. Rồi anh đặt nó vào ngăn kéo, đứng dậy, mang các tờ giấy bạc bị cắt và dải băng keo vào phòng tắm, cho vào bồn cầu, dội nước, rồi trở ra ngoài. Anh gấp lại các tờ giấy bạc rời, cho vào túi, xếp lại các xấp giấy bạc vào chiếc túi, đặt chiếc túi trên ghế, rồi ngồi mà nhìn chiếc cặp da. Anh nghĩ ngợi nhiều điều, nhưng một điều luôn vương vấn anh là đến một lúc nào đấy anh sẽ không thể trốn lánh nhờ may mắn được nữa.
Anh rút khẩu shotgun từ chiếc túi ra, để trên giường và vặn đèn ngủ lên. Anh đi đến cánh cửa, tắt bóng đèn trên trần, quay lại, nằm duỗi người trên giường mà nhìn lên trần nhà. Anh biết chuyện gì sẽ đến. Có điều anh không biết lúc nào. Anh đứng dậy, đi vào phòng tắm, nắm sợi dây để bật bóng đèn phía trên bồn rửa mặt, nhìn bóng hình mình trong gương. Anh rút một chiếc khăn treo trên thanh ngang bằng kính, vặn nước nóng tẩm ướt chiếc khăn, vắt bớt nước, rồi lau mặt và phía sau cổ. Anh tắt đèn, đi ra ngoài ngồi trên giường. Anh đã có ý nghĩ rằng có lẽ mình sẽ chẳng bao giờ được an thân trong đời, và tự hỏi có phải đấy là điều mà mình sẽ quen dần hay không. Và nếu mình quen dần thì sao?
Anh trút mọi thứ trong chiếc túi ra, đặt khẩu shotgun vào, kéo, dây khóa lại, cầm lấy cùng với chiếc cặp da đi xuống quầy lễ tân. Anh người Mễ lúc trước theo dõi anh giờ đã đi, thế chỗ là một người thư ký khác, người mỏng manh, da xám. Anh ta đang hút một điếu thuốc và đọc tạp chí quyền Anh Ring, ngước mắt lên nhìn Moss mà không có vẻ gì là săn đón, mắt nheo nheo qua làn khói thuốc. Anh ta nói: “Thưa ông?”
“Anh mới vừa vào hả?”
“Dạ, thưa ông. Tôi làm ca này cho đến mười giờ sáng.”
Moss đặt tờ một trăm đô lên mặt quầy. Anh nhân viên lễ tân buông tờ tạp chí xuống.
Moss nói: “Tôi không yêu cầu anh làm việc gì bất hợp pháp hết.”
Anh nhân viên lễ tân: “Tôi đang chờ ông cho biết chi tiết.”
“Có một người đang đi tìm tôi. Tôi chỉ yêu cầu anh gọi cho tôi nếu có bất kỳ người nào đến nhận phòng. Ý tôi nói là có ai đó đến dò xét. Anh giúp tôi được không?”
Anh nhân viên lễ tân bỏ điếu thuốc trên môi ra đặt trên một các gạt tàn nhỏ, dùng ngón tay nhỏ gạt tro ở đầu điếu thuốc, rồi nhìn lên Moss. Anh nói: “Dạ, thưa ông. Tôi làm được.”
Moss gật đầu rồi bước trở lên phòng.
Điện thoại trong phòng anh không hề reo. Có một cái gì khác khiến cho anh thức giấc. Anh ngồi dậy, nhìn đồng hồ trên mặt bàn ngủ. Bốn giờ ba mươi bảy phút. Anh vung hai chân xuống một bên giường, mang đôi giày cao cổ vào, rồi ngồi nghe ngóng.
Anh đi đến đặt tai vào sát cánh cửa, khẩu shotgun trong tay. Anh đi vào phòng tắm, kéo qua tấm màn nhựa phía trên bồn tắm, vặn nước, kéo lên chiếc nút chặn. Rồi anh kéo lại tấm màn nhựa chung quanh bồn tắm, đi ra và đóng cửa phòng tắm lại.
