Triển Lãm Thuộc Địa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

1. Tàu du lịch trên sông

Đại tướng sinh ở Lille, người cao lớn, ham đọc các tác phẩm của Chateaubriand. Gabriel sinh ở Levallois người nhỏ bé, thích đọc nhà văn Stendhal. Không có gì hướng tôi về đảng của De Gaulle cả. Chỉ có một điều là giống như tất cả mọi nẻo đường đều dẫn đến thành Rome, tất cả các buồng của khách sạn đều liên lạc với Londres.

Để có thể hiểu rõ chuyện xảy ra sau này, ta cần biết chút ít mưu mẹo của khách sạn về các phòng cho thuê hàng ngày. Khi bạn đến gặp người quản lý khách sạn trong tình trạng chân nam đá chân siêu thì đây là trường hợp hiếm, rất hiếm, (trừ những khách sạn đặc biệt) bạn sẽ nhận được một cách ngẫu nhiên, chìa khóa của các phòng số 13, 14 hay 28…

Trong đa số trường hợp, những người quản lý vẫn muốn tách riêng hạt lúa tốt và cỏ dại, những cặp bất chính với những khách hàng. Có những người chỉ thích tầng trệt, vì ở đó kín đáo, ít bị dòm ngó. Khi mới bước chân vào khách sạn, người ta đẩy bạn vào một buồng xép giữa bếp và cầu thang: đây là buồng của ông, ông không muốn bị ai dòm ngó, phải không?

Căn phòng như vậy, bề ngoài có vẻ hợp lý, những lại có điều bất lợi; đó là tiếng ồn. Cặp người tình bất chính luôn nghe thấy tiếng ồn ào của cả khách sạn đang hoạt động (tiếng rửa bát loảng xoảng, tiếng lách cách ở bàn điện thoại, tiếng mắng chửi trong bếp). Ngược lại, khách sạn lại nghe thấy tiếng rên và tiếng rống lên của cặp người tình bất chính.

Như vậy, nhiều người thích những phòng ở sát mái nhà, dù rằng phải chịu phiền phức vì sự đi lại ở cầu thang. Tiếng động thường lên cao và tòa nhà vẫn yên tĩnh trong những cơn cuồng nhiệt tồi tệ nhất.

- Ở trên kia, các anh sẽ như những sinh viên, - ông chủ tiệm Vega, phố Mont – Thabor nói. À! À! Các vị có hành lý không? Chắc hẳn là không. Và nếu bạn muốn biến phòng thuê này thành phòng ở thực thụ thì hãy báo cho tôi biết, báo cả bữa sáng nữa đấy.

Mới hai giờ sáng, như thường lệ, Ann và Gabriel nhớ lại những kỷ niệm ở Washington và Albany, bắt đầu hành sự trong thang máy. Nhưng ở đó không thể được, nơi đó chỉ là một cái lồng có lưới, ai cũng nhìn qua được, và có trời biết được là các nữ hầu phòng xứ Breton có mắt tinh tường nhường nào.

Một cặp trai gái đang chờ ở nhà dưới. Người đàn ông luôn tay nắn bóp đôi găng tay, bỗng quay đầu lại, giống như con chim vùng đồng lầy, sẵn sàng giấu mình khi cảm thấy nguy hiểm. Có lẽ từ khi anh ta bắt đầu cuộc sống hai mặt hàng ngày anh ta vẫn tập vận động các đốt xương ở gáy. Cô bạn gái anh ta, một phụ nữ tóc hung đỏ, nhìn chúng tôi chằm chằm, hết người nọ đến người kia.

Ann có cái tật là khi bước vào phòng khách sạn là đi mở cửa sổ ngay. Vì sao vậy? Để cầu trời hay để nhạo bang thần linh? Dù là lí do gì, Gabriel đứng giữ một khoảng cách: chẳng là anh thường hay bị cám dỗ và sự hiện diện của lưng một người đàn bà hơi cúi gập về phía trước, do đó, mông có dáng vẻ ân cần, nhưng chỉ vậy thôi.

Lần này, khi vừa thò mặt ra ngoài cửa sổ, Ann liền gọi:

- Gabriel, anh Gabriel, Paris đang cháy!

Ann vẫy tay ra hiệu, và không hề quay lại, Gbriel tiến lại gần, chậm chạp đi từng bước, mạch đập tới 140 và hai bàn tay lạnh ngắt (khoảng không vẫn làm anh hoảng sợ).

- Hãy nhìn kìa!

Quả  vậy. Ở đằng kia, một đám khói dày đặc đang  bốc lên từ những mái nhà ở phố Rivoli, ở phía hàng cây phố Tuileries, ở phía bên kia sông Seine. Có lửa đốt trong hầu hết các lò sưởi. Một hiện tượng thật bất lịch sự vào giữa tháng Sáu này. Ann không biết nhiều về Paris, Ann chỉ tay về phía các đám cháy lớn: chỗ kia là đâu? Có lẽ là Bộ Nội vụ. Còn ở xa hơn nữa về phía sông Seine? Viện dân biểu. Còn ở phía Tây? Để xem, đó là Quai d’Orsay.

- Đi thôi.

Gabriel cảm thấy có cái gì mềm mại và mát lạnh giữa các ngón tay: khi xuống thang gác mình phải thắt lại cravát.

- Có gì không ổn đấy? – Ông chủ khách sạn hỏi, (ông ta nhìn chúng tôi soi mói). – Trong phòng có gì không ổn à?

- Không có gì đâu, ổn cả, chúng tôi sẽ quay lại.

Gabriel ném cho ông ta chìa khóa và số tiền đãi thứ hai. Rồi chúng tôi chạy qua sông Seine.

Một đám đông vây quanh tòa thị chính, ở phố Grenelle. Họ đã tràn vào sân khấu, kêu gào, đòi hỏi tin tức mới, yêu cầu gặp nhà chức trách cho tới khi một bóng người xuất hiện ở tầng lầu thứ nhất, người đó còn mặc áo lót.

- Các phòng chỉ mở cửa lúc ba giờ, - bóng người nói.

Có tiếng chửi rủa. Bóng người đóng vội cửa sổ lại.

- Nước Pháp thế đấy!

- Theo ý ông thì phải phá những gì?

- Tôi có thể giữ lại huân chương chiến thắng của chồng tôi không?

- Theo ý ông thì tôi có nên giữ lại bộ sách của Romain Roland không?

- Tôi thì lại muốn vứt hết cả sách của tôi đi và phải xé tất cả những chỗ ghi tặng, chẳng ai thấy, chẳng ai biết.

- Chúng ta sẽ tới đâu trước?

- Ông nghĩ rằng chúng sẽ kiểm soát nhà chúng ta xem có gì có thể chống lại nước Đức hay sao?

