Phong Tỏa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 52 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Hai Mươi Mốt
I

❊ ❊ ❊

MacNeil soi ngọn đèn pin vào phòng tắm nhỏ bên dưới cầu thang và thấy ở phía bên phải có một cánh cửa ngay phía trong. Anh nắm lấy tay cầm và đẩy cánh cửa vào bên trong bóng tối. Chùm ánh sáng từ chiếc đèn pin chỉ ra những bậc thang gỗ hẹp đi vào hầm có độ dốc khá đứng.

“Tốt hơn là bà nên đợi ở đây”, anh nói.

“Không đâu, ông MacNeil”, Tiến sĩ Castelli khẳng định chắc nịch. “Ông đi đâu, tôi theo đó.”

“Vậy thì hãy cẩn thận. Những bước này rất dốc.”

“Đừng lo lắng về tôi. Tôi đang sử dụng đôi giày bền chắc đi đường dài. Một trong những phương tiện xâm nhập bất hợp pháp của tôi.”

Anh phải xoay người sang một bên để đặt chân nằm hoàn toàn ngay ngắn trên từng bậc thềm rồi nhẹ nhàng thả toàn bộ thân hình to lớn của mình vào trong cái lạnh lẽo ẩm ướt của tầng hầm. Đó là một căn phòng nhỏ, được chia đôi bởi một bức tường gạch. Ánh đèn đường vàng nhạt hắt vào từ một máng than hẹp. Một tấm lưới kim loại ngăn động vật chui vào. Đã nhiều năm kể từ khi người thợ than trượt chiếc bao tải cuối cùng của mình xuống cái máng này, nhưng vẫn có một đống gỗ thông đã được băm nhỏ bên dưới cái máng ấy, bên cạnh một cái lò đốt củi nhỏ. Áp suất không khí thấp khiến cho mùi bồ hóng phải trở lại theo đường ống kim loại đen ngòm bốc lên ống khói, có vị chua như thịt xông khói. Ở đây lạnh như băng, và MacNeil không thể ngăn được một cơn rùng mình vô tình chạy dọc cơ thể mình. Anh có thể cảm thấy hơi lạnh truyền qua sàn nhà, xuyên qua giày, quấn lấy bàn chân và mắt cá chân của mình.

Anh chiếu ánh đèn pin soi quanh những bức tường trơ trụi. Không có gì nhiều ở đây. Một giá rượu trống rỗng, một hộp các-tông ẩm ướt chứa đầy những chai rượu không. Một tấm thảm đã cuộn lại, được cắt ra từ một trong những phòng ngủ trên lầu. Sự ẩm thấp đọng lại như một lớp bột trắng ẩm ướt rỉ ra qua lớp gạch cũ. MacNeil phải cúi xuống khi anh đi qua nửa còn lại của căn phòng. Để nâng đỡ trần phòng thấp là những dầm bê-tông sơn trắng. Được xếp dọc theo các bức tường là những giá rượu không.

“Người nào từng sống ở đây chắc hẳn lúc nào cũng rất khát”, Tiến sĩ Castelli nói, và giọng nói của bà nghe như mất tăm một cách kỳ lạ trong không gian lạnh lẽo, ngột ngạt này. Ở bức tường phía sau có một cái bồn rửa mặt Belfast cũ, giống như một cái chậu lớn bằng sứ trắng. Có lẽ đã có những lúc người ta giặt quần áo ở đây. Một vòi nước lạnh duy nhất nhô ra từ bức tường phía trên cái bồn. Bên dưới cái bồn là một bình khí đốt lớn, và một cái bếp sử dụng khí đốt - có kích cỡ của loại bếp dùng trong kỹ nghệ - được đặt trên một giá đỡ bằng kim loại chắc chắn; bên cạnh đó là một vật chứa đựng có kích thước bằng một thùng tô-nô nhỏ, trên mặt có phủ một chiếc khăn. Trung tâm của căn phòng được chiếm ngụ bởi một chiếc bàn gỗ chắc chắn nhưng thô vụng, giống như một cái thớt khổng lồ của hàng thịt, mà có thể đã từng là như vậy thật. Mặt bàn sứt sẹo, có những vết băm và bị mòn thành vết lõm sâu ở một bên, và đã được tẩy trắng. MacNeil đánh hơi. Anh có thể ngửi thấy mùi thuốc tẩy trong không khí.

