Ánh đèn thành phố trải rộng ở phía dưới, cả một mớ hổ lốn không đồng đều của các khu thị tứ lộn xộn chen chúc nhau nối tiếp nhau chung quanh dòng chảy ngoằn ngoèo về phía đông của con sông Thames. Tòa nhà Quốc hội, Tòa nhà Văn phòng Quốc hội được đặt tên là Portcullis gây tranh cãi, tảng băng bê-tông được biết là trụ sở Bộ Quốc phòng - mà có tới hai phần ba khối lượng của nó chìm trong lòng đất. Xa xa về phía bên phải, ánh đèn của Bệnh viện St. Thomas, và xa hơn nữa là công trường xây dựng trong Công viên Đức Tổng Giám mục, nơi bộ xương của Choy được phát hiện cách đây mới khoảng hai mươi bốn tiếng đồng hồ trước, đặt để sẵn sàng một chuỗi các sự kiện không thể đoán trước dẫn đến điều này. Công trường đã bắt đầu hoạt động trở lại sau một thời gian gián đoạn ngắn ngủi qua đêm, công nhân đi đi lại lại trong công trường như những con kiến màu cam nhỏ bé bên dưới ánh đèn hồ quang. Quá xa để có sự cứu giúp. Ngay cả nếu có ai đó nhìn lên chiếc bánh xe đu quay này, thì nó vẫn không có ánh sáng và di chuyển quá chậm để thu hút sự chú ý.
Amy đã quan sát khoang hành khách ở phía trên trong suốt quá trình nó đi lên cho đến khi nó đến được chỗ cao nhất và bắt đầu rời khỏi vị trí đó rồi lại từ từ lăn xuống. Khoang hành khách có Amy ngồi trong đó lúc này đang tự hào ngự trị trên đỉnh của chiếc bánh xe đu quay khổng lồ này, làn không khí lạnh giá trước bình minh thổi mạnh như quất quanh những cánh cửa đang mở của nó. Ngọn gió rít lên xuyên qua tất cả các nan hoa, rên rỉ giữa các sợi dây cáp, như thể nó sống động và mang lại tiếng nói cho nỗi sợ hãi của cô.
Với một cú giật nhẹ, chiếc bánh xe đứng sựng lại và khoang hành khách lắc nhẹ theo trục của nó. Họ đã lên cao hết mức có thể lên được. Amy không thể nhìn thẳng xuống bên dưới. Độ cao ấy khiến cô chóng mặt và buồn nôn. Cô nhìn suốt khoang hành khách hướng về phía Pinkie. Hắn ngồi trên sàn, tựa lưng vào vách kính, và có vẻ như chìm vào hôn mê. Nếu có một khoảnh khắc nào đó mà một người có thể lực có thể chế ngự được hắn, thì chính là lúc này. Nhưng Amy bất lực không làm được gì. Và khi khoang hành khách dừng lại, Pinkie dường như hồi sinh. Hắn đứng dậy một cách khó khăn, để lại một vũng huyết thanh trên sàn, và loạng choạng đi ngang qua khoang hành khách để đến bên cửa. Hắn nghiêng người ra và nhìn xuống, và cô nghe thấy hơi thở của hắn lục bục trong đường hô hấp đã bị hủy hoại khi hắn hít thở làn không khí lạnh giá. Hắn quay lại rồi đặt khẩu súng dựa vào tường; sau đó, với rất nhiều khó khăn, hắn bắt đầu kéo lê thi hài của Tom về phía cửa mở.
Phải mất một lúc để Amy nhận ra hắn sẽ làm gì. “Đừng!” Cô la lên. “Xin vui lòng. Anh ta đã chết. Anh ấy xứng đáng được đối xử tốt hơn như vậy.”
Pinkie ngước lên rồi nhìn thẳng vào cặp mắt của Amy trong một thoáng. Có vẻ chúng - đôi mắt của hắn - chứa đựng một nỗi buồn kỳ lạ, long lanh niềm u uất. Sau đó hắn quay trở lại với nhiệm vụ của mình, kéo lê cái xác đến gần cửa. Hắn đứng dậy, cố gắng lấy hơi, rồi dùng chân đẩy nhẹ cái xác. Tom lặng lẽ rơi vào màn đêm, đập vào phần nhô ra của bánh xe đu quay, trước khi lăn ra xa để hoàn toàn không còn được nhìn thấy trong bóng tối.
Pinkie lấy lại khẩu súng và đứng thẳng lên dựa lưng vào bức tường kính bên trái cánh cửa. Amy nhìn hắn ta với sự căm ghét và ghê tởm trong lòng. “Tôi mong cho ông thối rữa trong địa ngục.”
Pinkie cố gắng cất tiếng. Nhưng chẳng có lời nào thoát ra, ngoại trừ tiếng lục bục trong cổ họng hắn. Hắn đang nhanh chóng lịm dần.
II
Họ đang tiến đến Cầu Tháp; Bến tàu Thánh Katharine và khối bê-tông xấu xí là Khách sạn Tháp Thistle ở bên phải của họ. Bên trái của họ là các nhà kho đã được chuyển đổi công năng của Butler’s Wharf. Cách đó không xa là căn hộ của Amy, tối đen và trống trải. Gió mạnh thổi ngược từ cửa sông lên, và dòng chảy của thủy triều đã giúp họ tiến lên phía trước. Đường rẽ nước phía sau con thuyền của họ phát sáng màu xanh lá cây, giống như một luồng nước phun sáng phản chiếu trong nước.
MacNeil cố giữ sự tập trung của mình vào dòng sông phía trước. Lối cũ vào cổng Traitor ở Tháp London đã bị xây gạch để bít đi. Và không có một dấu hiệu nào của sự sống trên con tàu HMS Belfast khi họ cho thuyền chạy chậm lại, ngang qua nơi neo đậu của con tàu cổ này. Một ngàn năm lịch sử chen chúc trên các dải đất dọc bờ sông đều tập trung chung quanh họ. Con tàu cổ Golden Hind, Nhà hát Globe, Nhà thờ St. Paul, và hết cây cầu này đến cây cầu khác bắc qua dòng nước của một con sông đều mang những chứng tích cho mọi thứ, từ việc chặt đầu các vị vua cho đến trận đại hỏa hoạn ở London và những trận không chiến của Đức Quốc xã. Tất cả những nỗ lực của con người, nguồn cảm hứng và sự độc ác, thiên tài và ác quỷ, đã dẫn đến kết cục đáng buồn này. Mọi người thu mình trong nhà, sợ hãi khi đi trên đường phố, co cụm lại với một cuộc sống đầy sợ hãi và ghê tởm bởi một sinh vật đơn bào gây chết chóc.
