Phong Tỏa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 52 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Hai Mươi Bốn
I

❊ ❊ ❊

MacNeil lái xe như một kẻ bị ma nhập. Những ánh đèn đường phản chiếu nhanh chóng lướt qua suốt từ đầu tới cuối tấm kính chắn gió của họ như một luồng những cái đầu màu vàng đã lìa khỏi cơ thể. Họ vượt qua khu Kennington Oval và đi về hướng đông bắc dọc theo đường Công viên Kennington. MacNeil đã cố gắng gọi vào số điện thoại của Amy vài lần. Mỗi lần gọi anh chỉ nghe tiếng điện thoại reo. Anh lại giơ tay với lấy chiếc điện thoại, nhưng lần này Tiến sĩ Castelli đã chụp được trước. Bà phân bua, “Tôi cũng có thể gọi cho cô ấy được. Việc này không nằm ngoài khả năng của tôi. Và còn tốt hơn là kết thúc bằng việc quấn quanh một cây cột đèn.”

Bà bấm số điện thoại của Amy và để nó đổ chuông khoảng ba mươi giây hay hơn. Sau đó bà lắc đầu rồi cúp máy.

MacNeil đã có một thị kiến kinh hoàng về cảnh Amy nằm chết trên sàn căn hộ của cô. Anh biết rõ bọn người này hết sức tàn nhẫn. Tại sao chúng lại không truy lùng cả Amy nữa? Sau hết, chính cô đang giữ chiếc hộp sọ, và cũng chính cô tái dựng chiếc đầu của đứa bé gái đã bị giết. Nhân danh Chúa, tại sao anh đã không mở tin nhắn của cô sớm hơn? Anh biết mình không bao giờ có thể tha thứ cho bản thân nếu có chuyện gì xảy ra với cô. Toàn bộ cuộc điều tra này là vì anh. Về nỗi ám ảnh của anh. Về việc anh cần phải loại ra khỏi tâm trí mình những suy nghĩ trước cái chết của đứa con trai. Điều đó đã khiến anh mù quáng trước mọi điều khác.

Có một rào chắn quân đội tại Elephant and Castle. Chạy chậm lại là chưa đủ để họ kiểm tra số xe của anh. Sau sự kiện trên cầu Lambeth, tất cả các trạm kiểm soát đã được lệnh dừng mọi phương tiện. Một sĩ quan cấp cao bước tới kiểm tra giấy tờ của hai người và đã lấy mất thời gian của anh về việc này. MacNeil biết rằng thật vô ích khi cố gắng thúc giục anh ta. Anh nắm chặt vô lăng với đôi tay vẫn còn bỏng rát và nghiến chặt hai hàm răng. Sự căng thẳng trong tâm trí của anh còn lớn hơn nỗi đau. Anh có cảm giác như một sợi dây thun bị kéo căng đến mức có thể đứt. Các ngưỡng chịu đựng đang lên dần đến mức gay gắt. Chỉ là vấn đề thời gian trước khi anh bất chấp mọi chuyện.

Cuối cùng, viên sĩ quan cũng bước vài bước rời khỏi chỗ đang đứng rồi ra hiệu cho họ đi tiếp. MacNeil bỏ lại trên đường đi của mình cả vết bánh xe lẫn khói khi anh nhấn ga tăng tốc chạy dọc theo đường New Kent đến chỗ giao tiếp với đường Tower Bridge rồi rẽ về phía bắc. Đi thẳng về phía trước, từ xa, họ đã có thể nhìn thấy ánh sáng của chính Cầu Tháp, và Tháp London ở phía xa của dòng sông. MacNeil bẻ lái gấp sang phải, và họ băng qua đường giao nhau vào đường Tooley.

Ở đường Gainsford, anh bỏ xe lại và chạy bộ. Tiến sĩ Castelli đành liều lĩnh đuổi theo anh. Anh nhập mật mã tiếp nhận tại cổng Butlers and Colonial rồi phóng nhanh qua lớp sỏi rải trước nhà để đến trước cửa căn hộ của Amy. Anh điên cuồng lóng ngóng dùng những ngón tay vụng về còn đang bị băng bó để tra chìa khóa vào ổ khóa. Cánh cửa bật mở, và ngay lập tức anh nhìn thấy buồng thang máy nằm tại chân cầu thang.

Anh đứng đó nhìn vào buồng thang với vẻ nhẹ nhõm xen lẫn sự bối rối. Tiến sĩ Castelli đã đuổi kịp anh ngay tại ngưỡng cửa, vừa thở hổn hển vừa nói, “Kể từ khi về hạng hai trong cuộc chạy đua có cầm theo trứng và muỗng thì tôi chưa bao giờ chạy nhanh như thế này.” Anh nhìn thẳng vào mặt bà tiến sĩ, và bà vội vàng tỏ vẻ biết lỗi, “Tôi biết, tôi xin lỗi. Tôi vẫn nổi tiếng về việc chuyên nói những điều không thích hợp nhất vào những thời điểm không thích hợp nhất.” Bà nhìn vào chiếc thang máy. “Vậy là cô ấy đã ra ngoài, hả?”

“Nếu buồng thang máy ở chân cầu thang, thì thường là nó có ý nghĩa như vậy. Và cả chiếc xe lăn của cô ấy cũng đã biến mất.” Nhưng anh không chấp nhận đó là sự thật mà không chắc chắn chuyện đó là như vậy. Anh chạy mỗi bước hai bậc thang một theo cầu thang bộ để lên đến chiếu nghỉ đầu tiên. Buồng thang máy kế tiếp đã ở sẵn đó, lặng lẽ chờ dưới chân cầu thang tiếp theo. Anh bắt đầu lục soát từ phòng ngủ của cô, đến phòng tắm, rồi tủ áo khoác, bật tất cả những ngọn đèn ở những nơi anh đi qua rồi chạy thẳng lên tầng áp mái. Anh bật tất cả những ngọn đèn ở đầu bậc thang và làm tràn ngập cả không gian mái bằng ánh sáng chói lọi.