Tiến sĩ Castelli cùng vậy. Bà lên tiếng, “Thuốc tẩy.”

MacNeil tiếp tục rọi đèn pin quanh phòng cho đến khi ánh sáng ngọn đèn chỉ ra một cánh cửa kim loại rỉ sét gắn vào tường. Nó cao khoảng sáu tấc và rộng ba tấc. MacNeil thử mở cánh cửa ấy ra nhưng nó không di chuyển. Hoặc là nó đã bị rỉ sét kết lại, hoặc nó bị khóa.

“Có thể cái thứ này sẽ mở được cái cửa ấy.”

MacNeil quay lại và thấy Tiến sĩ Castelli đang cầm một chiếc chìa khóa sắt cũ to đùng dài chừng mười lăm phân. “Bà lấy được món này ở đâu vậy?”

“Chẳng có gì bí mật. Nó được treo trên tường.” Khi anh nhận chiếc chìa khóa ấy từ tay Tiến sĩ Castelli và quay lại để thử thì bà cất tiếng hỏi, “Ông nghĩ nó là gì, một kiểu két an toàn nào đó à?”

“Có thể nó là một chiếc két bạc cũ. Trong một ngôi nhà như thế này, những người chủ ban đầu thường là khá giàu có. Họ thường có dao kéo bằng bạc, có thể là những thứ dụng cụ uống trà bằng bạc. Sau khi rửa sạch, những người hầu thường phải cất kỹ trong két bạc.”

Chiếc chìa khóa kêu cót két khi MacNeil vặn nó theo chiều kim đồng hồ. Nhưng nó quay được, và chiếc cánh cửa bằng thép nặng nề bật tung ra khiến những bản lề rỉ sét nghiến kèn kẹt. Có một chiếc kệ gỗ được đặt trong hốc tường phía sau két bạc. Chùm ánh sáng từ ngọn đèn pin được phản chiếu từ một loạt những con dao cắt, dao chặt được sắp xếp gọn gàng trên giá. Không khác với những dụng cụ cắt mà anh đã phát hiện trong căn hộ của Flight.

MacNeil dội ngược lại một chút như thể chiếc két đã phà hơi thở có mùi chết chóc vào mặt anh. Đấy không phải là bạc. Đấy là thép không gỉ, sắc bén đến chết người, và anh không nghi ngờ gì rằng anh đã tìm thấy những dụng cụ được sử dụng để tách thịt khỏi xương của cô bé Choy. Anh nhấc ra một con dao lớn, loại dao của người bán thịt, và cẩn thận giữ nó giữa hai ngón tay đeo găng. Lưỡi dao sạch sẽ, phản chiếu những mảnh ánh sáng chung quanh các bức tường từ ánh sáng ngọn đèn pin, nhưng khi MacNeil giơ con dao lên để nhìn kỹ hơn, anh nhận thấy ở chỗ lưỡi dao gắn vào chuôi dao bằng gỗ có dính một vệt khá dày của một loại vật liệu nào đó sậm màu đã khô dọc theo mép gỗ.

Anh giao ngọn đuốc cho Tiến sĩ Castelli. “Này, giữ cái này giúp tôi.” Rồi anh mang con dao ra bàn, cẩn thận đặt nó lên trên mặt gỗ, sau đó anh mới lấy ra quyển sổ tay và xé từ đó ra một tờ giấy sạch. Anh đặt tờ giấy lên bàn rồi mở ra một con dao gấp nhỏ, khéo léo cạo dọc theo mép nối giữa lưỡi dao và chuôi dao. Một lớp bụi màu nâu sẫm vỡ vụn ra trên tờ giấy được chuẩn bị sẵn. Tiến sĩ Castelli hỏi, “Máu à?”

“Có nhiều khả năng là thế.”

“Có phải máu của Choy không?”

MacNeil gật đầu với thái độ dứt khoát. “Thưa tiến sĩ, tôi nghĩ gần như chắc chắn đây là nơi sự kiện ấy đã xảy ra. Tôi không biết liệu chúng có giết cô bé ấy ở đây hay không, nhưng tôi nghĩ rất có thể chúng đã đặt xác cô bé ấy lên chính chiếc bàn.”