Anh quay sang Tiến sĩ Castelli. Có lẽ bây giờ đã đến lúc đối đầu với sự thật. Anh hỏi, “Vậy theo bà thì điều gì đã xảy ra với Choy và Blume.”
Bà tiến sĩ lắc đầu. “Ai biết được? Stein-Francks đang theo đuổi một loại vắc xin. Cố gắng dẫn đầu cuộc chơi. Nhưng có rất nhiều công ty khác cũng làm như vậy. Rốt cuộc, bất kỳ ai có thể sản xuất một loại vắc-xin hiệu quả sẽ kiếm được hàng tỷ USD. Ông biết đấy, chỉ riêng EU đã dành hơn một tỷ euro hàng năm để mua vắc-xin và thuốc kháng vi-rút trong trường hợp có đại dịch.” Bà nhìn chằm chằm trên mặt nước. “Nhưng họ chỉ có thể sản xuất vắc-xin trước cuộc chơi bằng cách tạo ra một phiên bản vi-rút nhân tạo có thể truyền dễ dàng từ người sang người. Bằng cách nào đó, thần đèn đã ra khỏi cái chai. Hẳn là Choy đã bị nhiễm bệnh. Chỉ có Chúa mới biết như thế nào. Cô bé đã đi theo trường của mình đến Sprint Water trong kỳ nghỉ tháng Mười và vô tình truyền nó cho hàng trăm người khác.”
Tiến sĩ Castelli hít một hơi thật sâu. “Vấn đề về trẻ em là, chúng chỉ là những chiếc lồng ấp hiệu quả nhất mà người ta có thể có được. Và chúng thật là hữu hiệu trong việc truyền nhiễm. Hầu hết người lớn đều bị lây nhiễm ngay từ trước khi có sự tấn công của các triệu chứng, thế rồi ủ bệnh trong bốn hoặc năm ngày sau đó. Trẻ em lây nhiễm vi-rút từ sáu ngày trước khi có triệu chứng, cho đến hai mươi mốt ngày sau đó. Chúng là những trái bom hẹn giờ biết đi. Chúng không hề biết mình đang nhiễm bệnh, nhưng chúng đang truyền bệnh cho tất cả mọi người mà chúng gặp - khi chúng nói chuyện, ho, hắt hơi. Người ta chạm vào những thứ chúng đã chạm vào và người ta bị nhiễm bệnh. Thời gian ủ bệnh thường từ một đến ba ngày, và tính trung bình thì một người lớn sẽ lây cho hơn một người mà chưa tới hai người. Trẻ em tạo sự lây nhiễm nhanh hơn thế và trong các cộng đồng khép kín, chúng truyền con vi-rút ấy đi như cháy rừng.”
“Thế thì, một cuộc cắm trại của các trường học với vài nghìn trẻ em khác chỉ có thể là nơi tồi tệ nhất để gửi đến đó một đứa trẻ đã bị nhiễm bệnh?” MacNeil hỏi.
“Nếu ông là một kẻ khủng bố sinh học, ông khó có thể chọn được một kịch bản tốt hơn.”
“Nhưng Stein-Francks đâu có phải là những kẻ khủng bố sinh học.”
“Không, họ chỉ đang cố gắng kiếm tiền. Nhưng lần này họ đã thực hiện một vụ giết người lớn lao hơn điều họ mong đợi. Hàng triệu người đang chết bởi vì cách này hay cách khác, ở một nơi nào đó trong thời gian sự kiện diễn ra, họ đã mắc kẹt. Và Choy sẽ là bằng chứng sống cho điều đó. Tiêu diệt cô bé, người ta tiêu hủy chứng cứ.”
MacNeil buộc mình phải tập trung vào những gì Tiến sĩ Castelli đang nói, để cố gắng theo dõi chuỗi suy luận hợp lý của bà tiến sĩ. “Tôi không hiểu. Chắc chắn cô bé cũng nhiễm cùng một loại vi-rút như những người khác, vì vậy điều đó sẽ không chứng minh được điều gì.”
“Không. Vi-rút của đứa bé ấy khác, ông MacNeil ạ. Chính ông đã nói với tôi rằng phòng thí nghiệm cho biết phiên bản H5N1 của Choy đã được biến đổi gien.”
“Đúng vậy.”
“Vì vậy, nó khác với con vi-rút đã lây nhiễm cho những người khác.”
“Làm sao có thể như vậy được?”
“Bởi vì nó đột biến.” Tiến sĩ Castelli nhún vai như thể đó là điều tự nhiên nhất trên thế giới. Điều đó vốn là thế. “Vi-rút cúm thực hiện đột biến vào mọi lúc - chuyển đổi kháng nguyên, phối trí lại, tổ hợp lại. Đó là lý do khiến loại vắc-xin mà Stein-Francks sản xuất không có tác dụng. Tất nhiên, họ đã biết việc đột biến ở vi-rút là điều không thể tránh, nhưng không nhiều như nó đã xảy ra. Lại nữa, chúng tôi không hề biết rằng loại vi-rút đang giết chết tất cả mọi người hiện nay lại được phát triển từ một thứ gì đó do con người tạo ra.” Bà ngoắc ngoắc một ngón tay về phía MacNeil. “Nhưng đây là vấn đề. Chúng tôi biết rằng Choy đang ở tâm điểm của đại dịch và nếu chúng tôi có thể so sánh vi-rút của cô ấy với vi-rút được sử dụng để sản xuất vắc-xin Stein-Francks, chúng tôi sẽ biết ngay nó đến từ đâu. Tốt như một dấu vân tay. Ông không thấy sao? Đó là lý do khiến họ phải loại bỏ cô ấy.”
