MacNeil phải chờ đợi mất một lúc trong khi tổng đài chuyển tiếp cuộc gọi của anh. Thế rồi anh nghe được giọng nói của Dawson ở đầu dây bên kia. “Trung sĩ Hình sự Dawson đây.”
“Rufus này, tôi là Jack.”
“Xin chào, Jack. Công việc ở ngoài đó tiến tới đâu rồi?”
“Tôi nghĩ rằng tôi vừa phát hiện được nơi đứa trẻ ấy từng sinh sống. Một ngôi nhà ở đường Routh trong khu Wandsworth Common. Một bất động sản cho thuê. Theo lời người hàng xóm, căn nhà này được một gia đình, có thể là người Pháp tên là Smith, cư ngụ trong sáu tháng qua.”
“Cứ như là chuyện thật trăm phần trăm vậy.”
“Họ có nuôi một đứa trẻ người Trung Quốc bị sứt môi. Tôi tin chắc rằng đó là đứa bé gái mà chúng ta đang truy tìm tung tích. Nhưng ông bố bà mẹ này lại là người châu Âu. Chúng ta cần tìm ra ai là chủ sở hữu của ngôi nhà. Người hàng xóm nghĩ rằng căn nhà này được cho thuê thông qua một đại lý. Hãy tìm ra xem kẻ đại lý đó là ai và lôi kẻ đó ra khỏi giường. Tôi muốn biết ai hiện đang thuê căn nhà ấy, hoặc ai là kẻ cuối cùng đã thuê chỗ này.”
“Tôi hiểu rõ vấn đề.”
“Được lắm.” MacNeil cung cấp cho viên trung sĩ địa chỉ rõ ràng.
“Jack này…” Dawson dừng lại, rõ ràng có một điều gì đó trong tâm trí viên trung sĩ này. “Về chuyện tối nay…”
“Rufus, cho tôi xin lỗi.” MacNeil nói chận trước.
“Không, tôi xin lỗi, Jack ạ. Chúng ta đều như vậy cả. Đủ tệ về những gì đã xảy ra mà không có…” Giọng anh ta bỗng tắt ngấm. “Chết tiệt, tất cả chúng ta đều cảm thấy thực sự tồi tệ về chuyện đó.”
“Đừng. Chỉ là bạn không biết mà thôi. Và tôi đánh giá cao ý nghĩ đó. Thực sự là như vậy. Hãy nói với mọi người, rằng tôi cảm ơn.”
Anh gác máy rồi ngồi yên trong sự che chắn của chiếc xe hơi, nhìn chằm chằm xuống con đường Trinity kéo dài hướng về phía nhà tù. Anh nghe nói rằng dịch cúm đã lướt qua các nhà tù như cơn cháy rừng. Hình thức thi hành án tử hình đặc trưng của thiên nhiên. Không phân biệt đối xử, mọi khả năng kháng cáo đều bị từ chối. Không có gì di chuyển ở ngoài ấy. Nơi ấy hoàn toàn tĩnh lặng. Không có âm thanh. Không tiếng mèo gào, không tiếng chó sủa. Không có giao thông. Hầu như anh có thể tin rằng mình là người cuối cùng còn sống. Có vẻ như thật sự anh đã là người cuối cùng.
Điệu nhạc Scotland the Brave đột ngột phá tan sự im lặng. Anh nhìn lướt qua màn hình chiếc điện thoại di động. Thông báo về một thư thoại. Có một tin nhắn dành cho anh. Do dự một lúc, anh quyết định không nghe tin ấy. Bất kể là điều gì thì cũng có thể phải chờ đợi. Anh còn nhiều công việc cấp bách hơn.
Anh quay trở lại đường Routh rồi đứng đó chằm chằm nhìn lên ngôi nhà. Đó là nơi đứa bé gái đã trải qua sáu tháng cuối đời. Rất có thể đó là nơi đứa bé gái ấy đã chết. Đứa bé ấy đã đi bộ trên những con đường này với một chiếc cặp nhỏ, hằng ngày đi đi về về từ nhà đến trường. Có lẽ cặp mắt của đứa bé phải ngoảnh đi nơi khác để tránh những ánh nhìn trô trố của những kẻ mà cô bé ấy sẽ đi ngang qua trên đường. Cô bé ấy đã phải chịu đựng những sự trêu chọc và thái độ tàn nhẫn nào ở trường? Ngay cả các giáo viên hẳn cũng cảm thấy khó để cặp mắt của họ không bị thu hút bởi dị tật của cô bé ấy. Thật đáng tiếc biết bao khi mọi thứ khác về đứa bé gái ấy - nhân cách, trí thông minh, cá tính, tính khí của cô bé - đều bị làm cho tàn lụi bởi một khiếm khuyết duy nhất về thể chất. Đáng buồn biết bao khi mọi thứ đều được đánh giá dựa trên ngoại hình thay vì dựa vào bản chất.
