Phong Tỏa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 35 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Năm
I

❊ ❊ ❊

Theo con đường Tooley, Amy lái xe vẽ phía Đông bằng chiếc Toyota nhỏ bé màu vàng của mình. Đó là chiếc xe sản xuất theo khái niệm phúc lợi của nhà sản xuất động cơ Nhật Bản, đã điều chỉnh đặc biệt để chứa được chiếc xe lăn của cô. Một sự sắp xếp thông minh với cửa xe phía người lái có thể trượt ra phía sau và một đoạn dốc mở rộng có thể nâng lên hạ xuống để đẩy cô vừa vặn ngồi vào sau tay lái. Có được thiết kế này không rẻ chút nào - không hề có bất cứ phụ tùng nào dành cho người khuyết tật đã được thực hiện - nhưng khoản tiền bồi thường đã cho phép cô tự trang bị để có được một cuộc sống bình thường như điều cô có thể tạo ra.

Lúc này, việc đi lại đã dễ dàng hơn vì đường phố hầu như vắng lặng. Chẳng phải là cô liều lĩnh ra đường nhiều hơn trong thời buổi này.

Vượt qua một đoàn xe hộ tống gồm toàn những chiếc xe quân sự đang ầm ầm lao về phía tây, cô liếc mắt nhìn lên phía bắc hướng về con sông và những đường cong nghiêng của tòa lâu đài bằng kính và thép vốn là tòa Thị chính. Viên Thị trưởng từng nói, tất cả những tấm gương ấy nên được xem là biểu tượng cho sự minh bạch của chính phủ. Ngày nay người ta có thể nhìn thấy mà chẳng thèm quan tâm. Bởi vì ở đấy chẳng còn ai. Những lời hứa hẹn không thành thật chẳng đi tới đâu. Đối với tất cả những kế hoạch của họ, chưa bao giờ họ tưởng tượng được bất kỳ chuyện gì ở quy mô này.

Cô quẹo về phía bắc trên con đường Ba Cây Sồi, nơi có lẽ hồi trước ba cây sồi kia đã mọc lên ở đấy. Nhưng chúng đã biến mất từ lâu. Trên đường Gainsford, cô quẹo vào bãi đậu xe nhiều tầng rồi lái xe theo đường dẫn để lên đến chỗ đậu xe của mình ở tầng hai. Đã có lúc, đó là nơi duy nhất mà cô có thể đến, và điều đó khiến cô luôn luôn phải phó mặc cho sự định đoạt của chiếc thang máy. Nếu thang máy hoạt động thì chẳng có vấn đề gì. Nhưng nếu nó không hoạt động thì cô thực sự gặp rắc rối. Hôm nay, chiếc thang máy rầm rầm chạy xuống tầng trệt mà chẳng gặp trở ngại nào và cô băng qua lối đi có rải sỏi đến cổng vào cầu cảng Buttlers and Colonial, một tập hợp những tòa nhà mới xây và những kho hàng đã được chuyển đổi công năng chung quanh một quảng trường có nhiều lối vào. Tiếng rên rỉ phát ra từ chiếc động cơ điện gắn trên xe lăn của cô có vẻ quá ồn ào trong cái ngày vẫn còn u ám này, một luồng ánh sáng xanh kỳ lạ thu hút tất cả mọi màu sắc từ khối gạch màu mật ong. Không một bóng người nào được nhìn thấy. Trước kia, ở một thời quá khứ, những con đường, những ngõ hẻm và cả những tòa nhà này vẫn căng phồng sức sống. Những công nhân bốc xếp ở bến tàu, những người giữ kho, những công nhân bốc xếp ở nhà kho. Tàu thuyền đi ngược từ cửa sông lên đến tận vùng ngập mặn của London để bốc dỡ các mặt hàng thực phẩm và hương liệu xa lạ từ những vùng xa xôi trên khắp Đế quốc Anh. Những chiếc cầu nối có dầm bằng kim loại lao đi theo những góc độ khác thường trên bầu trời giữa những nhà kho cao chót vót. Một cánh cổng khổng lồ hình vòng cung nhìn ra sông Thames, nơi công nhân đứng xếp hàng mỗi ngày với hy vọng kiếm thêm được vài giờ công nhật. Bấy giờ đó là những ngôi nhà của các cư dân thuộc thành phố phục hưng ấy, những người có khả năng trang trải cho những ngôi nhà ấy, được phục vụ bởi những quầy rượu vang và những nhà hàng sành điệu khiến cho những con đường rải sỏi ấy trở nên sống động. Sự im lặng thật là kỳ lạ. Không một tiếng vang nào của quá khứ còn vọng lại.

Amy gác đoạn thang dốc của chiếc xe lăn lên cửa trước căn hộ của cô rồi mở khóa cửa để vào nhà. Nơi đây trước kia đã là một nhà kho chứa hương liệu. Bà chủ nhà lớn tuổi, người đã bán cơ ngơi này cho cô, nói với cô rằng bà đã đi khắp tòa cao ốc này, với nón bảo hiểm trên đầu, trước khi công trình chuyển đổi công năng của tòa nhà này được tiến hành. Bà ấy nói, “Đây là cả một thiên đường đó, cô bạn nhỏ ạ! Toàn bộ khu vực này sực nức mùi đinh hương.”

Căn hộ nằm ở tòa nhà ba tầng và Amy sở hữu hai tầng trên cùng. Hoàn toàn không thực tế đối với một người phải ngồi xe lăn, nhưng cô đã quyết định rằng sẽ không hy sinh bất kỳ điều gì trước tình trạng khuyết tật của mình. Nếu như cô có đủ tiền trước vụ tai nạn, hẳn là cô sẽ yêu thích được sống ở một nơi như thế này. Đến khi cô đã có đủ khả năng trang trải cho cuộc sống, cô cũng quyết định không thực hiện bất kỳ một thỏa hiệp nào. Thế là cô đã trang bị thang máy trên cả hai khoang cầu thang và đặt ở mỗi tầng một chiếc xe lăn. Cô ngủ ở tầng đầu tiên và sinh hoạt trên tầng thứ hai, một không gian rộng lớn thoáng đãng giữa những thanh rầm mà cô đã chia nhỏ ra bởi đồ đạc và những kệ sách. Trong góc ở ngoài xa, cô có một nhà bếp không bị chia cắt bởi tường hay vách ngăn, và trên bức tường phía sau, những chiếc cửa sổ kiểu Pháp dẫn ra một bao lơn kim loại hình vuông, là nơi mà vào mùa hè cô có thể ngồi ở đó để đọc sách và tắm nắng.

