Khu Cực Tây yên tĩnh lạ thường, trông có vẻ nhợt nhạt bên dưới những ngọn đèn đường không màu và nằm trong con mắt cảnh giác thường trực của những chiếc camera quan sát. MacNeil từng có mặt ở một trong số những phòng kiểm tra ấy, quan sát cả một dải những màn hình nhấp nháy chuyển từ máy quay phim này đến máy quay phim khác. Tất cả những gì họ thấy có chuyển động, ngoài những người lính, thì chỉ là chuột. Cả hàng ngàn con chuột. Thận trọng mạo hiểm ra khỏi chỗ tối tăm của cống rãnh, là những kẻ thừa kế cả một thành phố mà loài người đã bỏ lại cho chúng. Hẳn là chúng cũng đã tự hỏi điều gì đang xảy ra. Nhưng cũng chẳng mất nhiều thời gian để chúng ngừng tìm hiểu. Chúng nhanh chóng trở nên táo tợn, và nay thì chúng đã gia nhập vào với bọn cướp bóc trong những hoạt động ban đêm có chủ đích của chúng để tước đoạt sự thanh khiết của thành phố này.
MacNeil lái xe lên tận Haymarket. Anh không thể nào quen được với việc nhìn thấy phố xá hoang vu đến thế, thiếu sự sống đến thế. Trước khi có tình trạng khẩn cấp, ngay cả vào những thời điểm rất sớm của buổi sáng cũng đã có những chiếc xe tắc-xi, những chiếc xe tư nhân và các nhóm người thường la cà trà đình tửu quán tuôn ra khỏi các câu lạc bộ, các quán rượu với những hành vi phóng túng giữa khuya. Nhưng từ khi có giới nghiêm, chẳng có gì khuấy động, và nếu có, hẳn là cũng bị bắn hạ.
Vòi nước phun và tượng thần tình yêu Eros tại Bùng binh Piccadilly vẫn bị rào kín. Những tấm biển khổng lồ bằng đèn néon quảng cáo cho các hãng điện tử Sanyo và TDK một thời che phủ những tòa nhà ở góc đường phía trước tiệm thời trang Gap có vẻ giống như những hố đen. Tất cả mọi màu sắc và sự nhộn nhịp đã khô cạn từ chỗ một thời từng là những khu vực sinh động nhất của thành phố này. Quầy bán báo sơn màu xanh lá cây ở góc đường đã bị đóng cửa và khóa chặt. Trong thời gian này chẳng còn ai mua vé tham quan bằng xe buýt mà nơi đây vẫn bán ra. Một cửa hàng khổng lồ ngay góc đường trông ủ ê tăm tối đằng sau những tấm ván ép đã cháy thành than. Nếu bọn cướp bóc không thể cậy được những tấm ván để mang đi thì chúng châm lửa đốt. Và hầu như lúc nào cũng vậy, chúng luôn luôn tẩu thoát trước khi quân đội có mặt.
Từ một nơi nào đó xa xa, MacNeil nghe thấy tiếng còi hụ của một chiếc xe chữa lửa và nhìn thấy quầng ánh sáng rực rỡ màu cam nhạt của đám lửa từ xa phản chiếu trong đám mây thấp vẫn lơ lửng trên bầu trời London. Thay vì đi về trái thì anh đi theo lối bên phải, quanh vòng xoay để rẽ vào đại lộ Shaftesbury. Đó là ưu thế duy nhất của lệnh giới nghiêm. Không có tín hiệu giao thông, và anh có thể không cần biết đến những con đường một chiều hay những vòng xoay. Viên Thị trưởng London đã hết sức cố gắng để giảm lưu lượng xe trong thành phố. Phải chi ông ta đã nghĩ đến điều này. Nó hiệu quả hơn nhiều so với việc thu phí lái xe vào vùng trung tâm.
Ngay trước mặt anh, hai chiếc xe tải và một chiếc xe thiết quân vận đã chặn đường. Hơn một tiểu đội lính đứng thành từng nhóm hai ba người, thay nhau kéo mặt nạ che mặt xuống để hút thuốc trong tình trạng cách ly, trước khi trở lại với đồng đội. Nhưng ngay khi chiếc xe của MacNeil quẹo ra khỏi đại lộ Piccadilly, họ lập tức cảnh giác, những khẩu súng trường SA80 quay về hướng MacNeil, những ngón tay hoang mang vội vàng đặt lên những cò súng nhạy nổ. Một người lính trong toán bước tới, giơ tay ra hiệu. MacNeil đạp thắng và dừng xe đột ngột. Những khẩu súng trường chĩa thẳng vào người khiến anh bồn chồn, nhưng anh tin rằng ngay khi họ kiểm tra số đăng ký của mình trên máy tính, mọi thứ sẽ trở nên dễ chịu hơn. Anh đã lầm.