“Amy!” Anh gọi to tên cô, nhưng biết cô sẽ không trả lời. Cô ấy không có ở đây. Anh kiểm tra ban công nhỏ bằng kim loại, nhưng những cửa sổ kiểu Pháp đều đã khóa lại, và anh có thể thấy rằng không có ai ngoài đó. Thế rồi anh nhận ra rằng chiếc đầu của đứa trẻ cũng đã biến mất. Tất cả những gì còn lại trên bàn chỉ là những mảnh vụn từ bộ tóc giả màu đen. Khi Tiến sĩ Castelli lên đến chiếu nghỉ trên cùng, MacNeil nói với bà, “Hãy chờ ở đây.”

“Đừng lo”, bà gọi với theo. “Tôi phải mất cả nửa giờ nữa mới kịp hoàn hồn.” Anh đi không đầy năm phút, và khi quay lại, trông anh có vẻ lo lắng. “Xe hơi của cô ấy cũng đã biến mất”, anh thông báo. “Cô ấy có một chỗ để xe trong dãy nhà nhiều tầng bên cạnh. Chiếc xe hiện không có ở đó.” Anh nhìn vị tiến sĩ, lúc này bà ấy đã lấy lại được hơi thở điều hòa, mặc dù mặt bà vẫn còn ửng hồng. Bà đang ngồi trước máy tính của Amy. “Nửa đêm như thế này thì cô ấy có thể đi đâu được nhỉ?”

“Có lẽ anh nên xem lại điều này”, Tiến sĩ Castelli nói, và anh băng qua phòng để đứng sau lưng bà nhìn vào màn hình máy tính. Đó là cửa sổ tin nhắn hội thoại của Amy. “Sam là ai?”

“Sam là người đỡ đầu về học thuật của Amy trong một tổ chức chuyên nhận dạng hài cốt người.” Anh đọc phần trao đổi cuối cùng.

Amy - Nhưng ở đây có điều gì đó kỳ lạ - Zoe cho biết nó không phải là H5N1. Ít nhất, không phải là phiên bản đang gây nên đại dịch…

Sam - Làm sao cô ấy biết được điều đó?

Amy - Cô ấy cho biết cô đã phục hồi được con vi-rút ấy cùng với việc mã hóa RNA. Điều này vượt qua cả tôi một chút rồi đó, Sam ạ. Một công việc lẽ ra phải được thực hiện ở những nơi hạn chế trong lúc các từ khóa của mã lại không có sẵn ở đấy. Dù sao đi nữa, cô ấy cho biết rằng con vi-rút này là đã được biến đổi gien.

Amy - Xin chào, Sam, ông còn ở đó không?

Sam - Tôi vẫn ở đây mà, Amy.

Amy - Vậy thì ông nghĩ gì?

Sam - Tôi nghĩ rằng điều đó làm thay đổi mọi chuyện.

Và sau đó rõ ràng là Sam đã rời khỏi cuộc trò chuyện mà không một lời giải thích. Có một cảm giác bối rối và tổn thương trong lời than van của Amy, Sam, ông còn ở đó không? Xin chào, Sam! Nói với tôi đi chứ!

Tiến sĩ Castelli nói, “Đối với tôi, có vẻ như Sam đã quá quan tâm đến cuộc điều tra của ông. Và Amy đã nói quá nhiều.”

MacNeil nghiêng người qua vai bà tiến sĩ để lấy con chuột và xem lại toàn bộ những cuộc trò chuyện giữa Sam và Amy trong một ngày. Sam đã liên tục quay lại gặp Amy, hỏi xem cuộc điều tra đang diễn ra như thế nào. Có tiến triển mới nào không? Thanh tra hình sự MacNeil có phát hiện được những dấu vết mới nào không? Những câu hỏi về cái đầu, về sự phục hồi của tủy xương. Những cuộc thảo luận về độc chất học, yêu cầu đối với DNA, việc phát hiện ra vi-rút cúm.

“Cô ấy đã nói với hắn ta tất cả mọi thứ…”, MacNeil nói, cùng lúc một màn che nguy hiểm của sự chán nản và tức giận bao trùm tâm trí anh. “… từng chi tiết nhỏ.” Sam đã có thể theo dõi từng bước một toàn thể cuộc điều tra của anh. Mỗi khi MacNeil gọi điện cho Amy, cô ấy đều nói cho Sam biết. Không có bất kỳ điều gì anh thực hiện mà Sam không biết. Amy đã là một kênh dẫn vô ý thức, một kẻ do thám vô tình bên trong chiến tuyến của anh. Cô ấy tin tưởng Sam về mọi mặt. MacNeil đã phải nén giận và cố suy nghĩ hợp lý. Tại sao không phải là cô ấy? Amy và Sam đã có cả một lịch sử. Họ đã thảo luận với nhau về mọi thứ vào mọi lúc. Họ đã ở cùng một chiến tuyến. Có phải họ là vậy không?

Những suy nghĩ dồn dập đổ vào đầu MacNeil như một đàn chim bồ câu vừa bị làm cho kinh động. Vậy Sam là ai? Cái tên từ hư không này lại là một kẻ suốt ngày rình mò anh. Suốt đêm theo dõi anh. Anh phát hiện sổ địa chỉ của Amy trên thanh công cụ ở chân màn hình.