Amy chuyển từ chiếc xe lăn qua chiếc thang nâng dưới cùng. Cô đã phát triển được sức mạnh ở hai bàn tay để tự nâng mình lên, mặc dù trong cái bộ khung mảnh dẻ của cô cũng chẳng có nhiều sức nặng là mấy. Đôi khi cô vẫn thấy chiếc thang nâng này di chuyển chậm đến đáng chán. Hôm nay, cô chỉ việc nhắm mắt lại và trôi lên cùng với nó, nâng niu cái gói nhỏ trong lòng. Đó là một buổi sáng mang lại đau thương. Nhận ra mình có sự đồng nhất với nạn nhân của một vụ giết người là một trải nghiệm không gì có thể sánh nổi. Nhưng một điều gì đó liên quan đến cô bé đáng thương này đã khiến cô xúc động theo một cách mà cô không tin là có thể xảy ra được. Cô nghĩ đến tất cả những thi thể mà cô từng xử lý, những cái đầu mà cô đã mang về nhà để tiếp tục những phần việc còn dang dở, và cái cách mà cô luôn luôn có thể tách mình ra khỏi thực tại không dễ chịu về trách nhiệm mà cô phải thực hiện. Cho đến tận hôm nay. Có điều gì đó liên quan đến tập hợp những mảnh xương nhỏ này mà trong chừng mực nào đó vẫn chứa đựng thần thức của đứa trẻ. Amy phát hiện rằng điều đó không bình thường, và khi cô nâng chiếc hộp sọ giữa đôi bàn tay, hầu như cô có thể thề rằng cô cảm nhận được sự sợ hãi của đứa trẻ đang truyền qua xương vào tận da thịt của chính cô.

Tất cả cửa ra vào trên tầng một đã đóng kín, và chỉ có chút ánh sáng lọt vào được từ cửa trước lan dần qua bóng tối. Lơ lửng trong không khí phảng phất một mùi là lạ; nhưng Amy đã bị phân tâm, đặt gói hàng xuống để có thể di chuyển đến chiếc xe lăn ở đầu cầu thang, nên cô không hề nhận ra mùi đó. Cô không bận tâm đến bóng tối. Đôi lúc cô ngồi hàng giờ trong khi đèn đóm tắt hết và giả vờ rằng điều này chưa từng xảy ra. Rằng cô sẽ chỉ quyết định bật đèn rồi đứng dậy và thực hiện quyết định đó.

Cô hướng mình đến chân cầu thang thứ hai và dừng lại trong sự bối rối bất ngờ, không nhận ra cái bóng đang di chuyển qua bóng tối phía sau cô. Buồng thang máy không có ở đó. Cô nghển cổ để nhìn lên và thấy rằng nó đang ở tận đầu cầu thang. Sao lại có thể như vậy? Buổi sáng nay khi rời nhà, cô đã hạ nó xuống mặt sàn. Ngay khoảnh khắc đó, cô nhận ra mùi hương phảng phất còn sót đã lảng tránh cô chỉ vài giây trước, tim cô thắt lại. Đúng lúc ấy, một bàn tay vòng ra từ phía sau bịt lấy miệng cô. Cô cố gắng hét lên nhưng không thể hở môi, và sức mạnh ở cánh tay từ phía sau đã nắm chặt lấy cô tại chỗ. Cô đưa hai tay lên túm lấy tay áo khi kẻ tấn công cô lặng lẽ di chuyển chung quanh để nhấc cô lên và kéo cô ra khỏi chiếc ghế.

Amy hoàn toàn bất lực, đôi chân lơ lửng vô dụng. Cô chỉ còn có thể ôm chặt lấy hắn khi hắn băng qua đầu cầu thang rồi đá tung cánh cửa vào phòng ngủ của cô. Chỉ trong ba sải chân, hắn đã đến được chiếc giường và đặt cô nằm xuống giữa đống chăn nệm. Hắn nhấc tay ra khỏi miệng cô. Cô hét lên “Đồ khốn!” rồi vươn tay ra tóm lấy cổ hắn, kéo hết sức mình cho đến khi hắn đổ nghiêng về phía cô, và bằng đôi môi của mình, cô tìm được đôi môi của hắn.

Khi họ rời nhau ra, cô thở hồng hộc trong khi kẻ tấn công cười toe toét với cô. “Em thật xuất sắc”, anh nói.

Cô không thể cưỡng lại một nụ cười, “Em chỉ làm công việc của mình mà thôi, ngài thanh tra hình sự ạ.”

Anh lại hôn cô, lần này thật nhẹ nhàng, rồi rẽ mái tóc của cô ra hai bên để khỏi che đôi mắt. Đôi mắt đen thật đáng yêu. Anh nhìn cô chằm chằm, đầy ngưỡng mộ và khao khát. “Tiến sĩ Bennet sẽ nói gì nếu anh chàng ấy có thể nhìn thấy chúng mình như bây giờ?”

Một thoáng suy nghĩ lướt qua gương mặt cô. “Anh ấy ghét chuyện này. Anh ấy vẫn nghĩ rằng anh là loại cảnh sát sẽ đánh bất cứ người nào chỉ vì kẻ ấy đồng tính?’

“Đôi khi anh cũng chẳng bận tâm đến việc phải chỉ trích anh chàng ấy. Nhưng không phải vì anh ta đồng tính. Mà chỉ vì anh ta thực sự là một thằng nhóc khó ưa.”

Cô đẩy anh ra. “Anh ấy là bạn em, Jack à. Người bạn tốt nhất của em trên khắp thế giới này. Em đã chẳng thể nào sống sót được trong suốt hai năm rưỡi qua nếu không có anh ấy.”

MacNeil hít một hơi thật sâu và và cẩn thận chọn lời. “Anh biết chứ. Nhưng nay em đã có anh.”

“Được bao lâu? Chừng nào mà sự mới lạ này trở nên hao gầy đi chăng?”

“Đừng có ngớ ngẩn như vậy. Em biết anh cảm nhận về em như thế nào mà.”

“Em biết em muốn anh cảm nhận về em như thế nào. Em chỉ không chắc là đã bao giờ anh thực sự nói với em.”