Bấy giờ họ trên đường đến Kings Reach, phía trước là Cầu Waterloo, ở bên trái là Trung tâm Bờ Nam. Họ đã có thể nhìn thấy Con mắt London khiến cho các tòa nhà ở phía nam sông nhỏ lại, nhưng lúc này toàn khu vực ấy tối tăm, im lìm và tĩnh lặng, phản chiếu ánh đèn thành phố nhờ có nền trời đen. Chẳng có cách nào để MacNeil biết được rằng Amy đang là một tù nhân ở khoang hành khách trên cùng, được canh giữ ở đó bởi người đàn ông mà anh đã kéo ra từ một chiếc xe đang cháy trên cầu Lambeth hai tiếng đồng hồ trước. Nhưng anh biết chắc rằng một khi chiếc thuyền của anh đi qua Sảnh Lễ hội Hoàng gia, và đi dưới cầu Hungerford, con thuyền sẽ phơi ra trước bất kỳ ai đang quan sát dòng sông từ Con mắt London. Tuy vậy, Blume sẽ không tưởng tượng được rằng họ đến bằng thuyền. Y sẽ ngồi trên tay lái ở phía xa để quan sát con đường. Nếu họ tắt máy thuyền rồi lặng lẽ cập cầu tàu, họ có thể có khả năng bắt được y và bất kỳ kẻ đồng phạm nào mà tất cả đều không ngờ.
Khi con thuyền đi qua bên dưới những chiếc cầu dành cho người đi bộ mới xây treo lơ lửng ở hai bên cầu đường sắt chở các đoàn tàu vào Charing Cross, anh tách hẳn hai đầu dây mà Tiến sĩ Castelli đã nối lại để cho động cơ ngưng hoạt động. Họ lặng lẽ xuất hiện ở con rạch ngắn dẫn vào cầu tàu đối diện trụ sở Bộ Quốc phòng.
Hai lối đi được gia cố bằng các thanh dầm ở hai bên nền của công trình bánh xe đu quay dẫn thẳng đến sàn đổ bộ của Con mắt London. Một chiếc tàu du lịch to lớn được buộc chặt ở đó, nhẹ nhàng dập dềnh trên sóng nước. MacNeil nhìn lên tòa kiến trúc rộng lớn cao vút trước mặt. Chỉ khi người ta đến gần công trình này, toàn bộ quy mô của nó mới thực sự tạo ra tác động. Anh có thể thấy một ánh đèn trong chiếc chòi điều khiển ở bên kia khu vực lên xuống những khoang hành khách của bánh xe đu quay này, nhưng ở đó không có dấu hiệu của sự sống.
Anh thận trọng lái thuyền cặp mạn cầu tàu và nhảy ra để buộc dây đõi vào lan can màu trắng chạy dọc thân thuyền. Con thuyền nhỏ tiếp tục va đập vào mép cầu tàu. Anh quỳ xuống bên cạnh nó. Tiến sĩ Castelli nghĩ rằng anh sẽ giúp bà lên bờ, nhưng thay vào đó, anh thì thầm: “Tôi muốn bà ở lại đây.” Bà định phản đối, nhưng anh đã kịp cắt lời. Anh bảo, “Bọn này là những kẻ giết người. Đừng lộn xộn.”
Bà tỏ vẻ cam chịu và nghiêng người vào thuyền để lấy lại khẩu súng trường mà họ đã thu giữ từ người canh gác trên Đảo Chó. “Vậy thì ông sẽ cần đến khẩu súng này.” Nhưng anh lắc đầu. “Bà giữ lấy nó. Bất kỳ ai đến gần, hãy bắn ngay.”
“Nếu đó là ông thì sao?”
Anh ném cho bà tiến sĩ một ánh nhìn. “Hãy tạo một ngoại lệ.”
“Thôi được!”
Anh nhún mình nhảy qua thành lan can và chạy lúp xúp trên một đoạn đường dốc có mái che để đến lối đi bộ ở đầu cực nam của cầu tàu. Tại đó, anh dừng lại và chăm chú nhìn về phía nền công trình. Bốn chiếc động cơ màu đỏ khổng lồ, mà những bánh xe ròng rọc bằng cao su của chúng hoạt động như những chiếc đai có chấu để làm quay vành bánh xe đu quay lớn, im lìm nằm đó. Ngoài ánh sáng rực rỡ của chiếc bóng đèn trong chòi điều khiển, vẫn không có dấu hiệu nào của sự sống. MacNeil hiện ra từ bóng tối của đoạn đường dốc nối và cảm thấy dễ bị tấn công bên dưới lớp thủy tinh hữu cơ trong suốt của lối đi bộ khi anh chạy lướt đi thật êm khoảng ba mươi thước để đến bờ kè. Khi đã vượt qua lối đi bộ ấy, anh nhìn lên một cầu thang xoắn ốc dẫn lên vùng bóng tối trên cao, lối vào để bảo dưỡng cho những chiếc động cơ khổng lồ treo bên trên. Phía trước, một cánh cổng hình ống ngăn không cho anh tiến xa hơn. Nó khua lách cách khi anh leo lên rồi tuột xuống phía bên kia.
Những con dốc ngoằn ngoèo dẫn lên đến bệ tiếp nhận hành khách của chiếc bánh xe đu quay - nơi hàng ngàn người từng xếp hàng mỗi ngày để trải nghiệm cảm giác hồi hộp của chuyến đi - trông có vẻ dọa dẫm một cách kỳ lạ trong tình trạng trống vắng của chúng. Anh nghe được tiếng gió reo lên qua các nan hoa được căng ra của bánh xe và làm rung chuyển những cành cây trơ trụi phía trên phòng chờ ngoài trời. Những sợi dây cáp chắc nặng, có bề dày bằng chân người, sà xuống trên đầu để neo chặt kết cấu vào khối bê-tông. Có một vài gian hàng hình tròn, tất cả đều đóng cửa. Một quán cà phê sân hiên, hoang vắng chẳng biết tự bao giờ; xa hơn nữa, một công viên vui chơi trông đìu hiu buồn tẻ khi không có tiếng nói của trẻ em đã từng mang lại sự sinh động.
Blume đứng bên một bức tượng được dựng lên để tưởng nhớ Lữ đoàn Quốc tế, những người đã tình nguyện giúp đỡ nhân dân Tây Ban Nha trong cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít. Những nắm đấm giơ cao, những gương mặt hướng tới thiên đường. Một phần tư quân số của lữ đoàn này đã chết. Y quay lại, kinh ngạc khi nghe giọng nói của MacNeil. “Mày có ba mươi giây để cho tao biết mày đã làm gì với cô ấy trước khi tao bẻ cổ mày ra.”