“Để tôi xem”, anh nói với Tiến sĩ Castelli, và cô rời khỏi chỗ ngồi. Anh nhấp vào sổ địa chỉ và cửa sổ của nó mở ra trên màn hình trước mặt anh. Anh không hề thắc mắc tại sao xuất hiện đầu tiên lại là địa chỉ của Tom Bennet - địa chỉ cuối cùng cần được tìm kiếm. Anh đang quá vội để tìm hiểu tại sao Amy lại cần phải tìm kiếm địa chỉ ấy. Anh nhập từ Sam vào cửa sổ tìm kiếm và ngay lập tức phần mềm đã đưa tên cùng với địa chỉ của Sam ra từ cơ sở dữ liệu. Tiến sĩ Samantha Looker, 42A Consort House, St. Davids Square, Island Gardens, Đảo Chó. Anh lẩm bẩm chửi thề.

Tiến sĩ Castelli săm soi nhìn vào màn hình. “Vậy thì Sam là một người phụ nữ”, bà nhận định.

Trong đầu của MacNeil, đám bồ câu bị kinh động lại xuất hiện đông hơn. Giống như một tay thợ săn có súng cố gắng hạ gục một con mồi, anh cũng đã cố gắng một cách tuyệt vọng để tập trung vào một kẻ duy nhất. Nhưng kẻ đó cứ mất tích. Chẳng có điều gì mang lại bất kỳ một ý nghĩa nào. Làm thế nào mà vị tiến sĩ Samantha Looker này lại có thể dính líu được? Và bằng cách nào đó, cả cô ấy nữa cũng vậy.

Hầu như đọc được suy nghĩ của anh, Tiến sĩ Castelli nói, “Tôi đoán ông sẽ phải hỏi người phụ nữ ấy.”

MacNeil nhấc điện thoại của Amy lên khỏi máy tính và gọi số của Sam từ sổ địa chỉ. Anh đợi một lúc lâu trước khi gác máy vì không có người trả lời ở đầu dây bên kia. Anh lắc đầu. “Có vẻ như chúng ta sẽ không bao giờ biết.”

“Có lẽ chỉ là người này không trả lời điện thoại. Luôn luôn, chúng ta có thể đến thẳng nhà người phụ nữ ấy.”

“Bà ta sống trên Đảo Chó.”

“Thì sao?”

“Người ta đã không được phép đưa tin về vấn đề này trên báo chí, nhưng đó là một khu vực cấm. Bị cô lập khỏi phần còn lại của thành phố. Một hòn đảo nhỏ của London không có dịch cúm mà những người sống ở đó muốn duy trì tình trạng đó.”

“Nhưng ông là sĩ quan cảnh sát.”

“Tôi có thể là Nữ hoàng và điều đó sẽ không có gì khác biệt. Nếu chúng ta cố đến Đảo Chó, họ sẽ bắn chúng ta.”

Vị tiến sĩ nói: “Nghe giống như miền Tây hoang dã chứ không phải là miền Cực Đông của London.” Bà cau mày một một lúc, thế rồi gương mặt bà ấy sáng lên. “Tôi biết cách để chúng ta có thể có khả năng xoay xở được.”

“Bà sẽ không đi đâu cả”, MacNeil nói. “Đặc biệt là bất cứ nơi nào gần Đảo Chó.”

Tiến sĩ Castelli nhún vai. “Vậy thì ông có thể tự tìm đường đi.” Anh nhìn bà tiến sĩ bằng một cái nhìn dữ tợn, nhưng bà chỉ mỉm cười. “Hãy tin tôi”, bà ấy nói. “Tôi là tiến sĩ.”

Nhưng MacNeil không cười. Samantha Looker cũng là một tiến sĩ vậy. Amy đã tin tưởng bà ta, và bây giờ bà ta đã biến mất. Mà MacNeil cũng không thể nghĩ ra cách nào khác để tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với bà ta. Anh quay sang Tiến sĩ Castelli. “Thôi được. Nói cho tôi nghe đi.”

II

Trong Tam O’Shanter, bài thơ tự sự của Robert Burns - nhà thơ người Scotland, có đoạn thuật lại việc nhân vật nam chính người Scotland có tên được dùng làm tựa đề cho bài thơ ấy đã trông thấy một người phụ nữ trẻ chỉ mặc mỗi một chiếc váy áo suông cắt ngắn ít được sử dụng đang nhảy múa theo giai điệu Quỷ sứ trong sân một ngôi nhà thờ có ma. Hoàn toàn vô tình anh ta kêu lên, “Hoan hô, váy áo suông ngắn”[1], vì thế mà thu hút sự chú ý không mong muốn của đám nam nữ phù thủy. Và cái tên Cutty-sark cũng trở thành tên gọi cho một loại thuyền buồm chuyên chở trà nổi tiếng nhất đã từng miệt mài công việc thương mại của nó trên khắp các vùng đại dương toàn thế giới. Chiếc thuyền buồm chở trà cuối cùng và chạy nhanh nhất trong loại phương tiện vận chuyển này lấy hẳn tên Cutty Sark đã đằm thắm phục hồi được vinh quang ngày xưa của nó, hàng năm vẫn đón hàng triệu người thăm viếng. Ngày nay, con tàu được phục chế ấy ngồi trong bóng tối chứa những nguy hiểm tiềm tàng của một ụ đóng tàu trên cạn tại Greenwich, cách nơi ra đời của nó tại Dumbarton trên sông Clyde năm trăm dặm.