Người lính chỉ huy nhìn thoáng qua vai anh khi một người nào đó từ một trong những chiếc xe tải nói điều gì đó, và anh ta lập tức cùng với năm người lính khác tiến lên theo đội hình vòng cung bao quanh đầu xe của MacNeil. Rõ ràng là họ có vẻ hoảng hốt.
“Ra khỏi xe và giơ tay lên”, viên lính trưởng toán hét lớn, “Làm đi! Ngay!”
MacNeil không phản đối. Anh mở cửa xe và từ từ bước xuống đường, hai tay giơ lên cao khỏi đầu. Việc không thể nhìn thấy gương mặt của những người lính phía sau những chiếc mặt nạ và kính bảo hộ của họ khiến anh bối rối. Điều đó khiến cho họ có vẻ ít tính người hơn. Thật khó để tưởng tượng có thể tiến hành bất kỳ một kiểu thương lượng nào. Anh nói, “Tôi là cảnh sát. Tôi có giấy phép đi trong giờ giới nghiêm.”
“Không có trên máy tính của chúng tôi. Anh không được phép.”
MacNeil lầm bầm điều gì đó nghe không rõ. Hoặc là Laing đã quên nhập giấy phép của anh vào, hoặc có điều gì trục trặc. Toán lính tiến lại gần chung quanh anh, nòng súng trường chỉ cách mặt anh chừng vài phân. “Tôi có giấy chứng nhận. Tôi có thể xuất trình.” Anh thận trọng từ từ thò tay vào túi áo trong, nhưng một người trong đám lính đã quơ khẩu súng trường lên và đập mạnh vào một bên đầu anh. Một quầng sáng rực rỡ lóe lên trong mắt và anh ngã quỵ xuống trên hai đầu gối. “Chúa ơi”, anh nói, giọng thì thầm. “Mình đúng là một tên cớm khốn kiếp.”
Những bàn tay thô bạo nắm lấy hai chân anh kéo đi rồi ném anh áp sát người vào sườn xe. Một người lính nào đó dúi mặt anh xuống nóc xe, kéo giật hai cánh tay anh quặt ra sau cổ rồi nhanh chóng đá gạt hai chân anh tách rời nhau ra. “Cục cựa là chết đấy.” Tiếng nói nghe như tiếng rít sát bên tai anh. Đầu anh bị đập xuống, và anh cảm thấy có những bàn tay lục soát khắp người, tiến gần vào túi áo trong. Kẻ nào đó đập mạnh tấm giấy chứng nhận cảnh sát của anh xuống nóc xe, kế bên mặt anh. Anh nhìn thấy ánh sáng từ những ngọn đèn đường phản chiếu trên tấm huy hiệu được trang trí vương miện và biểu hiệu hoàng gia.
“Mày thó được cái này ở đâu?”
“Tôi không ăn cắp. Vì Chúa, nhìn giùm tấm ảnh xem nào.”
Tờ giấy chứng nhận biến khỏi tầm nhìn của anh và trong một khoảnh khắc mọi sự dường như ngưng đọng. Thế rồi anh nghe tiếng một trong những người lính nói, “Trông chẳng giống hắn ta chút nào.” Anh chỉ có thể nguyền rủa cái ngày anh quyết định cắt tóc cho ngắn lại.
“Đưa hắn ta vào xe tải.”
Họ bắt đầu kéo anh băng qua đường.
“Chúa ơi, chỉ cần gọi điện cho sếp của tôi, không được à? Ông ấy là Laing, Chánh Thanh tra Hình sự tại đồn cảnh sát đường Kennington. Ông ấy có nhiệm vụ nhập vào hệ thống điện toán giấy phép đi trong giờ giới nghiêm của tôi.”
Vài đôi tay thô bạo xồng xộc lôi anh qua mép cánh cửa lật đằng sau chiếc xe tải rồi quăng anh ngã sõng soài trên mặt sàn kim loại có tán đinh của lòng xe. Kẻ nào đó tát vào mặt anh rồi tông thật mạnh khiến thân hình anh lăn vào vạt cạnh của tấm vải bố. Tấm thẻ chứng nhận của anh trôi lướt trên sàn xe. “Cấm cục cựa đấy nhé.”
