Phong Tỏa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 52 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Mười Sáu
I

❊ ❊ ❊

MacNeil chuyển hướng vượt qua trạm xe điện ngầm vắng lặng ở Nam Kensington để vào con đường cổ Brompton. Cơ sở được cấp quyền kinh doanh của Lamborghini ở London đã bị quét sạch từ lâu. Những cửa sổ của phòng trưng bày đã bị đập tan; khoảng không gian sàn ở phía dưới, một thời đầy quyến rũ bởi những chiếc xe đắt giá nhất thế giới, nay cũng trống rỗng và phơi ra với môi trường. Ngân hàng Hoàng gia Scotland ở ngay bên cạnh đã bị che chắn toàn bộ, mái vòm của tòa nhà đã bị gỡ đi bởi chính nhà ngân hàng rồi chuyển đến cho những cơ sở an toàn hơn. Chẳng có điểm nào để bọn cướp bóc có thể xâm nhập, và thế là bọn chúng đã trút nỗi thất vọng của chúng vào việc thể hiện những bức vẽ kiểu nghệ thuật đường phố chứa đựng những ngôn ngữ nhiều màu sắc hơn.

Chiếc ghế dài đặt trong một vùng công viên nhỏ bé hình tam giác nằm ngay giao lộ thông thường vẫn bị chiếm ngụ bởi hai ba nhóm người say sưa tập hợp lại với nhau để chia sẻ nỗi bất hạnh của họ, uống những lon bia đựng trong các túi giấy rồi phun ra khắp không gian những lượn khói thuốc lá cùng những tràng cười vô nghĩa. Trước nỗi xấu hổ của MacNeil, vì anh vẫn luôn nghe được những giọng nói của dân Scot vang lên trong đám ấy. Nhưng tất cả giờ đã biến mất. Những gian bếp phát cháo đã đóng cửa, và đám đàn ông lúc nào mặt cũng đỏ gay vì say xỉn hết năm này qua năm khác hẳn đã là những con mồi cho H5N1.

Những thiệt hại ở đây ít hơn ở vùng trung tâm thành phố, có ít những dấu hiệu của sự cướp bóc. Con đường cổ Brompton là nơi tọa lạc những cửa hàng nhỏ bé ở tầm mức khu phố. Pizza Organic, Mail Boxes Etc., Waterstones. Những hàng hóa lượm lặt so với những cửa hàng tráng lệ ở khu trung tâm. Và chẳng có tên nào trong đám cướp bóc biết tự trọng lại muốn bị phát hiện nằm chết chỉ vì tấn công vào một tiệm sách. Thế nhưng hầu hết các tiệm sách cũng đã được che chắn, và chẳng có mấy ánh đèn rọi ra từ các cửa sổ hoặc những dãy phòng hay văn phòng làm việc ở tầng trên.

MacNeil giảm tốc độ đưa xe về số hai rồi chạy từ từ dọc theo con đường tìm số nhà. Anh phát hiện sảnh triển lãm của Flight nằm ở một góc của Quảng trường Cranley, sát một bên quán giải khát có cửa sắt cuốn đóng xuống Café Nazeez. Những cửa sổ của phòng trưng bày này cũng đã được che chắn và nay được dán chồng lên lớp này khi lớp khác bị lột ra bởi những người chuyên đặt áp-phích quảng cáo về tất cả mọi thứ, từ nghệ thuật nhận đặt và giao hàng qua đường bưu điện đến những buổi hòa nhạc bí mật ở những địa điểm không được đặt tên. Đã từng có nhiều loại mái tiền đình ở góc và ở cả trong Quảng trường Cranley, một lối vào những căn hộ phía trên phòng trưng bày.

MacNeil quẹo vào Quảng trường Cranley và tìm được một điểm đậu xe. Một dãy những ngôi nhà phố có sân thượng tinh khôi sơn trắng chạy dài trong bóng đêm, những dải ban-công bằng thép đúc sơn đen được chống đỡ bởi những cột trụ đặt ở hai bên cửa ra vào. Ở đây cũng có một vài khách sạn và nhà khách, tất nhiên là không có khách, nhưng phần lớn nhà cửa đều của tư nhân, hầu hết là những căn nhà phát triển không theo trật tự chung được chia nhỏ rồi lại chia nhỏ hơn nữa thành những căn hộ. Bất động sản thượng hạng, từ lâu đã rời bỏ những dãy nhà liên kế thấp lè lè có hai phòng ngủ nhếch nhác mà MacNeil đã có khả năng chấp nhận trong vùng Forest Hill. Ở đầu đằng kia của con đường, trên những ô cửa sổ có cửa cuốn đóng lại của Knightsbridge Pianos, bên dưới một tấm bảng hiệu lớn có vẽ hàng chữ Cấm dán áp-phich quảng cáo, mà một họa sĩ theo trường phái nghệ thuật đường phố nào đó có tinh thần hài hước đã phun thêm một hàng chữ Người dán áp-phích quảng cáo là vô tội!

Những tấm lưới thép bảo vệ lớp kính cửa của phòng trưng bày Flight nằm dưới một thanh rầm có trang trí màu xanh màu đỏ. Có hai nút nhấn chuông trên hệ thống điện tử kiểm soát việc ra vào, một bên ghi Xưởng Điêu khắc, một bên ghi Flight. MacNeil dừng lại rồi nhìn lên. Xưởng Điêu khắc ở tầng một vẫn sáng đèn. Căn hộ bên trên tối đen. Anh bước tới trước rồi nhấn vào nút chuông của Xưởng Điêu khắc. Sau một lúc, một tiếng rè rè khó chịu của âm thanh điện tử đi kèm giọng nói của một người đàn ông phát ra từ một loa phóng thanh đặt trong tường. “Có chi vậy?”

“Ông Flight, phải không ạ?”

Một lúc im lặng, thế rồi một giọng nặng trĩu sự ngờ vực. “Ai cần điều chi vậy?”

“Thanh tra Hình sự MacNeil, thưa ông Flight. Tôi đang điều tra một vụ giết người vừa xảy ra ở Soho tối nay.”

“Suốt tối nay tôi chỉ ở nhà, thưa ông thanh tra.” Flight nhanh chóng trả lời.

“Đúng. Tôi không nghi ngờ gì về điều đó, thưa ông. Tôi biết rằng ông không giết kẻ đó, nhưng có thể ông biết về anh ta. Tôi vào được chứ?”