MacNeil đã bỏ chiếc xe của mình lại ở đường Greenwich Church rồi cùng Tiến sĩ Castelli vội vã vượt qua dãy những cột buồm cao chót vót của chiếc thuyền buồm buôn trà, băng qua phòng chờ ngoài trời rộng lớn dẫn đến bến tàu Greenwich và tòa tháp tròn xây gạch đỏ đặc biệt phía trên lối vào Đường hầm Greenwich Foot. Chỉ còn cách bốn trăm thước về phía bắc, những ánh đèn trên Đảo Chó phản chiếu khắp vùng nước chảy lờ đờ của dòng sông Thames. Họ có thể nhìn thấy những dãy chung cư nằm dọc bờ kè ở phía xa, những ngọn đèn đường ở Quảng trường St. Davids. Họ đã đến rất gần Đảo Chó. Gần như nằm trong vùng khoảng cách có ảnh hưởng. Tuy nhiên, đối với MacNeil, khoảng cách đó dường như là không thể vượt qua. Anh biết rằng các tay súng bắn tỉa luôn canh chừng từ các mái nhà. Anh cũng biết, mặc dù chưa có ai bị bắn trong tình trạng cách biệt này, nhưng rủi ro của việc bị bắn là có thật. Và anh không muốn là nạn nhân đầu tiên.

Mái vòm của tòa tháp tròn này được làm bằng kính giống như một nhà kính, và vào ban ngày, ánh sáng chiếu vào trục thang máy cũng như cầu thang xoắn ốc dẫn xuống đường hầm bên dưới. Đêm nay, hàng trăm tấm kính cũng phản chiếu một chút ánh sáng nhỏ bé nào đó ở tận xa thẳm trên bầu trời, còn bên trong hoàn toàn chìm vào bóng tối sâu thẳm. Có hai lối vào nằm cạnh nhau. Một lối đã hoàn toàn bị đóng lại bởi một cánh cửa thép nặng nề sơn đen. Đường đi theo lối bên kia bị chặn lại bởi một cánh cổng thép với một hàng cọc nhọn chạy dọc theo mép cao nhất của cánh cổng. Có một khoảng trống chừng một thước giữa hàng cọc nhọn và thanh rầm đỡ cổng vòm.

MacNeil thận trọng khảo sát hiện trường. “Giả sử tôi xoay xở để leo qua được cánh cổng rồi tiến vào bên trong mà không hủy hoại phẩm chất đàn ông của mình, thì lấy gì bảo đảm là chúng ta sẽ có thể thoát được ra ngoài ở phía bên kia?”

“Bởi vì chính xác nó là cùng một thứ”, bà tiến sĩ nói. “Chúng giống như những hạt đậu trong cùng một quả đậu. Hai tháp tròn sinh đôi. Phong cách thời Victoria tỏ ra là khá kỹ tính về nhu cầu đối xứng của họ.” Bà dừng lại. “Tuy vậy, nói cho nghiêm túc, tôi nên nói là phong cách thời Edward. Bởi vì đường hầm này đã không mở ra cho đến năm sau khi nữ hoàng Victoria qua đời. Nhưng nó đã được nghĩ ra và chủ yếu được xây dựng dưới triều đại của bà, vì vậy tôi nghĩ rằng chúng ta có thể nói một cách an toàn rằng nó thuộc thời Victoria.”

MacNeil chăm chú nhìn bà tiến sĩ với một cảm giác xen lẫn giữa khâm phục và sự bực mình. “Làm thế quái nào mà bà biết được tất cả những điều này?”

“Ồ, ông biết đấy, khi lần đầu tiên đến London, tôi đã phải thực hiện tất cả các trò du lịch. Đường hầm Greenwich Foot chỉ là một trong những hạng mục thuộc hành trình ấy.”

“Tôi cho rằng bà có thể biết đường hầm này dài bao nhiêu.”

Bà trả lời không do dự, “Ba trăm sáu chục mét. Đường hầm cao gần ba mét và được lót bằng hơn hai trăm nghìn viên gạch. Hãy hỏi tôi những câu khác.”

“Tôi định hỏi bà có thể ngậm miệng lại được hay không, nhưng tôi quá lịch sự.”

MacNeil đỡ lấy cây đèn pin và giúp tiến sĩ có thể đặt được một chân lên mặt nền của hàng cọc nhọn. Để dang chân qua hàng cọc nhọn và đặt được một chân lên phía bên kia, bà phải vén chiếc váy bằng vải tuýt lên làm lộ đôi chân nhỏ rắn chắc. Bà cảnh giác, “Không được nhìn trộm đấy nhé.”

Khi Tiến sĩ Castelli đã hạ được người xuống an toàn thì MacNeil giao lại cho bà ngọn đèn pin xuyên qua hàng song sắt. Anh đu người lên và dễ dàng quăng mình qua đỉnh hàng cọc nhọn để nhảy xuống bên cạnh bà rồi nhận lại ngọn đèn pin. Một bức tường lát gạch màu trắng dẫn sang bên phải của họ, hướng về phía những cánh cửa của chiếc thang nâng đứng im lìm và tối tăm phía sau trục thang bằng kính có chia ô của nó. Phía bên trái họ, những bậc thang bằng thép có tán đinh đi theo đường xoáy trôn ốc dẫn xuống một vùng tăm tối. Chùm tia sáng của chiếc đèn pin hầu như không xuyên qua được làn không khí ẩm ướt dày đặc, hơi nước đọng lại lơ lửng trong ánh đèn trông như làn khói.

Mùi của đất ẩm và của rỉ sét bốc lên chào đón họ khi họ lần dò đi theo cầu thang bộ uốn quanh vòng ngoài trục thang máy. Nó mang lại cảm giác một cuộc đi xuống bất tận. Càng đi xuống không khí càng trở nên lạnh hơn, hơi thở của họ phả ra thành những đám mây trắng cuồn cuộn ngay trước mặt.

