Tất cả đều quen thuộc đến mức buồn chán - nơi mà họ đã cùng nhau mua bằng tiền tiết kiệm của anh và tiền được thừa kế của Martha. Ngay cả như thế thì cũng còn khoản tiền trả góp đến mức lụn bại mà anh vẫn phải thanh toán. Nó là một căn nhà tầng trệt khiêm tốn chỉ có hai phòng ngủ, phần dưới thấp của một ngôi nhà liên kế hiện đại nằm trong vùng ngoại ô Forest Hill đầy bóng mát ở phía nam London, ít nhất thì cũng còn có một khu vườn ở phía sau dành cho Sean, và MacNeil cũng có thể lái xe tới Lambeth chỉ trong vòng hai mươi phút nếu không phải trong giờ cao điểm.
Họ đã đến ở đấy, người mẹ, người cha, đứa con mới chào đời, với tràn trề những niềm hy vọng. Nhưng tám năm trôi qua, ngày nay con đường này chỉ còn là một sự nhắc nhở đau đớn về việc làm thế nào mà tất cả những mơ ước của họ đã trở thành con số không. Một nơi chốn đầy ám ảnh bởi thất bại.
Nó chưa bao giờ là một cuộc hôn nhân được thực hiện trên thiên đường. Anh mới chỉ hai mươi bảy tuổi khi lần đầu tiên đến London, một gương mặt mới và chất phác đến từ một công việc ở vùng nông thôn thuộc hạt Inverness. Sở Cảnh sát Thủ đô là một thách thức, và thành phố lớn như London là cả một cuộc phiêu lưu. Ngay tháng đầu tiên anh đã gặp Martha. Tại một bữa tiệc của cảnh sát. Lúc bấy giờ cô đã đến cùng với một viên cảnh sát hình sự, nhưng đó là một mối quan hệ đã dần đi đến chỗ kết thúc. Ngay lập tức, cô và MacNeil đã thu hút nhau. Tình dục là sức mạnh thúc đẩy đằng sau mối quan hệ của họ. Họ đã lao vào với nhau trong bất cứ cơ hội nào có được, ở bất cứ nơi nào có điều kiện thích hợp. Họ đã thuê một căn hộ tầm thường nhỏ bé ở Lewisham và hầu như suốt ngày chỉ nằm trên giường, ăn kem, làm tình hoặc uống rượu say. Đó là một cuộc sống điên dại có nhiều tình huống thay đổi bất thường, không có một chút trách nhiệm, hoàn toàn tránh né mọi suy nghĩ về tương lai.
Thế rồi một ngày, cô bảo với anh rằng cô có thai, vậy là cuộc sống của họ hoàn toàn thay đổi.
Cả hai người đều không thể nào biết được tại sao điều đó đã xảy ra. Họ cũng có phòng ngừa trước. Nhưng sự thật sờ sờ ra đấy. Cô rất muốn có con, nhưng bấy giờ chưa phải lúc. Cô đưa đề nghị phá thai, nhưng MacNeil không muốn nghe đến điều đó. Bản thân anh không hề có niềm tin tôn giáo, nhưng cha mẹ anh đã suốt một đời là những thành viên của Giáo hội Tự do Scotland, và mặc dù anh không hề tin vào Thượng đế của họ, thì hệ thống đạo đức của họ cũng đã ăn sâu trong tâm hồn anh. Cuối cùng, anh đã thuyết phục được cô từ bỏ ý định ấy. Nhất là cái ngày mà Sean ra đời, cô ôm đứa bé trong hai cánh tay, không thể ngăn được dòng nước mắt đang tuôn tràn trên gương mặt. Và qua làn nước mắt ấy cô đã thấy người chồng to lớn mạnh mẽ dân Scotland của mình cũng đang khóc.
MacNeil dừng xe ở chân con đường rồi khóa lại. Điều mà trước kia chỉ là một vòm cửa ra vào thì nay đã được chia làm hai, một sơn màu hạt dẻ, một sơn trắng. MacNeil leo lên những bậc thềm, tim thắt lại vì sợ hãi. Chỉ hai từ thôi là tất cả những gì còn lại trong cuộc sống của anh hầu như đã hoàn toàn bị hủy hoại, Sean bệnh.
Martha ra mở cửa trước khi anh lên đến nơi. Anh sửng sốt vì diện mạo của cô. Gương mặt của cô trắng nhợt như không còn chút máu, những vết quầng thâm lộ rõ dưới cặp mắt mệt mỏi. Trông cô lo âu và căng thẳng, có vẻ già đi rất nhiều so với lần gần đây nhất anh gặp. Phải chăng thực sự mới chỉ là một tuần lễ? Lúc ấy hoàn toàn không một chút dấu hiệu nào cho thấy có điều gì đó không ổn đối với Sean. Các trường học đều đã đóng cửa, và hai mẹ con Sean hoàn toàn không có hoặc có rất ít tiếp xúc với bất kỳ người nào. Nhân danh Chúa, làm thế nào mà thằng bé lại nhiễm bệnh? Đó là tất cả những gì anh có thể nghĩ ra để chất vấn cô. Và đã có nhiều hơn một gợi ý về một lời trách móc.
“Tôi không biết.” Cô lắc đầu, và anh nghe được sự tuyệt vọng trong giọng nói của cô. Hai người cùng vào nhà. “Có thể là từ anh. Mẹ con tôi không hề đi đâu cả. Có thể anh đã mang mầm bệnh trong người.”
MacNeil cố ngậm miệng và giữ được sự bình tĩnh, ngăn chặn cơn giận đang bốc lên, “Vậy thằng bé đâu?”
“Ở Nhà Vòm. Tối qua tôi gọi cho bác sĩ. Gần bốn giờ sáng nay, nó khạc ra đàm. Tôi không thể tin rằng nó diễn biến nhanh đến vậy. Mới sáng sớm là xe cứu thương đã đến.” Cô nhìn chằm chằm vào mặt anh, vẻ kết tội, “Tại sao anh không trả lời điện thoại của tôi?”