Anh lại đứng nghe ngóng kế bên cánh cửa. Anh lôi ra tấm nhựa dưới gầm giường rồi đặt trên mặt ghế ở góc phòng. Anh đi vòng bật ngọn đèn ở bàn ngủ rồi đứng đấy suy nghĩ. Anh đoán điện thoại có thể reo nên anh nhấc ống nghe lên đặt trên mặt bàn. Anh kéo tấm trải giường ra, vò nhàu các chiếc gối trên mặt giường. Anh nhìn đồng hồ. Bốn giờ bốn mươi ba phút. Anh nhìn ống nghe điện thoại trên mặt bàn. Anh nhấc ống nghe lên, rút sợi dây ra rồi gác ống nghe xuống. Rồi anh đi vòng đến cánh cửa, ngón tay trên cò súng. Anh nằm sấp xuống, đặt tai lên mặt sàn gần cánh cửa. Một luồng gió lạnh. Như thể một cánh cửa ở đâu đấy đã mở ra. Anh lẩm bẩm: “Mình đã làm gì? Mình đã quên làm gì?”
Anh đi qua phía bên kia giường, chui vào nằm sấp dưới gầm giường, mũi súng của khẩu shotgun chĩa ra phía cánh cửa. Vừa đủ khoảng cách dưới các tấm bản gỗ. Tim đập thình thịch trên mặt thảm. Anh chờ đợi. Hai cái cột đen ngăn ánh sáng phía dưới cánh cửa và đứng yên đấy. Kế tiếp, anh nghe tiếng chìa khóa tra vào ổ khóa. Rất nhẹ nhàng. Rồi cánh cửa mở ra. Anh có thể nhìn ra hành lang. Không có ai ở ngoài đấy. Anh chờ đợi. Anh cố giữ cho mắt không chớp nhưng không được. Rồi có một đôi giày da đà điểu đắt tiền ở khung cửa. Quần jeans. Người đàn ông đứng ở đấy. Rồi anh ta bước vào. Rồi anh ta bước chầm chậm đến buồng tắm.
Đúng vào lúc ấy, Moss nhận ra rằng anh ta không định mở cửa buồng tắm. Anh ta định quay người lại. Và lúc ấy sẽ là quá muộn. Quá muộn nên không kịp có sai lầm gì hoặc làm việc gì cả, và anh ta sẽ chết. “Mở đi. Cứ mở đi.”
Moss nghĩ thầm: “Đừng quay lại. Nếu mày quay lại, tao bắn mày chết tốt.”
Người đàn ông không cử động. Moss đang trườn mình tới trước trên hai khuỷu tay giữ khẩu súng. Anh chỉ có thể nhìn đến thắt lưng người đàn ông và không biết anh ta mang súng gì. Anh nói: “Buông súng xuống. Buông xuống ngay.”
Một khẩu shotgun rơi xuống sàn. Moss nhấc người lên. Anh nói: “Giơ hai tay lên. Bước tránh ra khỏi cửa.”
Anh ta lùi hai bước, hai bàn tay nâng lên cao bằng vai. Moss bước vòng qua chân giường. Người đàn ông chỉ cách ba mét. Cả gian phòng như ngưng đọng. Có một mùi kỳ lạ trong không khí. Giống như mùi nước hoa của nước ngoài. Có phần như mùi dược phẩm. Moss giữ khẩu shotgun ngang hông, cò súng đã gài để sẵn sàng nhả đạn. Không chuyện gì có thể xảy ra làm cho anh ngạc nhiên. Anh cảm thấy như thể thân hình mình nhẹ tâng. Cảm thấy như thể mình bay bổng. Người đàn ông không màng nhìn đến anh. Hắn trông bình tĩnh một cách kỳ lạ. Như thể chuyện này là một phần của đời sống trong ngày của anh ta.
“Lui lại. Thêm một chút.”
Anh ta làm theo. Moss nhặt lấy khẩu shotgun của anh ta, ném lên giường. Anh bật ngọn đèn trên trần và đóng cánh cửa lại. Anh nói: “Nhìn đây.”
Người đàn ông quay đầu, nhìn chăm chăm Moss. Đôi mắt xanh. Trầm tĩnh. Tóc đen. Anh ta có vẻ gì đấy trông xa lạ. Moss chưa từng thấy trong đời.
“Mày muốn gì?”
Anh ta không trả lời.
Moss bước qua căn phòng, nắm lấy một chân giường kéo qua một bên. Chiếc cặp da nằm đấy dưới lớp bụi. Anh nhặt lên. Người đàn ông có vẻ như không để ý đến. Đầu óc anh ta dường như vướng bận chuyện khác.
Anh nhặt lấy cái túi nhựa trên mặt ghế, quàng lên vai, vớ lấy khẩu shotgun với ống hãm thanh to tướng giống như cái hộp đặt dưới cánh tay rồi lại cầm chiếc cặp da. Anh nói: “Ta đi.” Người đàn ông hạ hai cánh tay xuống rồi bước ra hành lang.
