Phong Tỏa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 52 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Chín
I

❊ ❊ ❊

MacNeil đậu xe bên ngoài đồn cảnh sát tọa lạc ở một nơi mà những người gốc Scot thường gọi là “gushet”, nghĩa là tòa nhà nằm ở một nơi tiếp giáp của hai con đường, nằm giữa đường Kennington và Mead Row. Đó là một từ mà MacNeil đã sử dụng nhiều lần khi anh mới đến London, nhưng dường như chẳng ai hiểu ý nghĩa. Đã có lần anh tra từ điển nhưng không thể tìm được chữ ấy. Từ gần gũi nhất mà anh bắt gặp là “gusset”, được mô tả là một mảnh vải hình tam giác được may vào áo quần để làm tăng độ bền. Cho nên anh đã hình dung rằng từ đó phải là như vậy. Và từ đó mô tả thật chính xác vị trí đồn cảnh sát trên đường Kennington - được xây dựng trong một khu đất hình tam giác tạo bởi chỗ giao nhau của hai con đường theo một góc nhọn.

Anh đã trở về Islington để tắm và thay quần áo, và hiện cảm thấy bớt bị ô nhiễm. Một vài đồng nghiệp của anh có thể nói rằng bớt mingin, nghĩa là bớt hôi hám. Lại là một từ gốc Scot khác, nhưng là một từ mà lần này đã bị người Anh chiếm đoạt để trở thành tiếng lóng thời thượng của London.

Tuy nhiên, Chánh Thanh tra Hình sự Laing vẫn gắn bó với những ngôn từ tục tằn kiểu cổ của dân Glasgow. “Anh đã chui vào cái hang chết tiệt nào vậy?” Viên Chánh Thanh tra Hình sự quát vào mặt MacNeil đang bước ngang qua phòng điều tra. “Vào đây.” Ông ta hung hăng chỉ một ngón tay vào phòng mình. Chẳng ai khác để ý. Đến bây giờ thì họ đã quá quen với cung cách của Laing.

MacNeil đứng ngay trước bàn giấy của ngài Chánh Thanh tra Hình sự, “Thưa ông Chánh, tôi có một vài việc cá nhân phải giải quyết.”

“Chẳng có sự việc nào được gọi là cá nhân trong ngành này cả, nhóc con ạ. Tôi vẫn nghĩ rằng đến bây giờ thì anh phải biết rõ điều đó rồi chứ.”

“Thôi được, để hoàn toàn thành thực với ông, thưa ngài Laing, tôi không cần để ý đến cái quái gì ông vẫn nghĩ. Và nếu ông cảm thấy đó là một vấn đề, xin ông cứ tự nhiên sa thải tôi.” Anh đã nghĩ đến việc trình bày tình hình của Sean cho vị Chánh Thanh tra Hình sự, nhưng có vẻ như điều đó không thích hợp vào lúc này.

Laing nhìn chằm chằm vào mặt anh, “Này MacNeil, nếu anh không muốn tôi dẹp mẹ nó cái khoản hưu bổng của anh, tôi đề nghị anh phải biết ăn nói lễ phép một chút.” Có vẻ như ông ta không nhận ra một chút phi lý nào trong điều mình vừa nói, cho nên MacNeil phản ứng mạnh mẽ bằng một lời đáp lại, “Tôi đã có một vài điều bực mình từ văn phòng Phó Thủ tướng vì họ đang truy tôi một lời giải thích bằng văn bản về việc tại sao một trong những sĩ quan của chúng ta đã ngăn trở công việc trên công trường Công viên Tổng Giám mục hồi sáng nay. Và tôi cũng không thể gửi cho họ bản báo cáo của ông, bởi vì tôi không có được bản báo cáo đó.”

“Nó sẽ có mặt trên bàn giấy của anh vào sáng mai.”

“Tôi muốn nó có mặt trên bàn giấy của tôi trước khi tôi nghỉ việc vào đêm nay.”

MacNeil đứng đó quan sát đống công văn giấy tờ chồng chất trên bàn giấy của mình. Báo cáo, hồ sơ, lệnh triệu tập và hàng trăm các loại phiếu ghi chú khác nhau được dán quanh khắp các mặt chiếc máy vi tính của anh cũng như dọc theo chiếc đèn bàn giấy, cùng với những ghi chú nguệch ngoạc từ hàng chục cuộc điều tra tạo thành một chồng tháp lộn ngược nằm trong chiếc khay đựng công văn chờ gửi đi của anh. Theo thông lệ thì vào giờ này văn phòng phải nhộn nhịp với nhiều hoạt động. Ngày nay ở đây không có tới nửa tá sĩ quan và thư ký ngồi tại bàn giấy của họ. Chuông điện thoại tha hồ reo bởi vì chẳng lấy đâu ra đủ người để trả lời các cuộc gọi ấy.

Trung sĩ hình sự Rufus Dawson chỉ vào một phiếu ghi dính được dán sẵn trên màn hình trước mặt MacNeil. Viên trung sĩ này là một anh chàng người Ireland to lớn tóc hung đỏ có giọng nói lai lai kỳ lạ chịu ảnh hưởng nguồn gốc sinh trưởng ở New Zealand nhiều hơn so với di sản Ireland của anh ta. Vốn là một kẻ thích nói chuyện tiếu lâm thâm căn cố đế, luôn luôn có sẵn một vài câu chuyện đùa thú vị bên cạnh một nụ cười dễ lây, vài tuần lễ nay anh bỗng trở thành một người nghiêm trang bất thường. Quả tình, những ngày này chẳng có mấy chuyện có thể làm cho anh dễ cười đùa như trước. “Phil gọi về từ Đường Lambeth lưu ý về một cái tên và một địa chỉ. Tương thích với dấu vân tay được phát hiện trên tấm vé tàu điện ngầm. Anh ta cho biết thông tin chi tiết hơn sẽ được chuyển qua máy fax.” Viên trung sĩ đã sẵn sàng rời khỏi văn phòng nhưng có điều gì đó trong thái độ của MacNeil đã níu chân anh lại. Anh ta nhìn MacNeil một lúc lâu “Anh ổn chứ, ông thầy.”