“Tên kẻ bị giết là gì?”

MacNeil trả lời, “Kazinski, thưa ông Flight; Ronald Kazinski.”

Lại có một khoảng trống im lặng mà MacNeil phải phá vỡ. Anh lặp lại lời yêu cầu. “Tôi có thể vào được chứ, ông Flight?”

“Ông có nhiễm cúm không?”

MacNeil nói dối, “Không đâu thưa ông. Nhưng tôi được bảo vệ mà.”

“Hãy đeo mặt nạ vào nếu ông có sẵn. Nếu không có sẵn, tôi sẽ cấp cho ông một cái. Và vui lòng đeo găng tay. Tôi không muốn ông sờ mó vào bất kỳ thứ gì trong xưởng làm việc của tôi.”

“Thưa ông, vâng!”

Nghe có tiếng rè rè, kế đó MacNeil đẩy để cánh cửa mở ra. Một chiếc cầu thang có lót thảm dẫn lên đầu cầu thang tầng một và một cánh cửa ghi rõ, Xưởng Điêu khắc. Ở đó có một cửa sổ, và Flight xuất hiện ở phía bên kia, gương mặt của ông ta hầu như tối sầm bởi một chiếc mặt nạ hai lớp. Ngay cả từ chỗ ông đứng ở lối cửa ra vào. MacNeil có thể thấy rằng Flight có thân hình cao lớn. Ông này có cái đầu kỳ lạ trông nhợt nhạt như xác chết bị che bởi một chòm râu lởm chởm màu thép bạc. Đôi mắt xanh biếc của ông ta nhấp nháy đầy vẻ nghi ngờ nhìn MacNeil qua cặp kính. “Hãy chìa tay của ông ra cho tôi xem”, Flight yêu cầu, thế là MacNeil chìa ra đôi bàn tay của mình, có mang sẵn găng cao su. “Và thẻ hành sự của ông nữa.” Bằng sự kiên nhẫn, MacNeil lấy tấm thẻ chứng nhận của mình ra và mở nó ra trước tấm gương. Flight săm soi tấm thẻ tỉ mỉ trước khi mở hẳn khóa cửa xưởng điêu khắc rồi quay vào. Ông ta nói, “Trong lúc này không thể nào nói là quá cẩn thận được. Mà xin ông vui lòng, hãy cứ giữ khoảng cách.”

MacNeil bước hẳn vào trong xưởng của Flight. Một nơi từng là một sàn gỗ đánh bóng nay đã vấy bẩn, đầy sứt sẹo và bừa bãi những mảnh vụn của một tính khí nghệ sĩ bừa bãi. Đó là một vùng không gian rộng rãi, được thắp sáng đủ để che phủ vừa đúng toàn bộ diện tích của phòng trưng bày phía dưới. Khoảng một tá những tác phẩm trong những giai đoạn hoàn thiện khác nhau được đặt trên sàn hay trên những chiếc bàn làm việc dài. Một cái đầu bị biến dạng trông rất kệch cỡm, những cánh tay bị vặn vẹo, một pho tượng không đầu không tay chân méo mó nham nhở có cả đôi nhũ hoa lẫn một dương vật. Các mặt tường treo đầy những bức phác thảo. Có một chiếc bàn xoay làm đồ gốm, một chiếc tủ trưng bày cao với những ngăn kéo mở sẵn chứa các vật liệu nghệ thuật - sơn, mực, thuốc nhuộm, dụng cụ điêu khắc, giấy can. Sân khấu trung tâm là bàn làm việc của Flight cùng với tác phẩm mà ông ta đang tạc dở. Một cánh tay đứng trên những ngón tay, một phần còn nguyên, phần khác đã bị tước bỏ lớp thịt chỉ còn trơ lại gân và xương, một nửa cái đầu mọc ra từ nách, một bộ não phơi bày được cắt sâu đến tận vùng trung tâm hé lộ tất cả những nếp gấp, kết cấu và màu sắc. MacNeil đang tự hỏi làm thế nào để pho tượng điêu khắc dở dang này có thể đứng được cho đến khi anh trông thấy một thanh đỡ xuyên qua cánh tay phía trên. Đối với tất cả những sự méo mó không tự nhiên này, có một phẩm chất gần như đời sống không thể nào chấp nhận được. Đó thực sự là tất cả những tác phẩm của Flight.

Có điều gì đó thể hiện sự chán ghét của MacNeil rõ ràng không qua được cặp mắt của Flight. Ông ta cười bằng mắt với vẻ khinh khỉnh và thái độ bề trên, “Ông không thích tác phẩm của tôi, có phải không thưa ngài thanh tra?”

“Tôi thích một bức tranh dễ chịu mà tôi có thể treo trên tường nhà mình.”

“Chẳng hạn…?”

MacNeil nhún vai, “Tranh Vettriano…”

Flight tiếp lời, “À, Người Quản gia đang hát. Tôi thường tự hỏi ai mua những thứ như vậy.” Ông ta quay lại với tác phẩm dở dang của mình. “Bộ não là một chủ đề lôi cuốn, ông có nghĩ như vậy không? Tất nhiên, ông phải biết đôi điều về bộ não. Cuống tiểu não giữa. Bướu nhỏ phần trên của não.” Ông ta chỉ vào những thùy những diệp thuộc về kết cấu của bộ não mà ông ta đang tạc. “Một bộ phận đáng ngạc nhiên của tài năng công nghệ. Thật là phi thường khi nghĩ rằng chỉ bất kỳ ai cũng có một bộ phận ấy. Tất nhiên, chúng có mặt trong tất cả mọi mô hình, từ một chiếc Rolls Royce đến một chiếc Mini.”

“Thế ông có cái gì vậy, thưa ông Flight?”

“Tôi thích nghĩ rằng có lẽ mình thuộc về khuôn khổ của BMW. Thế còn ông, thưa ngài thanh tra?”

“Ồ, có lẽ là một chiếc Ford Granada.” MacNeil nói, “Chắc chắn, đáng tin cậy, không cần phải bảo dưỡng nhiều, và cứ thế mà chạy cho đến lúc đến được đâu đó. Thế ông có thể nói cho tôi biết những gì về Ronald Kazinski, thưa ông?”