“Vậy thì hãy để anh bày tỏ cho em thấy. Anh không bao giờ khéo nói cả.” Anh cúi xuống để hôn cô lần nữa. Ban đầu cô chống cự. Cô không thích tình trạng hai người đàn ông trong đời cô lại mâu thuẫn với nhau đến mức cô phải giữ bí mật của người này với người kia. Mà có phải là họ cạnh tranh với nhau đâu. MacNeil dùng lưỡi buộc đôi môi của Amy hé ra, và cuối cùng cô chịu khuất phục, niềm đam mê dâng trào trong một cơn thủy triều bất ngờ.

Khi người ta nói với cô rằng có nhiều khả năng cô không bao giờ đi lại được nữa, cô đã nghĩ đến sự kết thúc đời sống tình dục của mình. Tủy sống của cô không hề bị cắt đứt mà chỉ bị thương tổn. Cô cũng luôn kiểm soát được bàng quang và ruột. Nhưng cô chỉ không biết rằng liệu mình còn có cảm giác gì hay không ở bên dưới đó nữa. Cho đến lần đầu tiên ấy với MacNeil. Và nó đã luôn luôn giống như lần đầu tiên ấy. Đầy đau đớn, niềm vui, và nước mắt. Và cho đến tận lúc ấy, cô chưa bao giờ tin tưởng hoàn toàn vào những lý do của anh. Tại sao một người đàn ông to cao khỏe mạnh như MacNeil lại quan tâm đến một cô gái Trung Hoa nhỏ bé không thể đi lại được như cô. Nhưng anh đã rất dịu dàng với cô đến nỗi ngay lập tức, cô biết rằng thật khó để hiểu về anh hơn là những gì cô đã cảm nhận được từ ban đầu. Một người đàn ông phức tạp, cả nể, chu đáo, mang đầy trong lòng những cảm xúc ức chế do thấm nhuần nền giáo dục của Giáo hội Trưởng lão Tin lành. Chẳng phải anh là người có thành kiến với kẻ đồng tính mà anh chỉ ngượng ngùng trước mọi sự phô trương về tính dục. Trong khi đó Tom lại phơi bày tình trạng đồng tính luyến ái của mình như một thứ huy hiệu.

MacNeil cởi áo sơ mi rồi tuột từng chiếc giày của Amy, trước khi cởi áo và bộ váy đen dài của cô. Thế rồi anh đột ngột dừng lại. “Chúng ta không nên làm chuyện này”, anh nói. “Anh có thể lây cúm cho em. Anh bị phơi nhiễm nhiều hơn em.”

“Vậy thì ngay bây giờ chúng ta cũng có thể đừng sống nữa; bởi vì dù sao mình cũng sẽ chết.” Amy ngước lên nhìn thẳng vào mắt anh, “Và nếu chúng ta không sống được một cuộc sống thú vị khi còn có thể, thì chúng ta sẽ chết mà chưa từng được sống.”

II

Chiếc xe tải Mercedes màu trắng chạy rầm rập về phía đông trên đường Aspen. Con đường hai làn xe đã bị bỏ hoang. Chiếc xe tải chạy qua phía dưới con đường sắt Docklands Light, và mặt nước màu xám chì của bến West India tràn ra tương phản với những vũng đậu tàu bằng bê-tông suốt dọc mạn nam của con đường. Có đám mây trên đầu càng lúc càng mỏng manh hơn và làn không khí lạnh lẽo của buổi sớm mai tràn ngập một thoáng nhìn ướt át của làn ánh sáng vàng vọt nhạt nhòa.

Pinkie cảm thấy khó chịu trong bộ đồng phục không vừa với mình, nhưng lại có cảm giác an toàn trong tình trạng ẩn danh mà chiếc mặt nạ phòng độc và cặp kính bảo hộ che kín hầu hết gương mặt đã mang lại cho hắn. Hắn kéo vành lưỡi trai của chiếc mũ bóng chày xuống thấp che cặp mắt, và không ngớt cẩn thận quan sát những người lính đến gần khi hắn rẽ phải và lao nhanh xe vào lối dẫn lên cầu North Bridge bên cạnh chợ cá Billingsgate. Có khoảng hai chục hay hơn một chút những người lính đã đóng quân ở đây tại nơi nay trở thành một doanh trại bán thường trực, một phòng tuyến với những tay súng bắn tỉa ở phía bên kia sông. Đây đó là những chiếc xe bọc thép và hàng rào kẽm gai. Hắn dừng xe và hạ kính cửa sổ xuống. Gió vẫn mang theo mùi tanh cá mặc dù những đoàn tàu cá đã không được phép ra khơi từ nhiều tuần qua. Mùi hôi thối đã thấm vào kết cấu của toàn thể khu vực này.

Người lính dẫn đầu tiến lại một cách thận trọng, chĩa vũ khí vào cửa sổ phía tài xế. Anh ta giơ một bàn tay ra để xem xét giấy tờ của Pinkie, chỉ nhìn lướt qua rồi sau đó trả lại. Anh ta vung khẩu súng trường trong khoảng không. “Tháo mặt nạ ra.”

Tim Pinkie như thắt lại. Hắn không nghĩ họ sẽ yêu cầu điều đó. Hắn giở mũ bóng chày xuống và bỏ mặt nạ ra.

Người lính nhìn hắn với vẻ nghi ngờ. “Charlie đâu?”

“Bệnh rồi”, Pinkie nói. Và hắn thấy người lính hầu như vô tình lùi lại một bước.

“Anh có tiếp xúc với anh ta không?”

Pinkie lắc đầu. “Không biết người ấy. Họ giao cho tôi công việc khác.”

Người lính có vẻ nhẹ nhõm. “Đeo mặt nạ lại.” Sau đó anh ta quay lại la lớn về phía những người lính công binh đứng cạnh rào chắn, “Cho anh ta qua.” Thế là những người lính cuốn những cuộn dây thép gai lại để tạo một lối đi qua cây cầu.