“Cô không cho tôi nhiều lý do để tôi muốn trò chuyện với cô trong những ngày này.” Anh đưa mắt ngó quanh phòng khách. Thật là bề bộn. Bộ đồng phục đội bóng đá Arsenal của Sean đang được phơi cho khô trên giá phơi quần áo. Bộ điều khiển trò chơi điện tử của thằng bé nằm cạnh máy truyền hình. Giọng MacNeil dịu lại, “Anh đang làm việc.”
“Tất nhiên là anh đang làm việc”, Martha không thể giấu được nỗi cay đắng trong giọng nói của mình. “Phải chăng lúc nào anh cũng làm việc?”
Anh nhìn thẳng vào cô và cảm thấy cùng sự sai quấy quen thuộc ấy. Anh biết rằng cô có lý do. Sau khi sanh con, cô không còn quan tâm đến tình dục nữa. Và trong một chừng mức nào đó, họ chẳng có gì nhiều để trò chuyện với nhau. Khoảng thời gian rảnh rỗi ít ỏi có được, anh dành cho Sean, và dường như điều đó khiến cô không hài lòng. Càng lúc cô càng có vẻ xa cách. Anh cũng ngày càng dành nhiều thời gian hơn cho công việc. Không khí trong nhà thật ngột ngạt. Anh chỉ muốn rời khỏi nhà, đến bất cứ chỗ nào cũng được, trừ ở tại đây. Người ta vẫn bảo, “Lấy nhau hấp tấp thì hối hận dài dài.” MacNeil nhún vai, “Anh xin lỗi. Tình cảnh vừa qua quả là quá sức chịu đựng của em, khi chỉ có một mình.” Anh bước tới gần cô hơn với ý định quàng tay qua ôm lấy cô, một sự an ủi muộn màng.
Cô giơ một bàn tay lên ngăn lại, “Đừng!”, cô nói. “Nếu Sean đã bị nhiễm, thì tôi cũng có thể.”
Anh lập tức lục lọi trong túi áo khoác rồi lôi ra một lọ nhỏ đựng những viên thuốc mà anh đã được cấp phát vào lúc tình trạng khẩn cấp mới bắt đầu. Thứ mà họ đã muốn thu hồi vào buổi sáng nay. Anh đưa lọ thuốc ra, “Này, em cầm lấy.”
“Gì vậy?”
“Đó là thuốc FluKill. Chúng đã được cấp phát cho toàn thể cảnh sát.”
“Thế lúc anh cần thì sao?”
“Anh không quan tâm. Đây này, anh muốn em có sẵn thuốc. Giữ lấy đi.”
“Anh chỉ phải dùng thuốc này nếu anh bị nhiễm.”
“Được rồi, nếu bị nhiễm thì dùng thuốc này càng sớm càng tốt. Này.” Anh bắt cô nhận lấy lọ thuốc.
Cô nhận lọ thuốc, nhìn vào nhãn hiệu rồi lại nhìn MacNeil. “Thật đáng tiếc là anh không có nhà khi Sean cần đến những viên thuốc này.”
Câu nói gây nhức nhối. Nhất là bởi vì điều đó quá bất công. “Em chính là người muốn anh phải rời đi.”
Cô bỏ lọ thuốc vào túi của mình. “Có thể sau này tôi sẽ dùng đến chúng.” Cô dừng lại, “Anh có thể đưa tôi đến Nhà Vòm được không? Tôi không có giấy phép lái xe trong thành phố. Mà hiện nay không thể kiếm được taxi.”
Anh gật đầu. “Họ nói thế nào?”
“Về việc gì?”
“Cơ may của con.”
Cô nhìn anh, “Họ chẳng nói gì cả. Họ không có nhiệm vụ. Mọi người đều biết tỷ lệ sống sót như thế nào.” Cặp mắt cô ầng ậng nước. Cô cắn chặt môi dưới để kiềm chế đến nỗi nó bật máu.
MacNeil không dám tiếp xúc với cái nhìn chằm chằm của cô. Anh đau đáu ngó xuống tấm thảm rồi hồi tưởng anh và đứa con trai đã từng chiến đấu với nhau kịch liệt đến thế nào trên đó. Hồi đó Sean mới được ba tuổi, hai cha con cùng xem lại bộ phim cổ điển của Clint Eastwood The Good, the Bad, and the Ugly trên tivi. Người ta không thể tưởng tượng được những lời lẽ nào của nhân vật sẽ in vào đầu một đứa trẻ. Trong phim, Eli Wallach mắng Eastwood là “đồ gấp đôi lần tồi tệ.” Ngày hôm sau, khi MacNeil và Sean chơi đánh trận giả, thằng bé thình lình hét vào mặt MacNeil, “mày là đồ gấp đôi lần tồi tệ” khiến MacNeil và Martha đã có cả nửa tiếng đồng hồ ở trong trạng thái hết sức phấn khích vì buồn cười.
“Vậy thì tốt hơn mình nên đi đi.”
Có vẻ hầu như ngoài đường tươi tắn hơn, mặc dù ánh sáng vẫn còn lờ mờ và điều trước hết là ngoài trời còn lạnh hơn trong nhà. Thế nhưng khi trong nhà đã u sầu buồn bã đến vậy, người ta có cảm tưởng ra được bên ngoài là vui vẻ.
MacNeil thấy những tấm màn cửa vội vàng buông xuống trong lúc anh giữ cửa xe mở sẵn chờ Martha. Hàng xóm hẳn là đã thấy xe cứu thương đến để mang Sean đi. Nhà MacNeil bây giờ đã là những kẻ ngoài lề xã hội, những kẻ bị bệnh hủi như trong thời trung cổ. Chẳng ai sẽ đến gần họ.