Sự căng thẳng của y nhường chỗ cho một nụ cười, gần như thoải mái. “Chà, điều đó thật là ngu ngốc đối với ông, ông MacNeil ạ. Bởi vì cô ấy sẽ gãy nhiều hơn cổ nếu có bất kỳ điều gì xảy ra với tôi.”
“Cô ấy đâu?” MacNeil lo lắng. Anh đã tin chắc rằng Blume hoàn toàn đơn độc trước khi tiến hành cuộc gặp gỡ. Còn nữa, mặc dù vậy, tại sao Blume lại tự phơi mình ra như thế này, một mình và không được bảo vệ, trừ khi y cảm thấy tự tin rằng y có lợi thế hơn anh?
Blume ngửa đầu ra sau rồi nhìn lên trời. Y nói, “Cô ấy ở trên đó.” Trong một khoảnh khắc MacNeil không hiểu, cho đến khi anh quay lại và nhìn theo ánh mắt của Blume để nhận ra y đang nói về chiếc bánh xe đu quay. Blume mỉm cười trước sự bối rối của MacNeil. Y bắt đầu đổi giọng, “Ngay ở chỗ cao nhất, chỗ ngồi tốt nhất trong tòa nhà này, hoàn toàn miễn phí. Nhưng đó là đường xuống địa ngục - nếu ông bạn là một kẻ không biết điều.”
MacNeil nhìn y chằm chằm, từng thớ thịt của anh kêu gào anh phải tấn công gã này. Anh đã phải có một cố gắng cao tột của ý chí để tự kiềm chế. Anh hỏi, “Vậy mày muốn gì?”
“Tôi muốn biết ông bạn đã biết những gì, và những người nào khác cũng biết những điều đó.”
Ánh mắt của MacNeil tình cờ nhìn thấy dòng chữ được khắc trên bệ đá cẩm thạch màu đen của bức tượng. Họ đã đi, bởi vì với ý thức đầy đủ của mình họ không thể nhìn thấy con đường nào khác. Anh nói, “Tao biết đã có một loại rủi ro nào đó. Rằng Choy đã bị nhiễm vi-rút cúm mà mày đang nghiên cứu. Rằng toàn bộ đại dịch này đang xảy ra bởi vì đã có nhiều người bất cẩn.”
Blume đảo mắt rồi lắc đầu và nói. “Đó có phải là những gì ông bạn nghĩ không? Có thật như vậy không? Độ lượng biết là chừng nào.”
“Ý mày là thế nào?”
“Tôi muốn nói rằng đó không phải là một tai nạn, ông MacNeil ạ. Chúng tôi đã hoàn toàn cố tình gây nhiễm cho cô bé Choy tội nghiệp. Và chúng tôi đã gửi cô ấy đến Sprint Water khi biết - không, phải nói là chúng tôi hy vọng - rằng cô ấy sẽ gây ra đại dịch.”
Bất kỳ điều gì có thể được MacNeil mong đợi để nghe thì đều không phải là điều này. Lời thú nhận đơn giản của Blume khiến cho người ta sững sờ về mức độ của nó. Đến độ MacNeil không thể nghĩ ra điều gì để nói, ngoại trừ, “Sao vậy?”
Blume thở dài. “Đó là một câu chuyện dài và đau đớn, ông MacNeil ạ. Stein-Francks đang trên bờ vực của sự sụp đổ. Một sự sụp đổ thảm khốc. Mà mọi chuyện đã tiến triển rất tốt. Có thể nói, một số tiền nhất định đã được đổi chủ. Một số quan chức tại Tổ chức Y tế Thế giới đã tuyên bố FluKill là loại thuốc được lựa chọn để chống lại đại dịch cúm gia cầm mà mọi người đều dự đoán.” Y mỉm một nụ cười buồn bã. “Điều này đã không làm hài lòng các đối thủ cạnh tranh của chúng tôi tại Roche. Về cơ bản, chúng tôi đã đưa Tamiflu ra khỏi lĩnh vực kinh doanh.” Y khoanh tay trước ngực rồi dựa người vào bức tượng Lữ đoàn Quốc tế. “Tất cả các nước lớn ở phương Tây đã đặt hàng. Và tôi đang nói tới hàng tỷ. Tất nhiên, người ta phải đầu cơ để tích lũy. Và vì vậy chúng tôi đã đầu tư rất nhiều vào sản xuất. Chúng tôi đã phải tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu. Chúng tôi bắt đầu xây dựng một cơ sở sản xuất mới ở Pháp. Chúng tôi đặt tất cả trứng vào một giỏ - hay trong trường hợp này là vào một ổ. Nhưng dường như đó là một điều chắc chắn. Mọi người đều cần có FluKill. Thế rồi… xem nào, thế rồi người Việt Nam, người Campuchia và người Trung Quốc bắt đầu giết hàng triệu con chim. Hàng triệu! Thiệt hại kinh tế là không thể tưởng tượng được. Nhưng họ đã làm điều ấy. Và chỉ trong thời gian của một mùa dịch, mối đe dọa bắt đầu mờ dần. Dịch cúm gia cầm qua đi, những câu chuyện hù dọa bắt đầu biến mất khỏi các cột báo. Ngay cả WHO cũng bị phân tâm bởi các vấn đề khác. Và các chính phủ trên toàn thế giới đột nhiên quyết định rằng họ có những ưu tiên khác đối với số tiền mà họ đã dành cho FluKill. Các đơn đặt hàng đã bị hủy. Những hứa hẹn đặt hàng khác không bao giờ thành hiện thực. Stein-Francks hầu như hoàn toàn kiệt quệ, ông MacNeil ạ. Ồ, chúng tôi vẫn còn nhiều tiền. Vấn đề là, tiền đã nằm ở tất cả những chỗ trật lất. Hầu hết là ở một sản phẩm mà chẳng còn ai muốn mua nữa.”
Sự hiểu biết bắt đầu hé mở trong tâm trí của MacNeil, giống như sương bắt đầu tan vào một sớm mùa thu. Anh bình luận, “Như vậy, vì không có thị trường cho thuốc của mày, mày đã quyết định tạo ra một thị trường.”