Chiếc hộp nhỏ đựng thiết bị định vị vẫn nằm trên sàn, ngay bên ngoài cánh cửa. Moss vẫn để nó ở đấy. Anh có cảm tưởng mình đã trông cậy quá nhiều vào may mắn. Anh đi xuống hành lang với khẩu shotgun chĩa vào thắt lưng người đàn ông, nắm trong một tay như thể người ta thủ khẩu súng lục. Anh định ra lệnh cho anh ta giơ hai tay lên nhưng lại nghĩ dù anh ta để hai bàn tay ở đâu thì vẫn thế thôi. Cửa phòng tắm vẫn mở, vòi hoa sen vẫn phun nước.
“Tao sẽ bắn mày nếu mày nhô mặt lên ở đầu cầu thang này.”
Người đàn ông không trả lời. Theo như Moss thấy, anh ta giống như là người câm.
Moss nói: “Đứng ở đấy. Đừng bước thêm bước nào.”
Anh ta đứng lại. Moss lùi lại cầu thang, nhìn người đàn ông lần cuối đứng đấy giữa vùng ánh sáng màu vàng nhợt nhạt trong những chân đèn dọc bờ tường, rồi quay đầu đi mỗi bước hai nấc xuống cầu thang. Anh không biết mình phải đi đâu. Anh không nghĩ xa đến thế.
Ở tiền sảnh, hai chân người nhân viên lễ tân ló ra từ phía sau chiếc ghế. Moss không dừng lại. Anh chạy vụt qua khung cửa cái và chạy xuống các bậc thang. Đến lúc anh đã băng ngang qua đường, Chigurh đang đứng trên ban công phía trên anh. Moss cảm thấy có cái gì đấy kéo lấy cái túi trên vai anh. Phát đạn súng lục chỉ vang một tiếp “bụp” nhỏ khô khan trong bầu không khí yên tĩnh của thị trấn. Anh quay đầu vừa kịp nhìn phát đạn thứ hai bắn ra từ nòng súng trông mờ nhạt dưới ánh đèn bảng hiệu néon màu hồng của khách sạn. Anh không cảm thấy gì cả. Viên đạn xuyên qua áo anh, máu bắt đầu chảy từ cánh tay, và anh vẫn đang chạy trối chết. Sau phát đạn kế tiếp, anh có cảm giác đau nhói ở bên hông. Anh ngã xuống rồi lại đứng dậy, để khẩu shotgun của Chigurh nằm trên mặt đường. Anh nghĩ: “Mẹ kiếp. Quả là phát đạn!”
Anh nhăn nhó chạy loạng choạng dọc vỉa hè, ngang qua nhà hát Aztec. Khi anh chạy ngang qua kiốt bán vé, tất cả các mảnh kính vỡ tung ra. Anh không hề nghe tiếng phát đạn này. Anh vung khẩu shotgun, kéo chốt cò súng và bóp cò. Viên đạn sượt qua một chấn song ban công trên tầng hai rồi bắn nát mảnh kính của một cửa sổ. Khi anh quay người lại, một chiếc ô tô chạy dọc xuống phố Main, chiếu đèn pha đến anh, chạy chậm lại rồi chạy nhanh tiếp. Anh chạy qua phố Adams. Chiếc ô tô chạy trượt qua một bên ở ngã tư giữa một làn khói lốp xe cháy, rồi dừng lại. Máy xe đã tắt, và người lái đang cố nổ máy lại. Moss xoay người, dựa lưng vào bức tường gạch của tòa nhà. Hai người đã từ chiếc ô tô bước ra, đang chạy nhanh băng qua đường. Một người nổ súng với một khẩu bán tự động nòng nhỏ. Anh nổ hai phát về phía họ, rồi lại chạy loạng choạng với dòng máu nóng chảy lan xuống háng. Anh nghe tiếng chiếc ô tô rồ máy lại.
Khi chạy đến phố Grande, từng loạt đạn giòn giã vang lên phía sau. Anh nghĩ mình không thể tiếp tục chạy được nữa. Anh thấy mình đang chạy khập khễnh dọc khung cửa kính của một cửa hiệu, một tay ôm sát một bên hông, cái túi quàng qua vai, tay kia cầm khẩu shotgun và chiếc cặp da, bóng người anh đen mờ in hình trên mặt kính, trông hoàn toàn kỳ quặc. Khi anh nhìn lần nữa thì anh đang ngồi trên vỉa hè. Anh lẩm bẩm: “Cái thằng tôi chết tiệt phải đứng dậy. Đừng có ngồi đây mà chịu chết. Phải đứng dậy thôi.”