Cuối cùng, ở chân cầu thang, họ rẽ trái vào chính đường hầm đã được gia cố bởi những mặt cắt khổng lồ được bắt vít của thép uốn cong khi nó chìm sâu vào lòng sông. Đường hầm trải dài trong bóng tối dày đặc, những viên gạch trắng ố vàng tạo thành vòm trong khắp đường hầm và phía trên chúng là đường ống rỉ sét chạy trên cao mang theo những đường dây cáp điện dùng cho đèn chiếu sáng đã bị tắt từ nhiều tuần trước.

Họ có thể cảm nhận được độ dốc xuống thoai thoải của đường hầm dưới chân khi nó nghiêng xuống dưới đáy sông. Nước nhỏ xuống từ mái và đọng thành từng vũng dọc theo nền bê-tông. Bước chân và hơi thở của họ vọng lại họ như linh hồn của tất cả những người đã đi trên con đường này trước đây. Cái lạnh lúc này rất dữ dội, và cảm giác sợ hãi vì ngột ngạt gần như không thể chịu đựng nổi.

“Trời ạ”, Tiến sĩ Castelli thì thầm, “Lúc chúng tôi được hướng dẫn viên du lịch dẫn đi thì có phải như thế này đâu.”

MacNeil hầu như không nghe được tiếng của bà tiến sĩ. Có một điều gì đó về bóng tối và cái lạnh, cùng với cảm giác về dòng sông từ trên cao đang đổ xuống họ, làm tăng cảm giác thất vọng của anh. Bằng cách nào đó, mọi thứ đã vượt khỏi tầm kiểm soát. Anh không còn chỉ huy một cuộc điều tra. Anh đang bị cuốn theo những biến cố. Những sự kiện anh không thể đoán trước cũng như không quản lý được. Và cảm giác thất vọng càng làm tăng cảm giác cấp bách. Anh lao vào chạy trốn.

“Ông làm gì vậy?” Bà tiến sĩ gọi với theo.

“Tôi không có đủ thời gian để đi bộ”, anh ngoái lại trả lời. “Nếu bà không thể theo kịp, hãy quay lại.”

“Tôi sẽ không bao giờ tự thoát ra khỏi đây được đâu”, bà hét lên và anh nghe thấy tiếng đôi giày bền chắc để đi đường trường của bà đập vào bê-tông khi bà đuổi theo anh. Việc anh vẫn giữ chiếc đèn pin của bà có lẽ là một động lực bổ sung.

Khi đến được trục thang máy ở cuối đường hầm, anh đã thở hồng hộc. Tiến sĩ Castelli có chậm lại một chút ở phía sau, nhưng anh có thể nghe thấy tiếng bà vẫn chạy theo mình trong bóng tối, và anh không nỡ bỏ rơi bà. Gương mặt bà trôi vào luồng ánh sáng của chiếc đèn pin, ửng hồng và đẫm mồ hôi, đôi mắt đen láy của bà thể hiện điều gì đó gần như đau khổ.

“Ông đang cố gắng bỏ rơi tôi, phải vậy không?” Bà thở khó nhọc. Ngả hẳn người xuống, bà đặt hai tay trên đầu gối.

“Tôi làm như vậy là không tốt lắm, có phải không?” Anh bắt đầu lên cầu thang. “Nào.” Anh nghe thấy tiếng rên rỉ của bà khi bà đứng thẳng dậy và hít thở để đuổi theo anh một cách mệt mỏi.

Khi họ lên đến gần đầu cầu thang, ánh sáng từ đèn đường dọc theo vành đai công viên Island Gardens chiếu xuyên qua cổng và rơi vào bóng tối. MacNeil thận trọng tiến đến gần cổng rồi nhìn ra công viên. Cách bãi cỏ chừng hai mươi thước, có một ánh đèn trong quán cà phê Island Gardens. Đó là một tòa nhà gạch nhỏ xíu bên cạnh hàng rào. Vào mùa hè, những người khách quen sẽ ngồi trên sân hiên của quán, nhâm nhi cà phê cùng những thức uống lạnh và nhìn qua sông Thames về phía Trường Cao đẳng Hải quân Hoàng gia Cổ ở Greenwich. Lúc này sân hiên vắng tanh, qua cửa sổ MacNeil có thể nhìn thấy bóng dáng một người đàn ông ngồi sụp xuống ghế. Ánh sáng xanh của màn hình tivi le lói trong bóng tối. Anh có thể thấy nòng súng trường hướng lên trần nhà, vũ khí được gác vào tay ghế của người đàn ông đang ngồi trên đó. Rõ ràng, anh ta đã ở đó để canh giữ lối vào đường hầm đi bộ. Và chắc hẳn anh ta đã nghĩ đó là một công việc ngồi mát ăn bát vàng. Bởi vì có kẻ điên nào lại muốn tìm cách xâm nhập hòn đảo qua lối đường hầm này? Và tại sao? MacNeil đặt một ngón tay trỏ lên môi để cảnh giác bà tiến sĩ giữ im lặng rồi anh quan sát trong vòng vài phút. Người đàn ông ngồi gác vẫn không cử động. Có khả năng là anh ta đã ngủ, nhưng chẳng làm sao nói chắc được cho đến khi họ leo qua cổng và di chuyển đến khoảng trống. Đến lúc ấy thì đã quá muộn. Nhưng MacNeil không thể thấy bất kỳ một giải pháp thay thế nào, và anh cố gắng đánh giá xem, nếu người bảo vệ được cảnh báo về sự hiện diện của họ, anh có thể vượt qua khoảng cách từ tòa tháp tròn này đến quán cà phê nhanh đến mức nào. Anh nghĩ, không đủ nhanh. Nhưng nếu người bảo vệ này thực sự đang ngủ, bấy giờ anh ta sẽ loạng choạng, và chỉ cần thời gian của vài giây để làm cho anh ta hoàn toàn tỉnh táo có thể đã là vừa đủ để MacNeil với tới được anh ta. Chỉ có một cách để tìm hiểu. Anh nhét chiếc đèn pin vào túi và nhanh chóng leo qua cổng. Anh lặng lẽ cúi xuống ở phía xa và nép mình vào bóng tối, lo lắng nhìn về phía quán cà phê. Vẫn không có dấu hiệu của sự cử động. Anh gật đầu ra hiệu cho Tiến sĩ Castelli, bà cố gắng nhấc mình lên đến hàng cọc nhọn. Tại đó bà do dự.