“Tôi e rằng chẳng có gì.” Flight bắt đầu quay tròn tác phẩm điêu khắc của mình, đưa một ánh mắt suy nghĩ trên những đường cong, những mặt phẳng. Bấy giờ MacNeil mới nhận thấy ông ta quả là một người có chiều cao. Có lẽ khoảng một mét tám lăm, và rõ ràng là hơi mỏng mảnh, có những ngón tay dài thon như ngón tay phụ nữ. Ông ta khoác một chiếc tạp dề trắng dài trông giống như chiếc áo choàng của một nhà phẫu thuật. Chỉ khác ở chỗ nó bị vấy bẩn bởi đất sét và màu chứ không phải là máu. “Tôi chưa bao giờ nghe nói về tên này.”

“Nhưng tên ấy lại biết đến ông.”

Flight ném cho ông một cái nhìn sắc lẻm, “Vậy à? Nó nói với ông như vậy à?”

“Không, thưa ông Flight. Tên đó chết rồi. Ông có muốn biết tại sao y chết không?”

“Điều đó không liên quan gì đến tôi.”

“Y bị bắn ba phát đạn quanh ngực.”

“Thật là tội nghiệp cho nó.”

“Nhưng y lại có một tấm danh thiếp làm ăn của ông trong bóp.”

“Thế à? Xem nào, ông biết đấy, có lẽ có tới vài ngàn người mà ông có thể nói về điều ấy.”

“Phần lớn những người ấy có lẽ đều quan tâm đến nghệ thuật.”

“Vậy cái ông Kazinski ấy lại không à?”

“Y chỉ là công nhân của một lò hỏa táng, thưa ông Flight. Y sống trong một khu ổ chuột ở bờ nam con sông.”

“Vậy tôi ghi nhận ý kiến của ông.”

MacNeil đưa mắt nhìn quanh xưởng điêu khắc, lướt từ công trình tục tĩu này đến tác phẩm khiêu dâm kia. Anh nói, “Tất nhiên, có lẽ y nhặt được tấm danh thiếp của ông tại Câu lạc bộ Băng Đen. Ông có biết nơi đó không?”

“Tất nhiên, tôi có nghe nói đến chỗ ấy. Nghệ thuật trình diễn tiên phong. Gây choáng chỉ để tạo được sự choáng váng.”

“Một lãnh địa quen thuộc với ông, tôi đã nghĩ vậy.”

Flight ném cho anh một ánh nhìn khinh miệt.

MacNeil hỏi bồi thêm, “Vậy ông chưa bao giờ có mặt ở đấy à?”

“Thực vậy thưa ngài thanh tra, hãy tin tôi đối với những thị hiếu tầm thường.”

MacNeil nói, “Vâng, tôi tin. Rất tầm thường.” Anh nhìn quanh xưởng điêu khắc. “Hầu hết là tệ hại.”

Sự kiên nhẫn của Flight đối với MacNeil đã bắt đầu hao mòn. “Nếu tất cả chỉ có như vậy thì, thưa ngài thanh tra, tôi muốn được tiếp tục công việc, trong trường hợp không làm phiền ngài.” Ông ta gật đầu hướng về phía tác phẩm đang làm dở của mình, “Những thời khắc của buổi tối là lúc sáng tạo nhất của tôi.”

“Tôi chẳng ngạc nhiên chút nào.” MacNeil trả lời. Đã có nhiều hơn chỉ một chút gì đó về cái đêm liên quan đến nhà điêu khắc nhợt nhạt như xác chết này.

Ông ta dành cho MacNeil sự khúm núm, “Cảm ơn sự hợp tác của ngài, thưa ngài thanh tra.”

II

Pinkie dõi theo MacNeil lùi chiếc xe vào con đường cổ Brompton rồi quẹo về hướng trạm xe điện ngầm South Kensington. Hắn chờ cho đến khi những ngọn đèn đuôi xe biến mất, lúc ấy hắn mới rời khỏi xe của mình rồi chậm chạp bước qua đường đi đến cánh cửa lưới thép màu xanh ở căn hộ của Flight. Hắn ngần ngừ một lúc rồi nhìn quanh. Có những ánh đèn chiếu sáng trong sảnh lớn của một khu nhà kính ở phía bên kia Quảng trường Cranley, nhưng hắn không nhìn thấy bất kỳ người nào đi lại ở chung quanh. Hầu hết những cửa sổ khác trên con đường này đều chỉ là những hố đen, những tấm màn che bảo vệ đã được thả xuống để cách biệt với một thế giới rùng rợn bên ngoài. Pinkie ghét phải đeo khẩu trang, nhưng đeo khẩu trang cũng có một tác dụng tốt. Gương mặt của hắn được che giấu mà không ai thấy đó là điều kỳ lạ. Bất kỳ nhân chứng nào được cảnh sát hỏi ít nhất cũng khẳng định được một điều, Tên đó có đeo khẩu trang, thưa ngài sĩ quan.

Hắn nhấn vào nút chuông của xưởng điêu khắc. Chỉ sau một lúc, giọng giận dữ của Flight vang lên qua lớp lưới của chiếc loa phóng thanh, “Còn vấn đề gì nữa vậy?”

“Pinkie đây.” Có một khoảng im lặng kéo dài trước khi tiếng còi báo vang lên và hệ thống khóa điện tử tự động mở cửa. Pinkie bước vào trong và nhấc cái then cài cửa ra khỏi ống khóa để cho cửa vẫn sẵn mở sau lưng hắn. Hắn ghét bị nhốt ở bên trong. Hắn nhớ lại chiếc tủ quần áo nằm dưới cầu thang chỗ mẹ hắn nhốt hắn vào đấy mỗi khi bà có khách đến thăm. Bà không muốn ai biết rằng trong phòng còn có một đứa trẻ con. Nhưng bà đã khiến cho chỗ ấy thật dễ chịu đối với hắn, có ánh sáng, có những quyển sách vẽ và một ít đồ chơi. Và cả một tấm thảm để chơi chán thì hắn có thể ngủ. Đó là hang là ổ của hắn, bí mật và an toàn. Hắn không bao giờ cảm thấy khó chịu vì bị nhốt, cho đến cái đêm hắn nghe tiếng thét của mẹ hắn.

Flight nhìn chằm chằm vào hắn qua tấm kính gắn trên cửa xưởng điêu khắc trong trong lúc Pinkie cười nhăn nhở đằng sau chiếc mặt nạ và vung vẩy đôi tay có đeo găng của mình trong không khí. Flight mở hẳn cửa ra, “Chú em muốn gì?” Nhà điêu khắc cẩn thận giữ khoảng cách giữa hai người.