Anh chạy qua phố Ryan với dòng máu đã chảy xuống giày cao cổ. Anh kéo cái túi qua một bên, mở khóa kéo, luồn khẩu shotgun vào trong rồi đóng khóa kéo lại. Anh đứng khập khễnh. Rồi anh đi qua cây cầu. Anh cảm thấy lạnh, run rẩy, và anh nghĩ mình sắp nôn.
Có một ô cửa kính để đổi tiền lẻ và một cửa kính xoay ở đầu cầu phía Mỹ. Anh đặt một đồng mười cent vào khe rồi đẩy cánh cửa, loạng choạng đi qua, nhìn đoạn đường hẹp trước mặt. Trời vừa hừng sáng. Mờ xám phía trên vùng bình nguyên dọc theo bờ đông của con sông.
Khi đi được nửa đoạn đường, anh gặp một nhóm người đi ngược chiều. Bốn trai trẻ, có lẽ mười tám tuổi, đang ngà ngà say. Anh đặt chiếc cặp da trên vỉa hè, lấy ra từ trong túi áo một xấp trăm đô. Máu đẫm ướt trên xấp giấy bạc. Anh cầm xấp giấy lau lên ống quần, rút ra năm tờ rồi đặt xấp còn lại vào túi.
Đứng tựa vào hàng rào chắn bằng dây xích, anh nói: “Xin lỗi. Xin lỗi.”
Bốn thanh niên bước khỏi vỉa hè xuống lòng đường để đi vòng qua anh.
“Xin lỗi, tôi muốn một áo choàng của các anh.”
Họ đi ngang qua anh rồi mới dừng lại. Rồi một người quay đầu lại. Anh ta nói: “Ông cần gì?”
“Người đứng phía sau anh. Người có áo choàng dài.”
Người đang mặc chiếc áo choàng dài đứng lại cùng ba người kia.
“Bao nhiêu?”
“Tôi trả anh năm trăm đô.”
“Vớ vẩn.”
“Mình đi thôi, Brian. Hắn xỉn rồi.”
Brian nhìn ba người bạn rồi nhìn qua Moss. Anh nói: “Cho xem tiền.”
“Ở đây này.”
“Cho tôi xem.”
“Cho tôi nhận cái áo.”
“Đi thôi, Brian.”
“Anh nhận trăm đô này và cho tôi cầm cái áo. Rồi tôi trả anh phần tiền còn lại.”
“Được rồi.”
Anh ta cởi chiếc áo ra, trao cho Moss, và Moss trao anh ta tờ một trăm đô.
“Có cái gì đây?”
“Máu.”
“Máu hả?”
Anh ta đứng cầm tờ một trăm đô. Anh nhìn máu trên các ngón tay mình. “Có chuyện gì xảy ra cho anh vậy?”
“Tôi bị bắn.”
“Mình đi thôi, Brian. Vớ vẩn.”
“Trao tiền cho tôi.”
Moss đưa cho anh ta số tiền còn lại, đặt cái túi có khóa kéo xuống lề đường và vật lộn với việc mặc chiếc áo khoác. Người thanh niên gấp các tờ trăm đô la lại, cho vào túi và bước đi.
Anh ta bước theo ba người bạn, rồi bọn họ bước đi tiếp. Rồi họ dừng lại. Họ trao đổi với nhau và nhìn ngoái lại. Anh cài các chiếc cúc áo choàng, cho tiền vào túi bên trong, quàng cái túi lên vai và nhấc lấy chiếc cặp da. Anh nói: “Các anh đi đi. Tôi không muốn nói lần thứ hai.”
Họ quay người bước đi. Chỉ có ba người. Anh lấy tay dụi mắt. Anh cố nhìn xem người thứ tư đã đi đâu. Rồi anh nhận ra rằng không có người thứ tư. Anh lẩm bẩm: “Được rồi. Chỉ cần mình nhấc một chân trước chân kia.”
Khi đi đến đoạn cầu băng ngang ngay phía trên con sông, anh dừng lại, nhìn xuống dòng nước, cổng nhà bảo vệ bên phần đất của Mexico nằm ngay phía trước. Anh nhìn ngoái lại nhưng không thấy ba người nữa. Ánh sáng nhạt nhòa ở hướng đông. Trên những ngọn đồi đen thấp. Dòng nước đen lặng lờ chảy phía dưới chân anh. Tiếng chó sủa đâu đấy. Rồi im lặng. Không có gì cả.