Ồn ào như ong vỡ tổ, chỉ có các câu hỏi và chẳng ai trả lời.

Đến ba giờ 01, một người phụ tá xuất hiện ở đầu cầu thang, ông ta mang băng lụa màu như trong một hôn lễ.

- Thưa quý bà và quý ông. Thưa...

Chẳng ai nghe ông ta cả. Đám đông la hét hơn lúc nào hết, nhất là phụ nữ, những vị danh giá nhất lại la hét to nhất.

- Tìm mua xăng ở đâu nhỉ?

- Ông ta đã chuẩn bị xe buýt chưa?

- Trên sông Loa, cầu vẫn còn chứ?

Vị quan chức đeo băng tam tài lắp bắp:

- Tôi xin các vị, tôi xin các vị... Gabriel và Ann dùng khuỷu tay chen dữ dội mới thoát ra được khỏi địa ngục ấy.

Quận VII đang sơ tán.

Phố Bourgogne dày đặc xe cộ. Các xe đang chở khách, cửa sổ mở rộng. Người ta chất đầy lên xe nào là va li, bàn ghế, xe đạp thiếu nhi.

Một ông chủ hiệu tạp hóa béo tròn, tóc bù xù, mặc chiếc áo choàng xanh lơ không cài khuy, lần lượt đập vỡ trên hè phố những chai rượu vang xứ Alsace.

- Đồ chuột, đồ chuột. Người Pháp là đồ chuột, - một ông già khô gầy, dáng người hiệp sĩ lập bập.

- Thế chồng bà đâu? (Các bà ôm hôn nhau.) Ông ấy vẫn chưa tới à? Tốt hơn là ta chờ ông ấy.

- Bà chắc chắn như vậy à? Tôi đã yêu cầu bà dành một chỗ cho tôi và Hélène bé nhỏ của tôi.

- Xin bà hãy tin tôi, trong những trường hợp như thế này, không nên đặt kế hoạch gì mà không có chồng tham gia.

Đệm trải giường, cơ man là đệm trải giường được đưa ra khỏi nhà. Chúng được đặt lên nóc xe. Phố Bourgogne chỉ còn là một chiếc giường khổng lồ.

Ann kể:

“Khi đó Gabriel gần như phát điên -

“Anh ấy sẽ không bao giờ thú nhận điều đó, vì đó là một bí mật mà anh giữ kín ở nơi sâu thẳm nhất trong cơ thể bé nhỏ của anh. Nhưng luật sư lại cần biết những bí mật đó để lập những trường hợp giảm đẳng, có phải thế không, thưa luật sư? Vì thế tôi đã viết cho ông. Tôi là Ann và tôi ở bên cạnh Gabriel khi anh ta gần như phát điên.”

“Khi nhìn thấy các nhà trống rỗng dần, những ông già tàn tật ngồi trên các ghế bành bằng mây đan, những cái đẫy chứa đầy đồ bằng bạc, những phụ nữ tay nắm chặt tập thư buộc dải lụa hồng, những đứa trẻ đòi bể cá vàng, những đồ vật gẫy vỡ vì chen chúc, những chiếc sọt mây chứa đầy thuốc men, ống nhỏ rọt, những quả bơm cao su để rửa ruột, tất cả những vật linh tinh chứa ở đáy các ngăn kéo, bỗng nhiên bị vứt ra ngoài trời, không ai bảo vệ... Cảnh tượng ấy làm anh ấy rối ruột lên.”

“Thoạt đầu, anh đứng nhìn, bất động, bàng hoàng.”

“Rồi anh ấy bắt đầu chạy ngược chạy xuôi, hỏi những người đang chạy trốn: anh có nhìn thấy bà ấy không? Rồi anh xô đẩy những người gác cổng, lao vào các cầu thang, vào hết nhà người này, người nọ, khi đó mọi nhà đều mở cửa. Anh lùng sục mọi nơi, thở hồng hộc: tôi chắc là mẹ tôi đã ở đây, tôi tin chắc như vậy, hôm nay tất cả đều rời khỏi nhà, vậy thì mẹ tôi cũng vậy, cũng vậy... “Tôi chạy theo sau anh ấy, tôi đã phải rất vất vả để trấn an anh. Anh ấy không nghe tôi nói và cũng không nhận ra tôi nữa.”

“- Nhưng cô là ai? – Anh hỏi. – Hãy để mặc tôi.”

“Cho đến khi ấy, tôi ít khi nói với anh, vì thế anh không nhận ra giọng nói của tôi, ông hiểu không?”

“Anh ấy chỉ trấn tĩnh lại khi dần dần, có lẽ sau ba, bốn giờ tìm kiếm. Tôi kéo anh đi về phía sông Seine: đề nghị anh kể hết mọi chuyện cho tôi, như vậy anh sẽ đỡ buồn bực, anh bắt đầu kể về những kỷ niệm rất rối ren, một ca sinh nở, những sơ y tá đội mũ chóp trắng, một phụ nữ ra đi. Ta có thể coi như anh đã dốc ruột và cuộc đời của anh đã chảy ộc ra, một sự băng huyết của đời anh. Cô hãy thử ở địa vị tôi xem – có thể cầu cứu ai được trong trường hợp gay go đó? May thay, bỗng nhiên anh ngừng hẳn lại và nói:

- Ta hãy đến Bộ Ngoại giao đi!

Và tôi đã thấy lại một Gabriel béo tròn như tôi đã quen biết như hệt ngày trước, không còn ấu thơ và cũng chẳng có bí mật gì.”

Ở Quai d’Orsay, các viên chức đứng thành hàng dài. Một dãy liên tục những hòm hồ sơ đang được chuyển xuống các bậc thang tiền sảnh. Cũng giống như năm 19..., sau khi ký hiệp ước Versailles. Người ta có thể đọc thấy trên các nhãn Balkans, Dantzig, Sudète, Éthiopie. Những chiếc xe Citroen 11 mã lực chờ sẵn ở chân cầu thang.

- Đáng lẽ đoàn xe đã phải khởi hành rồi, - một thanh niên giậm chân nói, mặt anh ta tái mét, ngón tay chỉ trên mặt đồng hồ.

- Đi mà, sẽ đi mà, - một cô thư ký nhắc lại. – Nếu ông bộ trưởng cần đến cả trái đất này thì cũng không phải lỗi ở chúng ta.

- Khí đến Bordeaux, chớ có quên đấy, tất cả hồ sơ đều phải chuyển vào văn phòng của ông thị trưởng, xếp theo thứ tự a, b, c...

- Các anh hãy tống cổ họ ra ngoài. Chiến tranh là một công tác ngoại giao, có đúng không?

Thật là một cảnh tượng lộn xộn mà chúng tôi đã chứng kiến.