Blume chậm rãi gật đầu. “Thế là hầu như tổng kết hết những điểm chính yếu rồi. Chúng tôi biết rằng chúng tôi đang chơi với lửa, nhưng thực sự chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi có thể kiểm soát được tình hình. Hãy sản xuất một phiên bản của H5N1 có thể lây lan dễ dàng giữa người với người, rồi sau đó sản xuất vắc-xin để ngăn họ mắc bệnh. Tất nhiên, không phải trước khi tất cả các đơn đặt hàng FluKill đó đã được thực hiện. Đương nhiên, chúng tôi biết vi-rút sẽ đột biến. Nhưng chúng tôi hình dung rằng gần như chắc chắn nó sẽ vẫn nằm trong phạm vi của vắc-xin. Tôi e rằng đó chính là nơi mà mọi chuyện trở nên sai lầm.”
Y nhìn MacNeil, và người Scotland to lớn này thấy được nỗi ân hận trong ánh mắt của y. Nhưng MacNeil biết rằng đó không phải là nỗi ân hận cho tất cả những sinh mạng đã mất. Blume chỉ hối tiếc rằng mọi chuyện đã “trở nên sai lầm” vì cùng những lý do thương mại đơn giản đã thúc đẩy y ngay từ đầu. MacNeil nói “Hàng triệu người sẽ chết. Cũng cả hàng triệu người đã chết.”
Blume nói ra điều bực tức của y. “Điều đó có mang lại sự khác biệt nào không? Một mạng sống, một triệu, mười triệu. Đó chỉ là vấn đề về mức độ.”
MacNeil nhẹ nhàng phản bác “Mày nói đúng. Nhưng chỉ vì cuộc sống của mỗi cá nhân là quan trọng. Và khi cuộc sống đó chính là của mày hoặc của ai đó gần gũi với mày, thì đó lại là chuyện cá nhân.”
“Chính xác.”
“Giống như việc mất đi một đứa con trai.”
Blume nhìn anh, và lần đầu tiên lòng tự tin của y bị dao động rõ rệt. “Tôi xin lỗi về điều đó”, y nói.
“Không, mày không xin lỗi như thế được. Mày đã giết thằng bé. Cụ thể như là mày đã cầm lấy khẩu súng và bắn một viên đạn vào đầu đứa bé. Cũng cụ thể như mày đã giết cô gái Trung Quốc nhỏ bé đó rồi róc da róc thịt của cô ấy. Đứa con gái của chính mày!”
Blume chu mỏ thở ra với thái độ khinh khỉnh. “Con bé ấy không phải là con gái tôi. Ngay cả con gái nuôi của tôi cũng không. Giấy tờ của cô ấy sẽ cho ông bạn biết rằng cô ấy đã được ông bà Walter Smith nhận nuôi, bất kể họ có thể là ai. Trong thực tế, chúng tôi đã mua cô ấy. Trên thị trường quốc tế. Thật ngạc nhiên khi con người có thể được mua với giá rẻ như vậy trong thời đại ngày nay. Theo nghĩa đen. Và những đứa trẻ bị biến dạng như vậy, xem nào, chúng chỉ có giá trị tính theo tiền xu.”
MacNeil hình dung cái đầu mà Amy đã tạo ra từ hộp sọ của đứa trẻ, và tự hỏi cô bé ấy đã từng biết đến những nỗi thống khổ nào. Bị bố mẹ đẻ vứt bỏ, bị mua bán, bị buôn lậu qua biên giới. Chỉ có Chúa mới biết cô đã phải chịu đựng những sự đối xử như thế nào dưới bàn tay của những người đàn ông và đàn bà đã bóc lột cô một cách tàn nhẫn. Thế rồi, đột nhiên, cô bé thấy mình đang sống ở một vùng ngoại ô giàu có của London, đang theo học tại một trường học địa phương, được gửi đến Sprint Water trong một kỳ nghỉ. Chắc hẳn cô ấy vẫn nghĩ rằng mình đã chết và lên thiên đường. Nhưng thực sự chỉ để bị lây nhiễm bởi một loại bệnh cúm chết người, và khi căn bệnh ấy thất bại trong việc giết được cô bé, thì cô đã bị giết hại bởi chính những người mà có lẽ cô bé đã tin tưởng.
“Cô ấy được cho là đã chết vì bệnh cúm”, Blume nói, “và đã được hỏa táng cùng với tất cả những người khác. Làm thế nào để ai đó trong chúng tôi có thể dự đoán rằng cô ấy sẽ sống sót sau đó? Chúng tôi không đủ khả năng để giữ cô ấy bên cạnh, như một bằng chứng sống cho những gì chúng tôi đã thực hiện. Nhất là đối với người phụ nữ thuộc Cơ quan Bảo vệ Sức khỏe kia không ngớt dò dẫm.”
MacNeil nói “Mày không phải là con người.” Anh tiến lên một bước về phía y; ngay lập tức Blume rút ra từ túi áo khoác một khẩu súng lục. Y run rẩy chĩa khẩu súng vào viên cảnh sát. “Điều đó chỉ là sai sót không đáng kể”, y nói. “Như vậy, sẽ không có bất kỳ thương lượng nào với ông, có phải vậy không, ông bạn MacNeil.”
MacNeil cảm thấy đôi môi mình đang run lên vì tức giận. “Không. Không thương lượng gì cả.”
“Vậy thì tôi đành phải giết ông bạn thôi.”
“Đúng vậy, tôi đoán chính là tên khốn này.” Một chuyển động trong tầm nhìn ngoại vi của anh khiến anh liếc mắt sang bên phải khi hình dáng nhỏ bé của Tiến sĩ Castelli kiên quyết bước ra từ phía sau bức tượng rồi vung báng súng trường lên đập vào đầu Blume. Cú đánh khiến y bị một đòn bầm tím ngay thái dương, quăng y nằm dài trên mặt đất. Khẩu súng văng khỏi tay y rơi vào khoảnh đất có rải sỏi làm vang lên những tiếng loẹt xoẹt.