II
Họ lái xe bên dưới lối vào ở phía nam để đến đường hầm Blackwall rồi chọn lối tắt ra Millennium Way. Ở phía trước mặt, họ có thể thấy mái vòm giống như chiếc lều treo lơ lửng từ cấu trúc thượng tầng của những cột thép nghiêng ra ngoài ngự trị cả một vùng đất hoang là vùng North Greenwich. Con đường hai làn xe đưa họ đi ngược lên qua một vùng cảnh quan công nghệ bỏ hoang để tới một khu vực đậu xe gần nhà ga xe điện ngầm và trạm xe buýt. Xe điện ngầm và xe buýt đã không hoạt động từ vài tuần lễ nay nhưng bãi đậu xe đã đầy đến mức tràn cả ra ngoài. Những người lính có đeo mặt nạ ở lối vào vẫy họ đến; MacNeil lái xe vượt qua hàng dãy những chiếc xe cứu thương đến một dãy hàng rào sơn xanh đã được dựng lên bao quanh tòa Nhà Vòm - công trình xây dựng thiên niên kỷ tốn kém hàng tỷ bảng Anh của những kẻ điên rồ, sau cuộc sống ngắn ngủi của nó với tính cách là nơi tổ chức một buổi hòa nhạc, cuối cùng họ cũng đã tìm được cho nó một công dụng. Họ chất đầy nơi này những người bệnh và những kẻ sắp chết. Diện tích sàn rộng lớn của tòa kiến trúc này đã được phân chia như tổ ong bằng những tấm vách ngăn, và hàng ngàn giường bệnh có xe đẩy đã được chuyển vào để giải tỏa áp lực cho những bệnh viện trong thành phố. Một đoàn những chiếc xe cứu thương và xe cung cấp y cụ đứng thành hàng, dọc theo những cây cột của trạm xe buýt.
MacNeil dừng xe trên dải đất giữa hai làn đường trước vòng xoay ở cuối con đường rồi cả hai người vội vàng leo lên đoạn dốc và đi xuyên qua một cổng vào ở khu có dựng những hàng rào bằng ván. Trên suốt con đường được lát nhựa đỏ chạy vòng quanh tòa nhà vòm, có đầy những chiếc xe đậu ngang dọc và những nhân viên y tế đi đi lại lại. Cả một sự hỗn độn. Không hề có một tấm bảng thông báo nào để hướng dẫn khách, bởi vì khách là điều không được mong đợi. Martha và MacNeil không hề có một ý niệm nào về việc phải đi theo lối nào hay phải hỏi thăm ai. Cũng không hề có nhân viên an ninh và chẳng ai thèm nhìn đến họ lần thứ hai khi họ bước vào một vùng không gian rộng lớn mênh mông được quây bằng những tấm vải bạt có tráng nhựa dẻo.
Sự ầm ĩ lấp đầy bầu không khí ở nơi đây thật là khủng khiếp. Tiếng gầm của những chiếc máy sưởi cho cả khu vực này chụp xuống từ trên đầu. Hàng ngàn giọng nói cất cao lên át cả những âm thanh của người bệnh. Tiếng hắt hơi, tiếng ho, tiếng rên rỉ và cả tiếng nôn ọe. Một chiếc giường bệnh có gắn bánh xe được đẩy qua bởi những y công mặt mày nhợt nhạt trong bộ trang phục rộng thùng thình. Người trẻ tuổi nằm trên chiếc giường bệnh đó đã chết, chỉ được phủ sơ sài bằng một tấm khăn trải giường loang lổ vết máu và những chất từ trong dạ dày của người ấy nôn ra, đôi mắt trừng trừng nhìn vào khoảng không. MacNeil thấy muốn bệnh. Đứa con trai của anh cũng đang nằm ở đâu đó tại nơi này. Trong cái địa ngục này. Nếu thằng bé sắp chết, tốt hơn anh nên mang nó về nhà để được chết ở đấy. Anh nắm lấy cánh tay của một nữ y tá nhưng cô ta quay nhìn về hướng khác. “Có gì vậy?” Anh có thể nhìn thấy sự mệt mỏi tận cùng trên gương mặt tối sầm của cô ta, cặp mắt lờ đờ như người bị bệnh đục thủy tinh thể. Cô ta quá đau khổ vì cơn mệt chết người nên thiếu sự nhẫn nại trước những người có vẻ sống động.
“Con trai tôi đang nằm ở đâu đó trong này. Thằng bé được mang vào trại sáng nay.”
Một khoảnh khắc nhân tính lóe lên giữa sự mệt mỏi của cô. “Hãy bước ra ngoài và đi theo con đường vòng đến cổng C. Những bệnh nhân mới được đưa vào đều nằm ở đó.” Thế rồi cô quày quả bước đi, biến mất trong cái tổ ong ấy.
MacNeil nắm lấy cánh tay của Martha rồi họ thoát ra ngoài để hưởng một vài khoảnh khắc ngắn ngủi được thở hít không khí trong lành và cảm nhận một chút khuây khỏa trước những âm thanh của những người sắp chết. Họ chạy dọc theo chu vi tòa nhà vòm, hết xô đẩy người này lại đâm sầm vào người kia khi họ vượt qua đám công nhân, những người không ngớt quát sau lưng họ trong sự giận dữ. Nhưng bấy giờ đã có một sự khẩn cấp của việc phải tìm được đứa con của họ. Những chiếc cửa ra vào có hai cánh mở rộng tại cổng C; họ chạy vội vào để phát hiện một bàn giấy tiếp nhận nơi có hồ sơ của những người bệnh được lưu trữ trong một chiếc máy vi tính. Một người nữ y tá lớn tuổi ngồi ở một bên chiếc bàn giấy thận trọng ngước lên nhìn họ từ sau chiếc mặt nạ. “Tôi có thể giúp gì cho ông bà?”
“Con trai của chúng tôi vừa được đưa vào đây hồi sáng nay.” MacNeil trả lời, “Cháu tên Sean MacNeil, được tám tuổi.”
“Ở đây chúng tôi không có phương tiện phục vụ khách đến viếng. Xin lỗi nhé”, người y tá trực trả lời nhưng không có vẻ gì xin lỗi cả. “Chúng tôi có một số điện thoại khẩn cấp. Tổng đài có người trực suốt ngày trong cả tuần.”
Trên mặt bàn giấy có một kẹp hồ sơ ở phía sau chỗ bà ta đang ngồi, có bình đồ của sàn chứa giường bệnh với tên của những người bệnh được ghi bằng bút chì. Ngay lập tức, MacNeil không nhận thức được vì sao người ta lại ghi tên bệnh nhân bằng bút chì, bởi vì như vậy thì những cái tên ấy rất dễ được xóa đi rồi được thay bằng những cái tên khác. Nếu đã nghĩ đến điều ấy, hẳn là anh đã hiểu được ý nghĩa của việc mà bệnh viện làm, xét về số lượng bệnh nhân được đưa đến. Thay vào đó, bằng bản năng, MacNeil vươn tay ra và chụp lấy chiếc kẹp hồ sơ ấy.