Tiến sĩ Castelli đáp lời, “Như vậy thì chắc chắn phải có dấu vết, cho dù sau đó chúng đã dọn dẹp sạch sẽ như thế nào.”

MacNeil gấp tờ giấy trắng lại để gói kín lớp bụi màu nâu và nhét nó vào túi đựng vật chứng. “Như thế này.”

“Ông nghĩ xem chúng đã xử lý thế nào với mọi thứ?”

“Có lẽ chúng đốt. Trong cái bếp lò ở ngoài kia kìa.” Anh hất đầu hướng về phía nửa ngoài của căn phòng. “Phải còn dấu vết trong đống tro.” Anh bước tới chiếc bồn rửa và khom người xuống xem xét chiếc bếp sử dụng khí đốt đặt bên dưới bồn. Anh lột chiếc khăn tắm bên cạnh để lộ ra một chiếc nồi đồng rất lớn, bề ngang từ hai gang tay trở lên. Trong những ngày hạnh phúc hơn có lẽ chiếc nồi đồng này đã được sử dụng để làm mứt. “Tôi đoán chắc chúng đã nấu xương trong này.” Anh dùng các đốt ngón tay gõ gõ vào thành chiếc nồi đồng và nó thưởng cho anh một tiếng kêu nghe như tiếng chuông rè. Anh hy vọng chúng đã giết cô bé ấy nhanh chóng và không quá tàn nhẫn. Bởi vì sự kinh hoàng của những gì sau đó là không thể tưởng tượng được.

Vị tiến sĩ nói, “Vậy thì ông có thể gọi cho đội pháp y được rồi đó.”

MacNeil đứng dậy và thở dài. “Tôi không thể.”

“Tại sao không?”

“Vì chúng ta đã vào nhà bất hợp pháp. Bất kỳ bằng chứng nào mà chúng ta tìm thấy ở đây sẽ không thể được chấp nhận trước tòa.”

“Thật là nực cười!”

“Đó là luật. Có người sẽ phải quay lại với một trát tòa và lục soát khắp nơi một lần nữa. Bấy giờ mới là hợp pháp. Thưa tiến sĩ, hãy nhớ rằng chúng ta chưa bao giờ có mặt tại đây.”

“Tôi đã ở nhà cả đêm, thưa ông thanh tra.”

MacNeil nở một nụ cười nhợt nhạt. “Bà nắm được vấn đề nhanh thật.”

“Lúc nào tôi cũng nhanh nhẹn. Điều đó khiến tôi rất nổi tiếng đối với đám con trai.”

MacNeil nhận lại chiếc đèn pin rồi đặt con dao trở lại chỗ cũ, khóa chiếc két sắt lại và treo chiếc chìa khóa vào đúng chiếc đinh trên tường. Anh nhìn quanh căn phòng giết người nhỏ bé nghiệt ngã này và rùng mình. Chỉ là lần này anh rùng mình không phải vì trời lạnh.

Trở lại gian đại sảnh, ánh sáng màu rải vào họ từ những tấm kính màu chung quanh cửa trước. MacNeil lấy điện thoại di động ra. Màn hình nhấp nháy cho biết anh vẫn còn một tin nhắn đang chờ. Anh không quan tâm đến điều đó mà vội gọi vào số điện thoại của phòng thí nghiệm FSS ở đường Lambeth và hỏi Tiến sĩ Tom Bennet.

Tom có vẻ mệt mỏi, như thể anh đã ngủ, gục xuống sau bàn làm việc, đóng cửa lại, sẵn sàng vắng mặt vào những giờ ban đêm và chờ đến lúc kết thúc giờ giới nghiêm, để cuối cùng anh có thể trở về nhà. “Tiến sĩ Bennet nghe.”

“Chào Tom, đây là Jack MacNeil.”

Có một sự im lặng ở đầu dây bên kia, và hầu như MacNeil cảm nhận được thái độ thù địch trong sự im lặng đó. “Có gì vậy?” cuối cùng anh cũng lên tiếng, giọng lạnh như băng.