Anh đi qua cổng vào khu vườn của Le Saux. Anh đã cảnh báo Le Saux rằng tốt hơn hết là nên tắt những ngọn đèn an ninh của ông ta trong đêm nay, nếu ông ấy muốn tránh bị làm phiền liên tục. Cánh cửa màu xanh vào căn hầm tránh bom cũ mở ra trong bóng tối. MacNeil cảm nhận được đường đi của mình, đôi mắt thích nghi với một chút ánh sáng hắt vào từ con đường phía sau. Có những dụng cụ làm vườn, bình tưới và chậu cây. Ở đây có mùi đất ẩm ướt, và cái lạnh xuyên qua chiếc áo khoác ngoài nặng trình trịch của anh. Ở phía xa, một cánh cửa mở ra khu vườn sau nhà. Ở đây còn tối hơn. Không có một chút ánh sáng nào xuyên qua được từ mặt trước của con đường bên ngoài. Một bức tường gạch cao ngăn cách hai khu vườn. MacNeil sờ dọc theo bờ tường để xem có dằm thủy tinh gắn vào xi măng hay không. Nhưng tất cả những gì anh cảm nhận được đều chỉ là một lớp rêu xốp mềm. Anh chuẩn bị lấy đà rồi nhảy lên, đu mình lên, dùng mũi giày cào cào vào mặt tường để tìm chỗ đặt chân, cho đến khi anh đưa được một chân qua bờ tường, ngồi giạng hai chân qua bờ tường một lúc trước khi thả người xuống phía bên kia, và đi vào khu vườn số ba mươi ba. Anh thu mình trong một con hẻm ngắn có lát đá chạy dọc bên hông một nhà kính hiện đại khổng lồ được xây dựng từ phía sau của ngôi nhà. Thế rồi anh lắng nghe xem mình có làm phiền ai trong số những người hàng xóm không. Le Saux đã thực hiện lời khuyên của anh. Những ngọn đèn an ninh đã được tắt, và không có bất kỳ dấu hiệu hoạt động nào trong bất kỳ ngôi nhà lân cận nào.
Những điều anh sắp thực hiện là việc bất hợp pháp. Nhưng để có được một lệnh khám xét vào lúc này, đã là nửa đêm, xét theo mọi tình huống, hầu như là chuyện không thể. Nhiều phần chắc là anh không thể điệu một vị thẩm phán ra khỏi giường ngủ. Nếu anh phát hiện được điều gì đó trong ngôi nhà này, bấy giờ một người nào khác luôn có thể trở lại với giấy tờ thích hợp và lục soát nơi này một cách hợp pháp. Nhưng MacNeil đã không chuẩn bị để chờ đợi. Anh bị thúc đẩy một cách kỳ lạ. Không chỉ bởi thực tế là chỉ trong vòng năm giờ đồng hồ nữa anh sẽ không còn là một sĩ quan cảnh sát. Mà còn bởi một cảm giác cấp bách đầy sức thuyết phục. Một cảm giác cho thấy rằng không biết vì một lý do nào đó thời gian là điều cốt yếu. Vụ giết hai thằng nhóc tại khu chung cư ở Lambeth. Vụ hành quyết Kazinski ở Soho. Xác của Jonathan Flight được sắp xếp cẩn thận ở Nam Kensington. Bất cứ nơi nào anh đã đi qua đều có người chết. Những người mà kẻ nào đó đã rất lo lắng tìm cách giữ cho họ phải im lặng. Ý thức về tính cách cấp bách của kẻ giết người tự nó đã truyền sang cho MacNeil, và anh quyết tâm tiếp tục ngay bây giờ, bất kể những điều tốt đẹp hay hậu quả.
Ở đâu đó ngoài bức màn mây che bầu trời đêm, một vầng trăng gần tròn đang cố gắng hiển lộ. Nhưng chỉ có những dấu vết mờ nhạt nhất của ánh trăng thấm qua tầng tầng lớp lớp những đám mây đen thuộc vũ tầng đã chứa đầy lượng mưa. Một cơn gió lạnh buốt xào xạc thổi qua lay động những chiếc lá của một vài bụi cây vạn niên thanh còn sót lại trông cũng đã xơ xác tả tơi bên cạnh những vạt cỏ thối rữa lâu ngày bốc mùi làm ngột ngạt cả khu vườn.
MacNeil áp sát mặt vào tấm vách thủy tinh của gian nhà kính và cố gắng nhìn vào bên trong. Nhưng bóng tối dày đặc không cho phép anh thấy được điều gì. Anh lần mò đi men theo rìa gian nhà kính, cẳng chân vấp phải một chậu cây nặng nề làm bằng đá hoa cương khiến anh phải nén đau rủa thầm trong bóng tối.
Đúng lúc ấy thì anh nghe thấy có tiếng động trên cỏ. Lớn hơn bất kỳ cơn gió nào có thể tạo ra, đáng kể hơn bất kỳ súc vật nuôi hoặc động vật hoang thành thị nào. Anh đứng bất động, lắng tai nghe động tĩnh. Có ai đó trong vườn. Anh có thể cảm nhận được sự hiện diện đó, gần như chắc chắn anh có thể nghe thấy tiếng thở của người đó, hiện đứng yên, có lẽ đang chờ MacNeil thực hiện động thái nào tiếp theo. Dù anh không thể nhìn thấy nhân vật trong bãi cỏ, nhưng có lẽ dù là ai thì người đó cũng có thể nhìn thấy anh. Anh quyết định nắm thế chủ động. “Ai đó?” Anh lên tiếng và nghĩ rằng phản ứng đó có vẻ ngu ngốc thế nào ấy. Như thể có ai đó sẽ trả lời mình.