“Ờ, bình thường mà. Cảm ơn nghe, Ruf.”

Anh gỡ phiếu ghi dính ấy ra khỏi máy tính rồi đọc qua dòng chữ nguệch ngoạc của Rufus. Tờ giấy có ghi một cái tên là Ronald Kazinski và một địa chỉ trong vùng South Lambeth. Anh đứng dậy và kiểm tra xem bản tin gửi qua máy fax của Phil đến chưa thì thấy bản tin ấy đã nằm sẵn trên khay công văn đến. Kazinski đã ba mươi mốt tuổi. Tấm ảnh căn cước mờ nhạt kèm theo các chi tiết lý lịch của đương sự cho thấy gã này có mái tóc đen nhưng thưa thớt, đôi gò má cao và cặp mắt cách xa nhau hơn bình thường. Đương sự từng làm phụ tá cho nhân viên tẩn liệm thi hài tại một lò hỏa táng ở phía nam thành phố trong hơn hai năm rưỡi qua. Không bao lâu trước lúc xảy ra tình trạng khẩn cấp vì dịch bệnh, y được trưng dụng phục vụ công tác của chính phủ tại trung tâm xử lý thi hài công cộng vừa được thiết lập tại bờ nam của con sông trong Trạm Điện lực Battersea từ lâu đã bị bỏ hoang. Dấu vân tay của y có trong máy điện toán của Hệ thống Nhận diện Vân tay Tự động vì đương sự đã có một hồ sơ của cảnh sát về tội oa trữ đồ gian. Nay, thay vì dính líu đến đồ vật trộm cắp thì y lại liên quan đến việc xử lý xác người chết. MacNeil tự hỏi liệu tên này có phải chịu trách nhiệm về việc giải quyết nắm xương của đứa bé gái Trung Hoa ở Công viên Đức Tổng Giám mục hay không. Quả là một sự trùng hợp kỳ lạ khi dấu vân tay của y lại được phát hiện trên một tấm vé xe điện ngầm được khai quật gần nơi mà bộ xương này đã được quăng xuống để phi tang. Nhưng mọi sự trùng hợp, dù kỳ lạ hay không, vẫn không phải là điều mà MacNeil sẵn sàng chấp nhận.

Anh mặc áo khoác ngoài rồi dặn Rufus Dawson, “Nếu Laing tìm tôi, chú em có thể nói với ông ta là tôi đi nói chuyện với Kazinski.”

II

Vào thời Trung cổ, địa điểm của Trạm Điện lực Battersea được gọi là Cánh đồng Battersea, một nơi được thường xuyên lui tới bởi đám du thủ du thực và bọn đầu trộm đuôi cướp. Đầu thế kỷ XIX, khu đất này được sử dụng cho việc săn bắn chim bồ câu và tổ chức các cuộc hội chợ địa phương. Người ta đồn rằng Quận công vùng Wellington và Bá tước Winchelsea đã từng có một cuộc quyết đấu tay đôi ở đây nhưng cả hai đều vô sự. Trạm điện lực, với bốn ống khói mang tính biểu tượng của nó, được xây dựng vào thập niên 1830 và kể từ đó lúc nào cũng tuôn ra những luồng khói đen ngòm dày đặc phun vào bầu không khí của thành phố trong suốt một nửa thế kỷ trước khi bị đóng cửa trong thập niên 1980. Người ta đã phải dỡ mái của trạm để mang đi những chiếc máy tuốc-bin khổng lồ, và trong gần ba chục năm trời tòa kiến trúc này chịu cảnh phơi ra ngoài sương gió. Những kế hoạch đầy tham vọng của một tổ hợp tư nhân nhằm biến đổi khu đất này thành một phức hợp giải trí, bán lẻ và khách sạn, trong khi giữ lại phần kiến trúc độc đáo bên ngoài của trạm phát điện, cuối cùng đã có lệnh tạm thời xếp lại bởi chính phủ. Một hệ thống mái che tạm thời đã được lắp dựng bên trên phần chính của tòa kiến trúc này, và bốn ống khói đặc trưng của tòa kiến trúc một lần nữa lại phun khói vào bầu trời thành phố London. Nhưng lần này ở đây không đốt những tảng than đá được vận chuyển bằng những chiếc phà đi ngược dòng sông mà là đốt xác người. Những nạn nhân của cơn đại dịch. Tuy nhiên, khói tỏa ra chỉ có màu đen và lơ lửng ở mạn nam của con sông trong một bầu không khí ảm đạm, ma quái.

MacNeil lái xe vượt qua những tấm bảng quảng cáo có tác dụng che chắn địa điểm này khỏi những cặp mắt tò mò. Những tấm bảng quảng cáo đã được dựng lên bởi những nhà phát triển bất động sản trong những thời gian lạc quan hơn. Chúng tạo nên một tấm màn che kỳ lạ về những cánh đồng cùng những hàng cây xanh ngát bên dưới bầu trời trong xanh. Bên trên những tấm bảng quảng cáo ấy là những ngọn tháp xây bằng gạch đỏ của trạm phát điện vươn thẳng lên bầu trời, trông tối tăm giận dữ, và bị chọc thủng ở mỗi góc bởi những ống khói cao sơn trắng xả khói từ những lò thiêu bên dưới. Ở góc tây nam, những chiếc cần trục cao lênh khênh đứng trơ trên những khối căn hộ đang xây dựng dở dang, về phía đông bắc, khu chợ mới Covent Garden - từng tự xưng là Nguồn Cung ứng Thực phẩm cho London - cũng bị bỏ hoang. Và suốt dọc con đường Chelsea Park, những bức tranh cổ động khổng lồ gào to những khẩu hiệu trên những con đường vắng ngắt - Cuộc Cách mạng Kỹ nghệ đã bị vượt qua; Kỷ nguyên Thông tin đã Kết thúc; và Tôi Nghĩ được thì Tôi Làm được, chào mừng Đến với Thế hệ Ý tưởng. MacNeil ngước mắt nhìn lên đám khói lơ lửng trên đầu rồi nghĩ, chào mừng đến với địa ngục.