“Coi kìa.”
Người y tá cố gắng giựt lại nhưng MacNeil đã mang kẹp hồ sơ ra khỏi tầm với của bà ta. “Tôi sẽ gọi cảnh sát.” Có một thoáng kích động len vào giọng nói của người y tá.
“Tôi chính là cảnh sát đây.” MacNeil trả lời. Anh nhanh chóng đưa mắt nhìn khắp lượt tấm bình đồ giường bệnh. Quá nhiều tên đến mức anh không thể nào nắm bắt hết được. Sàn chứa giường bệnh được chia thành nhiều khu vực, và có gần chục trang giấy nằm sau trang giấy đầu tiên của chiếc kẹp hồ sơ. Anh nói với Martha, “Anh không thể tìm thấy tên của con”; đã có một chút hoang mang trong giọng nói. Anh tiếp tục lật qua các trang giấy.
Người y tá thở dài sườn sượt rồi nhanh chóng lướt những ngón tay của mình trên bàn phím của chiếc máy vi tính, thế rồi bà ta đưa tay ra nhận lại chiếc kẹp hồ sơ từ MacNeil. Bà ta tìm thấy tên của Sean ở trang thứ ba. “Khu vực 7B”, bà ta nói, “Cứ đi theo những mũi tên được vẽ trên sàn. Số bảy được vẽ bằng sơn vàng.”
Sean nằm ở một tiểu khu thuộc khu vực số 7 cùng với ba đứa trẻ khác. Sean cũng như hai đứa trẻ kia đang được truyền huyết tương. Hai bên má của Sean có những vệt đỏ có lẽ vì sốt, nếu không thì đứa trẻ trông thật là nhợt nhạt. Những tấm khăn trải giường ướt sũng và nhàu nát bọc quanh tấm thân đau đớn như bị tra tấn của thằng bé. Đứa trẻ nửa có vẻ tỉnh táo nửa có vẻ vẫn hôn mê, bị hành hạ bởi những cơn ho bất chợt không thể kiểm soát được. Vợ chồng MacNeil có thể nghe được tiếng lục bục của chất lỏng trong phổi và cổ họng của con mình. Một vị y sĩ mặc áo choàng trắng đeo găng tay chận họ lại không cho họ tiến đến gần hơn. “Ông bà làm cái quái gì ở đây vậy?”
“Đấy là con trai tôi.” Martha nói, giọng cô khản đục nghe như tiếng thì thầm đến nỗi cô phải đằng hắng rồi lặp lại lớn hơn một chút.
Viên y sĩ mệt mỏi nhìn về phía Sean rồi nhún vai, “Tôi xin lỗi.” Ai cũng chỉ biết xin lỗi. “Các ông đang làm gì cho thằng bé vậy?” MacNeil cất tiếng hỏi.
Viên y sĩ lấy chiếc kẹp hồ sơ treo ở chân giường bệnh của Sean rồi lướt nhìn vào tấm biểu đồ. Anh ta thở dài, “Chúng tôi đã tăng cường steroid cho cháu. Bệnh tình của cháu đang tiến triển theo mô hình thông thường. Cháu đang phát triển tình trạng ARDS.”
“Điều đó có nghĩa là gì vậy?” Martha hỏi trong lúc nắm chặt lấy cánh tay người chồng đã ly thân.
MacNeil biết rõ điều ấy có nghĩa là gì. Ngay khi tình trạng khẩn cấp được ban bố, mọi sĩ quan cảnh sát đã được hướng dẫn cụ thể về những triệu chứng và quá trình diễn biến mà hầu như chứng bệnh cúm này luôn luôn diễn ra. Cơn bệnh sẽ bắt đầu, như mọi trường hợp cúm khác, với triệu chứng đau nhức toàn thân, sốt, sưng họng và ho khan. Thế rồi cơn bệnh diễn tiến thật nhanh thành ra một tình trạng suy giảm chức năng hô hấp với sự tiến triển không thể thay đổi được, được gọi là Adult, hay Hội chứng Suy giảm Hô hấp Cấp tính, viết tắt theo tiếng Anh là ARDS. Triệu chứng ban đầu giống sưng phổi, nhưng không phản ứng với các loại thuộc kháng sinh và kháng khuẩn. Anh biết rằng việc sử dụng đến steroid là biện pháp cuối cùng, nhưng ngay cả trong trường hợp ấy vẫn không có khả năng làm dừng lại sự sưng tấy cấp tính, dẫn đến tình trạng rò rỉ chất đạm, gây xơ hóa và cuối cùng là cái chết.
“Điều đó có nghĩa là tất cả chỉ tùy thuộc vào việc con trai của ông bà khỏe mạnh đến thế nào…” viên y sĩ nói, “… hệ thống miễn nhiễm của cháu bé có hiệu quả đến mức nào trong việc chống chỏi lại với hội chứng ấy.”
MacNeil đăm đăm nhìn đứa con trai bé nhỏ đang đau khổ vật lộn với bệnh tật trên giường. Đứa trẻ quá nhỏ bé và rất dễ bị tổn thương. Những người đàn ông trưởng thành còn đang chết vì căn bệnh cúm này. Những người đàn ông to lớn, mạnh mẽ, dẻo dai mà còn bị đốn hạ như những cọng rơm trong cơn gió mạnh. Một đứa trẻ như thế có được hy vọng gì? Anh nhắm mắt lại, cảm thấy tràn ngập một cảm giác bất lực. Anh chính là người cha của đứa bé, lạy Chúa! Anh được cho là người bảo vệ đứa trẻ ấy, giữ cho nó được an toàn, nhìn thấy nó lớn lên thành một người trưởng thành. MacNeil lại mở mắt ra khi anh nghe tiếng đứa con trai của mình đang bị co thắt bởi một cơn ho gây ói mửa không dứt, và anh cảm thấy nước mắt đang ứa ra, “Bao lâu?”
Viên y sĩ nhún vai. Anh ta, cũng giống như người cha của đứa trẻ, chẳng có khả năng để làm được bất cứ điều gì cho thằng bé. Anh ta nói, “Nếu cháu nó chịu đựng được thêm một giờ nữa, có thể cháu nó có một cơ may.”