Nhưng câu hỏi của anh đã thúc đẩy một chuyển động đột ngột ở phía bên trái trong bóng tối của những bụi cây thấp. Anh nghe được tiếng sột soạt của lớp cỏ chết đập vào đôi chân đang chạy khi một bóng người lao nhanh về dãy hàng rào sau vườn. Gần như anh không thể nhìn thấy kẻ đột nhập ấy. Một bóng dáng nhanh nhẹn, thanh thoát, một người nhỏ nhắn hơn nhiều so với anh. MacNeil đuổi theo kẻ đó, lao mình vào đám đất bỏ hoang của khu vườn phía sau, từ bỏ mọi cố gắng lén lút giấu mình.
Chưa đến dãy hàng rào gỗ cao chạy dọc sau vườn, anh đã chộp được một nắm của một thứ gì đó mang lại cảm giác giống như đôi giầy vải tuýt có gai, và cả anh lẫn kẻ đột nhập ấy đều ngã nhào giữa đống chậu cây bằng nhựa bỏ đi bên cạnh một nhà kho đổ nát. Những món đồ làm bằng nhựa dẻo rên rỉ, nứt vỡ và toác ra dưới sức nặng của cả hai người. Chẳng biết kẻ nào đó vừa bị anh tóm được đang uốn éo, quằn quại dưới sức nặng của anh, những tiếng kêu hoảng sợ nho nhỏ phát ra trong bóng tối. Thế rồi một luồng sáng đột nhiên bùng ra rọi thẳng vào mặt anh khiến anh chói mắt. Một ngọn đèn pin. Anh nắm lấy bàn tay đang giữ nó, khiến chùm sáng phát ra từ ngọn đèn ấy chệch qua một bên soi thẳng vào màn đêm. Một bàn tay khác cào cào vào mặt anh cho đến khi anh cũng nắm được rồi quay chiếc đèn pin vào mặt kẻ tấn công mình.
Anh hết sức kinh ngạc khi nhìn thấy gương mặt tái nhợt vì hoảng hốt của một người phụ nữ đã ở độ trung niên, có mái tóc ngắn màu xám bạc. Mặc dù có sự sợ hãi trong đôi mắt đen của người phụ nữ này, trong đó cũng có cả sự quyết tâm nữa. Người phụ nữ vùng vẫy hết cách này đến cách khác, cố gắng sao cho hai cổ tay thoát khỏi cái nắm cứng như sắt của MacNeil trong tuyệt vọng. Chiếc đèn pin đã rơi xuống bãi cỏ, chùm ánh sáng của nó hướng về phía hai người, chiếu sáng cuộc vật lộn của họ và đổ bóng hình ảnh ấy lên hàng rào.
“Tôi hét lên bây giờ!” Người phụ nữ ấy nói bằng một giọng đã trở thành lí nhí vì sợ hãi đến nỗi tiếng nói của người ấy khó có thể xuyên qua bóng tối.
MacNeil thở hổn hển đáp lại, “Nếu vậy, chẳng lẽ tôi không biết hét lên hay sao.” Có điều gì đó trong giọng nói của anh khiến người phụ nữ không vùng vẫy nữa. Người này, vẫn còn bị MacNeil đè trên mặt đất, đang cố gắng lấy lại hơi thở, là một sinh vật kỳ lạ, mảnh khảnh mà dẻo dai, mặc một chiếc áo khoác vải tuýt và váy với áo cánh trắng lại còn đeo vòng cổ ngọc trai. “Anh là cái quái gì vậy?” Người phụ nữ thở hổn hển.
“Thanh tra hình sự Jack MacNeil. Còn chị là cái quái gì vậy?”
Anh thấy đối phương của mình đã bớt hoảng sợ. “Tên tôi là Sara Castelli”, người ấy nói bằng một giọng nói rõ ràng là của dân vùng Bắc Mỹ. “Tôi là một điều tra viên của HPA.”
“Nhưng HPA là gì?”
“Cơ quan Bảo vệ Sức khỏe. Tôi có thể xuất trình ID nếu ông muốn?”
MacNeil đã buông cổ tay người phụ nữ này, nhưng còn giữ chặt eo để người này vẫn bị ghim chặt xuống đất. Anh với lấy chiếc đèn pin và rọi vào mặt người này.
“Đừng chiếu sáng vào mặt tôi như vậy”, người này nói một cách gay gắt khiến anh vội vàng chuyển luồng sáng của chiếc đèn pin theo hướng tay người này đang lần vào một chiếc túi bên trong, từ đó rút ra một tấm thẻ chứng minh của HPA đã được bọc một lớp nhựa dẻo có gắn vào một sợi dây chuyền. Tấm thẻ chứng minh có dán ảnh. Và tên đầy đủ của người ấy. Sara Elizabeth Castelli. Trên đó cũng ghi ngày tháng năm sinh của người ấy, và MacNeil đã lập tức tính ra. Người này đã gần sáu mươi tuổi. Anh đột nhiên cảm thấy có lỗi vì đã xử sự thô bạo với người này như vậy. Anh lăn sang một bên và nhanh chóng đứng dậy, chìa tay ra để đỡ người ấy. Nhưng người ấy phớt lờ cử chỉ giúp đỡ đó, tự mình đứng lên, phủi phủi những mảnh nhựa vỡ, bùn đất và những vết lá mục trên áo khoác và váy của mình. “Bẩn hết cả,” người ấy lẩm bẩm. “Rõ ràng là ông không biết cách đối xử với một người phụ nữ, ông MacNeil ạ.”