Anh rẽ vào Kirtling Street, cho xe chạy thẳng tới ngôi nhà ở một bên lối vào rồi dừng ngay bên ngoài những cánh cổng kim loại sơn xanh. Đối diện cánh cổng là một chiếc xe jeep của quân đội có gắn ở phía sau một khẩu súng máy. Hai người lính ngồi hút thuốc lá qua những lớp mặt nạ vải. Một nhân viên an ninh mặc đồng phục xanh lá cây xuất hiện ở phía bên kia cổng; anh ta cũng đeo một chiếc mặt nạ vải màu trắng và giữ khoảng cách. MacNeil ra khỏi xe đứng nhìn người nhân viên an ninh qua những thanh chắn của cánh cổng. Người nhân viên an ninh hỏi to lên, “Anh có mang theo giấy tờ không?”

MacNeil xuất trình giấy chứng nhận và nói, “Cảnh sát đây. Tôi muốn nói chuyện với một người trong số các nhân viên ở đây. Một anh chàng tên là Ronal Kazinski.”

“Chờ một chút”, nhân viên an ninh trả lời. Anh ta quay lại rồi vào tòa nhà bên cổng. Nhìn qua cổng, MacNeil nhận ra một tòa kiến trúc thấp xây bằng những tấm thủy tinh và nhựa có những hình dạng góc cạnh kỳ lạ. Đây là nơi chứa đựng một mô hình kế hoạch của những nhà phát triển bất động sản cho cả khu liên hợp này. Nhưng không bao giờ họ tưởng tượng điều này. Trên thảm cỏ gần tòa nhà ấy là hai bức tượng bằng đồng lớn hơn người thật. Một người đàn ông và một người đàn bà ẵm một đứa trẻ, cả hai đều giơ tay lên ở tư thế chào đón. Chào đón điều gì thì tùy ý nghĩ của mỗi người. Có lẽ là để chào đón cuộc sống, MacNeil thầm nghĩ. Trong trường hợp này, có điều gì đó mỉa mai hơn về sự chào đón ấy. Nhưng điều mà họ đã thực hiện dường như bổ sung cho những bức tranh cổ động gắng sức hô khẩu hiệu mà anh đã nhìn thấy mới lúc nãy. Có điều gì đó hầu như mang phong cách Stalin.

Một chiếc ổ khóa điện tử nhả cánh cổng và nó bắt đầu lăn đi từ từ để mở cổng ra. Nhân viên an ninh gọi to lên từ ngưỡng cửa căn nhà bên cổng. “Cứ lái xe vào thẳng khu vực hành chính rồi hỏi ông Hartson. Ông ấy là người chịu trách nhiệm.”

MacNeil lái xe vượt khỏi hai pho tượng chào đón rồi xuyên qua một chiếc cổng khác để vào tới khu văn phòng xây gạch nằm nửa trong nửa ngoài bức tường bao của trạm phát điện. Trên một vùng đất trống đầy mảnh nhựa đường vụn, những chiếc xe máy đào và những chiếc cần trục đứng im lìm, chẳng khác gì những con khủng long bị đóng băng trong thời gian. Một dãy những chiếc xe tải màu đen không mang bảng số nối đuôi nhau ở những cổng ra vào một gian sảnh chính, chờ đợi để chuyển giao những thứ hàng hóa rùng rợn của chúng, trước khi quay lại rồi lao đầu về bất kỳ bệnh viện nào trong số hàng chục bệnh viện trong thành phố để nhận hàng, sau đó lại tức tốc trở về nơi đây. Hệt như ngày xưa, những người lái đò cũng chăm chỉ thực hiện công việc của họ đi qua đi lại con sông phân cách dương gian với âm phủ.

Anh đậu xe bên ngoài khu vực văn phòng rồi đẩy một cánh cửa đôi để đi vào gian sảnh chính. Một người phụ nữ ngồi tại bàn giấy nhìn anh qua chiếc mặt nạ. Anh đưa ra chiếc thẻ chứng minh của mình và nói, “Thanh tra Hình sự MacNeil muốn gặp ông Hartson. Ông ấy chờ tôi.”

Văn phòng của Hartson nằm ở trên cùng của tòa kiến trúc này. Một bức vách khổng lồ bằng kính chạy dọc một phía tòa nhà nhìn xuống tòa sảnh chính của trạm phát điện ngày xưa. Hartson là một người đàn ông ở độ tuổi sáu mươi, cao nhưng mảnh khảnh và hói đầu; có một thái độ xun xoe đặc trưng của một người làm nghề tẩn liệm xác chết. MacNeil bị thu hút bởi tấm gương. Cảnh tượng ở bên dưới là một trong những điều mà anh chẳng thể nào tưởng tượng được. Hàng ngàn những thân xác trần truồng được đặt chồng chất lên nhau ba lớp trên những tấm nâng hàng trải dài ngút tầm mắt, được quăng ném theo từng chồng chẳng khác gì những hình nhân bằng nhựa trong một xưởng sản xuất đồ chơi, tay chân quấn vào nhau, tỏa ra ánh sáng một cách kỳ lạ, khó mà bảo đó là con người. Khói tỏa ra từ việc phun thuốc khử trùng xóa nhòa mọi chi tiết, giống như sương mù chạy dọc theo bờ sông Thames vào một buổi sáng mùa thu. Những hình nhân trông đầy vẻ ma quái mặc những bộ quần áo bảo hộ cá nhân màu xanh, gương mặt bị che lấp sau những tấm kính chắn bằng nhựa có nhuộm màu, đi tới đi lui giữa những làn khói quấn quýt của lớp thuốc khử trùng trong sự chuyển động chậm chạp, như những phi hành gia bước trên mặt trăng, bốc dỡ những thi hài từ những chiếc xe tải để chất thành từng đống vào những tấm nâng hàng cũng đã đầy phè ra. Một trong những lò thiêu ấy dường như được chỉ định để thiêu quần áo và chăn gối nệm. Thi hài người chết, vẫn còn đặt trên những tấm nâng hàng, được khéo léo di chuyển nhẹ nhàng vào ba chiếc lò thiêu khác bởi những chiếc xe nâng khổng lồ. Trong một vài khoảnh khắc khi cửa lò thiêu còn mở, ngọn lửa giữa lòng lò thiêu phả ra một luồng ánh sáng hư ảo màu đỏ cam xuyên qua lớp sương mù của khói thuốc khử trùng, trước khi những cánh cửa lò khổng lồ bằng gang đóng sập lại, sự chấn động của chúng được cảm nhận khắp tòa nhà như những cơn địa chấn.