III
Ra đến bên ngoài, MacNeil kéo chiếc mặt nạ qua một bên rồi hít vào sâu trong buồng phổi một hơi dài luồng không khí lạnh lẽo tháng Giêng. Anh đặt tay trên vai Martha và cảm thấy toàn thân của cô run rẩy vì sự thổn thức đang cố kiềm hãm. Họ bước đi như trong cơn mộng du giữa mọi hoạt động đang diễn ra, hầu như không biết gì về thế giới ở chung quanh. Ngược lại qua cổng và đi lần xuống đến Con đường Thiên niên kỷ. Ở phía xa của con đường có nhiều tấm bảng quảng cáo, và hai người đi xuyên qua một khoảng trống; một bảng hiệu vẽ một bàn tay chỉ về hướng Khách sạn Ven đường Thiên niên kỷ cách đó chừng hai trăm mét là nơi có sẵn chỗ nghỉ ngơi và thực phẩm. Nhưng tất cả những gì họ đã gặp chỉ là sự hoang tàn. Những tòa nhà đổ nát đã được bịt kín bằng những tấm ván ép che lại. Một khoảng đất trống vương vãi những đống đổ nát, cỏ dại và các loại cây leo mọc chen giữa những khe nứt của mặt đường tráng nhựa. Một cây cột điện rỉ sét ngã xuống, nghiêng theo một góc không thể nào tưởng tượng được. Những ụ to tướng gom tụ đất đào được chất thành từng đống rải rác dọc theo bờ tường của Bến Quân nhu. Bấy giờ đấy cũng là một giấc mơ thiên niên kỷ vĩ đại. Ảm đạm, hoang tàn, phá sản. Một phản ánh buồn về đời sống của chính họ. Một cuộc hôn nhân tan vỡ. Một đứa con đang bay lượn ở một nơi chốn không tồn tại nằm giữa sự sống và cái chết.
Những tòa nhà chọc trời của Bến Hoàng Yến xuyên thẳng qua màn sương ở phía bên kia những vòng lặp phản chiếu giữa dòng sông. Những công trình báo hiệu, hoặc những gì mà các kiến trúc sư của nhũng tòa nhà ấy từng hy vọng, cho một thời đại mới của sự thịnh vượng và sự phục hưng. Thế nhưng trên thực tế, cũng vô hồn như những kẻ đã cố gắng xây dựng chúng, chúng đang bị bỏ hoang, bị rình rập trong sự sợ hãi.
Một âm thanh nghe như một tiếng nổ giòn giã vẳng qua từ bên kia sông, vang vọng theo dòng thủy triều đang rút chậm chạp và buồn thảm. Martha ngẩng đầu lên như một con thú đánh hơi trong không khí. Bản năng, chứ không phải sự quan tâm, đã gợi nên câu hỏi của cô. Bà chẳng hề để ý đến câu trả lời. Đó chỉ là có lý do để lên tiếng “Chuyện gì vậy?”
“Có lẽ là tiếng súng.”
Cô cau mày “Ai bắn vậy?”
Câu trả lời của MacNeil cũng chỉ là máy móc. Giống như Martha, anh cảm thấy cần phải nói, cần phải tìm được những lời nào đó để lấp đầy khoảng trống mà nếu không thì họ lại chìm vào những suy tư không mong muốn. “Đảo Chó đã bị phong tỏa hoàn toàn. Không thể có cúm trên hòn đảo ấy, cho nên một đám người có súng và được sự tài trợ rất nhiều tài chính đang tìm cách bảo đảm rằng không một ai có thể mang cúm vào đấy.”
“Họ làm được điều đó sao?” Martha không thể tin được. Trong một khoảnh khắc, cô quên mất tại sao họ lại có mặt ở đấy lúc bấy giờ.
“Có vẻ là như vậy. Ai muốn rời khỏi đó thì cứ việc, nhưng không ai có thể trở lại. Có một tình trạng bế tắc với quân đội, và có vẻ chính phủ đã thoái lui trước sự đối đầu. Thỉnh thoảng cũng đã có một vài cuộc chạm súng. Nhưng anh nghĩ rằng đó chỉ là chuyện làm bộ. Nếu có người nào thực sự bị bắn, anh đoán rằng họ sẽ gửi quân đội đến đó.”
Đã có thêm một tiếng nổ giòn giã khác, thế rồi lại im lặng. Sự im lặng này chỉ bị phá vỡ bởi tiếng rì rầm chậm chạp của một chiếc tàu kéo đang kéo theo một mảng những chiếc Container sơn vàng xuôi dòng sông.
Hai người chậm chạp đi bộ bên nhau mà không nói với nhau lời nào trong vài phút. Thế rồi MacNeil lên tiếng. “Hôm nay là ngày cuối của anh.”
Anh có cảm tưởng cô quay mặt về phía mình nhưng anh không muốn nhìn thẳng vào mắt cô. “Ý anh là gì?”
“Anh đã nộp đơn xin nghỉ. Anh sẽ kết thúc nhiệm vụ vào bảy giờ sáng ngày mai.”
“Tôi không hiểu.” Anh nghe được sự bối rối trong giọng nói của cô.
“Không hiểu về điều gì? Anh từ bỏ nhiệm vụ.”
“Tại sao?”
“Bởi vì em đã phải trông nom Sean. Bởi vì anh biết nếu anh không sắp xếp thời gian để trông nom con vào lúc này thì chẳng bao giờ anh có thể thực hiện được việc ấy.”
Trong một lúc lâu, cô không nói gì. Thế rồi cô lên tiếng, “Thật là đáng tiếc là anh đã không nghĩ đến việc thực hiện điều ấy sớm hơn.”
“Đừng tiếp tục phản ứng theo kiểu ấy nữa.” Anh để cánh tay của mình rời khỏi vai cô và cảm thấy cơn giận như mọi khi lại kéo đến. Điều đó luôn luôn như vậy khi họ tranh cãi với nhau. “Bây giờ anh không còn muốn làm việc nữa. Sean là vấn đề duy nhất thực sự đáng kể.”