“Tom, tôi cần một ân huệ”, MacNeil nói, nhưng chẳng còn hy vọng rằng mình sẽ nhận được điều mình mong muốn. “Tôi có một mẫu thử mà tôi tin rằng đó là máu khô. Tôi nghĩ nó đến từ cô bé người Trung Quốc bị hở hàm ếch. Tôi cần so sánh nó với DNA từ bộ xương của cô bé.”

“Điều đó khó có thể coi là một ân huệ, thưa ngài Thanh tra Hình sự. Nếu ngài đưa ra yêu cầu chính thức, thì sẽ có người thực hiện. Kể cả ngài không cần phải yêu cầu với sự tử tế ấy.”

“Tôi biết điều đó. Nhưng tôi muốn việc này phải được nằm ngoài báo cáo.”

Thêm một lúc im lặng. Thế rồi, “Sao vậy?”

MacNeil thở dài. Anh không bao giờ chấp nhận được điều gì khác hơn sự trung thực. “Bởi vì mẫu có được bằng những phương tiện bất hợp pháp.”

“Vậy thì điều đó sẽ khiến tôi trở thành đồng phạm của tội ác.”

“Tôi đang cố bắt một kẻ giết người, Tom à. Và tôi sắp hết thời gian.”

“Thời gian để làm việc gì? Để trở thành một anh hùng à?”

“Tôi đang đặt vấn đề với thiện ý.”

“Vậy tại sao ngài không hỏi… bạn của ngài… cô Amy ấy? Tôi chắc chắn rằng cô ta sẽ rất hạnh phúc khi gia ân.”

MacNeil hiểu ngay rằng anh ta đã biết về chuyện của anh với Amy, và chính sự hiểu biết đó đã đổ đầy tâm hồn anh ta những ý tưởng độc hại cùng với lòng thù hận, giống như điều mà Amy vẫn lo sợ. Cô biết anh ta quá rõ. Anh nghe thấy một tiếng chuông điện thoại khác vang lên ở đâu đó trong hậu cảnh văn phòng của Tom, và tiếng điện thoại ấy mang lại một lý do hoàn hảo để nhà nghiên cứu bệnh lý học kết thúc cuộc trò chuyện của họ. “Xin lỗi, tôi có một cuộc gọi khác. Tôi phải đi.” Anh ta chẳng có vẻ gì áy náy cả, và đột ngột cúp máy.

II

Bấy giờ Harry đã ngồi ở bên giường, ăn mặc chỉnh tề. Khuôn mặt anh ta nhợt nhạt đến mức gần như bừng bừng trong bóng tối. Pinkie ngồi sát bên anh ta, nòng súng hãm thanh đẩy nhẹ vào cổ Harry. Harry áp điện thoại lên tai bằng những ngón tay run rẩy và lắng nghe khi nó reo ở đầu dây bên kia. Thế rồi giọng nói của Tom, nhanh, dứt khoát, đâu ra đấy, gợi nên một cảm giác nôn nao, giống như một cây cọc gỗ được vuốt nhọn, đâm thẳng vào lõm thượng vị của người nghe. Có lẽ sẽ tốt hơn cho cả hai nếu Tom không ở đó.

“Tiến sĩ Bennet nghe.”

“Tom, Harry đây.”

Pinkie ghé sát vào tai Harry để hắn cũng có thể nghe thấy. Và trước hết điều hắn nghe được là niềm vui của Tom.

Tom nói. “Này, anh bạn, điều này có nghĩa là chúng ta lại nói chuyện với nhau một lần nữa?”

Pinkie gật đầu và Harry nói, “Tôi đoán vậy.” Anh chàng hít một hơi sâu, run rẩy vì hoảng hốt. “Chúa ơi, Tom!” Pinkie vừa ấn mạnh nòng súng vào phần thịt mềm mại ở cổ Harry khiến anh chàng kêu ré lên.

“Chuyện gì vậy?” Tom có vẻ lo lắng. “Harry, bạn bình yên chứ?”

Pinkie giật lấy chiếc điện thoại từ tay Harry. Hắn nói, “Harry vẫn bình yên, Tom ạ.”

“Ai thế này?”

“Không thành vấn đề”, Pinkie nhẹ nhàng nói. “Tất cả những gì bạn cần biết là nếu bạn làm những gì tôi yêu cầu thì Harry sẽ trở nên bảnh bao. Tôi sẽ không làm hại một sợi tóc nào trên cái đầu nhỏ xinh của anh ta.”