MacNeil đưa mắt nhìn lướt qua đống thi hài bị quăng bỏ phía bên dưới, tự hỏi không biết có phải xác của Sean, đứa con trai là hậu duệ của anh, cũng đang nằm đâu đó dưới ấy đang chờ được hỏa thiêu cùng với tất cả những xác chết khác. Đó không phải là một ý tưởng dễ chịu có thể ở lâu trong đầu anh, cho nên anh quay lại rồi bước vào văn phòng.

“Cảnh tượng mang lại cho chúng ta sự tỉnh thức, phải vậy không”, Hartson nói, “Nhưng thôi, nhờ ơn Thượng đế, chúng ta đi nào.” Vị chuyên gia tẩn liệm xác chết bước ngang mặt MacNeil đi về phía cửa sổ; ngay lúc ấy, MacNeil trông thấy chiếc mặt nạ của ông ta ánh lên một tia sáng chớp nhoáng màu đỏ cam khi một trong những cánh cửa lò thiêu vừa mở ra để tiếp nhận thêm những đống thi hài. Người tẩn liệm xác chết nói, “Tôi vẫn là kẻ sùng mộ. Một con chiên ngoan đạo.” Ông ta quay lại với MacNeil, “Bây giờ thì tôi tự hỏi…” Nhưng rồi ông ta đột ngột bỏ rơi những suy nghĩ có tính siêu hình ấy. “Ông muốn gì ở Ronnie?”

“Chỉ vài lời thôi. Ông biết rõ về anh ta chứ?”

“Tôi biết từng người một ở đây. Cái chết là một cách để mang con người ta đến với nhau. Tất cả chúng tôi đều rất thân thiết.”

“Như vậy chắc là ông biết rằng anh ta từng có tiền sự rồi chứ?”

“Ồ, tất nhiên. Hồ sơ của anh ta đã được cung cấp cho tôi khi tôi tuyển mộ nhân viên cho công việc này. Nhưng tôi nghĩ, đó là quá khứ của anh ta. Kinh nghiệm của anh ta trong việc xử lý xác chết vẫn được coi là ưu tiên. Anh ta là một thanh niên nhã nhặn. Làm việc chăm chỉ, có ý thức.”

“Ông có phiền nếu tôi mượn anh ta chừng nửa giờ đồng hồ không?”

“Thưa ngài Thanh tra, tôi chẳng thắc mắc gì đâu. Nhưng phải đến nửa đêm mới có ca làm việc của anh ta.” Nụ cười của Hartson mang vẻ trang trọng của một người chuyên môn mang đến những tin xấu. “Ở đây chúng tôi làm việc suốt ngày đêm. Hai mươi bốn trên bảy, như những người bạn Hoa Kỳ của chúng ta thường nói.”

MacNeil lại nhìn thoáng xuống những gian đại sảnh của Diêm vương ở bên dưới, và trong một thoáng suy nghĩ, anh nhìn thấy thân xác nhỏ bé tội nghiệp của Sean, đứa con trai của anh, tí hon, méo mó, bị chèn giữa một người phụ nữ to béo và một ông già. Thế rồi hình ảnh đó lướt qua, biến mất mãi mãi trong một cơn xoáy lốc của làn khói trắng.

III

Kazinski sống với mẹ trong một khu chung cư phức hợp được xây dựng ở rìa phía nam của vùng Lambeth. Những khối căn hộ cao thấp khác nhau được xây cất để thu hút cư dân từ những khu ổ chuột của thành phố công nghiệp London thời thế kỷ thứ XIX, với hy vọng cung cấp cho họ một cuộc sống tốt đẹp hơn trong một thế giới mới dũng cảm. Các vị kiến trúc sư đã thiết kế những tòa nhà này có thể chỉ là những sứ giả của quỷ; vì lẽ, thay cho mục đích ban đầu, công trình này chỉ di chuyển tầng lớp lao động nghèo khổ ra khỏi những cộng đồng ban đầu của họ để mang họ đến một chỗ còn tồi tệ hơn đến mức chẳng khác gì chốn địa ngục là nơi mà đáng lẽ họ phải được thoát ra.