Cô rút cánh tay của mình ra khỏi tay anh rồi nắm chặt lại, “Anh có lý. Tôi xin lỗi. Có thể nếu chúng ta cùng nghĩ đến Sean nhiều hơn và bớt nghĩ về mình, mọi chuyện có lẽ đã đổi khác.”
Khác biệt đối với Sean, chắc chắn là như vậy, anh nghĩ. Thế nhưng anh vẫn ngờ rằng như vậy liệu anh và Martha có hạnh phúc hơn không. Nếu không vì sự có mặt không mong đợi của Sean, mối quan hệ của họ cũng đã tan vỡ và mỗi người cũng đã đi một đường. Anh tự hỏi, bao nhiêu cặp từng bị mắc kẹt trong những cuộc hôn nhân không có tình yêu chỉ vì một đứa trẻ được hoài thai trong sự bất cẩn? Và điều đó là sự bất công đến như thế nào đối với đứa trẻ? Tất cả những gì mà Sean đã đòi hỏi ở họ chỉ là tình yêu thương của họ. Và trong khi họ đã cho đi cái tình yêu ấy, điều ấy không bao giờ là không có điều kiện. Và nay khi đứa trẻ đang nằm chờ chết, thì tất cả những gì họ để lại chỉ là sự nuối tiếc và niềm ân hận. Người nào cũng đáng trách như nhau.
“Thế anh sẽ làm gì?” Martha hỏi, “Làm gì để sống.”
MacNeil lắc đầu. Đó chính là điều mà anh muốn tránh né. “Anh chưa có ý tưởng nào về việc ấy.”
“Có lẽ.” Cô đột nhiên lên tiếng, “có lẽ nếu Sean - nếu thằng bé qua khỏi - có lẽ chúng ta nên nghĩ về việc dành cho nó một cuộc sống khác. Vì nó.”
MacNeil chán chường nhìn đăm đăm qua làn sương mùa đông lạnh cóng và có cảm giác đang rơi vào không gian trong tình trạng phi trọng lực. Anh nói, mà chính anh không tin điều mình nói “Có lẽ là chúng ta cũng nên như vậy.”
IV
Amy di chuyển con trỏ lên bản danh mục các lệnh kiểu thả xuống trên màn hình máy vi tính của mình và chọn lệnh Gửi thông tin tức thời. Cô đã chọn Sam trong danh mục những người bạn nhận thông điệp của mình. Cô gõ nhanh.
- Sam, tôi đang nghĩ đến việc yêu cầu họ thử lấy mẫu DNA từ mô mà Tom đã phục hồi được từ tủy của đống xương ấy. Ông nghĩ thế nào?
Cô gõ vào phím nhập văn bản rồi gửi bản thông điệp ấy đi. Chiếc máy tính phát ra tiếng kêu ro-ro. Cố quan sát cửa sổ trên màn hình máy tính để chờ đợi thông điệp trả lời của Sam. Cô đã chọn một tấm ảnh chân dung làm biểu tượng đại diện, nó sẽ xuất hiện trên màn hình máy tính của Sam cùng với bức thông điệp của cô. Vì một lý do nào đó Sam đã chọn làm ảnh đại diện một tấm hình màu của một con vẹt. Amy đã luôn nghĩ rằng mình sẽ phải hỏi về ý nghĩa của tấm hình đại diện ấy nhưng rồi cô cứ quên mất trong lúc trò chuyện - nếu việc nhắn tin trực tuyến có thể được gọi là cuộc đối thoại. Chúng đã diễn ra nhanh hơn việc gửi thư điện tử, nhưng không ràng buộc như một cuộc gọi điện thoại thông minh. Bạn có thể chỉ cần để mặc cửa sổ mở và trở lại với nó để chấp nhận một cuộc trò chuyện khi bạn muốn. Cô đã có nhiều cuộc nói chuyện với Sam trong ngày hôm ấy, cung cấp cho nhà nhân học về hưu này sự mô tả tường tận về bộ xương ở Công viên Những người bạn của vị Tổng Giám mục. Một tiếng kêu ro-ro khác báo Amy biết có tin phản hồi từ Sam.
- Tại sao? là câu trả lời.
- Tại sao về DNA, hay tại sao tôi đang hỏi ông?
- Về DNA.
Những cuộc trao đổi của họ thường có đặc trưng của một thái độ suồng sã theo kiểu trẻ con, cách thức thực duy nhất mà họ có trong việc thể hiện tình cảm với nhau của hai người chỉ gặp nhau trên tầng trời. Nhưng ngày hôm nay Sam có vẻ cáu kỉnh. Những ngón tay của Amy lướt nhanh trên bàn phím.
- Chỉ có một cơ may rất nhỏ là đứa bé gái này có thể có trên cơ sở dữ liệu về DNA.
- Nếu đứa trẻ này đến từ một quốc gia đang phát triển như cô nghĩ thì điều đó khó có thể xảy ra.
- Đúng là như thế, nhưng chúng ta sẽ ân hận nếu như đứa bé này có sẵn trên cơ sở dữ liệu về DNA. Chính ông đã dạy tôi đừng bao giờ bỏ qua những điều hiển nhiên mà.
- Kết quả từ tủy có lẽ sẽ khá thấp đấy.
- Chúng ta có thể lấy tủy từ tủy răng của đứa trẻ được mà.
- Tôi nghĩ rằng cô có ở đó cái hộp sọ của đứa trẻ.
- Ồ, tiếc quá! Tôi cũng vậy. Xương thì có. Tôi có thể yêu cầu Tom cắt một mẩu sụn chêm ở xương đùi. Thực tế là có lẽ anh ấy đã thực hiện việc đó để lấy tủy.
Có một lúc im lặng kéo dài. Amy nhìn chăm chăm vào con trỏ cứ nhấp nháy vô hồn trước mắt cô trên màn hình. Thế rồi,
- Tôi cho là cũng đáng để thử đấy. Lại một lúc im lặng. - Vậy Tom có yêu cầu thực hiện một thử nghiệm nào khác nữa không?
- Tôi không biết, nhưng có lẽ là về độc chất học.