Anh mơ hồ nhận ra một người lính trẻ ngồi phía sau xe tải với một chiếc máy tính xách tay và một chiếc máy vô tuyến truyền tin dùng sóng ngắn. Ánh sáng từ màn hình máy tính chiếu lên khuôn mặt chàng thiếu niên trong lúc những ngón tay của cậu ta lướt trên bàn phím. Nhưng MacNeil không có thời gian để suy nghĩ về tình huống của mình trước khi một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên đủ khiến chiếc xe tải rung lên bần bật trên giàn bánh xe của nó. Sức ép của vụ nổ đẩy tấm vải bạt vào lòng xe như thể nó bị thổi trực tiếp bởi một cơn gió mạnh trước khi lại bị hút ra. Những mảnh kính vỡ trút xuống như mưa rào trên khắp các đường phố chung quanh và một luồng sáng trắng khổng lồ nháng lên khiến cho trong một khoảnh khắc bầu trời đêm chợt sáng như ban ngày.
Bên ngoài chiếc xe tải, những giọng nói vang lên thể hiện rõ sự hoảng loạn. Anh nghe có tiếng ai đó gào lên rằng vụ nổ xảy ra ở Khu phố Tàu. “Bọn chúng đã phá hủy nhà ngân hàng chết tiệt ấy rồi!”
Từ chỗ đang ngồi, MacNeil có thể thấy được toán lính, mới vài phút trước đã thô bạo quẳng anh lên chiếc xe tải, đang triển khai đội hình về phía bắc dọc theo đại lộ dẫn đến Khu phố Tàu. Chẳng còn ai bận tâm về anh. Viên sĩ quan liên lạc ngồi phía sau chiếc xe tải đang hét vào chiếc máy truyền tin sóng ngắn của mình, kêu gọi tiếp viện. MacNeil lập tức có quyết định, một điều hầu như chắc chắn anh không thể thực hiện nếu như anh đã có đủ thời gian suy nghĩ. Anh vươn tới trước, chộp lấy khẩu súng trường của người lính trẻ, lúc ấy đang nằm trên chiếc ghế băng bên cạnh. Người lính ngước lên khỏi chiếc máy truyền tin vội vàng tìm cách giữ lại khẩu súng. Nhưng đã quá trễ. Chàng trai nhận ra mình đang có mặt ở phía đầu họng súng của chính mình, trong lúc ở phía bên kia là MacNeil đáng lo ngại, đầy quyết tâm, đầy đe dọa.
“Chú nhóc, tôi hoàn toàn hợp pháp. Tôi là cớm. Hãy kiểm chứng về tôi trên máy điện toán.” Anh cẩn thận cúi xuống thu hồi tấm thẻ chứng nhận của mình.
Chàng thiếu niên ngồi sững trong sự sợ hãi và bẽ bàng, lặng lẽ lắc đầu.
MacNeil rút băng đạn từ khẩu súng trường rồi ném nó xuống đường, sau đó là chính khẩu súng trường. Anh nói, “Tôi đi đây. Đừng đuổi theo tôi.” Ngay khi anh vừa quay đi thì người lính trẻ xê dịch. Chàng ta không thích phải cố gắng giải thích cho những người khác biết rõ việc mình đã làm mất súng và để xổng người tù của mình như thế nào. Nhưng về tầm cỡ hay sức mạnh thì chàng ta hoàn toàn không tương xứng với người đàn ông Scotland to lớn ấy. MacNeil túm lấy áo khoác và xé toạc chiếc mặt nạ của cậu thiếu niên. “Ngay cả nghĩ đến việc đuổi theo cũng đừng nên, nhóc con ạ. Nếu không con sẽ lãnh đủ cơn giận của bố đấy.”
Lời báo trước ấy hiệu quả hơn bất kỳ sự đe dọa thể xác nào. Chàng thiếu niên chùn lại trước lời thì thào của viên cảnh sát, và MacNeil đẩy cậu trai ấy vào sâu trong lòng chiếc xe tải trước khi nhảy xuống đường rồi chạy vội về phía chiếc xe của mình. Đã không có ai nghĩ đến việc rút chìa khóa xe ra khỏi ổ công tắc, và ngay khi mở khóa công tắc, máy xe bắt đầu nổ. MacNeil cho xe chạy lùi lại với tốc độ cao để vào Bùng binh Piccadilly, và trong lúc những chiếc lốp xe vẫn còn lảo đảo, anh cho xe quẹo vào đường Regent, rồi đường Hàng Không, tăng tốc lao qua đường Brewer đến đường Lower John để vào tới khu Quảng trường Golden hiu quạnh. Anh biết, việc để xe ở đây là một rủi ro, nhưng anh sẽ có thể đi bộ tự do hơn.