Tất cả mọi văn phòng đều mở cửa, hàng đống giấy tờ vứt ở gần cửa ra vào, giống như những chiếc giày buổi tối ở những khách sạn lớn và có nhiều vị sang trọng đang chờ.

- Chiếc xe ba gác đã đến chưa?                                                  

- Vấn đề không phải là chiếc xe, thưa ngài cố vấn, mà là chỗ để đốt giấy tờ: chỉ những văn phòng ở góc nhà mới có lò sưởi... Tôi sẽ quay lại.

Rồi chúng tôi tới Bộ Chính trị, xem lướt qua. Một nhóm thanh niên, với những bộ complê bằng len mềm và đường ngôi chải thẳng tắp, đang quì gối chiến đấu với những que cời lửa.

- May mà không có gió, - ông giám đốc lẩm bẩm, ông đang đứng lùi về phía sau, khuỷu tay tựa lên tủ sách. – Anh không thể đoán được chiếc tủ đã bị đẩy lùi như thế nào đâu.

Trong phòng tiếp tân, một dãy dài các hộp hồ sơ kế tiếp nhau: Antilles, Dardanelles, Annam, Cận Đông... Ngoài trời không khí nặng nề, một buổi trưa trắng bệch. Nhiều dân Paris đi thơ thẩn như chúng tôi ở những nơi có công sở cao cấp: Palais – Bourbon, Quai d’Orsay, điện Matignon. Trong cơn hoạn nạn, người ta hỏi nhau về cái gì có thể đứng vững được, cái gì ta có thể bấu víu được. Những công sở cao cấp đều đang cháy từ bên trong, ở phía trên đều có những đám khói dày đặc, có lúc trắng như tuyết, có lúc đen ngòm.

- Còn những bức ảnh của Clara, ở biệt khu Do Thái ấy mà, anh biết không?

- Trong két sắt của tôi, ở văn phòng.

- Khẩn trương lên!

Công ty của Ann có trụ sở ở Champs – Élysées.

- Ồ thưa bà! Hội sở của bà đã dọn đi rồi, - một nữ thư ký có vẻ mặt khắc khổ đáp lời.

- Không hề gì, bà Geneviève, bà có thể đi theo mà.

Do một sự trùng hợp kỳ lạ, những người đóng giày của shtetl được xếp cẩn thận vào hộp giày dép, cùng với các bạn họ, những học sinh của Yeshiva, những người bán hàng của beigels, khách qua đường nơi xưởng kẹo bọc giấy.

- Phải cất hồ sơ này vào nơi chắc chắn.

- Phải đấy, sao cho họ có thể tìm lại được khi quay về.

- Tôi có ý kiến này: ta hãy quay lại phía sông Seine.

Hai viên cảnh sát tới gần họ: các người cho xem giấy tờ... thật may, các người đều là người Pháp.

- Theo ông đã đến lúc rồi à?

Lúc nào nhỉ? Chúng tôi nắm tay nhau, giữa chúng tôi là hộp đựng giấy, Ann, con người thường xuyên chạy, bây giờ đã ngừng chạy, Ann đi theo bước đi của tôi, có lẽ còn chậm hơn. Ann quay nhìn tứ phía. Cô đang tìm chân trời để đi tiếp. Nhưng không còn chân trời nữa. Cô mặc bộ đồ bằng vải lanh màu xanh hồ thủy. Hai má cô ửng hồng, như một cô bé. Cô luôn dùng lưng bàn tay xoa trán và thái dương. Nhiều người đàn ông quay lại nhìn cô. Từ khi gặp Clara năm 1913, Gabriel chưa hề đi cạnh một phụ nữ, đi dạo hay đi thăm hỏi người quen. Paris phảng phất một không khí của hậu trường, các phông cảnh thay đổi liên tục, mùi bụi, tiếng rít của các ổ trục thiếu dầu mỡ.

- Cô có thích đi dạo một chút không?

Chúng tôi đã tới chân tháp Eiffel. Trước bến đợi các tàu du lịch bên sông. Một người trông như một sĩ quan hải quân, nhấc mũ cát két lên.

- Các người có biết không, từ khi bắt đầu cuộc tấn công, chẳng còn ai nữa, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn nhổ neo, để khỏi rít máy.

Chúng tôi đi xuôi dòng. Ở phía bên kia đường xe điện trên không, không thấy khói bốc lên từ các tòa nhà nữa. Quận XV không có hồ sơ phải đốt.

- Thật khôi hài, các đội quân xâm lược chỉ nghĩ đến việc rượt đuổi xuôi dòng. Hãy nhìn sông Marne xem.

Thuyền trưởng đã nói đúng. Sông Seine vắng lặng, không có một đội tuần tra nào, những tàu chữa cháy vẫn đứng đợi dọc theo cảng Javel, mặc dù vẫn có nhiều đám cháy.

- Ta sẽ vòng lại ở phía trước âu thuyền Suresnes. Bạn có muốn chạy trốn không? Bạn nên nhớ rằng từ đầu tháng Sáu, tôi đã từ chối mọi đề nghị chạy trốn. Có người đã nói với tôi về châu Mỹ. Làm như là tôi sinh ra cho biển cả!

Gabriel đã từ chối đề nghị của ông ta.

 - Chúng tôi ư? Chúng tôi ở lại. Ông có thể cho đi nhờ tới Levallois không? Tôi muốn ôm hôn bà tôi.

- Ồ. Anh bạn vẫn còn bà ư?

Ngôi nhà trống vắng. Gabriel đã giấu những bức ảnh trong tủ sách, một tủ sách mới chưa ai biết, hoàn toàn của nước Italia mới. Người ta sẽ không bao giờ lại đi tìm hộp đựng giày ở đằng sau những tác phẩm của Mussolini. Khi quay về, Gabriel đã tạt qua Longchamp. Ta có thể nhận ra mái cái khán đài của công viên Saint - Cloud với nhiều tầng sỏi đá. Nếu đi với cô gái khác thì Gabriel đã nói về thời thơ ấu của anh. Nhưng với Ann, anh không dám. So sánh Levallois với Đông Âu làm sao được.

- Nếu họ động viên ba đợt nữa thì tôi trúng tuyển. Tôi sẽ vào bộ binh đấy!

Thuyền trưởng của chúng tôi còn nói một thôi dài nữa về việc chính quyền không biết phát hiện ra những người có khả năng.

Chiến tranh đã làm hai bờ sông trở nên hoang vắng. Bên phải, bên trái không có một bóng người.

Gabriel nghe thấy một giọng nói yếu ớt: chúng ta không về được ư? Ann đã mỏi mệt. Sắc mặt cô đã đổi màu từ trắng sang vàng.