“Đúng vậy” MacNeil nói. “Cô đang làm gì ở đây, cô Castelli?”
“Bà”, người này sửa lưng MacNeil. “Castelli là tên đã kết hôn của tôi. Nhưng ông có thể gọi tôi là tiến sĩ.”
“Vâng, thưa tiến sĩ. Nhưng bà chưa trả lời câu hỏi của tôi.”
Vì tiến sĩ cố gắng tránh ánh mắt của MacNeil khi bà tiếp tục cúi xuống. “Xem nào, tôi có thể xem xét để trả lời ông nếu ông cũng xuất trình cho tôi chứng minh thư của chính ông. Ông cũng có thể là một kẻ nào đó giả danh cảnh sát.”
MacNeil đưa cho bà ta xem thẻ chứng minh của mình, “Được chứ?”
“Tôi đang cố gắng truy tìm nguồn gốc của cơn đại dịch này, thưa ông MacNeil. Đó là điều tôi làm. Tôi truy tìm nguồn lây nhiễm và đưa ra các khuyến nghị về cách ngăn chặn chúng.”
“Bà là người Mỹ à?”
“Người Canada. Mặc dù tôi đã dành gần hết hai mươi năm gần đây của tôi ở Hoa Kỳ. Kể cả việc nhập quốc tịch khi tôi kết hôn với ông Castelli. Tôi cũng không bận tâm nếu sau đó tôi biết rằng chồng tôi tiếp tục trung thành với lá cờ Sicilia hơn là lá cờ Sao và Sọc. Ông có từng nghe nói về bộ phim Married to the Mob không, thưa ông MacNeil? Vâng, đó là tôi. Hóa ra gia đình Castelli điều hành hầu hết New York. Điều đó đã trở nên tốt đẹp với Bộ Tư pháp khi tôi làm việc ở đó với tư cách là cố vấn sức khỏe.” Bà trừng mắt nhìn MacNeil với thái độ thách thức, “Ông muốn biết điều gì nữa không nào?”
“Tôi muốn biết tại sao bà lại cho rằng đại dịch bắt đầu từ khu vườn sau của một ngôi nhà ở Wandsworth, thưa Tiến sĩ Castelli.”
“Xem nào, tất nhiên là tôi không nghĩ vậy. Nhưng tôi nghĩ ai đó sống trong ngôi nhà này có thể là người mang mầm bệnh hoặc là một trong những người đầu tiên bị nhiễm bệnh.”
“Ngôi nhà này trống không.”
“Vâng, tôi biết.”
“Thế bà định tiến vào bằng cách nào?”
“Đó là vấn đề học thuật, thưa ông MacNeil. Nhưng nay ông đã có mặt ở đây, ông có thể xâm nhập giúp tôi.” Bà ngừng lại và nhướng này, “Dù sao thì đó cũng là việc mà ông sẽ làm, có phải thế không?”
“Điều gì khiến bà nghĩ như vậy?”
“Xem nào. Nếu không thì tại sao ông lại lén lút trong khu vườn sau căn nhà này vào lúc nửa đêm.” Bây giờ lại đến lúc MacNeil phải tránh ánh mắt dò hỏi của bà tiến sĩ, và Castelli giành sự thuận lợi về phía mình, “Và ông chưa nói cho tôi biết ông đang làm gì ở đây, thưa ông MacNeil.”
MacNeil nhìn kỹ người phụ nữ nhỏ bé xinh xắn đầy thách thức này, người có mái tóc xám thô mặc quần áo may bằng vải tuýt, rồi quyết định thú nhận. “Tôi đang điều tra vụ giết hại một đứa trẻ mười tuổi,” anh nói. “Một bé gái. Tôi nghĩ đứa bé ấy đã sống ở đây.”
Mặt Tiến sĩ Castelli tối sầm lại. “Có phải Choy không?”
“Tôi không biết tên đứa bé ấy.”
“Xem nào, theo như tôi biết thì chỉ có một cô bé sống ở đây. Và tên cô ấy là Choy Smith.”
II
Chiếc găng tay đã bảo vệ cho bàn tay của anh khi tấm kính vỡ vào trong, rơi xuống thành những mảnh thủy tinh lởm chởm trên tấm thảm ngay bên dưới cửa sổ. Anh đưa tay vào, tháo chốt khung trượt của cửa kính rồi đẩy cho nó trượt lên.
“Ông hành sự rất thành thạo đấy, ông MacNeil ạ”, Tiến sĩ Castelli thì thầm. “Có phải đó là những điều ông đã được huấn luyện trong cảnh sát không?”
MacNeil đưa mắt nhìn Castelli rồi giơ tay lên đỡ bà ta vượt qua ngưỡng cửa và vào bên trong căn phòng. Họ đã phải trèo lên một giàn dây leo chằng chịt trên mái nhà dốc ở phía trên nhà bếp, và tuột ngang qua mái dốc đó để đến được cửa sổ tầng một này.