“Jonathan này, ông anh vừa có một người khách.”

“Một tên cảnh sát rất thô lỗ.”

Pinkie lúc lắc một ngón tay trong việc nhắc nhở người chủ xưởng, “Không nên phê phán nặng nề như vậy, anh Jonathan à. Ông MacNeil tội nghiệp vừa mất một đứa con trai ngay trong ngày hôm nay.”

Flight thản nhiên, “Có lẽ điều đó giải thích vì sao hắn lại thô lỗ đến như vậy.”

“Hắn ta muốn điều gì?”

“Y muốn biết rằng tôi có quen biết Ronnie hay không.”

“Thế anh nói với hắn những gì?”

“Rằng tôi chưa bao giờ nghe nói đến thằng nhóc kia. Tất nhiên.”

“Và hắn tin anh à?”

“Tại sao hắn không tin chứ?”

“Tại sao hắn nghĩ rằng anh và Ronnie có quen biết?”

“Rõ ràng là Ronnie có giữ tấm danh thiếp làm ăn của tôi trong bóp.”

“À ra vậy.” Điều đó đã giải thích cụ thể. Pinkie dạo quanh xưởng điêu khắc rồi chú ý săm soi phần nửa bộ não bị phơi ra ngoài với một sự tò mò đầy trâng tráo. “Cái này là thật à?”

“Đừng sờ vào.” Flight cáu kỉnh nạt lên. Rồi hỏi tiếp, “Chú em thanh toán Ronnie rồi à?”

Pinkie mỉm cười, “Anh Jonathan à, tôi có thể bàn bạc với một chút rượu.”

“Tôi đang sáng tác.”

“Anh Jonathan à, tôi có thể bàn bạc với một chút rượu.” Pinkie tự lặp lại một mình như thể đưa ra đòi hỏi lần đầu tiên.

Điều đó có tác động đến Flight. Nhà điêu khắc có vẻ dao động. “Mình phải lên trên lầu.”

Phòng khách trong căn hộ của Flight nhìn xuống phố cổ Brompton và được trần thiết dựa trên nguyên tắc mà các tạp chí thiết kế gọi là theo yêu cầu tối thiểu. Ván sàn trơn chỉ được mài nhẵn và đánh bóng bằng sơn dầu. Tường trơ trụi sơn màu kem. Một chiếc bàn mặt kính thủy tinh với sáu chiếc ghế dựa khung thép tráng chrome nệm da đặt sát cửa sổ. Có hai chiếc ghế dựa bằng da đỏ có đòn đặt chân, một chiếc tủ trưng bày chạm trổ sơn mài màu đen dài và thấp, sau cùng là một chiếc máy truyền hình có màn hình plasma thật mỏng đặt trên một cái bệ bằng thép không gỉ. Tác phẩm nghệ thuật duy nhất có trong phòng là một pho tượng có hai chi tiết riêng biệt do chính Flight tạc, đặt trên một bệ tượng cao màu đen. Pinkie nhìn tác phẩm ấy với một thái độ ngán ngẩm, “Tôi không hiểu làm thế nào mà ông anh lại chịu được có những thứ như thế này trong nhà”.

Flight không thèm làm tăng giá trị cho lời bình phẩm ấy bằng một phản ứng. Ông ta hỏi lúc mở ngăn đựng rượu trong chiếc tủ trưng bày, “Whisky nhé?”

“Lấy Cognac đi.”

“Tôi chỉ có loại Armagnac.” Giọng Flight nghe có vẻ phiền muộn. “Loại rất đắt.”

“Thì đành phải vậy thôi.”

Flight rót một lượng rượu vừa phải vào trong một chiếc ly đơn dùng uống rượu mạnh.

“Ông anh không cùng uống với tôi à?”

“Tôi không bao giờ uống rượu trong lúc làm việc.”

“Hãy phá lệ một bữa đi.” Pinkie bước đến cửa sổ nhìn xuống con đường bên dưới. Hắn nghe tiếng Flight thở dài rồi đi lấy thêm một chiếc ly nữa. Có tiếng động cơ xe bất thường từ dưới đường vang lên, đèn pha quét vào những cửa hàng đã đóng kín cửa ở phía đối diện rồi một chiếc xe dừng ngay bên ngoài phòng trưng bày. Pinkie áp sát mặt vào kính cửa sổ để nhìn rõ xem đó là ai thế rồi bật ngược ngay trở lại như thể bị gió thổi thốc vào. MacNeil đang ra khỏi xe rồi rảo bước trên vỉa hè. Pinkie nhanh chóng quay lại phía Flight, bấy giờ vừa nhìn lên với sự ngạc nhiên tột độ, chai rượu Armagnac trong tay ông ta còn đang lơ lửng trước miệng chiếc ly thứ hai.

“Chuyện gì vậy?”

Pinkie mỉm cười. Đó là khoảnh khắc mà hắn thích thú nhất, “Là lúc để ông anh khắc họa một trong những bức tượng của mình, anh Jonathan ạ!”

III

MacNeil ngước nhìn lên và thấy có ánh đèn cả ở xưởng điêu khắc lẫn ở trong căn hộ. Anh đi vòng vào Quảng trường Cranley rồi nhấn vào cả hai nút chuông. Không nghe tiếng trả lời. Anh chờ đến khoảng gần ba mươi giây sau mới thử lại lần nữa. Vẫn không trả lời. MacNeil bắt đầu mất kiên nhẫn. Anh đã chạy thật xa, đến tận đại lộ Nhà Vua trước khi suy nghĩ ấy ập đến với anh. Một ý nghĩ thật lạ lùng trong phạm vi kinh hoàng của nó đến nỗi gần như không thể nghĩ đến được. Nhưng anh không thể không nghĩ về nó. Và vì thế anh cảm thấy mình bắt buộc phải quay trở lại, dù chỉ để giải tỏa suy nghĩ ấy trong tâm trí. Và lúc này thì Flight đang giở trò. Anh giơ tay lên để đập mạnh vào cửa và gọi to, “Thôi nào, Flight, mở cửa đi.” Tiếng gọi giận dữ của anh vang vọng khắp con đường trống vắng, trong khi đó cánh cửa chuyển dịch dưới cú đấm của nắm tay anh siết chặt. MacNeil sững người lại, cánh tay của anh vẫn còn vung trong không khí. Sự ngạc nhiên của anh lập tức chuyển thành một cảm giác nghi ngại. Cánh cửa đã khóa lại sau lưng anh khi anh đi khỏi. Anh biết chắc điều đó. Anh đã kéo cho nó khép lại. Anh cố gắng thử đẩy cánh cửa bằng những đầu ngón tay, nó bật nhẹ vào trong. Anh bước vào hành lang và thấy cửa chỉ được khép lại mà không khóa. Anh nghiêng đầu rồi nhìn lên cầu thang. Một ngọn đèn vẫn đang cháy sáng trên mâm cầu thang đầu tiên.