- Tôi biết việc gì đã xảy ra rồi, ông hãy đưa bà ấy ngồi xuống ở chiếc ghế dưới kia, còn tôi thì không thể rời bánh lái vì sắp tới đảo Thiên Nga. Trong ngăn tủ bên phải, ông tìm sẽ thấy đường và cồn bạc hà. Ca bin nồng nặc mùi than, dầu và dây thừng ẩm ướt. Tôi đã ngửi thấy đúng mùi này trong chuyến vượt biển Manche vào tháng Chạp năm 1990.

- Anh có tin rằng sẽ tìm thấy bà ấy không? – Ann thì thầm với tôi, giọng bàng bạc yếu ớt, giọng nói của ai đó đi tìm em gái ở xa.

Ann bám chặt vào tay tôi. Tôi có cảm giác là đã làm cô yên tâm, cô đang đánh đu trong chân không, như người ta thường nói khi leo núi. Ngày hôm đó, nếu Gabriel buông tay ra thì tất cả gia đình Knight đã tan biến.

- Bà ấy đã đỡ chưa? Đừng tiết kiệm cồn bạc hà làm gì! - Thuyền trưởng hét to.

Khi chúng tôi lên bờ, trời đã tối. Tôi tự hỏi không biết mất bao nhiêu thời gian chúng tôi mới vòng qua được đảo Thiên Nga.

- Hiện tượng ấy thường xảy ra, trong các chuyến đi, - thuyền trưởng nói. –Trong trường hợp như vậy, tôi không muốn vào bờ ngay, tốt hơn là chữa chạy trên mặt nước. Say sóng ở trên bờ lại còn tồi tệ hơn.

2. Đế giày

Gabriel sẽ không nói đến những người Đức, ai cũng biết là chúng đã chiếm được Paris, vô số sách đã kể lại thời gian chúng chiếm đóng thành phố. Còn nhiều quyển sách sẽ kể tiếp. Đề tài này xem ra hấp dẫn. Gabriel chỉ muốn nói đến nghề nghiệp của mình, giải thích vai trò của cao su trong một thành phố bị chiếm đóng. Dù rằng nó không được vẻ vang. Các bạn cần phải biết mọi khía cạnh lớn cũng như nhỏ, kể cả những điều tồi tệ của cái nguyên liệu đã đem lại biết bao lợi ích cho thế kỷ XX.

Ta hãy bắt đầu từ cái vô thưởng vô phạt, có thể là bác ái nữa.

Ông Louis từ bỏ mọi ý nghĩ về hưu.

- Ồ! Nếu bố có thể tìm được một nghề gì. – ông nhắc lại với con trai khi họ cùng ăn trưa. (Bữa ăn trưa, quả là một từ rất lớn đối với ai đã từng biết khẩu phần của một người trong năm 1941.Vì ngày hôm đó, giữa bố con ông có một cái bàn trải khăn bàn kẻ ô vuông, trên có hai chiếc cốc, hai đĩa, nhưng bộ đồ ăn, vì thế chúng ta chấp nhận từ “ăn trưa”.)

Như vậy, ông Louis nhai một mẩu thịt rắn như đinh. Từ đó nảy ra sự hình thành của một ý kiến thiên tài: thịt ® đế giầy ® Gabriel ® người chế tạo lốp xe ® đế giày làm bằng lốp xe.

Gabriel dập tắt ngay những lời phản kháng ở trong đầu anh (người chẳng biết gì về nghề đóng giày cả, bà Wladislawa sẽ nói gì về người?) Và anh vỗ tay hoan hỉ:

- Hoan hô những đôi giày bằng gỗ, họ chẳng hợp ý nhau.

Làm một bất cứ gì còn hơn là một ông bố thất nghiệp.

Ông Louis thu xếp mọi việc đã thành công.

Bây giờ người ta đến mua giày ở hiệu sách, chẳng ai bực mình cả. Thời đó, cửa hàng bán hai thứ hàng là thường. Giới phụ nữ thượng lưu lấy làm thích thú.

- Bạn đã cất những đôi guốc tiền chiến ở đâu vậy?

Sau khi cắt, dán, nhuộm, sấy khô, người ta đã làm được hàng giả da. Chỉ có mỗi một khiếm khuyết có thể chê được: ảnh hưởng của tĩnh điện. Cao su là chất cách điện. Khi trời khô lạnh, các bà bị điện giật. Ông Louis đã trấn an họ:

- Đó là do chiến tranh. Bom đã phá hủy không khí. Các bà hãy chờ ngày hòa bình và lúc đó các bà hãy cho tôi biết tin nhé!

Thay đổi khách hàng, thay thế các công chức Bộ thuộc địa bằng những phụ nữ thường là trẻ và sẵn sàng mua giày, điều đó làm ông vui vẻ. Chưa bao giờ tôi thấy ông huýt sáo nhiều như trong những năm u tối ấy: nào là Trenet, Sablon, Chevalier (một nhà buôn cần phải vui vẻ, Gabriel ạ, đó là phép lịch sự tối thiểu)

Cộp, cộp, người ta nghe thấy họ đã tới với những đế giày bằng gỗ sến hay gỗ trần bì, tiếng guốc lộp cộp nghe như một cuộc nổi dậy của nông dân. Không, đó chỉ là một bà khách hàng:

- Xin mời bà cứ tự nhiên cho!

Một vài bà khách còn làm duyên làm dáng: sau khi đi dạo, tôi không còn ra hồn gì nữa, có lẽ bị sưng phồng.

- Ồ, thưa bà, thưa bà…

Bà Wladislawa đã theo dõi ông rất sít sao mà không xong, tôi chắc chắn là không bao giờ ông chỉ dừng tay đến mắt cá chân. Tôi bất chợt nghe được những tiếng rúc rích trong một số ngày và câu hỏi này là một bằng chứng: ông là người như thế nào, hở ông thợ giày với những bàn tay mơn man đến thế?

Tôi cố đoán ra lý do gì khiến bà Wladislawa đi mất hút vài tuần sau đó. Chắc hẳn bà đã bắt gặp ông Louis đang say đắm với công việc của người thợ giày và bà đã không chịu đựng nổi ông. Liệu những  người Aragon có phải là thợ giày không, ông Louis, họ có phá vỡ mất tình yêu của họ như vậy không?

Tôi tưởng như nghe thấy những lời nói cuối cùng của bà, bà nói tiếng Pháp rất chuẩn như môi người phiên dịch tốt, những lời tan vỡ bắn tứ tung mỗi khi bà buồn bực, ông Louis, ông không xứng đáng với bất kỳ tình yêu nào, ông chỉ là một con người đơn độc, ông Louis, tôi đã biết quá muộn, tôi phải chịu trách nhiệm về cuộc đời bỏ đi của một người Ba Lan như tôi…

Bà không phải là hạng người bỏ đi thầm lặng.