Bây giờ họ đang đứng ở một nơi rõ ràng là một kiểu phòng đọc sách nào đó. MacNeil dùng chiếc đèn pin của bà tiến sĩ để rọi quanh phòng, nhận ra một chiếc bàn làm việc vương vãi đầy những giấy tờ, một chiếc máy điện toán, một chiếc máy làm tính và hai chiếc máy điện thoại.
MacNeil xem xét qua một số giấy tờ. Các phiếu tính tiền cho các hoạt động thiết thực. Một bức thư, có vẻ viết bằng tiếng Pháp, từ một công ty có tên là Omega 8, có địa chỉ ở Sussex - một số bức thư khác cũng có cùng tiêu đề. Một bài báo khoa học nào đó, cũng bằng tiếng Pháp.
Có một tủ sách chứa đầy các ấn bản toàn tập bọc da của các nhà văn Anh cổ điển, có lẽ là di sản của chủ nhân ban đầu của ngôi nhà. Một bản sao phóng lớn được đóng khung của một tấm bản đồ thành phố London thời trung cổ. Có nhiều giấy tờ vương vãi trên khắp sàn nhà như thể bị vứt bỏ trong cơn giận dữ.
Hai bậc thềm dẫn xuống từ một nửa chiếu nghỉ nhỏ ngoài cửa đến một phòng tắm ở bậc thang cao nhất của khoang cầu thang đầu tiên. Nhiều bậc thang hơn đưa tới một chiếu nghỉ lớn hơn với hai cửa dẫn đến các phòng ngủ ở tầng một. MacNeil nghiêng người trên chiếc tủ đựng đồ ăn bằng gỗ và nhìn vào lóng cầu thang ở sảnh dưới, ánh sáng từ đèn đường bên ngoài vỡ ra thành hàng ngàn mảnh vỡ nhiều màu sắc bởi kính màu chung quanh cửa và rải khắp sàn gỗ. Và rồi anh nhìn lên tầng áp mái ở độ cao khoảng sáu mét, nhiều cửa hơn dẫn đến nhiều phòng tắm hơn và nhiều phòng ngủ hơn. Quả là một ngôi nhà quá lớn cho một gia đình chỉ có ba người.
Phòng ngủ của Choy nằm bên trên tầng một ở phía sau ngôi nhà, chiếm vị trí của một tầng lửng so với phòng đọc sách. Có một chiếc giường đơn hẹp được đẩy vào một góc và một chiếc bàn nhỏ đặt dưới cửa sổ, một chiếc cặp học sinh dựa vào một chân bàn. Trên mặt bàn có một quyển sách bài tập về nhà mở sẵn, trên trang giấy mở sẵn ấy là những chữ Hán lớn với nét viết trẻ con nguệch ngoạc bằng bút màu. MacNeil rọi ánh đèn pin vào đó rồi nghĩ về tất cả những mẩu xương mà anh đã thấy được bày trên bàn ở đường Lambeth. Những mẩu xương nhỏ bé tạo nên những ngón tay tí hon cầm những cây bút chì màu để viết thành những chữ viết nguệch ngoạc này. Chuyện ấy đã xảy ra từ bao lâu rồi? Có lẽ chỉ là vài ngày. Anh nhìn quanh căn phòng trống trải buồn bã này. Không có tranh ảnh nào trên tường. Không có hình chụp, không có bản vẽ. Không có đồ chơi nằm trên sàn. Anh lại nghĩ đến sự bừa bãi trong căn phòng của Sean, con trai anh, tràn ngập sự chan chứa những thú vui của tuổi thơ.
Tiễn sĩ Castelli kéo trượt cánh cửa để mở ra một chiếc tủ quần áo xây sẵn trong tường phòng. Quần áo của Choy được treo thành từng hàng ngay ngắn trên những chiếc móc áo mảnh mai. Hầu hết những bộ quần áo này đều có vẻ mới. Áo cánh và váy, một dãy những đôi giày bé nhỏ được xếp bên dưới quần áo. Trong một ngăn riêng, họ tìm thấy một chồng những chiếc áo khoác không tay màu xám đậm, một chiếc cà vạt đồng phục, quần lót và vớ. Không có áo thun ngắn tay hay quần jean, không có quần áo màu tươi để phản ánh tính cách sôi nổi của một đứa trẻ. Trong tất cả những thứ họ tìm thấy, không có gì thể hiện niềm vui. Đứa bé này đã sống ở đây với kiểu tồn tại kỳ lạ, khổ hạnh nào?
“Trời đất! Tôi đã thấy ngay cả ở một khu chăm sóc trẻ em đầy những ca ung thư giai đoạn cuối cũng còn vui hơn chỗ này”, Tiến sĩ Castelli nói. Bà nhấc lên một trong những chiếc áo khoác không tay màu xám đậm từ ngăn kéo và ôm nó vào mặt. “Đứa trẻ tội nghiệp.”
MacNeil nhìn bà ta. “Không có nguy cơ nhiễm trùng sao?