“Tôi không biết mình có thể làm được không”, bà thì thầm.

Anh thở dài và nhìn lên trời. Tại sao anh lại để bà tiến sĩ này thuyết phục đưa bà ấy đi cùng? Anh tiến vào vùng ánh sáng đèn rồi đưa bàn tay về phía bà. “Nào, nắm lấy tay tôi.”

Bà nắm lấy bàn tay của MacNeil khiến anh nhăn mặt vì sức ép đặt vào vết bỏng. Bà dùng sức của MacNeil để giữ vững thân hình của mình khi đứng giang chân qua hàng cọc nhọn, thình lình bà mất thăng bằng, ngã nhào về phía trước, âm thanh xé rách của chiếc váy vang lên sau lưng. Bà kêu lên khi MacNeil đỡ lấy và làm giảm sức rơi của bà. Thực ra đó chỉ là một âm thanh nhỏ, không hơn một tiếng thở hổn hển. Nhưng dường như nó vang lên chung quanh sự im lặng của công viên. MacNeil buông bà ra, và bà ngã sấp trên đầu gối. Anh quay hẳn người lại đúng lúc để thấy người bảo vệ đang đứng dậy.

“Chết tiệt!” Không có thời gian để suy nghĩ. Không có nơi nào để chạy trốn. MacNeil lao về phía quán cà phê nhanh đến hết mức mà đôi chân của anh có thể khua được, hai nắm tay vung mạnh trong không khí. Anh có thể thấy vẻ hoảng hốt trên gương mặt của gã bảo vệ, còn lờ đờ và chưa kịp tỉnh táo khi MacNeil lao về phía hắn. Ở hắn ta cũng có cả sự ngơ ngác nữa. Và những khoảnh khắc bối rối đó cũng đủ để MacNeil có thể vượt qua toàn bộ khoảng cách. Anh bước sang một bên để phá cánh cửa và, với toàn bộ sức nặng, lao thẳng vào gã bảo vệ đang hoang mang. Cả hai người ngã ầm xuống sàn. Chiếc máy truyền hình xách tay văng đi quay vòng vòng khắp căn phòng giữa những mảnh kính vỡ vụn, âm thanh và ánh sáng đều tắt lặng.

Anh nghe thấy tiếng người đàn ông càu nhàu khi anh lăn lên đè được trên người hắn, toàn bộ không khí đều bị tống ra khỏi phổi trong một hơi thở yếu ớt. Khẩu súng trường của hắn kêu loảng xoảng khi rơi xuống sàn bên cạnh họ. MacNeil nắm lấy cổ áo hắn ta, lật hắn ta nằm ngửa lên rồi đấm cho hắn ta hai cú từ những nắm đấm lớn như những miếng thịt đùi của hãng Belfast. Cú đấm đầu tiên đủ làm rách môi của hắn ta. Cú đấm thứ hai khiến hắn ta bất tỉnh.

MacNeil vẫn cúi rạp người trong tư thế nằm sấp, cố gắng lấy lại hơi thở, hai bàn tay đau nhức bằng như lúc mới bị bỏng. Anh nhìn quanh khi nghe tiếng Tiến sĩ Castelli đến gần. Bà đứng ở ngưỡng cửa đã bị phá vỡ nhìn lại anh.

Bà phàn nàn: “Thế là đã làm hỏng chiếc váy khốn khổ của tôi rồi.” Anh trừng mắt nhìn bà, nhưng bà vẫn bồi thêm, “Chắc chắn là ông có thói quen ngồi trên mình người ta, MacNeil ạ.”

Họ lột áo sơ mi và quần tây của người lính gác rồi xé thành từng đoạn dài để trói và bịt miệng hắn ta. MacNeil nhấc khẩu súng trường lên, rồi họ băng qua công viên để vào đường Saunders Ness. Đường phố vắng tanh, bị soi mói bởi những ngôi nhà liền kề và những dãy căn hộ; MacNeil cảm thấy bị phơi ra ở đây dưới ánh sáng chói chang của những ngọn đèn đường. Nhưng bất cứ nơi đâu cũng không hề có một chuyển động nào, không có ánh sáng trong bất kỳ ngôi nhà nào. Anh tự hỏi liệu những người sống ở đây có ngủ ngon hơn không khi biết rằng vẫn có những người đàn ông mang súng ở ngoài đó giúp họ an toàn trước bệnh cúm.

Tại cuối đường, họ vượt qua Câu lạc bộ Chèo thuyền Poplar rồi quẹo vào đường Ferry.