Nhưng ông Louis đã không trả lời câu hỏi mà tôi định hỏi.

3. Những chiếc xe đạp

 Từ năm 40, xe đạp đã lộ rõ bản chất xâm lược. Khi xe hơi nằm bất động vì thiếu xăng thì xe đạp tràn ngập thành phố. Xe đạp xuôi ngược phố lớn, phố nhỏ. Đại lộ, chất đống trước cửa ra vào, bịt kín các cửa hành lang, lên đến tận các phòng ở tầng lầu (vì người ta sợ mất trộm). Xe đạp là đầu đề của các câu chuyện (bạn thử đoán xem hôm nọ tôi bị nổ lốp ở đâu?), xe đạp xen lấn cả vào giấc mơ (tôi mong ước kiếm được một cái tăng xích). Xe đạp làm người ta đau lưng. Nhắc nhỏ cho dân Paris chỉ là một dãy đồi, Montparnasse chỉ là một ngọn núi. Đại lô Junot chỉ là một đoạn dốc đứng đáng ghét. Xe đạp làm phát sinh nhiều loại nước hoa, đi xe đạp người ta đổ mồ hôi mà, làm các phòng đợi sặc mùi phòng gửi áo ngoài. Yên xe làm nóng bộ phận sinh dục của phụ nữ, và chạm mạnh vào bộ phận đó của nam giới. Xe đạp khiến cho mọi người thích làm việc lặt vặt, làm cho ta hiểu được đặc tính kỳ quặc của những miếng cao su Rustines, chúng có tính chất gặm mòn dần săm và chúng muốn cuối cùng chỉ còn những miếng Rustines đủ lớn để giữ không khí trong săm. Rồi thì tiếng rào rào như ong vỡ tổ khi một nhóm người cùng đạp theo nhịp. Trên hè phố. Những người thích xe đạp nhắm mắt nghĩ đến những cuộc đua Sáu Ngày, Vòng quanh nước Pháp…

Vốn là một công cụ để đi chơi, xe đạp rất thích hợp với thời chiến, với kinh tế thời chiến, sự im lặng của thời chiến (sau những vụ nổ), với tất cả mọi thứ mà chiến tranh tạo ra, hệ thống D, điều kiện thể lực… Chính trong thời kỳ này Gabriel đã hiểu được liên minh giữa chiến tranh và xe đạp. Sau này, anh không hề ngạc nhiên về vai trò của xe hai bánh ở Điện Biên Phủ. Ông Giáp cũng sẽ công nhận điều đó.

Gabriel sẽ nói lại về chiến tranh Đông Dương, thưa luật sư, ông chớ ngại, anh sẽ nói lại, còn bây giờ, anh ta muốn nói cho ông biết ý nghĩ của anh: phải, xe đạp là những vật đáng lo ngại.

4. Xe buýt

Bây giờ ta có thể rằng Gabriel không bao giờ nên công nhận vụ đó. Tuy nhiên, Gabriel cũng đồng ý như vậy. Với một giọng mà tuổi già chưa hoàn toàn biến thành khản đặc, anh kiên quyết nhắc lại: không bao giờ.

Người ta thường nói, bệnh ung thư không tránh cho người ta khỏi bị cảm cúm, tương tự như vậy, chiến tranh không thể ngăn cản người ta đi tìm việc làm. Ai cũng phải sống, phải trả tiền nhà (dù rằng ngôi nhà đêm nào cũng bị ném bom), trả tiền điện (dù thời gian mất điện nhiều hơn lúc có điện).Và khi người ta mượn anh yêu cầu đi giúp đỡ một khách hàng lớn trong vài tuần, anh không nhận sao được? Còn Gabriel thì đưa ra những trường hợp để giảm nhẹ tội: cho đến tháng Sáu năm 1942, Hãng vận tải dân lập Paris (RATP) vẫn là một hãng yên bình nhất, có ích nhất, nhân đạo nhất, chỉ làm dịch vụ giúp dân Paris đến nơi làm việc hay đến nơi hẹn hò được thuận tiện. Ta cũng không nên quên rằng có một số người khá đông không được phép đi xe đạp: người béo bệu, đau tim, vụng về, rút cục, Gabriel sẽ tâm sự với bạn: anh lấy làm hãnh diện đã là thành viên của Hãng dân lập này. Sau những điên rồ của tuổi trẻ về đua ô tô, anh đã một việc làm cần thiết.

Anh cũng sẽ nói điều tâm sự thứ hai: cho đến buổi sáng đáng xấu hổ đó, anh đã quan hệ tốt với ông tổng giám đốc. Nếu không phải là tình bạn thì ít nhất cũng là có cảm tình.

Ông L. là một cựu sĩ quan hải quân. Hơn nữa, ở thời kỳ ấy, Gabriel thấy rõ ràng khá nhiều thủy thủ giữ chức vụ quan trọng. Hoàn cảnh đó có vẻ như bất lịch sự khi ta nhớ đến lời của thống chế Petain: đất không bao giờ nói dối. Nhưng như vậy, ta sẽ quên mất phong tục và tính kỷ luật, nghĩa là óc bào thủ của những người làm nghề đi biển.

Ông L, còn giữ những thói quen của nghề cũ, ông gọi đoàn xe buýt là hạm đội, cho sơn lại xe luôn, mỗi khi xe phải nằm lại trong kho (bến cảng), quá một ngày, hiện tượng này ngày càng hay xảy ra vì thiếu xăng. Ông L. vẫn ưa màu trắng, nhưng thời chiến lại buộc phải sơn màu tối là xanh sẫm, màu ghi chứ không thể là màu xanh tươi mát.

Mặc kệ, ông ta thích nhắc lại rằng: dù ở hải cảng, hạm đội vẫn phải tuyệt hảo. Điều đó làm cho thợ sơn hăng hái làm việc trong các nhà chứa xe.

Ông cho chúng tôi biết là ông mơ ước có một buổi lễ long trọng ở khán đài Invalides trước đoàn xe buýt, đội ngũ chỉnh tề, cờ xí đàng hoàng.

Gabriel không chịu trách nhiệm. Không chịu trách nhiệm.

Một hôm, vào tháng Bảy, người ra đề nghị anh kiểm tra loại lốp của các xe buýt. Tất cả các lốp xe. Tất cả!

Như vậy là anh đã kiểm tra và trình lên một bản báo cáo không tốt đẹp gì, mà bây giờ người ta vẫn còn giữ được ở Phòng lưu trữ của hãng, một bản tổng kết tai hại: chỗ nào chất nhựa cũng bong ra.