Bà quát lên, “Đồ đê tiện đáng khinh! Mày đã giết tất cả những người này chỉ vì tiền! Tao không thể tin rằng mày đã làm điều đó. Mày… mày đã đem đứa trẻ đó gửi bọn tao, chỉ để lây nhiễm cho bọn tao với mưu đồ đồi bại nhục nhã của mày, như một thiên sứ nhỏ bé đáng thương của thần chết. Mày… mày…” Bà không còn lời nào để thể hiện sự tức giận của mình; thay vào đó, bà lóng ngóng kẹp khẩu súng trường dưới vai rồi gắng sức vụng về chĩa thẳng mũi súng vào người Blume. Tên chủ mưu này chống một khuỷu tay gượng đứng lên rồi giơ một tay ra đỡ như thể điều đó có thể bảo vệ y trước viên đạn. “Không, đừng”, y gào lên.
Ngay lúc ấy, MacNeil bước vào, đẩy nòng súng lên trời rồi giành lấy khẩu súng từ tay Tiến sĩ Castelli. Bà này nổi giận, “Ông không muốn giết thằng khốn này à?” Không thể tưởng tượng được rằng trong một tầm vóc nhỏ bé và mảnh mai như vậy mà sự tức giận và phẫn nộ lại sục sôi đến như vậy. “Chính thằng khốn này đã giết con trai của ông.”
Nhưng MacNeil chỉ lắc đầu. Anh bình tĩnh nói, “Tôi không muốn trả thù. Điều tôi muốn là công lý. Tôi muốn y phải đối mặt với những hậu quả về hành động của y. Tôi muốn đương sự phải đối mặt trước một bồi thẩm đoàn của những người đồng cấp của đương sự, trước phán quyết của nhân tính. Tôi muốn y dành phần đời tàn tạ còn lại của y trong nhà tù ở một nơi nào đó, để mỗi giờ mỗi ngày y đều phải suy ngẫm về sự thiếu nhân tính của mình.”
Tiến sĩ Castelli hít một hơi thật sâu và nhăn mặt thể hiện sự bất bình. “Dù sao thì tôi cũng không thể nào tru diệt được cái thứ trời đánh thánh vật này.”
MacNeil ôn tồn góp ý, “Sẽ tốt hơn nếu bà theo đuổi sự an toàn.”
Một phát súng vang lên, thế rồi MacNeil nghe thấy Tiến sĩ Castelli thở hổn hển. Anh nhanh chóng quay mình lại, thấy Blume vẫn còn lê lết trên mặt đất. Nhưng y đã thu hồi được khẩu súng và nhả đạn. Lúc này y hướng nòng súng về phía MacNeil và bóp cò một lần nữa. Không có chuyện gì xảy ra. Y thử lại một lần nữa. Vẫn không có gì. Y ném khẩu súng đi, loạng choạng đứng dậy và bắt đầu chạy thật nhanh về phía chiếc bánh xe đu quay.
Tiến sĩ Castelli ngã ra sau dựa người vào bức tượng rồi nặng nề ngồi xuống. Bàn tay phải của bà vung ra ôm lấy bên trái ngực, máu rỉ ra qua các ngón tay. Bà kêu lên, “Tôi bị bắn”, choáng váng vì sự việc xảy ra quá đơn giản.
MacNeil quỳ xuống bên cạnh bà. “Tôi có thể làm gì?”
“Hãy đuổi theo tên khốn ấy.”
“Tôi không thể để mặc bà trong tình trạng này được.”
Bà nói: “Viên đạn không vào tim, nếu không, tôi đã chết mất rồi. Và tôi vẫn đang thở, vì vậy tôi nghĩ nó cũng không phạm vào phổi. Hãy đi đi!”
MacNeil không cần thêm lời thúc giục. Anh quay người chạy theo Blume. Sau cùng, anh vẫn còn có trách nhiệm với Amy. Và có lẽ cô ấy không ở một mình trên đó, trong cái khoang hành khách ấy.
Nhưng khi đến gần bánh xe đu quay, anh nhận ra mình đã mất dấu Blume. Anh chạy lên đoạn đường dốc đến phòng điều khiển. Phòng điều khiển vắng lặng. Thế rồi âm thanh lạch cạch của tiếng chân dẫm trên kim loại thu hút ánh mắt của anh về phía cặp cầu thang xoắn ốc bên cạnh chiếc động cơ khổng lồ ở phía đông bắc của công trình Con mắt London. Blume đang chạy theo đường thang xoắn ốc bên trái, hướng ra vành ngoài của bánh xe đu quay, bắt buộc phải bước những bước ngắn mà nguy hiểm. MacNeil đã bám sát được y. Nhưng khi còn đang ở trên đường xoắn ốc, Blume đã chuyển sang chiếc thang tròn chạy quanh đường viền ngoài của bánh xe. MacNeil ngước nhìn y, đầy ngờ vực. Gã này đã mất trí. Rõ ràng, y nghĩ rằng mình có thể leo hết đoạn đường lên đỉnh của bánh xe để đến được khoang hành khách nơi Amy đang bị giam giữ. MacNeil không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đuổi theo y, cho dù anh thích hay không.
Trên đỉnh của chiếc thang xoắn ốc, anh ngoảnh lại nhìn xuống và thấy Tiến sĩ Castelli đang ở đoạn đường dốc bên dưới. Bà đang bám chặt vào lan can và ngước lên nhìn anh chằm chằm. Anh hét to về phía bà ấy “Hãy xem liệu bà có thể bắt đầu việc này được hay không!” Rồi anh quay lại và đu mình vào đường cong bên trong của chiếc thang. Anh ngửa đầu ra sau và nhìn lên. Blume đã ở phía trên anh chừng trên hai chục mét, bò từ bậc thang này sang bậc thang khác như một kẻ bị ma ám. MacNeil bắt đầu leo lên, đôi tay đau nhói vì bỏng bên dưới lớp băng.
Anh biết chẳng có ích gì khi cố gắng rút ngắn khoảng cách với Blume quá nhanh. Anh phải tiến lên thật vững vàng, từng nấc một, bước này theo sau bước kia. Đừng nhìn xuống. Nhưng ngay khi ý nghĩ đó lọt vào đầu, anh lại nhìn xuống. Dường như anh đã vượt được một chặng đường dài không thể tin được trong một thời gian rất ngắn. Anh có cảm tưởng quả tim đã choán hết chỗ trong lồng ngực đến nỗi anh sắp nghẹt thở. Anh bị trượt chân và suýt ngã. Nỗi sợ hãi đã khiến anh suy nhược. Nhìn lên đi; anh tự nhủ. Và khi nhìn lên, anh thấy Blume đã di chuyển từ bên trong chiếc thang ra bên ngoài, như vậy y sẽ ở bên trên chiếc thang khi nó uốn vòng quanh chỗ cao nhất của chiếc bánh xe đu quay. MacNeil bước dồn chân.