Có một đám cây bụi mọc dọc bờ Mỹ của con sông phía dưới anh. Anh đặt cái túi có khóa kéo xuống, nắm lấy tay cầm của chiếc cặp da, vung về sau lưng rồi ném nó qua lan can cầu.
Cơn đau xé thịt. Anh ôm lấy một bên người, nhìn chiếc cặp da bay chầm chậm trong ánh sáng mờ mờ từ các ngọn đèn đường, rơi xuống đám cây bụi không một tiếng động, rồi mất hút. Rồi anh chuồi xuống trên lòng đường, ngồi đấy giữa vũng máu. Anh nhủ thầm: “Đứng dậy. Mẹ kiếp, mình phải đứng dậy.”
Khi anh đi đến cổng, không có ai khác ở đấy. Anh đẩy cánh cổng qua, đi vào thị trấn Piedras Negras*, bang Coahuila của Mexico.
Anh lần theo con đường dẫn đến một công viên nhỏ. Những con sáo đá trên các cây bạch đàn ríu rít kêu nhau. Các gốc cây được phủ màu trắng, từ xa khu công viên trông như có những cây cọc trắng cắm không theo hàng lối. Ở giữa là một vọng lâu hoặc nhà chơi nhạc* xây bằng gang. Anh vật người xuống một trong những băng ghế bằng sắt, cái túi đặt trên băng ghế kế bên, ngồi cúi người tới trước. Từng vùng ánh sáng tròn tỏa ra từ các cột đèn. Thế giới chung quanh như lùi ra xa. Phía bên kia đường là một ngôi nhà thờ. Trông dường như ở xa xa. Những con sáo đá kêu lên ken két và nhảy múa trên cành cây. Ngày sáng dần.
Anh đặt một tay lên băng ghế kế bên. Cảm giác buồn nôn. “Đừng có nằm xuống.”
Không có mặt trời. Chỉ có ánh sáng xám đang ló dạng. Đường sá ẩm ướt. Những cánh cửa chớp bằng sắt. Một người đàn ông già đang đẩy cây chổi. Ông dừng lại. Rồi lại đi tiếp.
Moss kêu: “Señor.*”
Người đàn ông đáp: “Bueno.*”
“Ông nói tiếng Anh được không?”
Ông già quan sát Moss, hai tay nắm lấy cán chổi. Ông nhún vai.
“Tôi cần bác sĩ.”
Ông già chần chừ. Moss cố gượng ngồi dậy. Băng ghế đẫm máu. Anh nói: “Tôi bị bắn.”
Ông già nhìn khắp người Moss. Ông khụt khịt trong cổ họng. Ông quay mặt nhìn về hướng hừng đông. Những tán cây và tòa nhà đang dần lộ rõ đường nét. Ông già nhìn Moss và ra dấu với cái cằm. Ông nói: “Puede andar?*”
“Cái gì?”
“Puede caminar?*” Ông dùng các ngón tay làm cử động như bước đi, bàn tay lủng lẳng.
Moss gật đầu. Anh cảm thấy một đợt bóng đen ập xuống. Anh đợi cho đến khi nó qua đi.
“Tiene dinero?*” Ông già quét đường xoa ngón cái và các ngón tay khác vào nhau.
Moss nói: “Sí. Sí.*” Anh đứng dậy, người ngả nghiêng. Anh rút ra một xấp giấy bạc dính máu từ túi trên của áo choàng, trao cho ông già một tờ trăm đô. Ông già cầm lấy với vẻ tôn kính. Ông nhìn Moss rồi gác cây chổi chống vào băng ghế.
Khi Chigurh đi xuống các bậc thang và qua cánh cửa trước của khách sạn, hắn có một chiếc khăn tắm quấn quanh đùi phải và được cột bằng sợi dây kéo màn cửa. Chiếc khăn thấm đẫm máu. Hắn mang một cái túi trên một tay, khẩu súng lục trên tay kia.
Chiếc Cadillac chạy đến ngã tư; tiếng súng nổ trên đường phố. Hắn bước trở vào lối đi của hiệu cắt tóc. Tiếng súng trường bán tự động nổ đì đoàng cùng với tiếng shotgun vang ầm ầm. Đám người trên đường phố mặc áo mưa và giày đánh quần vợt. Họ trông không giống bất cứ ai ta quen thấy ở vùng này. Chigurh đi loạng choạng lên các bậc thang, đặt khẩu súng lục tựa trên lan can mà bắn trả đám người.