“Flight! Ông Flight.” Tiếng gọi của MacNeil bị hấp thu bởi tấm thảm và không nhận được câu trả lời. Anh từ từ leo lên thang tới tận chiếu nghỉ đầu tiên. Ánh đèn của xưởng điêu khắc soi sáng qua những ô kính trên cửa ra vào, MacNeil nhìn kỹ vào bên trong. Không có một dấu hiệu nào của Flight. Anh đẩy hẳn cửa ra. Cửa mở và anh bước sâu vào trong. Cánh tay và cái đầu trông vẫn hệt như cách đấy mười lăm phút. Chẳng có vẻ gì là Flight đã làm thêm một việc nào trên tác phẩm ấy của ông ta. MacNeil nhìn quanh những tác phẩm khác bằng con mắt khác. Một khung cửa ở phía sau dẫn đến một nơi có vẻ là một căn phòng khác. MacNeil băng ngang qua xưởng điêu khắc để mở cửa ấy ra. Quả thực, nó dẫn đến một kho lạnh không cửa sổ có thể bước vào được. Có một chiếc bàn làm việc bằng gỗ thật dài bị xây xát và lấm lem, được trang bị một chiếc mỏ cặp khổng lồ và tất cả những loại công cụ được treo trên những chiếc đinh móc đóng vào tường. Dao, cưa, đủ hạng dao bầu cho các mức trọng lượng khác nhau, thuộc kiểu mà người ta có thể thấy trong một cửa hàng bán thịt. Một cái khay đặt trên mặt bàn làm việc xếp một dãy những con dao mổ thuộc đủ loại kích cỡ. Có một cái nồi hấp được cắm vào ổ điện ở bức tường phía sau gần một chiếc máy cưa lắc và một dãy những chai nhựa chứa chất tẩy trắng. Khu vực này khá lạnh, không khí nồng nặc mùi acid của thuốc sát trùng. Nhưng vẫn còn một điều gì khác mà MacNeil chưa thể nhận biết rõ rệt.

Một số bình chứa mờ đục xếp dọc theo một cái kệ được gắn nhãn chất dẻo phun.

MacNeil có một cảm giác tồi tệ về nơi này, tưởng như có những ngón tay lạnh lẽo sờ vào cổ. Anh rùng mình và cảm thấy như mình đang có mặt trước một điều gì đó vô cùng nham hiểm. Có một sự rung lắc kỳ lạ, và không gian tràn ngập tiếng rền của thiết bị điện tử cùng với tiếng lạch cạch của thủy tinh chạm vào nhau. Anh quay lại để thấy đằng sau cánh cửa là một chiếc tủ lạnh khổng lồ cao gần đến trần nhà. Nó được chia thành hai ngăn. Anh mở cánh cửa ngăn trên; một ánh đèn có vẻ như chập chờn hé lộ những giá đựng đầy chai lọ có nút thủy tinh. Chúng chứa đầy những loại chất lỏng có màu khác nhau. Có một mùi tuy khó chịu nhưng lại quen thuộc một cách kỳ lạ trong tủ lạnh. MacNeil chọn một chai rồi xoay nó quanh một vòng và thấy nhãn của nó ghi là Formalin, ngay lập tức MacNeil biết tại sao nó có mùi quen thuộc. Đó là loại mùi thường xuyên xuất hiện trong phòng khám nghiệm tử thi. Đó chính là Formaldehyde. Được sử dụng trong các phòng thí nghiệm y tế và các nhà xác như một chất bảo quản. Có ba món mang hình dạng như những miếng xúc xích nho nhỏ đặt trên đĩa thủy tinh nằm trong khay thịt. MacNeil nhấc cái khay ra và gần như làm rơi. “Chúa ơi!” Sự khiếp sợ khiến anh buột miệng thốt ra những lời không cố ý, và giọng nói của anh dường như quá ầm ĩ trong không gian chật hẹp này. Ba món trông giống xúc xích trên đĩa ấy chính là những ngón tay. Những ngón tay của con người. Anh nhanh chóng đẩy cái khay thịt trở lại giá của nó và đóng cửa ngăn lại. Anh run rẩy và phải một lúc sau mới phục hồi được sự bình tĩnh, ổn định hơi thở trước khi mở cửa ngăn dưới để lộ ra bốn ngăn kéo có độ lạnh sâu. Hầu như anh không cần phải mở những ngăn kéo ấy ra để biết bên trong có gì.

Nhưng cơn choáng váng khi anh mở ngăn trên của chiếc tủ lạnh ấy vẫn buộc anh phải ngừng lại một chút để suy nghĩ. Cái đầu của một người đàn ông trừng trừng nhìn vào anh, cặp mắt mở to, da thịt trắng như phấn và nhợt nhạt dưới lớp sương giá. MacNeil buộc phải mở nốt những ngăn kéo khác. Những cánh chân, cánh tay, những bàn chân, bàn tay. Cả một bộ phận thân thể không đầu không chân tay trong ngăn kéo cuối cùng. Của một người phụ nữ.