“Chứng cúm đang lây lan này ấy à?” Bà nhún vai. “Tôi ngờ rằng liệu tôi có bị nhiễm bất kỳ loại vi khuẩn nào hay không. Tôi đã được phơi ra trước rất nhiều loại bệnh truyền nhiễm, ông MacNeil ạ. Có rất nhiều kháng thể trôi nổi chung quanh hệ thống miễn nhiễm của tôi. Có lẽ ông có thể tạo được sự miễn dịch cho toàn thể thành phố London này bằng vài lít máu của tôi đấy.” Bà lắc đầu. “Tôi đã dành hầu hết thời gian năm ngoái của tôi ở Việt Nam để theo dõi những trường hợp bị bệnh cúm gia cầm, cố gắng xác định xem có bất kỳ trường hợp nào lây truyền từ người sang người hay không. Tôi đã không phát hiện bất kỳ trường hợp nào, nhưng tôi đã tiếp xúc với hầu hết các bệnh nhân. Chúng tôi đã quyết định tiến hành những xét nghiệm máu trên một số thân nhân. Và trong một số ít trường hợp, chúng tôi phát hiện rằng họ đã có sẵn kháng thể trong máu. Điều đó giống như là họ đã từng bị cúm, nhưng không có triệu chứng. Nó cho chúng tôi hy vọng rằng có thể bệnh cúm ấy không phải là kẻ giết người như tất cả chúng tôi đều sợ. Tất nhiên, chúng tôi đã nhầm lẫn. Nhưng khi chúng tôi xét nghiệm máu của tôi, tôi cũng có sẵn kháng thể. Thật là kỳ lạ chứ, hả?”
“Tiến sĩ cho rằng mình đã không phát hiện bất kỳ trường hợp nào lây truyền từ người qua người, phải vậy không?”
“Tôi đã không phát hiện được. Đúng vậy. Nhưng những người khác thì có. Ca đầu tiên được chấp nhận rộng rãi là một trường hợp ở Thái Lan. Một cụm gia đình ở Kamphaeng Phet, cách Bangkok khoảng năm giờ lái xe về phía bắc. Những chuyên gia ở đó đã thực hiện một số mô hình thô sơ về những gì sẽ xảy ra nếu việc truyền nhiễm thực sự có hiệu lực. Họ đã đi đến kết luận là trong vòng hai mươi mốt ngày, có thể sẽ có sáu trăm trường hợp. Mười ngày sau, con số đó sẽ là sáu ngàn. Đó là lý do tại sao chúng tôi rất lo lắng, thưa ông MacNeil. Với khả năng truyền bệnh có hiệu lực, và tỷ lệ tử vong từ bảy mươi đến tám mươi phần trăm, số người chết trên toàn thế giới sẽ không thể tưởng tượng được. Ông đã được nghe nói về bệnh Cúm Tây Ban Nha chứ?” MacNeil gật đầu.
“Trận đại dịch tồi tệ nhất trong lịch sử loài người. Đã giết hơn năm mươi triệu người vào năm 1918. Trận cúm ấy có tỷ lệ tử vong dưới hai phần trăm.”
MacNeil nói: “Tôi nghĩ rằng bệnh Dịch hạch còn tồi tệ hơn cả bệnh Cúm Tây Ban Nha.”
“Đúng là Dịch hạch đã giết nhiều người hơn. Nhưng phải mất vài trăm năm mới lên đến con số ấy. Trận dịch Cúm Tây Ban Nha đã hoàn tất công việc của nó trong vòng vài tháng.”
Họ rời phòng của Choy để đi vào phòng ngủ phía trước.
Tiến sĩ Castelli nói, “Vấn đề là chúng tôi đã rất chắc chắn rằng nếu bệnh cúm gia cầm sẽ là nguồn gốc của một đại dịch tiếp theo, thì nó sẽ bắt đầu ở Đông Nam Á rồi mới dần dần lan sang phần còn lại của thế giới. Đó là lý do khiến chúng tôi đã tập trung tất cả nỗ lực của mình vào đó. Tất nhiên, cuối cùng nó cũng đến được London. Nhưng không một ai có một thoáng suy nghĩ rằng đây là nơi trận đại dịch bắt đầu.”
Phòng ngủ phía trước là một phòng lớn, có cửa sổ lồi nhìn ra đường phố. Nhưng rèm đã được kéo xuống để ngăn ánh sáng cùng với những cặp mắt tò mò. Có một chiếc giường đôi lớn vẫn chưa được dọn lại kể từ lần cuối cùng có người ngủ trên đó. Chiếc gối bên trái vẫn không bị xáo trộn, như thể chỉ có một người ở. Trong các ngăn tủ và tủ đựng quần áo chỉ có quần áo dành cho đàn ông. Không có nước hoa, bàn chải tóc hay đồ trang điểm trong phòng tắm riêng. Nếu vợ của ông Smith đã dành bất kỳ thời gian nào ở đây, thì rõ ràng là bà ấy đã bỏ đi trước trong một thời gian nào đó.
Tiến sĩ Castelli quan sát MacNeil lục soát căn phòng một cách có phương pháp. Bà nói, “Những con số mà chính phủ đưa ra, chà chà, còn tệ hơn nhiều.”
“Tệ hơn đến mức nào?”
“Xem nào, dân số của cả London và vùng phụ cận là bao nhiêu, khoảng bảy triệu người có phải không? Chỉ cần làm toán. Một phần tư dân số sẽ mắc bệnh này. Như vậy là khoảng 1,75 triệu. Khoảng ba phần tư trong số những người bị bệnh sẽ chết. Như vậy chỉ là hơn 1,3 triệu. Đã chết. Không có đường về. Mất đi mãi mãi.”