Pinkie kéo mặt nạ vào chỗ và gài số một. Chiếc xe tải gầm gừ rồi chồm lên thẳng tiến về phía cây cầu. Ở phía bên kia sông, những tòa nhà chọc trời bằng kính nổi lên trong màn sương. Biểu tượng của các công ty tiết lộ quyển sở hữu. The McGraw-Hill Companies. The Bank of America. Pinkie đưa cặp mắt lo lắng lướt dọc theo đường chân trời, cố gắng phát hiện những tay súng bắn tỉa mà hắn biết rằng đang chĩa những khẩu súng trường nhắm vào mình. Nhưng hắn không phát hiện được gì. Hắn lái xe chầm chậm lên đoạn đường dốc, lướt qua một bốt gác sơn xanh không có người rồi dừng xe trước cây cầu. Cây cầu đã được nâng lên từ bờ nam theo một góc khoảng bốn mươi lăm độ. Nó được thiết kế để cho các tàu lớn đi qua bên dưới nó, nhưng nó đã tạo ra một rào chắn rất hiệu quả. Ai đó, ở đâu đó, đã điều khiển một chiếc đòn bẩy, và cây cầu bắt đầu hạ xuống chậm chạp cho đến khi một lần nữa nó trở thành một con đường đi về phía nam băng qua dòng nước vào Cầu tầu Canary, và qua khỏi đó là Đảo Chó.

Pinkie cẩn thận điều khiển chiếc Mere trắng từ từ tiến sang bờ bên kia, và qua chiếc gương chiếu hậu hắn thấy cây cầu bắt đầu được nâng lên. Hắn liếc nhìn vào bộ nhớ tạm trên bảng điều khiển. Toàn bộ con đường và các điểm dừng để nhận và trả hàng hóa hay hành khách đều được đánh dấu cụ thể. Hắn sẽ phải tỉ mỉ tuân thủ những chỉ dẫn ấy để tránh làm dấy lên sự nghi ngờ. Hắn đã biết có những trạm kiểm soát khác ở Trafalgar Way và Westferry Road, bên dưới Vòng xoay Bank Street. Lối ra của hắn trên chặng trở về là qua trạm kiểm soát ở Đại lộ West India, hướng đến Vòng xoay Westferry. Nhưng cho đến lúc đó, hắn ở trong vùng đất không người. Một hòn đảo tự cách ly vì kiểm dịch ngay giữa lòng khu vực Đông London.

Pinkie vẫn tự hỏi tại sao vùng đất này được gọi là Cù lao của Những con chó, trong khi thực tế nó đúng là một bán đảo, một đoạn uốn khúc sâu trong dòng sông. Cho đến bây giờ, hắn mới nhận ra rằng đoạn uốn khúc ấy đã bị cắt đứt một cách có hiệu quả từ bờ bắc bởi một mạng lưới của những cầu tàu và những thủy đạo được xây dựng để phục vụ cho những gì từng là bến cảng bận rộn nhất trên thế giới. Hình như đó là nơi Henry VIII dùng để nuôi bầy chó của mình, vì vậy mà thành tên. Ít nhất, đó là những gì mà Charlie đã nói với hắn, ngay trước khi Pinkie nhẹ nhàng đẩy sâu mảnh thép không gỉ lạnh lẽo dài một tấc rưỡi vào giữa những chiếc xương sườn của Charlie. Nó là một thằng bé ngoan. Thật đáng tiếc là nó đã phải chết.

Pinkie quay đầu xe về phía nam, qua Quảng trường Canada hướng đến Jubilee Place, dọc theo những hẻm vực của mặt đường nhựa - giữa các kiến trúc cao chót vót. Không có dấu hiệu của sự sống, không một bóng người nào trên đường phố. Canary Wharf giống như một thị trấn ma. Đối diện nhà ga tàu điện ngầm, bức tượng của một sinh vật không đầu không hoàn chỉnh, nửa người nửa ngựa, nằm bên cạnh sáu thân cây trụi lá, đăm đăm vọng về đông hướng đến hình dạng mờ nhạt nhưng đặc biệt của Mái vòm Thiên niên kỷ nằm trên bờ bên kia của con sông. Một pho tượng bán thân không có cánh tay nằm lệch nghiêng theo một góc bên dưới bụng ngựa, một cái đầu được đặt gọn vào một hốc ở bên sườn. Pinkie tự cho phép mình nhếch một nụ cười. Vậy mà họ bảo đấy là nghệ thuật?

Hắn cho xe quẹo phải tại Phố Bank, trước mặt hắn là nhịp chính của cây cầu kim loại sơn màu xanh giúp cho con đường sắt Docklands Light vượt sông, giữa một bên là Canary Wharf và bên kia là Heron Quays. Ở đây không có bằng chứng nào về sự phá hoại các công trình văn hóa đã làm tàn lụi trung tâm thành phố. Không có gì cần phải đóng ván để được che chắn. Các cửa hàng và nhà hàng đã đóng cửa, nhưng vẫn được phơi bày ra với cuộc sống. Nhà hàng Ốc sên và Rau diếp. Trung tâm mua sắm Jubilee Place. Bất cứ ai không thuộc về nơi này, bất cứ ai có thể là kẻ mang vi-rút, đều có khả năng bị bắn ngay khi được nhìn thấy. Vì vậy, không ai dám mạo hiểm ra ngoài, ngay cả các cư dân, bởi vì các câu hỏi chỉ được đặt ra sau đó - bấy giờ thì sẽ là quá muộn.

Pinkie thoáng thấy một chuyển động trong lúc hoàn toàn không để tâm. Một chiếc xe đẩy dùng vận chuyển dụng cụ chơi golf, sơn trắng, điều khiển bởi một người đàn ông mặc đồng phục xanh, khẩu súng trường nhô cao ở bên cạnh. Nó chỉ như một tia chớp nửa trắng nửa xanh rồi biến mất nhanh chóng hóa thành một bãi bốc dỡ hàng hóa tối tăm. Nhiều người trong số những nhân viên an ninh đầu tiên ở đây đã tham gia ủy ban trật tự và đã trưng dụng những chiếc xe đẩy như vậy.

Điều bí ẩn lớn là ở đâu ra mà họ đã có được những khẩu súng ấy. Nhưng những nhân vật giàu có và quyền lực đã sống ở đây. Và nơi mà tiền bạc và cuộc sống bị đe dọa thì mọi thứ đều có thể xảy ra.