MacNeil đóng sập cửa tủ lạnh lại và đứng thở dốc, cố gắng ngăn cho mật đừng trào ngược từ dạ dày. Thứ này còn tệ hại hơn mứt và bánh mì kẹp của gã Bào thai rất nhiều. Thứ này là thật. Anh loạng choạng đi vào xưởng điêu khắc nhìn lướt qua tất cả những mảnh cơ thể mà Flight đã “điêu khắc.” Anh sải bước qua sàn xưởng điêu khắc rồi giật mạnh tác phẩm đang thực hiện dở dang khỏi cái cột chống của nó, nâng cái thứ gọi là pho tượng ấy lên quá đầu rồi đập mạnh nó xuống cạnh bàn. Phần nửa của cái đầu tự tách rời ra khỏi cái cánh tay rồi lăn lông lốc trên sàn, còn phần được phơi bày của cái cánh tay ấy thì nứt toác ra. Có một tiếng cách nghe như tiếng nổ của một phát súng trường, cánh tay ấy treo lủng lẳng thành hai nửa trong bàn tay của anh, phần xương hoàn toàn gãy vụn. Và lúc này thì anh đã biết, nó đúng là xương. Xương người. Flight không phải là một nhà điêu khắc. Hắn ta chỉ là một kẻ ăn cắp ý tưởng từ thiên nhiên. Thu thập những bộ phận cơ thể của con người rồi từ đó chế tác theo thiết kế đồi bại của chính mình. Khử trùng, bảo quản, làm dẻo, sơn, là bất kỳ điều quỷ quái gì mà hắn ta thực hiện với những bộ phận cơ thể đã thu thập được.

Và MacNeil đã biết rằng Flight cũng đã nói láo về mối liên hệ với Kazinski. Anh biết rằng hai tên này hẳn là phải đã cộng tác với nhau từ khi Kazinski nhận công việc ở lò hỏa táng. Kẻ chuyên cung cấp những bộ phận thân thể cho nhà điêu khắc nổi danh. Anh vẩy cái cánh tay ấy ra như thể nó đang cháy bỏng, hầu như không kiềm chế được cơn giận và sự ghê tởm. Có phải đây cũng là nơi mà đứa bé gái kia bị giết mổ? Da thịt đã bị tước ra khỏi phần xương của đứa bé. Bộ xương của đứa bé bị tháo rời ra. Anh nhìn lại vào căn phòng từng được dùng như một nhà kho với chiếc bàn làm việc vấy bẩn cùng với một dãy những dụng cụ cắt thái và cảm thấy buồn nôn.

“Flight!”, anh gào lên nhưng chỉ được đáp lại bằng một sự im lặng.

Anh chạy ra ngoài đến chiếu nghỉ cầu thang rồi leo lên cầu thang thứ hai, vượt từng bước hai bậc thang một. Anh tiếp tục gọi tên của Flight nhưng vẫn không nghe tiếng trả lời. Có ba khuôn cửa trổ ra trong một đoạn hành lang ngắn. Anh đạp tung chúng ra từng ô cửa một. Cánh cửa thứ nhất là vào một phòng tắm, có đồ gốm men lam mát lạnh và một vòi tắm đặt trong phòng kính. Chậu rửa tay là một bồn đựng nước bằng gỗ đứng độc lập được đặt trên một trụ gỗ gõ. MacNeil nhìn thấy hình ảnh của chính mình, cặp mắt hoang dại nhìn chằm chằm được phản chiếu trên một tấm gương lớn chiếm cả bề mặt một bức tường. Gương mặt của anh sưng lên, bầm tím và đầy những vết xây xát đến nỗi hầu như anh không nhận ra đó là mình. Ô cửa thứ hai dẫn vào một phòng ngủ. Những tấm lụa đen, một tấm thảm màu kem, thoang thoảng mùi hôi của những đôi chân không sạch và mùi nước hoa rẻ tiền. Ô cửa thứ ba mở ra một phòng khách rộng rãi nhưng đơn sơ. Flight đang ngồi trên một chiếc ghế dựa dài bọc da đỏ, một chân đặt trên chiếc đòn kê, một tay choàng qua mé phải một chiếc ghế dựa. Hắn ta vẫn khoác chiếc áo choàng kiểu bác sĩ giải phẫu. Có điều bấy giờ chiếc áo ấy đã loang lổ máu, rỉ ra từ ba lỗ đạn đặc trưng ngay trước ngực. Cái đầu có mái tóc lởm chởm bạc của hắn ta nghiêng về trước. MacNeil chầm chậm bước về phía tử thi rồi sờ vào động mạch cổ của người chết. Không thấy mạch đập và da thịt đã cho cảm giác lành lạnh. Nhưng MacNeil biết hắn ta chỉ có thể mới chết vào vài phút trước.

Anh nhanh chóng xoay người lại, đột nhiên cảm nhận được tình trạng dễ bị tấn công của chính mình. Không có một người nào ở đó. Không một âm thanh nào làm xáo trộn sự yên lặng trong toàn thể ngôi nhà.

MacNeil liếc nhìn chiếc tủ trưng bày có phủ sơn màu đen. Cánh cửa của ngăn đựng thức uống vẫn mở. Bên trên có hai chiếc ly, cạnh đó là một chai Armagnac. Một trong hai chiếc ly có chứa khoảng năm xăng-ti-mét của một chất lỏng màu hổ phách ám khói. Chiếc ly kia trống rỗng.

MacNeil ngồi trên chiếc ghế tựa kia và gục đầu vào lòng hai bàn tay, lấy cả hai tay vuốt những lọn tóc bù xù của mái tóc đen cắt ngắn. Anh biết chắc rằng không có bất kỳ người nào trong tòa nhà này. Thế nhưng trong khoảng thời gian anh lái xe đến đường Nhà Vua rồi quay trở lại, có kẻ nào đó đã đến đây và sát hại Flight. Hai chiếc ly trên tủ trưng bày, một ly đầy và chưa chạm tới, ly còn lại trống rỗng. Như thể Flight đã bị làm gián đoạn trong lúc đang rót rượu. Một cho chính mình. Một cho kẻ giết hắn ta.

Có phải chính MacNeil là người đã gây nên sự gián đoạn ấy cho họ không? Kẻ giết Flight có còn ở trong nhà khi anh vào không? Anh cho rằng có thể trong khi mình đang lục soát xưởng điêu khắc thì kẻ giết người đã chuồn xuống cầu thang và trốn thoát. Im lặng, không ai nhìn thấy. Như một bóng ma. Một hồn ma đã ám ảnh MacNeil ở bất cứ nơi nào anh đến, giết chết tất cả những người mà anh tiếp xúc: mấy thằng nhóc trong khu nhà ở South Lambeth, kế đó là Kazinski và bây giờ tới Flight. Nhìn nhà điêu khắc ngồi gục đầu vào ngực, MacNeil nghĩ rằng hắn chưa phải là đã chết đối với cuộc đời này. MacNeil biết rằng mình cần phải báo cáo về trường hợp này. Nhưng anh không muốn dây dưa. Chỉ cần một lời cảnh báo ẩn danh từ số điện thoại của Flight thì cảnh sát địa phương sẽ đến kéo đến làm biên bản, mặc dù có thể phải đợi đến khi giờ giới nghiêm chấm dứt. Những gì họ tìm thấy ở đây phần lớn sẽ tự giải thích.