Lúc này gió đang giật dữ dội trên chiếc áo khoác anh mặc trên người, reo lên giữa những nan hoa chung quanh anh. Bởi những cơn đau bị thiêu đốt, anh cảm thấy hai bàn tay bắt đầu tê cóng vì lạnh. Chiếc thang đã đến chỗ người leo lên phải nghiêng về phía sau. Thời điểm để chuyển hướng. Anh xoay người để nắm bắt được một bậc thang bên ngoài rồi dò dẫm tìm chỗ đặt chân với đôi giày Doc Martens đang mang hoàn toàn không thích hợp trong hoàn cảnh này. Tình trạng hầu như không còn chút sức lực nào trong hai cánh tay của mình khiến anh kinh hoảng. Và trong một vài khoảnh khắc anh chỉ bám được vào mép ngoài cùng của bánh xe đu quay, thành phố nghiêng đi theo một góc kỳ lạ ở dưới kia. Anh có thể nhìn thấy bốn cột ống khói cao đang phun ra chất liệu phế bỏ thuộc con người từ Trạm điện lực Battersea cũ. Tôi Nghĩ được thì Tôi Làm được. Chào mừng Đến với Thế hệ Ý tưởng. Dường như việc anh chạy xe ngang qua những bức tranh cổ động mang những khẩu hiệu ấy để tìm một gã tên là Kazinski đã trôi qua từ rất lâu.
Xa xa về phía bên trái, vượt qua Bệnh viện St. Thomas, là công trường xây dựng nơi bắt đầu tất cả những chuyện này. Giờ này sáng hôm qua, anh còn có một giấc mơ về việc tìm cách trốn công tác, nằm ngủ trên một chiếc giường đơn ở Islington - chiếc giường quá ngắn so với thân hình cao một mét chín mươi ba phân của mình. Giờ này sáng hôm qua, Sean vẫn còn sống. Cứ buông bỏ đi thì thật dễ dàng biết bao. Cứ việc trôi dạt vào màn đêm, và đặt một dấu chấm hết cho tất cả những việc này. Trong cái chết, đời sống mới dễ dàng làm sao. Đó là một ý niệm đầy quyến rũ. Nó mơn trớn anh, cám dỗ anh. Cho đến khi anh nghĩ đến Amy.
Anh nghiến chặt hàm răng và lại bắt đầu leo lên, càng lúc càng cao, đi theo đường cong bên ngoài của bánh xe khi nó uốn cong để lên đến đỉnh. Vào lúc này, anh đã phải nép mình lại ở trên đấy, tìm cách đối phó với tình thế để giữ gìn sự sống quý giá này khi cơn gió vẫn cố gắng hết sức để giật mạnh anh ra khỏi chỗ ấy. Anh nhìn lên và thấy khoang hành khách cao nhất đã gần như ở ngay trên đầu mình. Anh đã có thể nhìn thấy hai hình nhân đang chuyển động bên trong, và tiếng thì thầm hết sức mơ hồ của một hình bóng ở đâu đó ngay giữa khoang. Cái bóng đó có thể là Amy, nhưng anh không chắc. Điều chắc chắn mà anh biết là Blume đã được an toàn ở bên trong, còn anh ở ngoài này, phải phơi mình trước đêm tối trong tình trạng thật kinh hoàng, cách mặt nước lạnh như băng của sông Thames khoảng một trăm ba chục mét ở bên dưới. Chỉ thêm vài bậc thang nữa là anh ở ngay bên dưới lồng kính cao nhất này, ở chỗ họ không thể nhìn thấy anh. Anh bám vào phần nhô ra được cấu tạo bởi những vật liệu hình ống rồi vươn cổ ra nhìn để tìm một con đường đi lên. Các cánh cửa của khoang hành khách tách ra làm đôi và trượt qua hai bên. Anh có thể đu mình lên phần cánh cửa bên trái và bám lấy gờ cửa hẹp mà họ dùng để lên xuống khoang tàu.
Anh thu mình ở đó, trong bóng tối của chiếc khoang hành khách, bị vùi dập thô bạo bởi gió vẫn lồng lộng thổi, phải nhắm mắt và tìm cách thu hết mọi can đảm lại. Nếu phải thất bại thì anh đã thất bại. Anh nghĩ đến dòng chữ được khắc ở bức tượng bên dưới. Họ đã đi, vì với ý thức đầy đủ của mình, họ không thể nhìn thấy con đường nào khác. Anh đã có ý thức đầy đủ. Đã đến lúc lên đường.
Gần như đúng lúc anh nhảy lên để chụp lấy thanh chắn chạy bằng khí nén dùng điều khiển cánh cửa thì toàn thể bánh xe đu quay rung lên bần bật và bắt đầu chuyển động. Tiến sĩ Castelli đã tìm ra các biện pháp kiểm soát. Nhưng điều đó chỉ đủ để bà đưa ra một phán đoán sai, và MacNeil đã bám hụt cái thanh chắn ấy. Bàn tay bị băng bó của anh chụp vào khoảng không và anh cảm thấy mình đang nghiêng về phía sau một cách hết sức bất thường. Bên dưới, thành phố nghiêng ngả và anh nhìn thấy dòng sông lệch đi chín mươi độ.
Hai khuỷu tay của anh bị kẹt vào bệ đón khách, và anh nhận ra mình bị treo ở đấy, mặt ngang với sàn khoang, nhìn vào bên trong lồng kính. Lúc nào cũng sẵn sàng bị trôi tuột đi, không thể bám chặt lại được, hai chân đạp vào khoảng không, biết mình sắp rơi xuống.
Hầu như anh không nghe thấy tiếng hét của Amy.