MacNeil quay lại và nhìn thấy bà tiến sĩ trong luồng sáng màu vàng ma quái của ánh đèn pin. Rõ ràng là vị tiến sĩ này đã phát triển mạnh về số liệu thống kê. “Những con số không phải là con người, Tiến sĩ Castelli ạ. Và con người không phải là những con số.” Nhưng anh biết rõ rằng Sean cũng đã trở thành chỉ là một con số. Một con số, một nạn nhân khác không có gương mặt, một thứ cỏ khô cho lò luyện.
Có điều gì đó trong giọng điệu của anh khiến vị tiến sĩ nhìn anh đầy thắc mắc. Sau một lúc, bà cất tiếng hỏi, “Có phải ai đó rất gần gũi không?”
“Con trai tôi.”
“Tôi xin lỗi.”
“Không có chi”, Anh quay về phía cửa. “Chúng ta xuống cầu thang thôi nào.”
Phần lớn những ô tường màu đen và màu kem trong nhà bếp đều trống rỗng. Mấy cái lon và một vài gói thực phẩm khô - mì, mì Ý, đường - là tất cả những gì mà MacNeil có thể tìm được. Chiếc tủ lạnh có chứa cả một bộ sưu tập các lọ nước sốt, dầu ô-liu và sốt mayonnaise đã dùng rồi. Có một chai vỏ nhựa uống dở còn chứa khoảng một phần ba lượng sữa. MacNeil ngửi thử và bị dội ngược vì mùi chua của nó. Anh dò tìm ngày sản xuất. Đã quá hạn sử dụng gần hai tuần lễ. Từ nhà bếp nhìn ra khu vườn phía sau có một gian nhà kính; trong đó có trang bị sẵn một chiếc bàn điểm tâm nho nhỏ cùng với hai chiếc ghế dựa. Có lẽ ông bà Smith không có thói quen ăn sáng cùng với con gái. Có những khung cửa kính dẫn thẳng đến phần trung tâm của gian nhà kính, một không gian được thống ngự bởi một chiếc bàn ăn lớn bằng kính chung quanh đặt sẵn những chiếc ghế dựa khung sắt rèn có bọc nệm. Những ô cửa sổ kiểu Pháp mở vào phòng khách.
Tiến sĩ Castelli hỏi, “Ông đang tìm kiếm điều gì, thưa ông MacNeil?”
Viên thanh tra hình sự nhún vai. “Tôi không biết. Thế còn bà? Bà nghĩ mình sẽ phát hiện được thứ gì ở đây?”
“Ồ, tôi cũng chỉ tưởng tượng như ông thôi, hẳn là tôi sẽ biết ngay khi tôi nhìn thấy nó. Nói chung là bất cứ điều gì có thể mang lại cho tôi một cái nhìn sâu sắc về nơi đứa bé ấy bị nhiễm cúm.”
MacNeil bước vào gian nhà kính và vị tiến sĩ đi theo sát. Anh rọi ánh sáng đèn pin lướt qua mặt bàn. Trên đó ngổn ngang những giấy tờ, tài liệu và thư từ. Tất cả đều bằng tiếng Pháp. Một mảnh giấy lượn lờ rơi xuống sàn khi anh nhặt ra một lá thư rồi định cố đọc thử, nhưng thời gian trôi qua đã lâu từ lúc anh không đạt nỗi trình độ O[1] về tiếng Pháp. Bức thư mang tiêu đề Omega 8, giống như những bức thư được thấy trong phòng đọc sách.
Tiến sĩ Castelli khom người xuống để nhặt lấy một mảnh giấy rơi ra từ lá thư mà MacNeil đã chọn. Khi đứng lên, bà nói, “Tốt hơn là ông nên xem cái này.” MacNeil quay lại rồi chĩa ngọn đèn pin lên mảnh giấy. Đó là một dải ảnh chụp để làm hộ chiếu. Tất cả có ba tấm ảnh. Tấm ảnh thứ tư đã được cắt ra, có lẽ để sử dụng trong việc xin cấp hộ chiếu. Ở hai trong số những tấm ảnh đó, một cô bé người Trung Quốc với môi trên bị biến dạng khủng khiếp đang cố gắng mỉm cười trước ống kính. Tóc của đứa bé gái ấy trông có vẻ như được cắt bằng một loại kéo với lưỡi kéo có răng cưa, và cô bé đeo một cặp kính gọng đồi mồi xấu xí. Trong tấm ảnh đầu tiên, ống kính máy ảnh đặt ở góc phải, cô bé đang nhìn đi chỗ khác, một biểu hiện bối rối trên gương mặt, có lẽ đang nói điều gì đó với ai đúng lúc máy ảnh thu hình. Vậy thì đấy chính là Choy. Cái túi xương mà anh đã được gọi ra để điều tra chỉ mới mười chín tiếng đồng hồ trước tại một công trường xây dựng gần Westminster. Đấy cũng là cái đầu mà Amy đã làm cho sinh động trở lại trên tầng áp mái trong cái nhà kho của cô. Và Amy đã đạt được một tấm chân dung rất gần với sự thật.
“Đây có phải là cô bé ấy không?” Tiến sĩ Castelli hỏi.
“Có lẽ.”