Ít nhất, một nửa số căn hộ đã bị bịt kín bằng các tấm ván, các cửa sổ bị đập vỡ, những thứ khác bị đốt cháy. Lớp sơn phủ trên bê-tông vỡ vụn mang theo những đường sọc đen của các vụ hỏa hoạn có bảo hiểm mà đối với nhiều người thì là lối thoát duy nhất. Quanh các tòa nhà, các khu đất trống có lát nhựa đường đều vương vãi kính vỡ và những lon bia rỗng, một cảnh quan được làm nổi bật bởi những chiếc xe bị đốt cháy, trông như xác của quá nhiều súc vật chết. Mảnh vụn của những dụng cụ gia đình bị thải loại - nệm cũ, quần áo không dùng đến, đồ cũ hư hỏng - bị cuốn dạt lên những đoạn đường dốc và các lối đi, chẳng khác rong rêu trên bãi biển sau một trận bão. Đèn đường bị đập nát, nhiều cột đèn điện đã bị phá hủy gãy gập xuống. Khi màn đêm buông xuống, đây là một khu vực cấm lui tới, tối tăm và đầy nguy hiểm. Và đó chính là thế giới mới dũng cảm.

MacNeil đậu xe trên đường rồi đứng nhìn qua những cánh cổng mở của khu nhà. Thật khó để tin rằng còn có ai đó sinh sống ở một nơi như thế này. Thế mà anh vẫn có thể nhìn thấy, dọc theo những lối đi có mái che ở mỗi tầng, có những cửa ra vào vừa được sơn lại cùng với những cửa sổ có những tấm rèm che màu trắng trông sạch sẽ. Giống như thỉnh thoảng vẫn còn một vài chiếc răng tốt trong một cái mồm đầy những răng sâu. Bên kia đường quả thực là có một khối nhà nhiều tầng đã hoàn toàn bỏ hoang. Từng ô cửa sổ một đều bị bít kín bằng ván ép, những cuộn dây thép gai được giăng khắp chu vi tòa nhà.

Thủy tinh vỡ vụn dưới chân khi anh đi ngang qua một khu vui chơi trẻ em, nơi mà hẳn là những bản vẽ của các kiến trúc sư đã mô tả một cuộc tụ tập vui vẻ của những đứa trẻ thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau đang cùng nhau tham gia một trận đá bóng. Kể cả nếu như điều đó từng là một thực tế, thì sự kiện đó cũng đã trôi qua lâu rồi.

MacNeil có một cảm giác kỳ lạ về một điềm báo trước khi anh bước vào khối nhà có căn hộ của Kazinski. Không có đến một dấu hiệu đơn độc của cuộc sống. Thế giới này mang lại cảm tưởng cứ như một con tàu mà thuyền trưởng đã ra lệnh bỏ tàu, nhưng không một ai nói cho MacNeil biết.

Khu vực cầu thang sực nức mùi nước tiểu, mùi bia thiu cùng với mùi của một vài thứ khác mà anh không thể xác định được. Các bức tường hầu như bị che lấp hoàn toàn bởi những hình vẽ nguệch ngoạc kiểu nghệ thuật đường phố. Anh nghe thấy tiếng bước chân của mình vang vọng đến tận tầng sáu. Lên đến tầng thứ hai, anh rẽ vào lối đi mở chạy dọc phía bên ngoài dãy nhà dẫn đến các căn hộ riêng lẻ. Mọi lối ra vào phụ của các căn hộ đều đã được bít kín bằng ván ép. Những căn hộ khác có trước cửa những dấu chữ thập thô thiển được vẽ vội bằng sơn đỏ để cảnh báo rằng ngôi nhà ấy đã bị cúm đến viếng, một sự trở lại kỳ lạ, đáng sợ giống hệt thời có đại dịch hoành hành. MacNeil tự hỏi, có điều bất hạnh nào ẩn nấp đằng sau những cánh cửa này?

Căn hộ của Kazinski mang số hai mươi ba. Cánh cửa ra vào đã được sơn mới. Có một hộp thư hình trụ sơn đỏ. Để che đi dấu hiệu của bệnh cúm chăng? Hay để canh giữ chống lại nó? MacNeil chẳng có cách nào biết rõ lý do. Trước cửa có một chiếc dùi gõ bằng thau bóng lọng đặt ở độ cao ngang đầu; anh đập vào nó ba lần. Một lúc sau, anh thấy tấm màn treo ở cửa sổ phía bên trái rung động.

“Ông cần chi?” Một giọng phụ nữ khàn khàn cất lên từ sau tấm kính.

“Cảnh sát đây, thưa bà Kazinski. Tôi muốn nói chuyện với con trai của bà.”

“Ông vui lòng cho xem thẻ hành sự.” Đây là một người đàn bà đã từng có công việc phải đối phó với cảnh sát.

MacNeil lấy giấy chứng nhận của mình ra rồi nhét nó vào cửa sổ. Bức màn được gạt sang một bên, và dưới ánh sáng ban ngày rọi vào, MacNeil nhìn thấy gương mặt nhăn nheo nhợt nhạt của một người phụ nữ ở độ tuổi ngoài năm mươi, có nét sắc sảo nhưng trông héo hon, sự thừa kế gen di truyền của nhiều thế hệ nghèo khổ. Tấm màn cửa rơi trở lại vị trí cũ.

“Nó không có nhà.”

“Đừng bịa chuyện với tôi, bà Kazinski ạ.” Anh biết bà ta sẽ không mở cửa cho mình, và sẽ mất khá nhiều thời giờ để có được trát bắt cùng với vài viên sĩ quan buộc cánh cửa này phải mở ra.

“Con tôi đi làm từ sáng sớm nay rồi.”

“Phải đến nửa đêm, anh ta mới có ca làm việc.”

“Không phải. Nó bảo với tôi là nó bắt đầu ca làm việc vào giữa trưa.”

“Vậy thì anh ta đã nói dối bà đấy, bà Kazinski ạ. Tôi vừa từ Battersea đến đây.”

“Không, thằng Ronnie nhà tôi vẫn là một đứa con trai ngoan.”

“Thế tối qua anh ta có nhà không, hay là anh ta ở chỗ làm việc?”

Bà ta ngập ngừng, rõ ràng không biết nên trả lời thế nào cho ổn.

“Sáng nay anh ta đi làm lúc mấy giờ, thưa bà Kazinski?”