Cả một vùng quảng trường rộng lớn không hề có một ánh đèn đường nào, tạo thành cả một vực sâu bóng tối, anh lái xe đến đó rồi đậu xe lại. Anh bước ra ngoài rồi đứng bên cạnh chiếc xe, nghe được tiếng tích… tích của kim loại đang nguội dần và chú tâm lắng nghe bất kỳ một dấu hiệu dù nhỏ nhặt đến đâu của mọi hoạt động gần đó. Vụ nổ tại nhà ngân hàng thuộc Khu phố Tàu đã bắt đầu bùng cháy làm bừng sáng bầu trời đêm bên ngoài những tòa cao ốc gần nhất. Anh có thể nghe thấy tiếng còi hụ, tiếng súng nổ cũng như những tiếng thét vang vọng quanh những con đường vắng; cuối cùng, anh nhận định rằng việc di chuyển của anh sẽ được an toàn.
Anh kiên trì bám theo cả một mạng lưới của những khu phố và những đoạn đường hẹp xòe ra theo hình nan quạt giống như một mạng nhện xuyên suốt khu Soho cho tới phía bắc đại lộ Shaftesbury. Hẻm Bridle, đường Great Pulteney, rồi đường Peter. Sự tàn phá ở khu vực này thật hết sức khác thường. Những chiếc xe đã đánh cắp được lại bị vứt bỏ rồi đốt cháy. Hầu như từng tòa cao ốc một - các cửa hàng và các văn phòng - đều bị xâm phạm bởi bọn cướp bóc. Bọn bán dạo những dụng cụ tình dục và sản phẩm khiêu dâm trên các đường phố và ngõ hẻm của vùng Soho đã bị dẹp sạch: chẳng hạn như Cửa hàng Slinky một thời đã có những biểu tượng quảng cáo hấp dẫn: Cho những người đã được phóng thích và những người chịu thân phận nô lệ - Nịt ngực - Đồ cao su - Đồ da. Các loại hắc điếm khiêu vũ gợi dục, những tiệm xăm mình và các rạp chiếu phim đều bị lột trần. Kính vỡ và các loại hàng hóa bị vứt bỏ nằm trong tình trạng trôi dạt dọc theo những con đường ở đó những cánh cửa ra vào bị treo trên những bản lề rỉ sét còn những cửa sổ chỉ là những hố đen. Những quán rượu và những nhà hàng nơi anh từng la cà hầu như không thể nhận ra. Soho Spice, The Blue Posts.
Bóng tối đã hoàn toàn phủ xuống phố Dean. Vụ nổ tại ngân hàng tác động xấu đến khu vực đại lộ dường như đã ảnh hưởng đến nguồn cung cấp điện. Không có đèn đường. Nhưng sự phản chiếu của một thứ ánh sáng lập lòe, kỳ lạ từ đám cháy ở Khu phố Tàu đã uể oải lướt qua những bức tường của các câu lạc bộ và nhà hàng hoang vắng trong khu phố này. Những tấm kính vỡ trên vỉa hè lấp lánh như sương, và một cơn gió lạnh mang theo mùi khói và mùi cao su cháy. Những bức tường sơn màu kem của một quán rượu có biểu diễn dương cầm nằm ở góc phố Meard có vệt đen do ngọn lửa đã phá hủy nó từ bên trong.
MacNeil lao nhanh qua bóng tối để đến phía đông của phố Dean rồi đi về hướng bắc. Đi thêm năm chục thước nữa, anh đến trước mặt tiền được đóng kín bằng cánh cửa thép của Câu lạc bộ Băng Đen. Đã có những dấu hiệu rõ ràng của một cố gắng xâm nhập, nhưng cho đến nay, những tấm lưới kim loại ấy đã giữ không cho những kẻ cướp bóc xông vào được bên trong. MacNeil không biết chắc mình có thể phát hiện được gì. Nếu câu lạc bộ này vẫn hoạt động, khó có khả năng là nó đã tự quảng cáo. Anh hoàn toàn đứng yên, chỉ lắng nghe. Và anh cảm thấy, hơn là nghe được, những tiếng thình thịch, thình thịch mờ nhạt nhất. Những điệu nhạc khiêu vũ đơn điệu không ngừng lặp đi lặp lại ấy chính là những đặc trưng cho thị hiếu của đám trẻ ngày nay. Anh cho rằng chẳng phải tất cả mọi chuyện đã khác đi trong thời đại của mình. Tất cả chỉ là vấn đề chúng ta trưởng thành với những gì và chúng ta phát triển nhận thức từ điều gì.