III

Từ Quảng trường St. Davids, họ có thể nhìn lại phía bên kia sông, nơi họ đã đến. Các cột buồm và hệ thống dây cột buồm của chiếc thuyền buôn trà Cutty Sark, Trường Cao đẳng Hải quân Hoàng gia Cổ, các cần cẩu xếp hàng dọc theo bờ đối diện được đưa vào để xây dựng các căn hộ sang trọng mới nhưng không hoạt động kể từ khi tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Trên những dải bùn bên dưới cầu tàu, khung sườn của ba chiếc xe đạp rỉ sét, bị vùi lấp một nửa trong lớp bùn đặc quánh.

Họ tìm thấy Consort House ở góc đông nam của quảng trường và đi theo cầu thang lên tầng cao nhất. Giống như Pinkie đã làm gần hai mươi bốn giờ trước đó, họ tìm thấy số 42A ở cuối hành lang, bên cạnh một cửa sổ nhìn ra sông. Tên của chủ nhân căn hộ được ghi trên tấm biển nhỏ gắn trước cửa. Tiến sĩ Samantha Looker. MacNeil kiểm tra cánh cửa bằng đầu ngón tay và nó tự mở toang ra. Ai đó đã chỉ khép cửa mà không khóa lại. Sảnh tiếp khách ngay phía sau chìm trong bóng tối. MacNeil ra dấu cho Tiến sĩ Castelli rằng cô ấy nên ở nguyên vị trí của mình. Anh ôm khẩu súng ngang ngực và thận trọng di chuyển vào căn hộ. Anh vẫn thiện nghệ đối với các tầm bắn, liên tục bắn trúng mục tiêu mười chín lần trong tổng số hai mươi lần. Nhưng anh chưa bao giờ nổ súng trong cơn tức giận, và chưa bao giờ chĩa súng vào người khác.

Ở phía trước, anh có thể nhìn thấy thảm phòng khách được in hình cửa sổ bởi những ngọn đèn đường. Anh vượt qua một cánh cửa mở để vào một phòng ngủ. Anh nhìn vào. Chiếc giường ngủ không có người. Chẳng có ai đang ngủ trên đó cả. Bên trái anh là cửa phòng tắm và sau đó là cửa vào nhà bếp. Căn hộ ấm áp, nhưng không mang lại cảm giác có người ở. Cho đến bấy giờ, anh vẫn không tin sẽ tìm thấy người nào trong phòng khách ở cuối hành lang. Tuy nhiên, anh vẫn tiến hành một cách thận trọng.

Khi anh bước vào phòng, có thứ gì đó di chuyển dưới chân anh, và một âm thanh chói tai vang lên trong không khí.

“Chúa ơi!” Anh lẩm bẩm rồi nhảy lùi lại và nhìn thấy hình dạng thoáng qua của một thứ gì đó nhỏ và đen kéo thành vệt trên tấm thảm. Anh lần mò tìm công tắc đèn, và khi làn ánh sáng vàng lạnh lẽo tràn ngập căn phòng, anh nhanh chóng quay vào đó vung khẩu súng trường của mình theo một vòng cung chín mươi độ.

Tiến sĩ Samantha Looker nằm úp mặt ngay trong vũng máu của mình, nơi Pinkie đã bỏ bà ta lại ở đó. Máy tính của bà ấy vẫn đang hoạt động, trình bảo vệ màn hình đưa nó vào một cuộc hành trình lặp lại không ngừng đến các hành tinh trong hệ mặt trời. Một con mèo đen nhỏ với yếm trắng và đi vớ lừ lừ ngó MacNeil từ phía bên kia phòng. Con mèo đứng trên đuôi hoặc chân của nó và quan sát người khách lạ một cách thận trọng.

Anh quay ngoắt lại khi Tiến sĩ Castelli bước vào phòng. “Ôi, lạy Chúa lòng lành”, bà lên tiếng khi nhìn thấy thi thể trên sàn và ngay lập tức quỳ xuống bên cạnh Sam để xem mạch. Bà nhìn lên và lắc đầu. “Lạnh như đá.” Bà sờ vào các cơ trên cánh tay. “Tình trạng co cứng của tử thi đã phát triển đầy đủ. Như vậy, bà ấy đã chết ít nhất mười hai tiếng đồng hồ rồi.” Tiến sĩ Castelli nhìn lại cái xác. MacNeil cho rằng có lẽ không có sự chênh lệch tuổi tác quá lớn giữa hai vị tiến sĩ này. Họ cũng giống nhau về hình dáng và cả hai đều có mái tóc màu xám cắt ngắn. Có lẽ tất cả những điều đó đã cho Tiến sĩ Castelli một ý thức cụ thể hơn về cái chết của chính mình. Bà có vẻ run. Vì lần này đã không có những lời khiếm nhã. Tiến sĩ Castelli nói, “Tôi cho rằng đây chính là Sam.”

“Tôi cho rằng sự việc phải là như vậy.”

“Thế thì ai nói chuyện với Amy cả ngày?”

Nhưng MacNeil chỉ lắc đầu. Có thể là bất kỳ ai. Văn bản trên màn hình. Làm sao người ta có thể biết được? Anh bước qua thi hài và di chuyển con chuột máy tính để xóa trình bảo vệ màn hình. Và ở đó, trên màn hình, chính là hộp thoại mà anh đã thấy trên máy tính của Amy. Tiến sĩ Castelli đứng dậy và xem xét nó.

Bà nói: “Hẳn là giống như một cuộc trò chuyện ba chiều. Hội đàm trực tuyến. Chỉ có điều, Amy không bao giờ biết có bên thứ ba.” Bà tiếp nhận con chuột từ MacNeil và nhấp để nghiên cứu về những người tham gia. “Nó chỉ cho thấy Sam và Amy. Như vậy, người kia chắc hẳn cũng đã đăng nhập với tên Sam, từ một máy tính khác ở một nơi khác. Amy không hề biết rằng cô ấy không nói chuyện với người cố vấn của mình.”