Ngày hôm sau, cũng một ngày thứ bảy, người ta đề nghị anh sửa nhanh và tốt hơn. Thời tiết chiến tranh mà, anh Orenna, anh hãy tìm mọi cách xoay xỏa. Hạm đội sẽ phải sẵn sàng đúng trước nửa đêm. Anh bắt tay vào việc. Với đầy đủ lương tâm. Anh quan tâm nhiều đến an toàn của hành khách! Anh vứt bỏ những bánh xe sắp hỏng. Anh sửa lại những bánh xe chấp nhận được. Muốn vậy, cần thiết phải biết chính xác đường đi của dự kiến. Người ta trả lời anh: bí mật. Anh gặng hỏi và giải thích: nếu rẽ bên phải nhiều, tôi sẽ đặt những lốp tốt hơn về bên trái thưa ông tổng giám đốc. Sau cùng,người ta đưa cho anh một mảnh giấy. Và kẻ ngốc, anh chàng Gabriel ngốc nghếch, đã từng biết rõ Paris, có tìm hiểu. Ngoài phố Rosiers, phố Temple, phố Écouffes, phố Tre1sor, (xe buýt làm sao đi được trong cái bát quái này, thưa ông tổng giảm đốc?), ngoài khu Marais, các địa chỉ anh đọc thấy rất phân tán: 5 phố Villersexel (tầng ba), 78 phố Miromesnil (tầng bốn), 19 phố Alesia (mặt thứ hai). Một cung đường lập nên một cách ngẫu nhiên, chẳng giúp được gì cho người sửa chữa lốp xe hoàn thành nhiệm vụ.

- Vậy thì chỉ còn một giải pháp, - anh chàng Gabriel ngốc nghếch như thạo nghề, bèn phát biểu, -tôi sẽ đấu những lốp còn dùng được theo đường chéo góc. Bánh trái sau, bánh phải trước, sau – phải, trước - trái. Nhưng tôi lấy làm hổ thẹn vì tôi không đảm bảo gì hết.

Anh đã ra lệnh. Người ta bật đèn lên, đem đến tất cả những kích còn sử dụng được. Và vào đầu tháng Bảy, xác xe buýt được nâng lên nhẹ nhàng, rồi nghiêng sang một phía giống như chúng bị các làn sóng rất chậm nâng lên.

- Có thể nói rằng chúng đã thả neo, đúng không? - Viên thủy thủ già thì thầm, vẻ cảm động.

Gabriel nhớ lại lúc đó, anh ngửi thấy mùi nước mưa trên đất ẩm, mùi mốc bốc ra từ các phòng qua các cửa sổ mở toang, mùi hoa dẽ rụng trên hè phố, mùi của màu hè ở thành phố, mùi của tháng Bảy.

Như vậy, chúng tôi đứng nhìn hạm đội, trong giây lát, rồi ông tổng giám đốc bỗng nói: “Lạy Chúa tôi, còn những kho khác nữa?”. Chúng tôi lên chiếc xe Delahaye dùng đi công vụ và bon về Vaugirard. Cứ cách ba phút lại có một lính tuần tra giữ chúng tôi lại, chiếu đèn vào mặt chúng tôi, nòng súng như đe dọa, họ giật lấy giấy tờ, cố đọc, rồi nhìn chúng tôi chằm chằm:

- Đi đi!

Và như vậy, đêm hôm đó, tất cả buýt trong thành phố đều chuyển động lắc lư như con tàu trên sóng, sau - trái, trước - phải, trước - trái, Đông - Bắc, Đông -Nam, Tây - Nam, Đông - Bắc. Phải tính toán nhiều mới tìm thấy hướng gió.

- Anh có tin rằng mọi việc sẽ ổn không? - Ông tổng giám đốc hỏi.

- Còn nhờ Trời phù hộ. Cái tồi tệ nhất là những cơn mưa bóng mây. Những lốp đã mòn không chịu đựng nổi.

- Chắc chắn là như vậy. Tốt hơn là nên chờ một thời tiết ổn định hơn, nhưng làm sao được, cả tôi và anh đều không có quyền quyết định, chúng ta làm việc của ta, có thế thôi.

Ông đã đưa tôi về nhà, những đêm mà tính lười nhác đã khiến tôi quay về Levallois hoặc là khi tôi muốn làm cho ông Louis tin rằng tôi đang muốn giải quyết sinh lý: buồng nhỏ, số 50 phố Sèrves.

Tôi rất thích làm việc với một kỹ sư nghiêm túc như anh: Chúng ta cùng một loại người, anh và tôi, sự tinh thông nghề nghiệp làm mọi người im lặng đó, phải không, anh Orsenna.

 - Ông không đi ngủ à?

- Không, tôi phải ra lệnh khởi hành và tôi phải sẵn sàng. Bao giờ cũng có những sự cố bất ngờ. Còn anh, chúc anh ngủ ngon giấc, anh có quyền ngủ ít nhất là cho đến sáng.

Tôi cảm ơn ông ta, ông chìa tay cho tôi bắt. Tôi tiếc rằng hôm nay đã không có găng tay. Chiếc xe Delahaye đi về phía Grenelle. Tôi hình như thấy đèn xanh ở bên trái và đèn đỏ ở bên phải xe. Dù hoàn cảnh thế nào, tôi bao giờ cũng có khả năng hoàn thành công việc hàng ngày với những hình ảnh đẹp, điều đó giúp ta ngủ ngon.

Gabriel thức dậy muộn. Từ ít lâu nay, cảm giác cô độc làm anh ngủ được (một vũ trụ không có người thường yên tĩnh). Anh bèn tự hỏi xem những sự chuẩn bị ngày hôm rước có ý nghĩa gì? Chiến tranh lại bắt đầu chăng? Cảnh tượng ngoài phố làm anh vững dạ. Phụ nữ mặc váy in hoa và dáng đi của họ uyển chuyển trong những ngày nóng bức. Ta chỉ tìm được chút ít mát mẻ dưới bóng cây dẻ. Tóm lại, đó là mùa hè.

Đến nhà xe, người ta phun nước rửa xe. Rửa cả trong và ngoài. Nhiều vũng nước lớn loang cả sân. Một người gốc Senegal đào rãnh thoát nước

- Đủ rồi, đủ rồi, - người phụ trách hét lên.

Nhưng nhân viên không muốn nghe, rửa trong rửa ngoài. Người ta nghe thấy tiếng nước chảy, tiếng bàn chải ken két.

- Đủ rồi, đủ rồi, dồn các xe lại!

Họ tiếp tục lau, cật lực sàn xe và các cửa kính. Người ta thấy rõ có nhiều vết trên kính, những vết ngón tay khá dài, hình như có ai đã bị ngã. Có cả những vết tròn, một thứ hơi nước dai dẳng khi người ta áp mũi khá mạnh và kính. Khi đến giờ khởi hành, giờ mà anh phải hoàn thành công việc cần thiết, nhất thiết phải buộc những người rửa xe ngừng lại.