Anh không thể khẳng định một cách chắc chắn rằng tiếng nhạc được phát ra từ bên trong câu lạc bộ Băng Đen. Nhưng anh sẽ sẵn sàng đánh cá về điều này, nếu phải làm như vậy. Hẳn là phải có một lối khác để vào. Ở cuối dãy nhà này, đối diện với trụ sở của Thông tấn xã Trung Quốc Văn Đại Tân, có một con hẻm nhỏ đi bên dưới những văn phòng ở tầng trên, vào một khoảnh sân có rải sỏi đầy tới mức tràn ngập những thùng rác có gắn bánh xe đã không được dọn sạch trong nhiều tháng liền. Bầy chuột hoảng sợ chạy tán loạn quanh chân anh khi MacNeil rất cảnh giác dò dẫm di chuyển qua bóng tối dày đặc của con hẻm để vào được khoảnh sân ở bên kia. Có những thanh lan can sơn đen, những ô cửa sổ có thanh chắn bằng thép và những lối thoát hiểm ngoằn ngoèo lên đến tận phía trước mặt của những khối văn phòng xây gạch. Một làn ánh sáng mỏng như chiếc bút chì chiếu ra chung quanh một cánh cửa thép dày. Càng tiến gần. MacNeil càng cảm thấy tiếng nhạc rõ hơn. Và bấy giờ anh đã nghe được chứ không chỉ cảm thấy tiếng nhạc như lúc trước.
Đối với MacNeil, có vẻ thật là kỳ lạ khi có những kẻ muốn ra ngoài tiệc tùng bất chấp những nguy hiểm của sự lây nhiễm, và những con đường phi pháp, nguy hiểm mà họ buộc phải thương lượng với sự dè dặt sau giờ giới nghiêm. Đừng bận tâm với thực tế rằng điều đó là bất hợp pháp. Anh nghĩ, thế nhưng có một thế hệ những người trẻ hiếu động có năng lượng và có đủ tiền để đốt chỉ vì không muốn phải ngồi ở nhà xem tivi với bố mẹ. Anh cho rằng có lẽ là đám trẻ rất vui thích để được sống cuộc sống ở bờ mé. Còn hơn là để chúng chơi ma túy. Nhưng anh sẵn sàng đánh cược rằng những kẻ đỡ đầu của câu lạc bộ Băng Đen, ở bên kia của cánh cửa thép, phải là những đứa trẻ con nhà giàu ở Chelsea và South Ken. Những đứa trẻ từ những ngôi nhà có nhiều đặc quyền với tiền của bố chúng bỏ sẵn trong túi. Không phải là nơi mà một nhân viên lò hỏa táng thuộc khu ổ chuột ở South Lambeth có khả năng thường xuyên lui tới.
Anh nện thật mạnh lên cánh cửa bằng thép rồi đứng chờ. Chẳng có gì xảy ra. Anh lại nện vào cánh cửa thép ấy một lần nữa, lần này một khoang cửa trượt bằng thép mở ra. Ánh sáng và âm nhạc ùa vào vùng tối của khoảng sân, rồi một gương mặt nhìn MacNeil với sự săm soi đầy vẻ ngờ vực. “Anh muốn gì?”
“Một thức gì để uống.”
“Không biết anh là ai.”
“Tôi là một trong những người bạn của Ronnie. Ronnie Kazinski. Anh ta nói với tôi rằng ai đang khát đều có thể đến kiếm một thức gì để uống tại đây vào bất cứ lúc nào. Mà ngay lúc này tôi đang khát khô cả cổ họng.”
“Làm thế nào anh vượt qua được lệnh giới nghiêm?”
“Thế những người khác làm thế nào?”
“Hầu hết mọi người đến đây trước lúc giờ giới nghiêm bắt đầu và chỉ rời khỏi khi giờ giới nghiêm kết thúc.”
MacNeil nhún vai, “Vậy thì tôi đoán rằng hẳn là tôi đã gặp may.”
Anh chàng bảo kê nhìn anh một lúc lâu trước khi trượt chiếc cửa sập để đóng lại. MacNeil thoáng nghĩ rằng anh ta sẽ không mở cửa. Thế rồi anh nghe có tiếng ken két của những cái chốt kim loại được nhấc ra, và cánh cửa mở vào trong. Anh chàng bảo kê là một kẻ to lớn, nhưng không to lớn bằng MacNeil. Anh ta có cái đầu trọc lóc, mặc một chiếc áo chẽn không có tay bằng da che phần ngực trần. Cả một bụng bia thụng xuống bên trên chiếc quần jean lụng thụng. Một chiếc mặt nạ phẫu thuật màu trắng trông có vẻ bẩn thỉu che nửa dưới khuôn mặt của anh ta, và anh ta nhìn MacNeil một cách thận trọng trước khi hất đầu ra hiệu rằng anh có thể vào.
MacNeil nói, “Hoan hô ông bạn. Quán rượu ở đâu?”
“Tầng dưới.”