“Tôi không rõ, lúc ấy là đã muộn. Ý tôi nói là nó đi sớm, khoảng năm hay sáu giờ. Tôi còn ngủ. Đêm qua nó có ca lúc năm giờ. Họ làm việc suốt mười hai giờ.”

“Ngày hôm qua anh ta được nghỉ. Họ đã cho tôi biết tại trạm phát điện.”

“Không!” Anh nghe có sự bối rối trong lời phủ nhận của bà ta. Sự tổn thương trong giọng nói. Tại sao con trai bà lại nói dối với mẹ nó chứ? Lúc này MacNeil tin rằng bà ta đã nói sự thật. Rằng Kazinski thực sự hiện không có nhà, và rằng bà ta cũng không biết rằng con trai mình đi đâu nếu nó không đi làm. “Nó đã làm việc gì vậy?”

“Thưa bà Kazinski, tôi cũng không biết anh ta đã làm điều gì. Tôi chỉ muốn nói chuyện với anh ta thôi. Tất cả là vậy.”

“Nhân viên công lực các anh chẳng bao giờ chỉ muốn nói chuyện không mà thôi.” Bà ta chuyển cơn giận và sự tổn thương vì sự dối trá của con mình để hướng sang tấn công MacNeil. Đó là điều mà anh đã quá quen thuộc. Luôn luôn là lỗi của cảnh sát khi những người mà bạn yêu thương lâm vào chuyện rắc rối.

“Bà có thể nói với con mình rằng tôi đang tìm anh ta.” MacNeil gấp tấm thẻ chứng nhận của mình rồi nhét vào một chiếc túi trong. “Và có lẽ bà cũng nên hỏi anh ta xem anh ta đã làm gì vào tối qua khi anh ta nói dối bà là đi làm việc.” Anh thọc tay vào túi áo khoác rồi đi ngược lại dọc theo khu vực cầu thang. Lời nguyền rủa của bà Kazinski đuổi theo anh dọc lối đi. Nhưng mặc dù vậy, bà ta vẫn không mở cửa ra trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Kể cả để chửi rủa sau lưng anh.

Cách cầu thang vài bước chân, anh đã nghe được tiếng chân bước nhộn nhịp, những giọng nói thì thầm trong bóng tối ở phía xa xa, anh liền dừng lại và hỏi, “Ai đó?”

Một tên thanh niên gầy gò xuất hiện tiến vào lối đi. Mái tóc của hắn chải keo dựng lên tua tủa như những mũi gai nhọn, một chiếc khăn hình tam giác nửa xanh nửa đỏ che cả mũi và miệng. Phần trán ngay phía trên chiếc khăn ấy nổi đầy mụn. Tên này mặc một chiếc áo len tay dài có mũ trùm đầu trông gấp đôi khổ so với thân hình của hắn và một chiếc quần kaki loại chở hàng có đũng quần dường như thụng xuống tận đầu gối. Từ một bàn tay có hình xăm thô thiển những chữ cái trên từng khớp đốt ngón tay, thằng nhóc này nắm một cây gậy bóng chày đã bị sờn mép lủng lẳng gần sát mặt đất. Ba tên thanh niên khác, trong đó có một tên da đen, tiến ra phía sau Mặt Mụn, tất cả đều đeo khăn rằn có cầm gậy đánh bóng chày hoặc xà beng.

Một tiếng động phía sau khiến anh quay lại và thấy hai tên thanh niên khác xuất hiện từ một ô cửa đã được vẽ nguệch ngoạc những vết sơn đỏ. Anh cảm nhận được thái độ thù địch trong những ánh mắt nhìn chằm chằm về phía mình và anh biết anh đang gặp rắc rối. Anh liếc nhìn phía bên cạnh lối đi. Ngay cả nếu anh có thể sống sót sau một cú nhảy thì đôi chân anh cũng gãy nát.

“Mày muốn gì ở Ronnie vậy?” tên thanh niên mặt mụn hỏi.

“Bọn này có chút chuyện làm ăn”, MacNeil trả lời, hy vọng rằng có thể Ronnie có quan hệ với bọn nhóc này và nhờ thế chúng có thể để mặc cho anh yên nếu chúng nghĩ rằng anh là bạn của một kẻ từng phạm tội.

“Thế à, có vẻ vậy đó”, Mặt Mụn nói. “Mày không phải là thứ cớm chết tiệt à. Đồ mã tà chết tiệt.” MacNeil không trả lời. Mặt Mụn hướng về túi chiếc áo khoác của MacNeil và gật đầu, “Cũng có thứ đó chứ hả, có hay không?”

“Có cái gì?”

“Thứ thuốc chết tiệt đó, đồ cá sặc.”

“Tôi không có thuốc.”

“Tất nhiên là mày có chứ. Chúng cung cấp cho tất cả bọn mày mà. Mọi tên cớm đều được cấp thuốc, có phải vậy không. Cái thứ FluKill chết tiệt ấy!”

“Có thể.”

“Vậy thì đưa thuốc cho tụi này?” Thằng nhóc Mặt Mụn chìa tay ra.

“Tôi sẽ cho chú em thuốc FluKill của tôi nếu chú em cung cấp cho tôi một vài thông tin. Vụ này gọi là trao đổi sòng phẳng, có phải vậy không?” MacNeil cố gắng để kiềm cho giọng nói của mình không run rẩy.

Mặt Mụn cau mày, “Mày tìm kiếm thứ thông tin chết tiệt nào vậy, mã tà?”

“Tôi muốn biết Ronnie đã đi đâu khi mà anh ta không đi làm.”

Mặt Mụn nhìn MacNeil như thể anh là kẻ mất trí, “Mày muốn gì?”

“Tôi muốn biết anh ta lang thang chốn nào.”

“Sssa Câu lạc bộ Băng Đen, phải thế không?” tên nhóc da đen lên tiếng.

“Ngậm cái mõm mày lại”, Mặt Mụn nói với tên nhóc da đen.