Điểm dừng đầu tiên là một bãi đậu xe dưới lòng đất ở phía nam quảng trường. Pinkie rẽ xuống đoạn đường dốc rồi lái xe vào một khu vực đậu xe vắng vẻ, ảm đạm bao phủ toàn bộ các dấu chân của tòa nhà. Một kết cấu mái che thấp được nâng đỡ bởi những thanh dầm kim loại. Có một vài chiếc xe đang đậu nhưng không có dấu hiệu của sự sống. Tất nhiên, hắn biết chắc chắn là phải có người đang theo dõi. Hắn dừng xe và để động cơ chạy không tải, nhảy xuống mở tung các cửa ở phía sau của chiếc xe tải. Nửa giờ tiếp theo được dành để bốc những chiếc hộp được phân phối cho điểm dừng này lên một cầu nâng điều khiển bằng khí nén, sau đó hạ cầu nâng này xuống đất và dỡ những chiếc hộp ấy xuống sàn bê-tông. Pinkie khỏe mạnh, nhưng đó là một công việc khó khăn, và cuối cùng, toàn thân hắn ướt đẫm mồ hôi. Không có gì trên các hộp để chỉ ra những thức bên trong, nhưng hắn tin chắc đó là thực phẩm đóng hộp. Có tới hai mươi phương tiện mỗi ngày thực hiện việc đi lại, vận chuyển hàng hóa tiếp tế cho gần hai mươi lăm ngàn người sống trên đảo.

Khi hắn chuyển đến chiếc hộp cuối cùng cho điểm phân phối này, một cánh tay trần rơi ra từ một chồng hộp ngay phía sau. Cánh tay Charlie bị khóa ở một vị trí mang lại ấn tượng rằng thằng bé đang nắm giữ một quả bóng cricket mà ai đó vừa ném ra. Có những vệt máu ở phần cẳng tay. Pinkie nhanh chóng đá văng nó ra khỏi tầm mắt và liếc nhìn xung quanh để xem liệu ai đó đang quan sát có thể thấy điều ấy không. Thế nhưng hắn vẫn không thấy ai. Hắn chuyển dịch một số những chiếc hộp để bảo đảm rằng Charlie không còn xuất hiện ngoài ý muốn nữa, sau đó nhảy xuống để đóng những cánh cửa nặng nề lại, cẩn thận giấu giếm cái xác chết ấy khỏi những cặp mắt tò mò.

Trời nóng và bên trong chiếc mặt nạ thật là ngột ngạt. Mồ hôi chảy cả vào hai mắt. Hắn nặng nhọc quay trở lại buồng lái. Như thế này là sẽ tiếp tục một vài giờ lê thê.

III

Amy nằm ngửa nhìn lên sàn nhà. Chân phải của cô giơ lên và dựa vào vai MacNeil. Anh quỳ ngay phía trước và đôi bàn tay to lớn của anh không ngớt xoa bóp dọc theo những cơ thuộc phần bắp chân của cô, những ngón tay bè bè mạnh mẽ bấm sâu vào thịt. Anh xoa bóp chung quanh đầu gối rồi đi lần xuống bắp đùi bằng những nhịp vuốt dài dứt khoát. Amy ước gì mình có thể cảm nhận được sự việc ấy. Thật là điều kỳ lạ nhất, biết rằng mình đang được đụng chạm mà chẳng có chút cảm giác nào! Cô tự hỏi, liệu có khi nào cô quen được với tình trạng này không.

Thỉnh thoảng cô nghĩ rằng mình vẫn có ấn tượng rất mơ hồ về cảm giác tê tê buồn buồn ở hai bàn chân và đã hy vọng cảm giác ấy tràn ngập trở lại. Có thể một ngày nào đó sự sống sẽ trở lại với đôi chân của cô. Có thể một ngày nào đó cô sẽ lại bước đi được như xưa. Các bác sĩ đều nói rằng không. Nhưng vào những ngày lạc quan, cô sẽ tự nhủ rằng các bác sĩ cũng có thể nhầm lẫn. Thế rồi vào những lúc bi quan, cô sợ rằng những cảm giác tê tê buồn buồn ấy chỉ là điều bịa đặt do trí tưởng tượng của cô mang lại. Chỉ là một ước muốn.

Nhưng đối với MacNeil, điều ấy không phải là vấn đề. Tất nhiên là cô sẽ đi lại được như xưa. Vấn đề là cô phải giữ cho các bắp thịt mạnh mẽ và dẻo dai. Sẽ là một chuyện cực kỳ tệ hại nếu để cho các bắp thịt bị teo lại. Chính vì thế, anh đã dành ra hàng giờ để xoa bóp cho đôi chân của cô, thực hiện các bài tập cơ theo từng nhóm, uốn đôi chân của cô ở phần đầu gối và mắt cá. Gập vào duỗi ra, gập vào duỗi ra. Dường như anh có sự kiên nhẫn không bao giờ hết. Hai người không trò chuyện với nhau trong các buổi tập ấy. Anh xoa bóp trong im lặng trong khi cô hưởng thụ sự tĩnh lặng mà trước đó cô chưa bao giờ được biết. Đôi khi cô nhắm mắt lại và chỉ trôi đi, đầu cô trống rỗng. Những lúc khác, cô cứ mặc cho tâm trí của mình trải ra hàng loạt những sự việc đang làm cô bối rối, những khó khăn trong công việc, sự bất hòa với người em ruột của cô. Thường thường, cô sẽ tìm được những câu trả lời, hoặc những giải pháp từng phần, hoặc sự an ủi trong tư tưởng, điều trước đó chưa bao giờ xảy ra với cô.

Hôm nay cô đã phá vỡ quy ước không nói ra của họ về sự im lặng. Cô lên tiếng, “Em đã mang cô bé về nhà.”

“Ai?” MacNeil nhăn mặt và dừng giữa một nhịp vuốt.

“Lyn!”

“Lyn là ai vậy chớ?”

“Đứa bé gái với cái môi chẻ.”

MacNeil nghiêng người về phía trước nhìn thẳng vào mặt cô. “Em đang nói về việc gì vậy, Amy.”

“Rằng đó là cái tên em dùng để gọi cô bé ấy, Lyn. Cô bé ấy phải có được một cái tên, mà em vẫn thích đó là Lyn. Em có một người chị em họ ở Hồng Kông tên là Lyn, và em cũng thường ước muốn cha mẹ em gọi em như vậy.”

“Anh vẫn thích em là Amy.” MacNeil trả lời. Anh đã bắt đầu lại với việc xoa bóp cái chân của cô. “Em có ý gì khi bảo em đã mang cô bé ấy về nhà?”

“Em sẽ làm việc với cái đầu của cô bé. Một sự tái tạo. Điều đó sẽ giúp biết được cô bé ấy trông giống cái gì, có phải vậy không nào? Cô bé ấy rất khác biệt với môi trên bị biến dạng. Rất dễ dàng nhận biết. Em nghĩ vậy.”

“Ý em là em đã mang chiếc hộp sọ ấy về đây?”

Amy gật đầu.