II
Khi anh đi xuống cầu thang, âm nhạc nổi lên chào đón anh như một cuộc tấn công thể xác. Một mức độ âm lượng đủ làm liệt não. Những ánh đèn màu bị hấp thu bởi những bức tường sơn đen; và khi đến được sàn nhảy, anh ước tính có thể có tới hai trăm con người đang di chuyển trong một làn sóng người nhấp nhô ướt đẫm mồ hôi, mải mê trong một trạng thái xuất thần nguyên thủy nào đó, lắc lư theo những âm thanh vay mượn từ những nguồn gốc bộ lạc xa xôi hơn là từ một xã hội hiện đại tân tiến. Tất cả đều đeo mặt nạ phẫu thuật màu trắng, giống như một bộ đồng phục. Và chịu ảnh hưởng bởi dải tia cực tím trên đầu, trong bóng tối, những chiếc mặt nạ ấy phản chiếu một loại ánh sáng kỳ lạ siêu nhiên, mang lại cảm tưởng như có bầy hải âu trôi nổi, phát ra thứ ánh sáng kỳ lạ.
Có một sân khấu nhỏ ở đầu bên kia sàn nhảy, trên đó hai người phụ nữ ăn mặc hở hang, đội mũ trùm đầu nhọn màu trắng có những đường khoét lỗ ở vùng tròng mắt đang lắc hông và xoay người theo những vòng tròn chậm rãi thôi miên. Một quầy rượu chạy dọc theo suốt chiều dài của bức tường bên phải. Hai người phục vụ quầy còn trẻ đeo mặt nạ phòng độc kiểu quân đội bận rộn phục vụ khách đứng chờ xếp hàng ba. Mọi người đều kéo khẩu trang xuống để uống, sau đó lại đưa chúng trở lại vị trí cũ. Những chiếc ly đã qua sử dụng được đặt trong giá đỡ hình tròn trượt vào chiếc máy rửa bát khổng lồ để khử trùng trước khi sử dụng tiếp. Hơi nước bốc lên thành những đám mây lớn từ phía sau quầy rượu, hòa vào làn không khí đã đặc quánh bởi sức nóng và mồ hôi. Một lồng ấp hoàn hảo cho bệnh truyền nhiễm.
MacNeil cố tình xô đẩy thô bạo những tửu khách đứng chắn đường trong lúc anh tiến về phía quầy rượu. Kẻ nào phản đối đều có thể bị thúc cùi chỏ vào mặt. Nhưng mọi sự phản đối bằng lời đều dễ dàng bị âm nhạc nhấn chìm. Một anh chàng phục vụ quầy có mái tóc nhuộm màu hung đỏ, chắc chắn là có nguồn gốc da đen, nhìn MacNeil với sự cảnh giác. Người khách này lớn tuổi hơn đám choai choai là những khách hàng thường xuyên của câu lạc bộ, trông có vẻ bảo thủ hơn nhiều, và anh ta vẫn mặc áo khoác, bất chấp cái nóng. Ngoài ra, khuôn mặt của anh ta bị bầm tím, một bên má bị cứa sâu với những vết cắt nhỏ gây ra bởi thủy tinh vỡ trên sân trước của khu dân cư vùng South Lambeth. Anh hét lớn, “Whisky. Mạch nha chưng cất riêng. Loại Glenlivet nếu có sẵn. Và một chút nước.” Dường như lâu lắm rồi anh mới được uống một ly rượu, và giờ đây sự chờ đợi ly rượu gần như tràn ngập tâm hồn anh. Nhưng chỉ một ly thôi. Anh biết rằng nhiều hơn một ly sẽ làm suy yếu quyết tâm và dẫn anh vào vòng xoáy chìm đắm của nỗi buồn. Một chiếc ly chứa hơn một xăng-ti-mét một thức chất lỏng màu hổ phách cùng với một bình nước nhỏ được đặt mạnh như đập vào mặt quầy rượu ngay chỗ anh đang đứng. Anh trao ra một tờ giấy năm euro và không yêu cầu trả lại tiền lẻ. Anh pha loãng nửa rượu nửa nước rồi nhấp một ngụm. Anh quay sang nói với người phục vụ. “Đây không phải là Glenlivet!”
“Anh đã bảo rằng nếu tôi có loại ấy. Nhưng tôi không có sẵn.” Không một lời xin lỗi.
MacNeil nhấp thêm một ngụm nữa. Nó chỉ là một loại rượu pha trộn vô danh nào đó. Anh thất vọng vì hương vị của ly rượu, nhưng vẫn tận hưởng sự ấm áp của chất lỏng ấy khi nó làm nóng suốt đoạn đường xuống đến tận dạ dày của mình. Thế rồi anh dốc ngược chiếc ly và ngay lập tức chất lỏng màu hổ phách ấy biến mất. Anh nghĩ lại về tất cả những lần trước đây anh vẫn thường gọi thêm một ly nữa, bất cứ loại rượu nào, chỉ để trì hoãn lúc anh sẽ phải về nhà. Trở lại với Martha. Anh nghĩ lại về tất cả những lần trước đây khi anh về đến nhà thì Sean, đứa con trai của anh, đã ngủ say. Tất cả những khoảnh khắc ấy đã bị bỏ lỡ. Tất cả những thời gian lãng phí ấy. Thế rồi anh quay lại quát vào mặt người phục vụ yêu cầu mang thêm cho anh một ly rượu nữa.