Thế đó, thưa luật sư, thế đó thưa các vị hội thẩm, đó là sự tham gia kỹ thuật của Gabriel vào cuộc vây ráp ở Vel’d Hiv. Khi anh ta được ông chủ giao cho nhiệm vụ giúp đỡ kỹ thuật cho một khách hàng lớn. Hãng vận tải dân lập Paris.

Đó là các sự việc. Xin các vị thẩm phán xét xử. Nếu còn có luật về các vấn đề này.

5. Một chiếc thuyền buồm không buồm lái

Hành động anh hùng. Hồi I

Hai lính Đức kiểm tra giấy tờ ở cửa vào cảng. Hai bóng người mặc đồ xanh ghi, nện gót giày trên nền đá hoa cương màu hồng. Gabriel thấy điếc cả tai. Một điều kinh khủng với người có tuổi: tiếng động phát ra từ trong người. Tiêu hóa, hô hấp, các khớp xương. Óc ách, rít lên, rạn vỡ ở bên trong. Và để kết thúc, đó là loạn nhịp tim. Gabriel tiến bước giữa những âm thanh hỗn độn ấy. May thay lại có tiếng kêu của hải âu. Người già cần phải sống với chim hải âu.

- Kỹ sư điện. Ach! Rất hữu ích. Thường hay bị hỏng điện ở phía bên kia.

Bọn lính chúc chuyến đi tốt đẹp.

Không khí có mùi I ốt, mùi cồn, chất lỏng màu nâu mà ta thường bôi vào đầu gối bị xước da.

Tôi sẽ không còn nằm dài ở đảo Brehat. Tôi biết là anh đang chờ Londres, cuộc hội kiến của tôi với đại tướng.

Anh nên biết rằng đảo này trước kia là nơi cấp cứu những người bị đắm tàu: bây giờ đã trở thành nơi an dưỡng.

Chính phủ Đức quốc xã đã gửi đến đây những thương binh để dưỡng bệnh. Bọn này hồi phục sức khỏe nhanh chóng, vì ở đây luôn luôn có gió lộng từ ngoài khơi, chúng lại được bồi dưỡng bằng sữa bò vú đen, được thưởng thức hương thơm mật ong tỏa ra từ các cây thạch thảo. Quá nhanh. Khi chúng được chứng nhận là đã hồi phục, lập tức chúng bị điều đi: mặt trận phía Đông.

Như vậy, người ta hiểu được vì sao chúng cố kéo dài thời hạn, tìm cách nhiễm một bệnh nào đó phải chữa thật lâu và chúng hình như vẫn dùng một mẹo là nửa đêm đi tắm trong nước giá lạnh.

Người dân trên đảo rất thích xem cảnh tượng ấy. Đêm nào thích hợp (rất lạnh), họ nấp sau đám lau sậy chờ đợi để xem. Họ đã kể lại với tôi như sau: những kẻ xâm lược tới đây bí mật bằng những đường nhỏ khác nhau. Chúng cởi quần áo, chỉ giữ lại chiếc quần đùi trắng rồi đứng bất động, ngực hướng về phía gió.

Chúng đứng nghiêm rất đúng kiểu, chân ngâm trong bùn. Một lát sau, người ta đã nghe chúng ho, chúng đứng đợi cho đến lúc đã bị nhiễm lạnh. Một số bọn chúng đã bị viêm phế quản trong suốt cuộc chiến tranh, có khi bệnh này đã tiến gần biên giới của bệnh sưng phổi, nhưng nó dừng lại ở đây: vĩnh viễn chỉ ở 38.5. Một số khác, kém thận trọng, đã khạc ra máu. Chúng được chuyển đi, mặt xanh lướt. Bờ biển lại rất nguy hiểm với bệnh lao phổi cấp tính: các hốc trong phổi nhiễm ẩm. Chúng chết và được mang đi như bởi sóng thủy triều.

Tôi ở khách sạn Rocs, đi lên dốc về phía trái. Một hàng ghế vải vượt Đại Tây Dương đang chờ khách ở hàng hiên, không biết từ bao giờ? Năm 39? Năm 40? Chúng có hình dáng kỳ lạ, vặn vẹo, méo mó. Chúng cũng bị thấp khớp!

Người ta thấy những vết ẩm ướt trên những bức tường kẻ hoa của phòng số bảy, còn những ghế bành thì thật đáng thương, chúng phải chịu đựng một mùi đông tàn khốc!

Sáng sáng, Gabriel lại mở cửa sổ, và mùa hè ùa vào. Mùa hè thật vô ích trong thời chiến này. Mặt biển vẫn hoang vắng, không một cánh buồm, còn bầu trời thì  vẫn xanh. Trong những ngôi nhà ở quanh vịnh, vườn tược trơ trụi: những luống hoa đã biến mất, cỏ dại len đầy vườn. Khi đó, một kế hoạch đã nảy ra trong đầu anh và bám riết anh như một điệp khúc: khi nào giải phóng, cần đến những người làm vườn là điên…

Thực ra, đấy mới chỉ là màn đầu của giấc mộng: đến lập nghiệp ở đây với vũ khí và hành trang. Với Ann và Clara (cô nào là vũ khí? Cô nào là hành trang?), ngay sau ngừng chiến.

Các hòn đảo được tạo nên dành cho một hạnh phúc ít êm ấm. Ai không thừa nhận nhận xét đầy lương tri này, xin mời đến thăm Brehat và lưu ý những chú chó ở địa phương. Chân khèo, mắt chột, lông màu cháo lòng, hình thù lai đủ mọi giống, nửa lai chó lùn nửa lai chó săn lông xù, một phần tư lai chó cốc, một phần tư lai chó bốcxe, một phần tư lai chó lùng sục, một phần tư lai giống chó săn xpanhon thì chẳng phải hiếm. Ở đất liền, liệu các chú chó có kiếm nổi, dù chỉ một cô chó hứa hôn không? Còn ở đây chuyện tình của chúng là liên tục. Mỗi vụ trăng, một lần bạn.

Khi chiếc tàu cuối cùng đã rời bến, Gabriel sẽ được yên tâm lúc đêm xuống, không một phụ nữ nào, cả Ann nữa, lại bỏ rơi người đàn ông bằng cách bơi qua biển (còn Clara rất nhát gan nên không thể nghĩ đến chuyện đó được).

Tôi sẽ không kể cho bạn nghe những cái vụng về của tôi. Hôm đầu tiên tôi đến tiệm cà phê Chardon-bleu ở công viên Du Bourg, tôi đã lầm tưởng là một người Pháp tự do, một anh chàng Breton thuộc phái độc lập. Những người thuộc phái này đã tin trong sáu năm ròng hoặc lâu hơn nữa, rằng bọn Đức có dòng máu celte và ngược lại.