Trong một khoảnh khắc, MacNeil quên bẵng tình thế tuyệt vọng của mình, “Ở Soho à? Tất cả những hội quán ở đó đã bị đóng cửa cả nhiều tuần lễ nay rồi.”

“Mày muốn tìm kiếm điều gì vậy, hử?” Một nụ cười lạnh lẽo khiến đôi mắt của Mặt Mụn nheo lại. “Chẳng phải là mày đang tìm kiếm những chuyện chết tiệt ấy, có đúng thế không?” Thằng nhóc lại đưa bàn tay ra một lần nữa. “Thôi, hãy khạc ra đi.” Thế rồi thằng nhóc gầm lên với trò đùa của chính nó, “Cũng tếu chứ, hả.”

“Xin lỗi”, MacNeil nói, “E rằng lúc nãy tao nói xạo.”

“Mày nói cái gì?” Mặt Mụn làm ra vẻ bối rối.

“Tao chẳng có viên FluKill nào cả.” Ngay đó, anh vung nắm đấm bằng tay trái của mình vào thằng mặt thằng nhóc. Anh biết anh cần phải ra tay trước, tấn công lúc chúng không phòng bị, nếu anh muốn thành công. Anh cảm nhận được răng và xương gãy vụn dưới nắm đấm của mình và ngay lập tức rùn người xuống để chụp lấy chiếc gậy đánh bóng chày khi nó rơi ra khỏi bàn tay của Mặt Mụn. Anh nắm lấy chiếc gậy bằng cả hai bàn tay rồi vung mạnh ra chung quanh. Đầu cây gậy đánh bóng chày đập thẳng vào một bên đầu của một thằng nhóc đứng phía sau anh và nó ngã xuống như một bao than. Ô cửa ra vào ở phía bên phải MacNeil đã được bịt kín bằng những tấm ván ép. Dùng hết sức mạnh, anh đá thẳng vào tấm ván ấy khiến nó vỡ vụn ra từng mảnh rơi vào bóng tối giữa một đám mây bụi. MacNeil lao qua ô cửa rơi vào một nơi bất định; phía sau lưng anh, những kẻ tấn công anh cất lên những âm thanh đầy giận dữ và đau đớn.

Anh lọt vào một hành lang dài mà ở đó những tấm ván sàn đã bị bóc lên không biết tự bao giờ. Anh phải chạy từ thanh rầm này qua thanh rầm khác rồi chuyển qua một lối ra vào khác. Từ đó, anh có thể có được một vị trí phòng ngự. Bọn tấn công anh chỉ có thể tiếp cận anh từng đứa một. Thế rồi kẻ đầu tiên trong đám đó xuất hiện, hét ầm lên như một tên mất trí. Một thanh xà beng cắm phập vào bức tường thạch cao phía sau đầu MacNeil. Anh còn không kịp nhìn thấy nó được phóng ra từ đâu. Anh vung chiếc gậy đánh bóng chày của mình lên đập thẳng vào miệng thằng nhóc da đen khiến nó ngã về phía sau, máu chảy ra từ đôi môi dập nát. MacNeil dùng hết sức mình giữ cho thanh đố cửa không rơi xuống và chờ đợt tấn công kế tiếp. Thế nhưng đợt này đã không xảy ra. Thằng nhóc da đen, vẫn còn rên rỉ, lảo đảo lùi ra sau vùng tối để thoát ra được ở lối đi. Anh nghe thấy những giọng nói thì thầm, thế rồi có kẻ nào đó chửi rủa rầm rĩ. Thế rồi là im lặng.

Tất cả những gì mà MacNeil có thể nghe được vào lúc ấy chỉ là tiếng thở hổn hển của chính mình trong bóng tối. Khi cặp mắt của anh đã quen với bóng tối ấy, anh nhìn quanh căn phòng phía sau. Ở đây những tấm ván sàn cũng đã bị rút mất. Có một tấm nệm rách nát trồi lên ở một góc và những phần còn lại rỉ sét của một chiếc giường cũ. Một ô cửa sổ nhìn ra lối đi cũng đã bị bịt kín bằng ván ép. MacNeil sờ soạng tìm chiếc điện thoại. Anh có thể gọi cứu viện nhưng điều đó cũng mất nhiều thời gian, và anh không biết mình có thể chống đỡ được với đám nhóc này trong bao nhiêu lâu. Nhưng ngay cả để gọi một cuộc điện thoại, anh cũng không có đủ thời giờ. Một âm thanh nghe như tiếng rú rít xuất phát từ hành lang, cùng với một vầng sáng chói lòa của một luồng ánh sáng trắng chập chờn. Một bó giẻ rách thấm đẫm dầu lửa đang bùng cháy. MacNeil đã có thể ngửi thấy mùi khói, rồi một đám khói đen dày đặc ngay lập tức đẩy anh chạy ngược vào phòng. Thật là điên rồ. Bọn chúng không quan tâm đến việc chúng có thể đốt cháy toàn bộ tòa nhà.

Anh phản ứng hoàn toàn theo bản năng, bởi hoảng loạn cũng như bởi tất cả mọi lý do khác, vội vàng lao ra khỏi cửa sổ. Cả một tấm ván tự xé ra khỏi những hàng đinh trước đây vẫn giữ nó lại, và MacNeil nhảy qua khung cửa sổ ấy cùng với tấm ván ép, co cả hai đầu gối lên sát ngực, che lấy vai và đầu trong lúc rơi tự do xuống. Anh rơi ngay vào đầu của một trong những kẻ tấn công mình, tấm ván là chướng ngại vật che chắn cho anh trước bọn chúng; anh nghe được tiếng không khí bị ép từ buồng phổi của thằng nhóc ấy trong một cơn nôn ọe đầy đau đớn. MacNeil không chờ để nhìn xem thằng nhóc đó là đứa nào. Anh vội vàng đặt chân xuống sàn rồi chạy vội về phía cầu thang, đôi chân hầu như oằn xuống. Trong lúc hoảng loạn, anh đã bỏ mất chiếc gậy đánh bóng chày. Nhưng không hề gì. Bấy giờ anh đã đến được cầu thang và anh cứ thế lao xuống ba rồi năm bậc thang một. Sau lưng, anh vẫn có thể nghe được hò hét rú rít của đám thanh niên, đòi trả nợ máu và rửa hận. Nếu bị bọn chúng bắt, chắc chắn anh không thể sống được.