Khi ly rượu được mang đến, anh nắm lấy cổ tay của người phục vụ và ngả người về phía quầy rượu. “Tối nay Ronnie có mặt ở đây không? Ronnie Kazinski ấy?”
Nhưng anh chàng phục vụ quầy đã giơ tay ra hiệu yêu cầu anh im lặng vì tiếng nhạc vừa đột ngột dừng lại theo một nhịp trống đơn độc, tiếng trống ấy vang vọng khắp câu lạc bộ trong vòng vài giây. Cả một biển mặt nạ không còn nhấp nhô, rồi có những tiếng vỗ tay rời rạc khi cả những người đang khiêu vũ lẫn những tửu khách đều quay về hướng sân khấu với sự háo hức. Từ một cánh cửa ở đâu đó tận phía sau, một người đàn ông trẻ khoảng chừng ngoài ba mươi tuổi xuất hiện, mang theo một bọc vải trắng được treo có vẻ rất điệu nghệ trên một chiếc đòn gánh gác trên vai. Về mọi phương diện, toàn cảnh trông giống như một màn trình diễn hài hước mà ở đó một con cò sẽ sinh ra một em bé. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, một ký ức thoáng chốc về Laing lướt qua suy nghĩ của MacNeil.
Những người khách khiêu vũ có đội mũ trùm đầu đã biến đi đâu mất, và không biết bằng cách nào, họ đã để lại sau lưng một sân khấu trung tâm là một chiếc bàn nhỏ có thể gấp lại được. Có những tiếng hoan hô và reo hò khi người đàn ông đặt đống đạo cụ của mình lên bàn. Trang phục của anh ta toàn đen. Ngay cả chiếc mặt nạ của anh ta cũng đen khiến cho anh ta gần như bị chìm hẳn vào bức tường đen phía sau. Nửa trên khuôn mặt trắng trẻo của con người này phát sáng dưới ánh đèn huỳnh quang, dường như đã tách rời khỏi thân thể và đang nhảy múa chung quanh phía trên cái bọc phát sáng đặt trên bàn. Mái tóc của anh ta mỏng, trông xơ xác, được vuốt ngược lên lớp da đầu hói sọi. Anh ta nói vào một chiếc máy vi âm trong lúc đứng tựa trên chiếc đòn gánh, và giọng nói buồn tẻ của anh ta trầm trầm vang lên trên tất cả những cái đầu đều đang hướng về phía anh ta.
Kẻ đứng trên sân khấu bắt đầu nói, “Nghệ thuật, nghệ thuật đích thực, là nói về cuộc sống ngay trên bờ vực. Là có liên quan đến việc đẩy mọi biên giới ra xa đến tận chỗ chúng có thể đến được, và xa hơn thế nữa. Một cuộc đời mà phải sống trong những biên giới đã được kẻ khác đặt định là cái gì? Chúng ta phải đặt ra những biên giới của riêng mình, và vạch ra chúng trong những vòng tròn không ngừng mở rộng, khuyến khích mọi người cùng đi với chúng ta. Chúng ta không tồn tại như cha mẹ chúng ta, hay như cha mẹ của cha mẹ chúng ta. Chúng ta là chúng ta. Và chúng ta đang tồn tại bây giờ và ở đây. Tương lai là thuộc về chúng ta, và chỉ là những gì mà chúng ta làm ra cho nó. Chỉ bằng việc giẫm chân lên con đường bén như dao giữa sống và chết, giữa thị hiếu tinh tế và thị hiếu tầm thường, giữa điều được chấp nhận và điều không thể chấp nhận, chúng ta mới tìm được ý nghĩa đích thực trong cuộc sống của mình.”
Vị diễn giả ngó quanh những gương mặt đang nghếch lên nhìn mình trong một sự im lặng đến mức nghẹt thở. Họ biết rằng anh ta sắp sửa thực hiện một điều gì đó khủng khiếp. Chính là vì điều đó mà hầu hết đám người này đã mạo hiểm kéo đến đây. Điều đó chính là nghệ thuật trong bóng tối. Đó là điều đã khiến cho câu lạc bộ này trở thành được hâm mộ trước khi xảy ra tình trạng khẩn cấp. MacNeil khách quan nhìn ngắm, cảm thấy thú vị và rồi bất ngờ bị cuốn hút bởi tính chất thôi miên của màn trình diễn, hoàn toàn không chuẩn bị cho những gì sắp xảy ra.