- Việc đó sẽ không mang lại điều gì nhiều lắm đâu. Kết quả định tính hơn là kết quả định lượng. Nếu có sự hiện diện của chất độc đi nữa, thì đó cũng chỉ là dấu vết mà thôi. Chẳng có cách nào để biết được ở mức độ nào.
Amy gật đầu trước màn hình như thể Sam thấy được động tác đồng ý của cô. Cô biết rằng Sam có lý. Và đó chính là điều gây thất vọng. Chẳng biết vì lý do gì, người ta có cảm tưởng họ phải có khả năng nói được nhiều hơn về một người dựa vào bộ xương của người ấy.
- Được rồi, Sam ạ. Cảm ơn nhé. Nói chuyện lại sau!
Amy nhìn xuyên qua căn phòng hướng đến phần khuôn đúc mà cô đã thực hiện cho cái hộp sọ của Lyn. Ngay cả khi không có lớp da thịt để mang lại điểm nhấn cho nó thì cái phần hở vòm miệng ở hàm trên vẫn là một sự biến dạng đáng kể, làm dịch chuyển vị trí của những chiếc răng lẽ ra phải được giữ theo một hàng thẳng và đều đặn. Cô nắm lấy chiếc cần đặt bên phía tay phải trên chiếc xe lăn của mình rồi đẩy chiếc xe lăn lướt êm trên sàn đến tận chiếc bàn đặt cạnh cửa sổ. Cô đã khoan lỗ và dán chặt những cây chốt vào đúng vị trí. Và lúc này, khi keo đã khô, cô có thể bắt đầu thiết lập những lớp cơ có thể sẽ mang lại sự xác định và một cá tính cho gương mặt này. Cô đã bắt đầu chuẩn bị những dải nhựa dẻo, nhưng cảm giác thất vọng của cô vẫn không biến mất.
Đó chính là loại cảm xúc mà cô nhận biết thường xuyên nhất, và điều đó thường dẫn đến cơn trầm cảm. Nó đến từ tình trạng không có khả năng thực hiện công việc của cô, những công việc mà cô đã được huấn luyện để thực hiện, những công việc mà cô ngày càng yêu thích hơn. Trong khi bộ não của cô vẫn sắc bén trong trẻo, những ngón tay của cô vẫn không bị mất đi bất kỳ một kỹ năng nào, khả năng vận động bị hạn chế của cô có nghĩa là cô không còn có thể thực hiện toàn bộ những chức năng của một chuyên gia nha khoa pháp y mà cô đã từng làm. Có những việc cô chỉ không thể nào thực hiện được từ một chiếc xe lăn. Tất nhiên, cô vẫn có công việc giảng dạy, nhưng đấy không phải là điều mà cô thực sự đã từng yêu thích. Cô ghét sự thương hại mà cô nhìn thấy trong ánh mắt của người khác. Ở một mức độ nào đó, nó làm giảm đi giá trị của những điều cô phải nói.
Cô đã viết một số bài báo và đã công bố một số công trình nghiên cứu. Cô đã cung cấp sự tư vấn và dịch vụ góp ý cho FSS, và những ý kiến của cô đã được trưng cầu nhiều hơn một lần bởi các sĩ quan điều tra thuộc lực lượng an ninh bên ngoài Sở Cảnh sát Thủ đô. Đến mức cô đã bắt đầu trở thành chuyên gia phân tích vết bầm trên cơ thể cả của người sống lẫn người đã chết. Những dấu vết công cụ, người ta gọi chúng như vậy - những dấu vết để lại bởi một chiếc nhẫn trong một vụ giết người, những vết bầm gây ra bởi khóa thắt lưng trong một vụ cưỡng hiếp, những tổn thương do đâm chém gây ra trong một cuộc chiến. Những nguyên lý phân tích là đồng nhất đối với việc phân tích các vết cắn, vốn đã luôn luôn là một trong số những chuyên môn của cô, và điều đó có thể thực hiện được trên một chiếc xe lăn. Thế nhưng, những hạn chế của cô vẫn làm cô thất vọng.
Thế nhưng cô cũng vẫn cố gắng không chịu nhượng bộ sự tự thương thân. Điều này chỉ là quá dễ dàng. Và thế là cô cởi bỏ tâm trạng thất vọng của mình rồi đặt dải nhựa dẻo đầu tiên vào vị trí ngang qua xương gò má của chiếc hộp sọ. Ấy là khi suy nghĩ đó lần đầu tiên đến với cô; và cô tự hỏi tại sao trước đó cô lại không nghĩ đến điếu ấy.
Cô với lấy chiếc điện thoại và tìm số nhà Tom, rồi lắng nghe tiếng chuông điện thoại reo ở đầu dây bên kia.
“Gì vậy!” Tom không có vẻ hài lòng.
“Phải Tom đó không?”
“Trời ạ, Amy, Tôi vừa mới chợp mắt được một chút. Đã có một ca làm việc dài và tôi phải trở lại làm việc vào lúc bảy giờ tối nay.”
“Xin lỗi, tôi không nghĩ thế. Có thể nói chuyện chút được không?”
Tom dùng tay chặn ống nói và có một cuộc trao đổi không nghe được giữa anh với một giọng đàn ông khác. Thế rồi bàn tay anh buông ống nói ra. “Bây giờ không phải là thời điểm thích hợp.”
“Vậy thì tôi sẽ gọi lại sau.”
Thế nhưng anh đã dịu giọng: “Có gì quan trọng không?”
“Chuyện này có thể chờ được.”
Cô nghe anh thở dài thậm thượt. “Này, khỉ thật, tôi tỉnh lại rồi. Cô có thể nói chuyện với tôi được rồi đấy.” Giọng anh nghe có vẻ mơ hồ, rồi anh ta nói, “Tôi vẫn nghe đây. Tôi chỉ đi làm một tách trà thôi mà. Công việc với chiếc hộp sọ tới đâu rồi?”
“Vẫn tiến triển tốt.”
“Đã mang lại gương mặt cho đứa bé chưa?”
“Coi nè, thôi đi. Tôi đầu có nhanh tới mức vậy. Mới có vài tiếng đồng hồ thôi mà.” Cô ngừng lại. “Tom này, anh đã yêu cầu thực hiện những thử nghiệm nào đối với tủy của bộ xương này vậy?”