“Nó có bốc mùi không?”

“Cũng chút chút. Nhưng em sẽ làm việc trước những chiếc cửa sổ kiểu Pháp ở tầng trên. Anh biết mà, ở đó có một khoảng bao lơn nhỏ nhìn xuống khu vườn. Miễn là trời khô ráo, em sẽ mở toang các cửa sổ và mọi chuyện sẽ đâu vào đấy.” Cô chống khuỷu tay để nhấc mình lên. “Đỡ em dậy rồi em sẽ chỉ cho anh thấy.”

MacNeil thích khoảng không gian ở chỗ cao nhất của căn nhà này. Ở đấy có chỗ để thở, và cảm giác về độ cao cũng làm cho hoàn cảnh được cải thiện. Đã không thể có nhiều khác biệt hơn đối với cái chỗ vừa là phòng khách vừa là phòng ngủ nhỏ bé ngột ngạt của anh ở Islington. Anh giúp Amy đặt một chiếc bàn ngay trước những cửa sổ kiểu Pháp rồi nhặt nhạnh những nguyên vật liệu mà cô đã cất giữ trong một chiếc tủ trưng bày được kê sát tường. Trước đó, anh chưa bao giờ thấy cô đang đắp nặn trên một chiếc hộp sọ, và đã từng sửng sốt trước một dãy những chiếc đầu người đứng xếp hàng trên kệ nằm ở giữa chiếc tủ trưng bày. Một người đàn ông hói đầu, một người đàn bà trẻ, một cậu con trai, hai người phụ nữ lớn tuổi hơn, một người đàn ông không hoàn chỉnh với một tổn thương nghiêm trọng trên đầu.

Cô tập hợp chung quanh mình nào là sách, nào là biểu đồ, những mẩu chốt để kết nối, những thỏi đất sét bằng nhựa dẻo để nặn… MacNeil thích thú quan sát cô đặt hộp sọ lên một cái bệ, khéo léo điều khiển chiếc xe lăn vào vị trí thích hợp nhất để thực hiện công việc. Với những chiếc cửa sổ đã được mở toang, tình trạng bốc mùi cũng không quá tệ.

“Em sẽ xây dựng một gương mặt trên chính cái hộp sọ này à?”

“Không. Em sẽ thực hiện một khuôn đúc bằng thạch cao cho phần sọ, sau đó lại tạo một khuôn đúc cho xương hàm dưới bằng một loại chất dẻo tổng hợp có thể biến thành hợp chất cao phân tử nhờ các phản ứng xúc tác trong điều kiện không gia nhiệt. Chúng ta không muốn hủy hoại những gì có thể là bằng chứng.”

Anh quan sát với sự say mê trong lúc cô thực hiện những công việc chuẩn bị.

“Làm thế nào em biết được gương mặt này trông giống cái gì chỉ từ chiếc hộp sọ này? Ý anh là tất cả những gương mặt ấy đều giống nhau, có phải vậy không?”

Amy cười ngặt nghẽo, “Giống hệt như người Trung Quốc, chứ gì?”

MacNeil cảm thấy gương mặt của anh ửng lên, “Em hiểu được ý của anh.”

Cô gật đầu, vừa cười vừa nói, “Em sẽ khoan một số những lỗ nhỏ tại ba mươi bốn điểm quy chiếu chung quanh chiếc hộp sọ này, sau đó, em sẽ dán những mẩu chốt nhỏ bé bằng gỗ vào các lỗ khoan ấy, có đường kính chỉ là hai ly rưỡi. Những mẩu chốt này đã được đánh dấu ở độ sâu mô mềm trung bình, phù hợp với một thang đo được xác định bởi một chuyên gia có tên là ngài Helmer, người đã tính toán chúng từ những phép đo siêu âm tiến hành trên người sống. Vì vậy, chúng khá là chính xác. Kế đó, em sẽ tạc khuôn mặt, áp dụng điều mà người ta gọi là phương pháp Hoa Kỳ. Đó là một quy trình mang tính khoa học chứ không phải nghệ thuật. Người ta nối những độ sâu mô trung bình ấy bằng những dải đất sét dẻo để nặn với chiều rộng khoảng năm li, xây dựng thực hiệu quả những lớp bắp thịt dưới da. Răng và xương hàm sẽ quyết định hình dạng của cái miệng, và đặc biệt là cái môi chẻ. Hình dạng của sống mũi được quyết định bởi kích thước của những chiếc xương thuộc vùng mũi. Có những biểu đồ và những số đo để định hình đường cong của mí mắt, và tất nhiên, chủng tộc sẽ đóng góp một phần vào điều ấy.”

“Ở đâu ra mà em học được tất cả những chuyện này vậy?”

Amy nhún vai, “Em vẫn luôn luôn quan tâm đến nó. Nhưng sau tai nạn, đó là một trong số khá ít những việc mà em không cần đến chân cũng vẫn thực hiện được. Lại nữa, em có được rất nhiều sự giúp đỡ từ vị thầy cố vấn của em tại Hiệp hội Nhận diện Nhân dạng Anh quốc.”

MacNeil vẫn biết rằng Amy là một thành viên của Hiệp hội Nhận diện Nhân dạng Anh Quốc. Đó là một hiệp hội học thuật bán chính thức của các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau về kiến thức pháp y chuyên môn, từ các nhà bệnh lý học và cảnh sát đến những luật sư và nha sĩ. Nhưng anh không biết một chút gì về những vị cố vấn. “Em có một vị thầy cố vấn à?”

“Đúng vậy. Chẳng có gì là bất thường đối với những nhà thực hành chuyên môn lớn tuổi, thường là những vị đã về hưu, nhận bảo trợ cho những người thực hành trẻ tuổi hơn. Vị cố vấn bảo trợ cho em là một nhà nhân học về hưu, tên là Sam. Em và vị này giao tiếp với nhau qua thư điện tử và nhắn tin trực tuyến.”

Anh quan sát công việc của cô trong một thời gian, kinh ngạc trước sự khéo léo của những ngón tay dài và thanh tú của cô. Cô có được nước da màu ngà hơi xanh xao đẹp nhất, đôi môi của cô hơi cong lên theo cái cách lúc nào cũng như phảng phất một nụ cười, phản ánh một tính khí đã từng được thử thách nhiều bởi chấn thương và bi kịch. Anh chỉ muốn nâng cô lên và giữ lấy cô, sở hữu cô, thu hút cô vào với mình. Trước đây, anh chưa bao giờ có cảm tưởng giống như vậy đối với bất kỳ người nào khác. Anh ngạc nhiên, đến mức là bị choáng váng, trước những tình cảm mà cô khơi gợi được ở anh. Những tình cảm mà chưa bao giờ anh nghĩ là mình cũng có.