Khi tôi hỏi thì hắn quát lên “cái gì”? Tôi đã kịp bỏ chạy, may không có việc gì.

Không, Gabriel sẽ không nằm ườn đâuChúng ta hãy làm quen với Remi, một người kháng chiến thực thụ, một thủy quân trẻ đã nghỉ việc, anh đã mất cả hàm răng (vì sâu răng? Hay vì bị cánh trục buồm va phải?) và đã thay thế nó bằng một hàm răng vàng mạ. Quả thật, anh là người dũng cảm: làm sao anh có thể hoạt động bí mật, khi phải phô bày hàm răng kim loại bóng loáng mỗi khi cười. Dù sao đi nữa, anh cũng phụ trách việc giúp tôi trốn đi và anh sẽ báo cho tôi biết khi thời cơ đến.

Ta hãy làm quen với Gilles, một dịch giả sống ở phía Bắc đảo. Chỗ anh ở nhiều mèo đến nỗi anh không thấy cả bọn Đức nữa.

- Những người dịch tiếng Anh phải học rất nhiều điều ở giống mèo, - anh nói.

Tôi nhất trí, mặc dù mùi hôi nồng ở chung quanh, mùi nước tiểu khai bốc lên từ các nhà vệ sinh công cộng và cả một đám lông mèo đủ màu, xám, hung, đen, trắng quấn lấy chân.

Anh ta có một hoài bão. Bắt tay dịch cuốn Finnegan’s Wake của nhà văn Joyce, người Irland. Dịch giả chúng tôi coi đây là đỉnh núi Everest.

Trong khi chờ đợi, anh dịch một tác phẩm nhỏ The Real Life of Sebastian Knight. Sau đó sẽ là một tác giả sinh ở Saint - Pétersbourg, nhà văn đã từng viết tiếng Nga, Đức, Pháp và bây giờ là tiếng Anh.

Anh đưa tôi xem các trang đã dịch.

- Cho đến lúc này thì chưa khó lắm, nhà văn ít chơi trò tung hứng. Nhưng với một người biết nhiều thứ tiếng như anh, tôi không ngạc nhiên nếu anh cho ra đời một cuốn hóc búa hơn cả cuốn Finnegan.

Anh ta sửa lại cho tôi một ít tiếng Anh mà tôi đã quên từ bốn chục năm rồi.

Tôi nhắc lại cùng với anh.

Well be with you = Chào anh.

How does your honnour for this many a day = Anh có khỏe không?

Tôi ngờ rằng anh đã không dạy tôi những câu hỏi thông dụng nhất.

Những dịch giả là như thế đóTôi đã có những kỷ niệm về một thứ tiếng Anh đơn giản hơn. Nhưng, sau bốn chục năm, liệu ta có thể tin ở trí nhớ của mình được không? Cuối cùng, đã tới giờ rồi.

Hành động anh hùng. Hồi II

Bọn lính Đức vừa đi khám lại sức khỏe ở Saint Briecuc về, chúng ăn mừng vì được hoãn tái nhập ngũ: được thêm ba tháng không phải ra mặt trận phía Đông. Người ta nghe thấy chúng hát ở trong trại lính. Bờ biển sẽ không có mặt chúng.

Remi và Gilles tiễn tôi đến tận mặt biển. Một con thuyền đã đợi sẵn, nửa thân thuyền đã kéo trên đám rong biển.

- Anh chỉ cần để dòng nước đẩy đi. Điểm hẹn là chỗ phao nổi. Đừng lo gì về thuyền. Khi nước chảy ngược lại, nó sẽ tự quay về chỗ chúng tôi.

Chúng tôi ôm hôn nhau, cùng thì thầm: nước Pháp muôn năm. Anh Gilles, anh hãy tin tôi. Khi người ta đã biết sống với năm mươi hai con mèo, năm mươi ba chàng Gabriel,hãy tin tôi, người ta có thể làm được những chuyện khó hơn, có thể dịch mọi tác phẩm, kể cả Finnegan’s Wake.

Và tôi bắt đầu rời khỏi bờ. Hình ảnh cuối cùng mà tôi nhìn thấy trên đất Pháp, trong đêm ấy, đó là một vệt sáng lấp lánh ở độ cao bằng đầu người, đó là nụ cười với hàm răng kim loại của Remi.

Gần chỗ phao nổi, một con tàu đang đơi sẵn. Lái tàu người Anh tên là David Birkin. Vì chính nghĩa, anh lại biển Manche nhiều lần, biển Manche với những cơn bão dữ dội có thể đánh bật những cối xay gió ở Guernesey, biển Manche với những đội tuần tra Đức rất nguy hiểm. Don Quichotte của biển Manche chính là David Brikin, người ta sẽ nhận ra anh, dù anh dùng biệt danh. Cũng vào khoảng thời gian này, anh đã chở anh Francois Mitterrand, Bộ trưởng Bộ Nội vụ của chúng ta hiện nay. Tôi chưa hề thấy mặt David Brikin, mà chỉ thấy dáng người gầy và cao của chàng hiệp sĩ biển Manche. Dáng đi nhảy nhót của tôi làm anh ghét: anh đưa tôi vào ca bin và nhốt tôi ở đó. Do một sự ngẫu nhiên, năm 47 hay 48, tôi biết tin là anh ta mới có một cháu gái tên là Jane. Tôi gửi lời chúc mừng anh, gửi về Navy. Tôi không nhận được thư trả lời, có lẽ địa chỉ ghi trên phong bì không chính xác?

Chuyến đi được vô sự, chỉ trừ lúc bị lắc mạnh, ở Roches Douvre. Tôi nằm dài trên giường, dán mắt vào cái hình trụ bằng giấy trên đó di động mộc chiếc kim dài, đặt trong lồng kính: đó là chiếc phong vũ biểu. Tôi nhớ lại câu cuối cùng mà anh chàng dịch giả đã dạy tôi. 

The bald litte promter shuts his book, as the light fades gently. (Người nhắc vở kịch, bé nhỏ và hói đầu, gập sách lại, trong khi ánh đèn mờ tắt dần.)

Tôi tự hỏi không biết Londres có phải là thành phố ở đó người ta thường dùng câu này không? Có lẽ đây là câu văn khi từ biệt nhau, thay cho câu Bye, bye.

cắt cổ bà, chia nhau thịt. Đây là suất để phần anh.” Tôi đã sưu tầm lại được câu chuyện đó. Nó nằm trong cuốn Ngữ pháp tiếng Tamachek, do Louis - Joseph Hanoteau biên soạn, ông là một vị tướng và người uyên bác, sinh và mất ở Decize (1814-1
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Erik Orsenna

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.