MacNeil đứng dậy và bước về phía chiếc tủ trưng bày. Anh lục lọi tất cả các ngăn kéo, cẩn thận không làm rối loạn bất cứ thứ gì có thể có ích cho cảnh sát khi họ đến. Anh chỉ thấy những tờ rơi cũ quảng cáo việc triển lãm tác phẩm của Flight, những bản phác thảo và những ghi chú viết nguệch ngoạc, một bộ bài Tarot đã cũ sờn, nhiều bút mực và bút chì, biên lai, một số tiền lẻ. Có rất ít thứ khác trong phòng có thể được mô tả là có tính cách cá nhân. MacNeil tự hỏi không biết Flight cất giữ những tài sản vụn vặt tích lũy được của cả một cuộc đời nghệ thuật của hắn ở đâu. Hoặc có lẽ, vì hắn đã thu thập cuộc sống của người khác rồi lưu giữ cho hậu thế những cuộc đời ấy trong từng mảnh, cho nên hắn tích trữ ít ỏi hoặc chẳng giữ gì cho riêng mình.

Trong phòng ngủ, bên chiếc giường của Flight, MacNeil tìm thấy một món đồ nội thất duy nhất của căn hộ rõ ràng không phải loại sản phẩm được chọn từ danh mục đặt hàng qua thư của các nhà sản xuất người Scandinavia. Đó là một chiếc bàn giấy kiểu cổ loại mặt bàn được quây kín ba phía và cuộn lên được, một thứ gia bảo, có lẽ được truyền lại từ đời khác. MacNeil đã cuộn lại từ đầu mặt bàn và tìm thấy một đống lộn xộn những giấy tờ, sổ sách. Phiếu tính tiền, biên lai, hóa đơn, một cuốn sổ kế toán chứa đầy những nét chữ nhỏ xíu, nguệch ngoạc và có vẻ run rẩy của Flight. Một chiếc hộp bằng đồng chất đầy những lá thư vẫn còn trong phong bì. Một vài mẩu thư từ riêng tư, nhưng chủ yếu là các hóa đơn đã hoặc chưa thanh toán.

Cuối cùng MacNeil cũng tìm thấy thứ có giá trị. Trong một ngăn kéo nông ở phía sau chiếc bàn giấy kiểu cổ ấy, nép mình trong lớp nỉ xanh, là sổ địa chỉ của Flight. Nó chứa đầy danh thiếp và những dòng ghi địa chỉ được viết nguệch ngoạc trên những mảnh giấy vụn gấp lại. Nhưng đó là bộ sưu tập chính xác của tất cả bạn bè và người quen của Flight, cả trong cuộc sống riêng tư lẫn công việc làm ăn của hắn, mặc dù MacNeil tưởng tượng rằng ranh giới phân chia giữa hai hạng người này có lẽ khá mơ hồ.

Anh bắt đầu cẩn thận đọc lướt qua bảng chữ cái. Nhưng có quá nhiều tên và cũng không biết thực sự mình đang tìm kiếm điều gì, MacNeil nhanh chóng đổi ý rồi mở thẳng đến phần mẫu tự K, ở đó anh tìm được số điện thoại của Kazinski. Nhưng không có địa chỉ. Địa chỉ ấy sẽ là thừa, một nơi mà Flight sẽ không bao giờ đến, ngay cả trong những cơn ác mộng tồi tệ nhất của nhà điêu khắc này.

Đang định lướt nhanh qua những trang còn lại thì MacNeil phát hiện ra một tờ giấy nhỏ hình vuông gấp đôi và được nhét chặt vào gáy sách. Do vậy, anh để quyển sách được mở ở phần mẫu tự K, đè mạnh cho gáy sách phẳng ra và khéo léo rút lấy mảnh giấy nhỏ ấy. Anh lập tức mở mảnh giấy ra. Trên mảnh giấy có ghi lại nguệch ngoạc một cái tên hoặc có lẽ là một biệt danh nào đó. Pinkie. Và bên dưới biệt danh ấy là một số điện thoại. Căn cứ vào mã số, MacNeil có thể biết rằng đó là số điện thoại di động. Bên dưới con số ấy là một địa chỉ, nhưng lại có một đường kẻ vạch ngang tờ giấy dường như ngăn cách chúng và MacNeil có ấn tượng rằng không nhất thiết chúng có sự kết hợp với nhau. Mặc dù vậy, có thể chúng vẫn có liên quan với nhau theo một cách nào đó. Thế rồi anh lặng đi trong suy nghĩ. Anh nhớ lại những điều Kazinsky đã nói, Tôi không biết địa chỉ. Đó là một tòa nhà lớn. Chắc là ông biết, một trong những chỗ dành cho những ông bà già giàu có. Đó là một nơi nào đó gần với khu Chung cư Wandsworth. MacNeil dán mắt vào mảnh giấy trên tay. Địa chỉ ghi trên mảnh giấy là ở đường Routh, khu Wandsworth.

Ngồi trên mép giường, MacNeil giữ chặt tờ giấy giữa những ngón tay hơi run, chăm chắm nhìn vào cái tên, số điện thoại và địa chỉ cho đến khi chúng mờ đi. Anh đói, mệt và rất có thể đang bị choáng. Thật khó để tập trung. Và rồi anh thoáng có một ý nghĩ. Anh với lấy chiếc điện thoại trên đầu giường rồi bấm dãy số trên mảnh giấy.

Cách đó chừng năm chục thước, Pinkie vẫn ngồi trong chiếc xe hơi của hắn, theo dõi những ánh đèn cháy sáng trên cửa sổ căn hộ của Flight. Hắn tự hỏi MacNeil đang làm gì trong đó, vui thích với điều gì mà anh đã phát hiện, và những gì được phát hiện đó là những bí mật nào. MacNeil đã quá bận tâm đến cái kho nhỏ kinh hoàng ở tầng một trong căn hộ của Flight, đến nỗi việc Pinkie rón rén lặng lẽ đi xuống cửa trước rồi biến mất vào màn đêm là một vấn đề hết sức dễ dàng. Pinkie đã cố hình dung sự ngạc nhiên của MacNeil khi anh lên được tầng trên và thấy Flight đang đợi mình. Pinkie đã không thể cưỡng lại sự cám dỗ phải bỏ công sắp đặt nhà điêu khắc ở trong tư thế chào đón trên chiếc ghế da đắt tiền của hắn ta. Nếu MacNeil đã đi thẳng lên tầng trên thì chắc chắn là hắn đã phải nổ súng vào anh. Ngay cả trước rủi ro về sự tức giận của ngài Smith. Pinkie đã tức tới điên người lên khi cái đầu của Flight không tuân theo sự sắp xếp của hắn mà cứ ngả về phía trước; cuối cùng đến lúc Pinkie cảm thấy buộc phải rời đi vì lý do bảo vệ chính mình, phải bỏ rơi công việc trước khi hắn có thể hài lòng.