Đến lúc đám người nhận ra loạt đạn bắn trả từ hướng nào thì hắn đã bắn chết một người và làm bị thương một người khác. Người bị thương đến nấp sau chiếc xe để bắn lên khách sạn. Chigurh đứng tựa lưng vào bức tường gạch, lắp một băng đạn mới vào khẩu súng. Đạn bắn vỡ các khung cửa kính và kính trượt cửa sổ. Đèn ở tiền sảnh tắt ngúm. Đường phố vẫn còn tối nên người ta có thể thấy những đốm lửa phụt ra từ các họng súng. Có một lúc tiếng súng ngưng lại; Chigurh nhân cơ hội quay người đi vào tiền sảnh của khách sạn, những mảnh kính vỡ kêu răng rắc dưới bước chân. Hắn đi tập tễnh dọc hành lang, bước xuống các bậc thang ở phía sau khách sạn rồi đi ra bãi đỗ xe.
Hắn băng qua đường, đi lên phố Jefferson dọc bờ tường các tòa nhà phía bắc, cố rảo bước lê theo cái chân được băng bó. Hắn đi được một dãy phố từ Tòa án hạt Maverick, và dự đoán cùng lắm chỉ vài phút sau thì những người tăng viện cho bên kia sẽ kéo đến.
Khi hắn đi đến góc phố, chỉ có một người đứng trên đường. Anh này núp sau một chiếc xe lỗ chỗ vết đạn, tất cả kính xe đều bị bắn vỡ. Có ít nhất một xác chết bên trong. Người đàn ông đang dõi mắt nhìn về phía khách sạn. Chigurh nâng khẩu súng lục bắn hai phát; người đàn ông ngã xuống đường. Chigurh bước lui lại, nấp sau góc tòa nhà, chờ đợi với khẩu súng tựa lên vai. Mùi thuốc súng nồng nồng trong khí lạnh ban mai. Giống như mùi pháo hoa. Không có tiếng động nào khác.
Khi hắn lê bước ra đường, một trong những người đã bị hắn bắn từ cửa khách sạn đang bò ra lề đường. Chigurh nhìn anh ta. Rồi hắn bắn vào lưng anh ta. Người kia đang nằm phía trước đầu xe. Anh này đã bị bắn qua đầu, vũng máu chung quanh anh ta đã đen sánh. Khẩu súng của anh ta nằm kế bên nhưng Chigurh không màng đến. Hắn đi đến phía sau chiếc xe, cúi xuống nhấc khẩu súng tự động anh này đã sử dụng. Đấy là khẩu tiểu liên Uzi nòng ngắn với ổ đạn tròn chứa hai mươi lăm viên. Chigurh lục soát các túi của áo choàng anh này, lấy ra thêm ba ổ đạn, một ổ còn đầy. Hắn cho ba ổ đạn vào túi áo, giắt khẩu súng lục vào dây lưng, kiểm soát các viên đạn trong ổ gắn vào khẩu Uzi. Rồi hắn đưa khẩu súng lên vai và lê bước về vỉa hè. Người đàn ông bị hắn bắn vào lưng đang nằm đấy, nhìn lên hắn. Chigurh nhìn lên con đường, hướng về tòa nhà khách sạn và tòa án. Những cây cọ cao to. Hắn nhìn người đàn ông. Anh ta nằm giữa vũng máu đang lan rộng dần. Anh ta nói: “Giúp tôi.” Chigurh rút ra khẩu súng lục từ dây lưng. Hắn nhìn vào đôi mắt anh ta. Người đàn ông quay mặt hướng khác.
Chigurh nói: “Nhìn tao đây.”
Người đàn ông nhìn hắn rồi lại quay mặt.
“Mày nói tiếng Anh được không?”
“Được.”
“Đừng quay mặt. Nhìn tao đây.”
Anh ta nhìn Chigurh. Anh ta nhìn ánh sáng nhợt nhạt của ngày mới chung quanh. Chigurh bắn một phát vào trán anh ta rồi đứng nhìn. Nhìn các mạch máu nhỏ vỡ ra trong mắt anh ta. Ánh sáng mờ dần. Hắn lại giắt khẩu súng lục vào dây lưng rồi lại nhìn lên con đường. Hắn nhặt lấy chiếc túi, vác khẩu Uzi qua vai, băng qua đường, đi khập khễnh về phía bãi đỗ xe của khách sạn, nơi hắn để lại chiếc xe của mình.