III

Amy đã tắt hết đèn và bấy giờ ngồi lặng yên trong bóng tối. Cô biết rằng căn hộ vẫn ấm áp, nhưng cô cảm thấy lạnh thấu xương, da thịt cô lạnh lẽo khi chạm vào. Cô ngồi đấy, ôm chặt con dao làm bếp trong lòng, chăm chú quan sát khu vực cầu thang. Ánh sáng từ chiếu nghỉ bên dưới rọi lên rồi phản chiếu lên trần nhà dốc đứng ở phía trên thành một hình chữ nhật méo mó. Nếu có người nào bước lên cầu thang, cô sẽ nhìn thấy ngay bóng kẻ đó. Cô có được ở phía mình lợi thế về sự bất ngờ và ở một vị trí trên cao. Nhưng trong vòng một giờ hay hơn một chút kể từ khi cô gọi cho MacNeil, không hề có một âm thanh hay một bóng dáng mờ nhạt nhất của bất kỳ một chuyển động nào.

Có lẽ tình trạng ấy khiến cô yên tâm rằng kẻ nào đó đã cắt tóc Lyn hẳn cũng đã đi từ lâu rồi. Nhưng cô thấy điều đó thật khó chấp nhận. Cô đã bị bỏ mặc đến mức hoàn toàn mất tự tin. Sự việc không có ý nghĩa gì cả, và mỗi khi cô nghĩ đến việc làm thế nào mà kẻ đó vào được trong nhà giữa lúc cô đang vô tư khỏa thân, phơi bày dưới vòi hoa sen, thì cô chỉ muốn sao cho như mình chưa hề được sinh ra và loại bỏ cả thế giới này. Giá như có thể giả vờ rằng đã không hề có chuyện này xảy ra, rằng trong một khoảnh khắc khác, cô sẽ trở mình thức dậy nhìn vào màn hình kỹ thuật số trên chiếc đồng hồ đầu giường, khi ánh sáng ban ngày len lỏi khắp các mép rèm cửa sổ trong nhà.

Nhưng cô biết rằng không có lối thoát dễ dàng như vậy, nên cô cứ ngồi đó, cứng đờ vì căng thẳng và lạnh lẽo, và cả vì chờ đợi nữa.

Ở đầu kia căn phòng, cái đầu đã bị biến dạng cứ chằm chằm nhìn cô trong bóng tối, tỏ vẻ khinh miệt. Amy không biết sợ hãi là gì. Amy vẫn còn sống. Amy có hy vọng, Amy có một tương lai.

Điện thoại đổ chuông khiến cô giật mình suýt hét lên. Cô nắm lấy ống nghe. Cuối cùng thì cũng phải như thế chứ!

“Jack!”

“Xin lỗi đã làm thất vọng. Đây chỉ là Tom.” Quả thực là cô thất vọng. Cảm giác có được sự cứu viện vừa tràn ngập các giác quan của cô lập tức mờ nhạt đi, để lại cho cô sự bực mình và căng thẳng. Và cho dù có sự cố gắng của Tom để tạo ra thái độ suồng sã như mọi khi, Amy vẫn phát hiện có điều gì đó khác lạ trong giọng điệu của anh ta.

“Anh cần gì vậy, Tom?” Thực tình, cô không có ý ăn nói kiểu cụt lủn như vậy.

Tom trả lời với giọng điệu không có chút cảm xúc nào, “Tôi muốn cô có mặt ở phòng thí nghiệm.”

“Sao vậy?”

“Tôi không muốn nói chuyện cụ thể qua điện thoại. Tôi chỉ cần cô ở đây, ngay bây giờ. Càng sớm càng tốt.”

“Tom, anh có biết bây giờ là mấy giờ không?”

“Khoảng ba giờ, tôi nghĩ vậy.”

“Coi nào, điều gì khiến anh có thể muốn tôi có mặt ở đó lúc ba giờ sáng?”

“Tôi cần cô mang theo cái đầu và cả hộp sọ.”

Trong giây lát, cảm giác nguy hiểm của Amy rời khỏi tâm trí của cô, thay vào đó là sự kinh hoàng. “Tôi không hiểu.”