Chiếc điện thoại di động của hắn reo lên trên ghế bên cạnh. Hắn nhặt chiếc máy lên rồi nhìn vào màn hình. Màn hình báo tên người gọi hắn là Jonathan Flight. Hắn bỏ chiếc điện thoại xuống, như thể nó đã bị nhiễm độc. Người gọi không thể là Flight được. Chính hắn vừa giết nhà điêu khắc này. Hắn cảm thấy nổi da gà khắp cả cổ lẫn vai, trước khi buộc mình phải suy nghĩ hợp với luận lý. Chắc chắn người gọi không thể là Flight. Nhưng là ai đó gọi từ điện thoại của Flight. Vì vậy, người đó chỉ có thể là MacNeil. Nhân danh Chúa, anh ta đã đào đâu ra số điện thoại này? Hẳn là Flight đã ghi nó trong sổ địa chỉ, hoặc trong bộ nhớ điện thoại của gã. Nhưng làm thế nào MacNeil biết để sử dụng số này? Pinkie thực sự hoảng hốt.

Ngần ngừ một lúc, cuối cùng hắn nhấc điện thoại và nhấn nút màu xanh lá cây để nhận cuộc gọi. Hắn áp chiếc điện thoại vào tai và lắng nghe nhưng không nói gì. “Xin chào?” Hắn nghe được giọng của MacNeil. “Xin chào?” Nhưng Pinkie vẫn không nói gì. Và rồi hắn cười toe toét. Bây giờ đến lượt MacNeil kinh hoảng.

MacNeil lắng nghe sự im lặng ở chung quanh. Anh có thể nghe rõ tiếng người nào đó đang thở, người nào đó đang lắng nghe, nhưng lại không nói gì; gần như kẻ đó biết rõ ai đang gọi đến. Anh muốn gác máy, chỉ để cắt đứt sự hiện diện hết sức hùng hồn trong trạng thái im lặng của nó. Nhưng cũng có điều gì đó thúc ép trong sự im lặng ấy, và anh cũng ngồi cả phút không nói gì. Chỉ lắng nghe. Anh cảm nhận được sự độc ác trong thái độ im lặng ấy, và càng lắng nghe trạng thái im lặng ấy lâu hơn thì anh càng cảm thấy ngột ngạt hơn, cho đến khi cuối cùng anh không thể chịu đựng được nữa, bấy giờ anh mới đập ống nghe trở lại trên giá đỡ. Lúc ấy anh run rẩy, miệng khô khốc. Anh có cảm giác khó chịu rằng anh vừa chạm trán với chính hồn ma đang ám ảnh mình, kẻ đã giết những người đàn ông và những gã trai, và có lẽ là cả một cô bé gái người Hoa bị hở hàm ếch. Và anh cũng có cảm giác rằng hồn ma này đang ở đâu đó rất gần.

Bản nhạc Scotland the Brave bỗng bật lên đoạn điệp khúc vui nhộn khiến MacNeil cảm thấy bồn chồn. Anh thò tay vào túi lôi ra chiếc điện thoại di động và thấy tên của Amy trên màn hình.

“Anh đây, Amy”, anh nói, cố gắng làm ra vẻ rất tự nhiên.

“Có chuyện gì bất thường vậy?”

“Ý em nói sao?”

“Em nghe giọng của anh có vẻ gì đó kỳ kỳ.”

“Chỉ là anh mệt mỏi thôi, Amy ạ.” Anh nhìn đồng hồ. Bấy giờ đã là quá nửa đêm. “Lẽ ra em phải đi nằm rồi.”

“Em không thể nào ngủ được. Ước gì em đã không mang cái đầu này về nhà. Có vẻ như đứa bé gái này đang ở trong nhà với em. Ám ảnh em. Em không thể nào đẩy gương mặt của đứa bé ra khỏi tâm trí mình.”

MacNeil nghĩ, trong đêm nay lại có thêm một người khác bị ám ảnh.

“Công việc tiến triển ra sao rồi?”

Anh biết anh không thể nói sự thật với cô. Một ngày nào đó thì có thể, chứ không thể là ngay đêm nay. Anh trả lời, “Anh đã có được một vài manh mối. Anh nghĩ rằng đứa bé đã bị giết hại trong một ngôi nhà gần Khu Wandsworth Common.”

“Lạy Chúa tôi. Điều này nhiều hơn là một vài manh mối. Làm thế nào mà anh có thể đến được kết luận ấy?”

“Quá phức tạp để có thể đi vào chi tiết trong lúc này. Còn em thì sao? Có gì mới không? Có phản hồi nào từ phòng thí nghiệm không?”

“Thực sự là có. Mà quả tình cũng hơi kỳ lạ, mà em không hề có ý niệm nào rằng điều đó có quan trọng hay không. Vấn đề là đứa bé đã nhiễm cúm.”

MacNeil sửng sốt, “Đứa bé chết vì cúm à?”

“Chưa nói cụ thể được. Nhưng hoặc là đứa bé bị cúm và đã hồi phục, hoặc nó đã phải chịu đựng căn bệnh ấy cho đến lúc chết.”

MacNeil ngẫm nghĩ về điều vừa được nghe nói. Cũng vậy, anh cũng không biết liệu điều đó thực sự có ý nghĩa gì hay không.

Thế rồi, Amy nói, “Tuy nhiên, điều kỳ lạ về việc này là chứng bệnh cúm đó không phải gây ra bởi biến thể của con vi-rút H5N1 ở người, vốn đang giết chết những người khác.”

MacNeil cau mày. “Anh không hiểu.”

“Đây là một biến thể khác của vi-rút cúm gia cầm H5N1. Một loại do con người tạo ra.”

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Peter May

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.