Con trỏ vẫn nhấp nháy đều đặn ở cuối tin nhắn sau cùng của Amy. Sam, ông còn ở đó không? Xin chào, Sam! Nói với tôi đi chứ!

Đó là một ngõ cụt. Theo nghĩa đen. MacNeil nói. “Vì vậy, không có cách nào để biết chắc chắn cô ấy đã nói chuyện với ai.”

“Trừ khi hắn vẫn ở đó.”

MacNeil nhìn bà tiến sĩ, “Ý bà là gì?”

“Coi nào, cuộc trò chuyện vẫn đang mở. Có thể bóng ma ‘Sam’ của chúng ta vẫn đang trực tuyến.”

“Làm sao chúng ta có thể nói được?”

“Hãy hỏi thẳng hắn ta.” Tiến sĩ Castelli nhìn MacNeil, một bên lông mày nhướng lên, và anh hiểu ý vị tiến sĩ. Anh kéo ghế ngồi xuống trước bàn phím, nhưng nhận ra rằng những ngón tay củ chuối của mình sẽ không bao giờ gõ được chính xác bất kỳ thứ gì.

“Xem nào, tốt hơn, bà nên giúp tôi làm việc này”, anh nói và đứng dậy nhường chỗ cho vị tiến sĩ.

“Vậy tôi sẽ nói gì đây?”

MacNeil đã nghĩ về điều ấy. Amy đã nói chuyện với ai? Theo luận lý thì người đó chỉ có thể là Smith. Và nay họ đã biết Smith chính là Roger Blume. “Xin chào, Tiến sĩ Blume”, anh nói.

Tiến sĩ Castelli nhìn anh, và sau đó bà gật đầu hiểu tại sao. Những ngón tay của bà lướt nhanh trên bàn phím.

- Xin chào, Tiến sĩ Blume.

Con trỏ lặng lẽ nhấp nháy trong một thời gian dài. “Hắn không có ở đó”, MacNeil đưa ra phán đoán của mình. Thế rồi một âm thanh u…u… cho biết đã có tin nhắn đến.

- Có phải ông MacNeil, cho phép tôi đoán vậy.

MacNeil cẩn thận lột găng tay và đẩy bác sĩ sang một bên. Anh cần tiếp xúc trực tiếp, bất kể đau đớn thế nào. Anh gõ máy thật cẩn thận.

- Đúng vậy.

- Điều gì khiến ông lâu thế?

- Ông đâu phải là người dễ phát hiện.

- Nhưng bây giờ thì ông đã phát hiện được tôi rồi chứ?

- Amy đang ở đâu?

- À, đi thẳng vào vấn đề rồi đó.

- Vấn đề kết thúc rồi, ông Blume ạ.

- Tình thế vẫn còn có thể thay đổi mà.

- Chúng tôi có được mẫu máu lấy từ ngôi nhà ở đường Routh. Chúng tôi có được một tấm ảnh của ông từ cái bóng phản chiếu trong cặp kính cận thị của Choy từ một trong những tấm ảnh lấy hộ chiếu của đứa bé ấy. Chúng tôi biết rằng Stein-Francks sở hữu ngôi nhà ấy. Và chúng tôi đã có được sự nhận diện bởi một trong những người hàng xóm của ông.

- Còn tôi lại có được tất cả những thứ khác, ông MacNeil ạ. Bộ xương, cái đầu, tủy xương, tất cả các mẫu và những kết quả xét nghiệm. Thiếu những thứ đó, ông chẳng có gì cả.

MacNeil ngồi đó nhìn chằm chằm vào màn hình. Nếu điều đó là thật thì Blume nói đúng. Họ đã không còn gì cả. Nếu không có thi hài thì không có án mạng. Chẳng có cách nào để chứng minh bất kỳ điều gì. Và bất kỳ bằng chứng nào họ có thì đều đã được thu thập một cách bất hợp pháp. “Tên khốn tự mãn!” Tiến sĩ Castelli lẩm bẩm trước máy tính.

- Có chuyện gì vậy, MacNeil? Sao tự nhiên lại im như thóc vậy?

MacNeil nhìn con mèo vẫn đang theo dõi họ từ phía bên kia phòng. Nếu anh và Blume nói chuyện mặt đối mặt, anh có thể đã tìm ra những lời lẽ để quăng vào mặt y. Nhưng bàn phím đã gây khó khăn cho anh.

- Ồ, lại còn một điều nữa. Tôi cũng có được Tom. Và Amy. Vì vậy, có lẽ chúng ta có thể trao đổi với nhau.

- Trao đổi cái gì?

- Bất kỳ bằng chứng còn lại nào mà có thể ông còn đang nắm giữ, để đổi lấy người bạn gái của ông.

Tiến sĩ Castelli nói: “Đừng tin một lời nào về điều đó. Hắn chỉ là một tên dối trá khốn nạn.”

MacNeil suy nghĩ một lúc trước khi gõ vào máy.

- Ở đâu và khi nào?

- Con mắt London. Nhưng tốt hơn hết là ông phải nhanh lên, ông MacNeil ạ. Đó là sau năm giờ, và tốt nhất là vấn đề này phải giải quyết xong trước khi lệnh giới nghiêm được dỡ bỏ, và lúc ấy ông chỉ là một công dân bình thường như bao người khác.

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên văn: Weel done, Cutty-sark.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Peter May

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.