“Tại sao ông không thể nói chắc chắn?”
“Không có gì được để lại cho cô bé ấy ngoài bộ xương, thưa Tiến sĩ Castelli. Cô bé ấy đã bị lột sạch. Ngoài một sự áng chừng về khuôn mặt được làm ra từ hộp sọ của cô bé, chúng tôi không thực sự biết cô ấy trông như thế nào.” Anh xem kỹ lại các bức ảnh. Cái môi chẻ này không thể nhầm lẫn được. “Nhưng sự áng chừng ấy là một dự đoán khá chính xác.”
Anh nhét những tấm ảnh hộ chiếu vào một chiếc túi đựng chứng cớ bằng nhựa và cất chúng đi một cách an toàn vào một chiếc túi bên trong, rồi họ quay lại gian sảnh.
Thư gửi đến trong vài ngày qua nằm rải rác trên sàn bên dưới hộp thư. Một mớ thư chưa đọc qua được chất đống bừa bộn trên kệ treo. Tiến sĩ Castelli đọc lướt qua một số địa chỉ gửi đến. Bà nói với giọng cằn nhằn. “Một nửa trong số những lá thư này là do tôi gửi đến. Y thậm chí không buồn mở thư. Hèn chi, tôi không nhận được bất kỳ phản hồi nào.”
MacNeil hỏi. “Tại sao bà lại viết? Ngay từ đầu, điều gì đã dẫn bà đến đây?”
Tiến sĩ Castelli buông ra một lời trần tình, nghe như một tiếng thở dài mệt mỏi đầy cam chịu. “Tôi gần như chắc chắn rằng đại dịch bắt đầu tại một trung tâm hoạt động ngoài trời dành cho các trường học London ở Kent. Hãy trở lại vào tháng Mười, trong thời gian nghỉ giữa học kỳ. Trung tâm Bơi Nước Rút ngoài trời. Có hàng ngàn trẻ em từ London đến đó trong vòng một tuần, được giám sát bởi chính các giáo viên của chúng. Đó là một trung tâm dân cư. Ông quá biết về loại sự kiện như vậy. Họ tổ chức chèo thuyền, bơi xuồng và leo núi. Có các hoạt động kiểu sự kiện xây dựng nhóm, và cũng có một số học sinh tham gia chương trình giải thưởng của Công tước Edinburgh. Họ có những thời gian sinh hoạt trong những túp lều, họ đốt lửa trại. Điểm chung của tất cả những đứa trẻ này là trong toàn thời gian ấy lúc nào chúng cũng đối mặt với nhau. Chúng ở bên cạnh nhau cả ngày và hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào nhau. Trong ký túc xá, ở nhà ăn và các chuyến đi suốt ngày trên xe buýt. Một nền tảng hoàn hảo cho sự sinh sản bệnh tật.”
Bà lơ đễnh bóc ra một trong những bức thư của chính mình đã gửi đi rồi lắc đầu khi bà đưa mắt nhìn qua nội dung của lá thư.
“Tất cả các gia đình mà chúng tôi phải xoay xở để xác định là những người đầu tiên mắc bệnh cúm đều có con có mặt tại trung tâm ngoài trời đó vào hồi tháng Mười. Lẽ ra chúng tôi đã có thể đi đến kết luận đó sớm hơn nếu chúng tôi đã nhanh chóng phản ứng trước tình thế ấy. Nhưng đã vài tuần trôi qua trước khi có bất cứ một người nào nhận thức được điều gì đang xảy ra. Đến lúc bấy giờ, dịch cúm đã không thể kiểm soát được, và tất cả những gì chúng tôi có thể làm là lần ngược theo những con số thống kê. Chúng tôi đã phải xoay xở để theo dõi tất cả những đứa trẻ từng có mặt ở đó và ngăn ngừa để chúng không trở thành nguồn lây nhiễm. Chúng tôi cũng phải tìm kiếm bất kỳ kết nối nào với vùng Đông Nam Á. Và trường hợp tốt nhất mà chúng tôi có thể phát hiện được chính là Choy. Chúng tôi đã biết cô bé là người gốc Hoa, là con nuôi của bố mẹ người Pháp. Nhưng chúng tôi không hề có một ý niệm nào về việc gần đây cô bé ấy đã rời Trung Quốc như thế nào, hoặc liệu cô bé ấy có còn bất kỳ mối liên hệ nào với phương đông hay không. Tất cả những gì chúng tôi được biết là cô bé ấy có thể sinh ra ở Pháp. Nhưng cô ấy là người duy nhất mà chúng tôi không thể tìm được thông tin. Cha mẹ cô ấy đã không trả lời thư hay tiếp nhận điện thoại.”
Tiến sĩ Castelli quăng lá thư của mình trở lại vào chiếc kệ treo trước sảnh rồi nghiêm nghị nhìn MacNeil bằng đôi mắt nhỏ đen láy mà sáng quắc.
“Bằng quá trình loại suy, ông MacNeil ạ, và trong trường hợp không có bằng chứng ngược lại, chúng tôi phải đưa ra giả định rằng Choy có thể chính là nguồn gốc của đại dịch.”
❀ ❀ ❀
[1] Trình độ O tương đương hoàn tất học trình Trung học đệ nhất cấp, Trung học cơ sở hay cấp II ở Việt Nam.