Anh đã có thể nhìn thấy ánh sáng ban ngày chiếu xuyên qua ô cửa mở ngay dưới chân cầu thang. Một nửa thân thang nữa, và một khi đã ra đến bên ngoài, anh có thể chạy nước rút đến chiếc xe.

Anh hít vào đầy một buồng phổi làn không khí trong lành ngọt lịm khi phóng thẳng ra ngoài để vào được khu đất trống trước tòa kiến trúc; ngay lúc ấy một chiếc gậy đánh bóng chày đập thẳng vào ngực anh khiến ý định của anh hoàn toàn phá sản. Động lực của cú nhảy khiến anh lăn đi mấy bước nữa trước khi anh rơi vào giữa đống kính vỡ để lập tức cảm nhận được kính cắt sâu vào lòng bàn tay và gò má. Anh lăn qua một bên để thấy một tên da đen cao lênh khênh mặc một chiếc quần jean ống túm nhìn xuống nhăn nhở cười vào mặt anh, chiếc khăn rằn của tên này được kéo xuống đến cổ. Ba tên khác xuất hiện từ khu vực cầu thang phía sau anh và nhanh chóng rút ngắn khoảng cách. Mặt Mụn đã vứt bỏ chiếc mặt nạ, gương mặt đầy máu đã khô quanh mũi và miệng. Lúc này hắn cầm theo trong tay một thanh kim loại, cặp mắt chất đầy giận dữ và thù hận.

MacNeil nằm trên mặt nhựa lát đường, chống người trên một khuỷu tay, vẫn tiếp tục cố gắng để lấy hơi. Anh biết rằng mình không có cách nào đến được chiếc xe hơi trước khi rơi vào tay bọn chúng. Đám nhóc này như một bầy thú hoang dại bị thương. Chúng có trang bị vũ khí và quyết tâm giết anh.

Mặt Mụn khẳng định ý đồ của hắn, “Mày tiêu rồi, thằng mã tà chết tiệt.” Hắn nâng thanh sắt đã được nắm chặt trong lòng bàn tay rồi bước từng bước một về phía MacNeil. Thế rồi tự nhiên ngực hắn vỡ tung ra trong một tia chất lỏng màu hồng. Tên thanh niên ấy chỉ có vừa đủ thời gian để ghi nhận sự bất ngờ, trước khi đổ xuống về phía trước nằm sấp mặt xuống đất không kịp thốt ra một âm thanh nào. Vũ khí của hắn rơi xuống khua vang khi chạm vào những phiến đá lát đường.

MacNeil nhìn thằng nhóc ấy với sự sửng sốt. Anh không có một ý niệm nào về việc gì vừa xảy ra. Những tên khác cũng đứng sững lại trong một sự nghi hoặc tột độ. “Cái chết tiệt gì…” Tên nhóc da đen, kẻ đã đập chiếc gậy đánh bóng chày vào ngực MacNeil, dợm chạy về phía tên bạn hắn vừa nằm xuống, thế nhưng nửa đầu bên phải của hắn bỗng biến mất. Hắn xoay người lại, ngã ngửa ra phía sau, một con mắt còn lại nhìn trừng trừng vô hồn vào đám mây trên cao.

“Lạy Chúa Jesus, đồ chết tiệt; nó đã bị bắn rồi, đồ chết tiệt!” MacNeil nghe một tên trong đám ấy gào lên, “Nó bắn đấy.” Thế rồi anh nghe tiếng bọn nhóc chạy nước rút theo nhiều hướng khác nhau, giống như bầy thú chạy tán loạn trước tiếng nổ chát chúa từ một khẩu súng trường của người thợ săn. Đám trẻ biến mất trong khoảnh khắc trong khi MacNeil bị bỏ nằm lại bơ vơ với hai đứa trẻ nằm chết ngay dưới chân mình. Anh quay người rồi nhanh chóng quỳ trên hai đầu gối, vẫn cúi mình xuống tại chỗ, cặp mắt lóe sáng nhìn dọc những khối chung cư chung quanh hiện lên trên nền trời, cố gắng phát hiện tay thiện xạ, tự hỏi xem có phải chính mình là đích nhắm kế tiếp của kẻ đó hay không. Thế nhưng anh không nhìn thấy ai và cũng không có phát súng thứ ba. Anh đứng trên đôi chân còn run rẩy rồi nhìn hai người thanh niên nằm trong vũng máu đang từ từ đông lại. Anh nhăn mặt vì cơn đau lan khắp ngực rồi hít một hơi mạnh mẽ. Anh đặt một tay lên ngực rồi ấn nhẹ. Anh không nghĩ rằng lại có một chiếc xương sườn nào bị gãy, nhưng anh biết là toàn thân anh đang bầm dập.

Khi bước về phía chiếc xe của mình, anh lướt mắt nhìn một lượt những tòa kiến trúc bị bỏ hoang một phần vẫn còn đứng sừng sững ở chung quanh. Người nào đó, ở một vị trí nào đó từ một trong những căn hộ bỏ hoang này, đã cứu sống anh. Anh không hề có một ý niệm nào là vì sao, và chỉ mãi về sau anh mới cảm thấy có sự kỳ lạ khiến anh choáng váng là anh hoàn toàn không nghe thấy tiếng súng nào.

Anh ngồi thụp xuống sau tay lái xe rồi rút điện thoại ra.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Peter May

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.