Anh chửi rủa vì làm rơi một món đồ sành sứ nào đó, “Chết tiệt!” Lại có một cuộc trao đổi thì thầm khác, thế rồi, “Cô biết đó, cuối cùng tôi đã không nghĩ rằng công việc đó là xứng đáng, Amy ạ. Tôi cho rằng lĩnh vực độc chất học không giúp đưa đến kết luận chính xác đâu.”
“Đó cũng là điều Sam đã nghĩ.”
“Cô đã thảo luận việc này với Sam à?”
“Đúng. Vậy có ổn thỏa không?”
“Tôi nghĩ thế.”
“Chúng tôi nghĩ chúng ta có thể lấy một mẫu DNA từ chất tủy ấy.”
“Điều này có thể được. Mặc dù vậy tôi không chắc nó có ích đến mức nào, trừ khi chúng ta có có cái gì đó để so sánh với nó.”
“Nhưng tôi có một suy nghĩ khác”, Amy nói. “Chúng ta có thể tiến hành một cuộc thí nghiệm về vi khuẩn học. PCR [Phản ứng chuỗi Polymerase]. Tìm xem có phải đứa bé đã bị cúm hay không.”
“Một nửa mẫu máu trong thành phố này nhiễm cúm.” Tom không có vẻ có ấn tượng với suy nghĩ của cô.
“Đúng, nhưng đó có thể là thứ đã giết chết đứa trẻ này.”
“Thế thì tại sao không có ai cố gắng che giấu điều đó?”
Amy nhún vai một mình. “Tôi không biết.” Cô nói, “Điều này chỉ có vẻ như là một điều gì đó mà chúng ta nên biết. Tôi muốn nói rằng thông tin mà chúng ta đang có được từ một bộ xương quả thực là rất giới hạn. Tốt hơn chúng ta nên tìm ra bất kể những gì mà chúng ta có thể phát hiện được.”
Cô lại nghe anh thở dài. Rồi lại một quãng im lặng. “Nói cho bạn biết vậy thôi. Tại sao bạn không gọi Zoe và yêu cầu cô ta làm việc này? Ít ra thì cũng có chút việc nào đó cho con chó nhỏ ấy làm, thay vì cứ đứng hút thuốc lá trên các bậc thềm cả ngày.”
V
Gió càng lúc càng mạnh, đón lấy luồng không khí ẩm ướt và lạnh lẽo từ cửa sông rồi mang theo lên thượng nguồn vào tận trung tâm thành phố.
MacNeil và Martha lại quay trở về đi quanh vành đai Tòa nhà Mái vòm. Đã trải qua cả một tiếng đồng hồ đằng đẵng, thế rồi MacNeil lại bày việc để cả hai người chờ thêm mười lăm phút nữa. Chẳng có lý do gì để phải quay trở lại quá sớm. Nhưng nói cho cùng, đó chỉ là cách trì hoãn việc phải nghe những thông tin mà họ không muốn nghe. Không biết là còn có hy vọng.
Một nhóm binh sĩ, súng trường ôm sát vào ngực, đi vượt qua mặt họ theo hàng đôi, những cậu trai trẻ măng với những đôi mắt sợ hãi giấu sau những chiếc mặt nạ phòng độc của quân đội đã được thiết kế cho một cuộc chiến tranh sinh học tại Iraq nhưng đã không bao giờ trở thành thực tế tiếp theo sự thất bại trong việc tìm ra các loại vũ khí giết người hàng loạt. Xa hơn một chút ở khu vực quanh con đường chạy suốt chu vi tòa nhà mái vòm, gần vài chiếc cổng bên ngoài những cổng thuộc tòa nhà mái vòm, họ có thể thấy những chiếc xe tải màu đen không mang biển số xếp hàng dài chờ đưa những người chết đến những trung tâm xử lý chính thức. Những nhà hỏa táng được điều hành bởi hội đồng trên khắp thành phố đã quá tải, thế nên chính phủ đã phải thiết lập những phương tiện khẩn cấp để giải quyết số lượng thi thể tồn đọng ngày càng tăng. Cụ thể là đã có hàng ngàn thi hài chờ được mai táng mỗi ngày mà không có nơi nào để tạm an trí. Mối đe dọa sức khỏe nẩy sinh nếu các thi hài không được xử lý thích hợp trong vòng hai mươi bốn giờ đồng hồ. Đám tang tại gia đình là điều không thể. Ngay cả những dịch vụ tôn giáo mang tính tưởng niệm cũng không được phép cử hành vì nguy cơ lây nhiễm tại các cuộc tụ họp công cộng. Chính phủ đã hứa các hoạt động truy điệu sẽ được cử hành vào một ngày về sau. Và vì ngay cả thủ tục đau buồn ấy vẫn chưa thể hoàn tất, sự đau khổ giữa những người thân với nhau hầu như không thể chịu đựng được.
Cánh cửa đôi tại cổng C vẫn mở rộng. Một y tá khác ngồi sau chiếc bàn giấy ban nãy nhưng bà ta đang bận rộn trao đổi với một nhóm hộ lý cho nên không nhìn về hướng Martha và MacNeil vừa bước qua. MacNeil dẫn Martha vượt qua cả một mê cung, đi theo những mũi tên sơn vàng dưới sàn cho đến khi họ vào được tận khu 7B. Những chiếc giường bệnh vẫn đầy bệnh nhân. Bốn đứa trẻ. Nhưng Sean không có mặt trong đám ấy.
Martha nắm chặt lấy cánh tay MacNeil, “Thằng bé đâu?”
MacNeil trông thấy một viên y sĩ ở khu vực lân cận. Anh ta đang thay ống truyền dịch trên cánh tay của một bé gái. Đó không phải là viên y sĩ trẻ mà MacNeil đã có dịp hỏi thăm ban nãy. Anh nắm lấy tay người y sĩ: “Đứa con trai hồi nãy nằm ở giường bên phải của khu 7B này hiện ở đâu?”
Viên y sĩ giật cánh tay của mình ra, bực mình vì hành vi hung hăng của MacNeil. Anh ta ngoái lại nhìn thoáng qua lối đi giữa những hàng giường bệnh, “Có phải thằng nhỏ tóc đen không?”
“Phải.”
“Nó chết rồi.”