III
Pinkie đã hết sức ngạc nhiên khi thấy ngài Smith đang loạng choạng leo lên đỉnh của chiếc bánh xe đu quay này và đang vươn một bàn tay ra trong cố gắng để bám được vào khoang hành khách. Hắn luôn biết rằng ngài Smith là kẻ bị ám ảnh, chỉ không biết là bị ám ảnh bởi một loại ma quỷ nào, nhưng đây dường như là một kỳ tích phi thường, ngay cả đối với hắn.
Thế rồi đến lượt MacNeil xuất hiện, tất cả đám người trong khoang tàu đều nhìn thấy anh. Chiếc áo khoác của anh bay phần phật trong gió, gương mặt nghếch lên của anh tái nhợt và thể hiện sự sợ hãi. Chẳng biết làm sao mà trông anh có vẻ rất mỏng manh, một người đàn ông to lớn, mạnh mẽ đến như vậy.
Nhưng đối với Pinkie, chẳng còn điều gì là quan trọng nữa. Công việc đã hoàn thành. Đối với hắn, đây là lúc cho thấy rằng hắn đã làm đúng mọi cam kết. Hắn cảm thấy yếu và lả người đi, có phần mê sảng. Và hắn lại còn ngạc nhiên hơn khi thấy thân hình to lớn của MacNeil đột nhiên nhảy ngang qua khoảng trống tìm cách bám vào lồng kính rồi ngã ra xa, chỉ để va vào cái gờ nhỏ bên ngoài, hai tay quờ quạng cố gắng nắm lấy cái gì đó mà không nắm được.
Hắn nghe thấy ngài Smith hét lên lời chế nhạo rồi bước ra cửa. Ngài đá vào mặt MacNeil và sau đó dẫm chân lên đôi tay bị băng bó của anh này. Pinkie nhìn đôi bàn tay ấy, những mảnh băng rách nát quấn quanh những vết bỏng đau đớn. Và lần đầu tiên đến với hắn ý nghĩ về việc chính MacNeil đã lao qua ngọn lửa để kéo hắn ra khỏi chiếc xe đang bốc cháy.
“Đừng làm vậy”, hắn nói với ngài Smith. Nhưng âm thanh duy nhất phát ra là một tiếng thở thì thầm, bị bóp nghẹt. “Thật không công bằng”, hắn giải thích. Nhưng ngài Smith không nghe; “Dừng lại!” Hắn gầm lên. Một tiếng ùng ục đáng sợ. Ngài Smith nghe được rồi. Ngài quay lại đúng lúc Pinkie nâng khẩu súng trường SA80 lên.
“Pinkie, chú em muốn làm gì vậy?”
Những viên đạn còn lại trong băng đạn đã đẩy ngài Smith ra khỏi cửa, và ngài bay vút lên như một trong những vị thần bảo hộ cho sự chết chóc của chính mình vào trong màn đêm.
MacNeil đang yếu dần đi. Anh không thể chịu đựng được lâu hơn nữa. Pinkie nghe thấy tiếng nức nở của Amy vì thất vọng và bất lực. Thật đáng xấu hổ, hắn nghĩ. Hắn bỏ khẩu súng trường xuống rồi loạng choạng đi ra cửa. Hắn nhìn vào cặp mắt của MacNeil. Hắn thấy được nỗi sợ hãi của anh. Đồng thời hắn cũng cảm nhận được rằng chính cuộc sống của hắn đang dần trôi di. Hắn quỳ xuống. “Tôi xin lỗi”, hắn thì thầm, và có ý như vậy. Nhưng biết rằng sẽ không ai nghe thấy hắn nói gì.
Ngay khi MacNeil trôi tuột xuống thì Pinkie kịp thời chộp được anh. Và bây giờ Pinkie đã nắm giữ anh, cuộc sống của anh thực sự nằm trong tay Pinkie. Có lẽ họ nên cùng đi với nhau. Hoặc một sinh mạng sẽ được cứu bởi bàn tay của người đàn ông đã chết này; cuối cùng, sẽ mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của chính hắn, điều mà cuộc sống ấy luôn thiếu?
MacNeil nhắm nghiền đôi mắt. Anh không hiểu gì về điều này. Nhưng chẳng vấn đề nào anh có thể nghĩ ra lại là vấn đề đáng đặt thành câu hỏi khi người ta sắp chết. Anh biết rằng đây chính là cái gã mà anh đã kéo ra khỏi chiếc xe đang bốc cháy trên cầu Lambeth. Và hắn chẳng có lý do gì để biết ơn anh, bởi chính vì vậy mà hắn đã bị xử tội khi đã trải qua những điều chắc hẳn phải là những giờ địa ngục ở chốn trần gian. Anh bị treo ở đó ngay cuối một cánh tay đã cháy thành than và không ngớt chảy nước vàng, và khi nhìn vào cặp mắt của người đàn ông đó, anh có cảm tưởng đang nhìn vào vực thẳm. Một sự trống rỗng khổng lồ, sự trống rỗng của bất kỳ thứ gì. Một bàn tay khác nắm lấy cổ áo anh và kéo lên. Một nỗ lực siêu phàm. Hai chân gồng lên chống vào mỗi bên mép của khuôn cửa. Một tiếng thở dài thật sâu nghe khùng khục phát ra từ những lá phổi đã bị đốt cháy. MacNeil đã bám được một chỗ để bíu tay vào mép khuôn cửa, thế rồi đặt được một đầu gối vào gờ cửa, và anh ngã vào bên trong, nằm vật ra sõng soài trên mặt sàn, hoàn toàn kiệt sức.
Anh lăn tròn trên sàn đưa mắt tìm kiếm người đã cứu mạng sống của mình. Nhưng không còn ai ở đó cả. Hắn đã đi mất, vào một nơi ở đâu đó trong vực thẳm vốn chính là linh hồn của hắn.
MacNeil quay lại để nhìn thấy Amy tội nghiệp nước mắt đang chảy dài trên gương mặt; anh cố gắng gượng đứng dậy trên đôi chân mềm như bún. Thế rồi anh ngồi thụp xuống bên cạnh cô trên chiếc ghế dài và ôm lấy cô bằng cả hai cánh tay.
Ở phía xa, những tia sáng đầu tiên le lói trên bầu trời mùa đông phản chiếu toàn bộ vùng thượng lưu của con sông từ phía đông lên; lần đầu tiên MacNeil cảm thấy nhột nhột ở sống mũi và có gì vướng vướng trong cổ họng.