Điệu nhạc Scotland the Brave lại vang lên chói tai trong túi áo của anh. Anh lôi chiếc điện thoại di động ra và liếc nhìn vào màn hình. Màn hình hiện lên, MARTHA, và anh đã định tắt nó đi.

“Có phải cô ấy không?”

Anh ngước lên và thấy Amy đang nhìn anh vẻ nghiêm nghị. Anh gật đầu.

“Vậy thì anh nên trả lời đi.”

Có điều gì đó về ánh nhìn trong đôi mắt của cô khiến anh cảm thấy mình có chút sai trái trong việc đã dành cả một buổi sáng chỉ để tránh trả lời cuộc điện thoại này. Anh nhấn vào chiếc nút màu xanh, “Cô cần gì vậy, Martha?”

“Nhân danh Chúa Cha, anh ở đâu vậy Jack? Tôi đã cố gắng liên lạc với anh hàng giờ đồng hồ rồi.”

Trong giọng nói của cô ấy cho biết có một điều gì nghiêm trọng vừa xảy ra. “Có chuyện gì bất thường à?”

“Là Sean.” Anh nghe giọng của cô vỡ vụn.

“Con làm sao?”

“Nó bệnh rồi, Jack à!”

IV

Pinkie lái xe ngoặt về phía tây-nam chạy dọc theo đường Manchester, vượt qua nhà thờ Giáo hội Christ và St. John với St. Luke. Xuyên qua những khoảng trống trong những ngôi nhà, và bên ngoài hàng cây trong Island Gardens, hắn có thể nhìn thấy cặp mái vòm sinh đôi của trường Cao đẳng Hải quân Hoàng gia cổ thuộc Viện Đại học Greenwich ở phía bên kia dòng sông. Làn không khí lạnh, bốc lên từ mặt nước xám xịt lờ đờ, bị che trong màn sương mỏng. Qua khỏi ga đường sắt Docklands Light, hắn cho xe quẹo trái vào Ferry Street, lập tức lượn sang phải rồi vượt qua Câu lạc bộ Chèo thuyền Poplar, đi dọc theo một con đường có những căn hộ gạch đỏ mới xây nhìn xuống dòng sông Thames.

Quán rượu Ferry House ở góc đường đã đóng cửa, nhưng cổng vào Quảng trường St. Davis vẫn mở. Charlie đã nói với hắn rằng nó thường vào đấy để tạm nghỉ khi đã quá mệt mỏi vì công việc, và nếu có bất kỳ người nào canh gác thì họ cũng chẳng phản đối. Pinkie lái xe thẳng vào trong quảng trường, vượt qua nhà hàng Thái Elephant Royale. Những khối căn hộ sáu tầng mọc lên khắp chung quanh với những bao lơn sơn trắng và những chiếc cửa sổ kiểu Pháp. Có luồng ánh sáng nào đó đã mang lại màu xanh cho hồ nước và đài phun nước ở trung tâm quảng trường. Bờ sông phía quảng trường đã mở ra một tầm nhìn ở phía bên kia những bãi bùn đến tận Greenwich. Ở đó, ba chiếc cột buồm của con tàu lịch sử Cutty Sark vươn lên trên tất cả mọi thứ khác.

Pinkie đã dành ra mười lăm phút để bốc dỡ những chiếc hộp, cẩn thận quan sát bất kỳ dấu hiệu của sự sống ở bất kỳ chiếc cửa sổ nào nhìn xuống quảng trường. Hẳn là phải có hàng tá những cặp mắt nhìn hắn chằm chặp, nhưng hắn chẳng thấy gì cả. Hắn tự hỏi không biết những chiếc hộp này được phân chia như thế nào? Không biết họ nhận được từng chiếc hộp một hay từng cặp? Có một bảng phân công nào không? Làm thế nào họ dàn xếp các tranh cãi? Hắn không thể tưởng tượng được cuộc sống của họ như thế nào; nhưng mặc dù không thấy được họ, hắn cũng có thể cảm nhận được nỗi sợ hãi của họ. Điều đó có mặt trong không khí, trong sự im lặng của họ, và trong sự tuyệt đối vắng mặt bất kỳ một dấu hiệu nào của đời sống con người.

Hắn kết thúc việc xuống hàng và khóa hẳn chiếc xe tải lại rồi tà tà đi dạo hướng về lối đường đi bộ sát bờ sông, lấy gói thuốc lá trong túi ra. Nhưng hắn cũng chưa có ý định hút thuốc lá. Ở phía bên trái, một cánh cửa dẫn tới hành lang của Consort House, có đánh số từ tám tới bốn mươi hai. Hắn ngồi dựa vào bức tường bên cạnh mái vòm một lát, rồi rút ra một điếu thuốc lá. Hắn đưa cặp mắt nhìn vẩn vơ dọc theo hàng mái nhà đối diện. Hoặc là ngay bây giờ, hoặc là không bao giờ. Hắn biết sẽ có người nhìn thấy hắn xâm nhập, nhưng ai sẽ là kẻ ngăn chặn hắn. Trừ khi những người đó có súng. Và những người nào sẽ mở cửa nhà họ, hoặc chịu khó hỏi thăm về người phụ nữ lớn tuổi ấy? Tất cả bọn họ đều quá sợ hãi. Hắn bóp nát điếu thuốc lá chưa hút rồi đứng lên và ném nó ra xa. Hắn kéo cửa ra và bước vào bên trong, chờ một viên đạn bắn vào sau lưng. May mà điều đó không xảy ra. Trong hành lang, hắn hít một hơi thật sâu rồi theo thang máy lên đến tận tầng trên cùng. Bước vào gian sảnh hắn nhanh chóng đưa mắt lướt qua những con số trên những ô cửa. Số 42A nằm bên cạnh bức tường phía xa. Hắn nhanh chóng di chuyển dọc theo cửa sổ ở cuối hành lang và liếc mắt nhìn qua bên kia sông. Một bầy hải âu đuổi nhau sát mặt sông, nhào lên lộn xuống kêu inh ỏi trước khi bay vút về phía chân trời rồi vượt ra khỏi tầm nhìn của hắn. Hắn biết người phụ nữ lớn tuổi sẽ không ra mở cửa, và việc đá bật cánh cửa ra sẽ tạo ra nhiều tiếng ồn. Nhưng hắn đã có sẵn một kỹ năng khác. Hắn lấy từ trong túi ra một xâu nhựa mỏng manh có treo sẵn những lá kim loại mảnh mai rồi xem xét tỉ mỉ chiếc ổ khóa trước khi rút ra một lá.