“Cô không cần phải hiểu, Amy à.” Tom hoàn toàn mất tự chủ. Giọng điệu của anh ta thể hiện rõ sự cáu kỉnh. “Cứ làm đi. Xin vui lòng.”

Tom…

Anh ta gần như hét lên, “Amy! Cứ làm đi.”

Có thể nói là cô dội ngược trước máy điện thoại. Họ vẫn cãi nhau trong nhiều năm qua, nhưng chưa bao giờ anh ta nói chuyện với cô như thế này. Và dường như ngay lập tức, anh ta hối hận về điều đó.

“Amy, tôi xin lỗi.” Lúc này anh ta đang cầu xin. “Tôi đã không cố ý hét vào mặt cô. Chỉ vì… chỉ vì điều này thực sự quan trọng. Cứ đến đi đã. Làm ơn.” Anh ta dừng lại rồi tiếp, “Hãy tin tôi.”

Hãy tin tôi. Làm thế nào cô ấy có thể không tin? Họ đã là bạn của nhau quá lâu, và anh đã ở bên cạnh cô trong tất cả những sự thăng trầm của cuộc sống. Hãy tin tôi là những lời có giá trị nhất để gợi lên tất cả tình bạn và lòng biết ơn mà cô còn nợ anh. Hãy tin tôi. Tất nhiên là cô tin tưởng anh. Và trước tất cả những nghi ngại của mình, không cách nào cô có thể từ chối anh. “Tôi sẽ có mặt trong vòng bốn mươi, hoặc có thể là năm mươi phút nữa.”

Cảm giác cất được cả một gánh nặng trong giọng nói của anh ta gần như có thể sờ thấy được. “Cảm ơn nhé, Amy.”

Cuộc điện thoại ấy đã xua tan trong tâm trí cô cái cảm giác về sự nguy hiểm sắp xảy ra trong căn hộ. Và cô bắt đầu tự hỏi trí tưởng tượng của mình đã đóng vai trò như thế nào trong đó. Cô bật đèn lên rồi điều khiển xe lăn đi xuyên qua phòng để nhấc chiếc đầu đứa trẻ ra khỏi mặt bàn. Cô tháo bộ tóc giả ra trước khi cẩn thận quấn chiếc đầu ấy bằng một lớp vải mềm rồi đặt nó vào một chiếc hộp đựng mũ cũ mà cô vẫn sử dụng để vận chuyển những chiếc đầu từng được giao cho cô xử lý. Cô quăng bộ tóc giả lên mặt bàn và đặt chiếc mũ vào vị trí cũ.

Khi chiếc thang máy kêu o o rồi từ từ hạ xuống chiếu nghỉ đầu tiên, cảm giác về tình trạng dễ bị tổn thương hết sức nghiêm trọng của cô quay trở lại. Cô vẫn giữ chặt con dao làm bếp trên chiếc hộp mũ. Nhưng không có ai ở đó. Không có ai trong phòng ngủ hay phòng tắm, hay trong tủ áo khoác khi cô lấy lại chiếc áo choàng mùa đông dày mà cô dùng để choàng qua vai.

Phòng chờ nhỏ bé dưới chân khoang thang cuối cùng thật là vắng vẻ, lạnh lẽo và trơ trụi trong ánh đèn vàng chói chang; cùng lúc, mùi hộp sọ bốc lên để chào đón cô, xuyên qua tất cả các lớp nhựa bọc. Một lời nhắc nhở, nếu cô cần, rằng đứa trẻ ấy đã chết, và họ vẫn đang cố gắng tìm ra kẻ giết cô bé ấy.

Cô mở cửa, bóng đêm phả hơi lạnh vào mặt. Cô kéo cửa, đóng nó lại sau lưng rồi mở máy động cơ chiếc xe lăn điều khiển nó lao thẳng xuống đoạn đường dốc đi qua một vuông sân hoang vắng lát sỏi hoa cương. Đám mây trên cao đột ngột tách ra và một tia sáng bạc thoáng lướt qua sân rồi lại biến mất ngay lập tức. Không có một bóng người nào trên đường; và Amy tự hỏi liệu đã bao giờ cô cảm thây cô đơn hơn lúc này chưa. Cô đổi hướng chiếc xe lăn để đi về phía đường Gainsford và bãi đỗ xe nhiều tầng.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Peter May

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.