Gian sảnh ngay phía sau cánh cửa được trải thảm làm giảm tiếng động gây ra bởi những bước chân của hắn. Hắn nhẹ nhàng đóng lại cánh cửa phía sau lưng rồi cẩn thận bước sâu vào gian sảnh hướng về phía ánh sáng mặt trời đang chiếu ra từ căn phòng ở cuối sảnh. Hắn dừng lại trước cánh cửa phòng mở sẵn, nép sát vào bức tường rồi nghiêng đầu về phía trước để nhìn vào trong. Đó là một căn phòng rộng, thoáng có nhiều cửa sổ nhìn ra dòng sông Thames và những cánh cửa ở những khoảng sân trống trong nhà mở ra một bao lơn hẹp. Các bức tường treo đầy tranh ảnh và những tấm hình chụp gia đình có đóng khung. Đồ dùng bằng gỗ trong nhà đóng theo kiểu cổ vuông vức cứng chắc khiến cho căn phòng dường như trở nên chật chội hơn nhưng lại có vẻ ấm cúng thế nào ấy. Pinkie thích cái cảm giác ấy. Hắn đã có thể được sống ở một nơi tương tự. Căn phòng gợi cho hắn nhớ đến ngôi nhà của ông bà hắn. Có điều là các cụ chẳng bao giờ có khả năng trang trải cho một cuộc sống như ở nơi đây.

Hắn nghe được âm thanh léo nhéo phát ra ở phía sau góc cửa, và hắn rón rén bước sâu vào một bước để xác định xem đó là cái gì. Một người phụ nữ luống tuổi tóc bạc búi lại phía sau ót có thả một mớ tóc lòa xòa trước trán xuống đến tận mắt đang ngồi trước một chiếc bàn làm việc, những ngón tay đang múa với sự thành thạo do thực hành nhiều trên bàn phím của một chiếc máy điện toán cá nhân. Cặp kính đeo mắt có gọng kim loại mỏng mảnh được đẩy ngược lên trán, bên cạnh bà ta là một chiếc bàn phủ đầy giấy tờ. Bà ta có cả một quang cảnh tuyệt vời nhìn ra dòng sông. Thế nhưng cặp mắt của bà ta chằm chằm nhìn vào màn hình. Thật là phí phạm. Pinkie thầm nghĩ. Sao mà người ta dành quá nhiều thời giờ cho những chiếc máy điện toán!

Hắn bước thẳng vào gian phòng, lên tiếng “Xin chào.”

Người phụ nữ già nua ngước lên, hoảng hốt, cặp mắt xanh xuyên thấu nhìn hắn chằm chằm trong một sự ngỡ ngàng lo sợ, “Gì vậy?… Anh là ai?”

Pinkie mỉm cười. Bà cụ làm cho hắn nghĩ đến bà nội của mình. “Người cứu rỗi của cụ đây, thưa cụ.” Hắn rút nhanh khẩu súng được che dưới bộ quần áo trùm kín người, nòng súng được nối dài với một ống hãm thanh, rồi bắn một phát súng duy nhất. Phát súng tạo ra một chiếc lỗ nhỏ tròn trịa trên trán bà lão, nhưng vết thương trổ ra thì thật ghê gớm. Bà lão ngã người ra phía trước, mặt úp xuống trước, máu tuôn ra ướt đẫm tấm thảm. Pinkie nhăn mặt khó chịu. Hắn không muốn để lại một sự lộn xộn. Sạch sẽ. Gọn gàng. Đó là những đức tính mà mẹ hắn không ngừng nhắc nhở hắn. Chân thực, tử tế, trung thành. Chu đáo. Nếu một công việc đáng được thực hiện, nó đáng được thực hiện trọn vẹn. Đừng bao giờ bắt đầu một công việc gì mà anh không thể hoàn tất.

Hắn bước ngang qua gian phòng để nhìn vào những tấm ảnh gia đình được treo trên tường. Đó chính là bà cụ. Vị nữ Chúa. Người đứng đầu của cả gia đình. Con cháu vây quanh. Sung sướng và hớn hở. Pinkie cảm thấy một nỗi buồn thoáng qua, rằng chính hắn là kẻ đã phá tan tất cả những điều ấy. Thực sự đó là điều đáng tiếc.

Có âm thanh như tiếng đứa trẻ khóc làm hắn giật mình. Hắn quay lại, giương khẩu súng lên, để thấy một con mèo đen có đeo yếm và vớ trắng đang đánh hơi trước cái đầu của người chủ đã chết của nó. Nó biết có điều gì không hay đã xảy ra, nhưng không biết đó là điều gì. Pinkie cất khẩu súng đi. “Coi nào, con mèo này.” Hắn nói, “Bây giờ thì ai sẽ cho mày ăn đây!”

Đáp ứng giọng nói của Pinkie, con mèo bước lại gần hắn, đuôi vểnh lên, chót đuôi hơi cong lại. Pinki cúi xuống bồng con vật lên, nó nằm yên trong đôi cánh tay của hắn như nằm trong chiếc nôi, đưa bụng ra để được hắn vuốt ve với sự dịu dàng. Nó là một con mèo già đã quá quen với sự đối xử của loài người. Hầu như tiếng gừ gừ của nó đang nghẹn lại.

Pinkie mang con mèo vào gian bếp, đặt nó trên một chiếc bàn, loại dùng để bày thức ăn chờ nấu nướng, trong lúc hắn lục lọi trong chiếc tủ trưng bày để tìm thức ăn cho mèo. Thức ăn ở bên dưới chiếc chậu rửa chén. Hắn mở ra hai lon và dốc sạch vào hai cái đĩa. Chỗ thức ăn này đủ cho con vật già nua khốn khổ này cầm cự được một thời gian. Con mèo cong lưng lên vục đầu vào đĩa thức ăn trong lúc hắn nhẹ nhàng đưa mấy ngón tay vuốt dọc theo xương sống của nó. Hắn lẩm bẩm, “Con mèo tội nghiệp, con mèo già tội nghiệp.”

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Peter May

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.