Người đàn ông mặc áo đen cúi xuống chiếc bàn và, bằng một động tác phường tuồng, kéo một đầu nút thắt giữ bọc vải khiến chiếc bọc mở toang ra, để lộ một lớp mủn kỳ lạ có vẻ vấy máu dường như chẳng có hình thù hoặc dáng vẻ chi cả. Có tiếng thở hổn hển từ đám đông. Đôi mắt của người đàn ông sáng rực như than, những đốm sáng màu đen trong những vòng tròn màu trắng. Anh ta hất chiếc mặt nạ của mình sang một bên và nắm lấy lớp mủn ấy bằng cả hai tay, nâng nó lên cao quá đầu, mặc cho nó nhỏ giọt.
Giọng của anh ta cũng cao lên. Anh ta nói, “Đây là cuộc sống và cái chết.” Chỉ có tiếng ù ù của hệ thống âm thanh là phá vỡ sự im lặng của câu lạc bộ. “Mới chỉ có hai giờ đồng hồ kể từ khi trái tim của đứa hài nhi này còn đập trong bụng mẹ. Mới chỉ có hai giờ đồng hồ kể từ khi nó bị xé toạc ra khỏi rốn, bị phủ nhận mọi tương lai, bị cướp mất cả quá khứ. Sự phá thai. Sự bác bỏ cuộc sống. Lời nguyền của thời đại chúng ta.”
MacNeil quan sát trong sự ngờ vực, sững sờ vì kinh hãi. Anh nghe thấy một giọng nói đơn độc thì thầm, “Ôi, Chúa ơi!”
“Chỉ trong cuộc sống, chúng ta mới có thể tìm thấy cái chết, và cũng chỉ trong cái chết, chúng ta mới có thể tìm thấy sự sống.” Người đàn ông mặc quần áo đen đột nhiên hạ hai tay xuống ngang tầm với gương mặt của mình. Anh ta dừng lại chỉ một khoảnh khắc trước khi vục miệng vào đống bầy nhầy đỏ như máu mà anh ta đang nắm trong hai bàn tay; nghiến ngấu khối bấy nhầy ấy.
Ai đó trong đám đông đã nôn mửa. Chỉ có một vài giọng nói đã cất để lên thể hiện sự ghê tởm hoặc thái độ bất đồng. Còn lại chỉ là những âm thanh phản ánh sự ngồm ngoàm và sự hít hà của người đàn ông trên sân khấu khi anh ta đớp những thứ đang chứa trong lòng hai bàn tay của mình. Sau đó, cũng nhanh như khi đã bắt đầu, anh ta kết thúc, quăng những thứ còn sót lại từ bữa ăn của mình vào cái bọc trên bàn. Khuôn mặt anh ta nhòe nhoẹt những vệt đỏ quanh miệng.
“Cảm ơn, cảm ơn”, anh ta gào lên, nhanh chóng thu hồi các đạo cụ của mình rồi biến mất theo một cung cách đầy vẻ điệu đàng qua cánh cửa nơi mà từ đó anh ta đã xuất hiện.
Độ sáng của những ánh đèn trong câu lạc bộ lập tức chìm xuống trong khi âm nhạc bắt đầu trở lại từ chỗ đã ngắt quãng, tra tấn vào cả thân thể lẫn các giác quan. Cả một biển những chiếc mặt nạ lại bắt đầu nhấp nhô trong một cơn bão cuồng nhiệt điên rồ, sôi nổi.
MacNeil choáng váng và run rẩy, chỉ muốn nôn thốc nôn tháo. Anh quay trở lại với quầy rượu cùng ly rượu whisky đang chờ mình, và thấy rõ người phục vụ quầy cười toe toét đằng sau chiếc mặt nạ. Anh chàng này hét lên “Ấn tượng đấy chứ, có phải không?” Anh ta thích thú trước sự kinh hoàng được thể hiện rõ trên khuôn mặt của MacNeil. “Anh đang tìm kiếm ai?”
MacNeil hắt đổ chỗ rượu rồi hổn hển đập mạnh chiếc ly không lên mặt quầy. “Ronnie Kazinsky.”
Tên thanh niên phục vụ quầy thoáng cau mày, thế rồi như chợt nhớ ra, “Thế à, ông muốn nói tới gã ở hỏa lò chứ gì?”
Phải mất một hai giây MacNeil mới nhận ra rằng hỏa lò chính là lò hỏa táng. “Đúng là hắn.”
Tên thanh niên hét lên, hất mặt về phía sân khấu ban nãy “Vậy tại sao ông không hỏi Anh chàng Bào thai kia? Hai thằng cha đó là bạn thân.”
III
Hành lang phía sau sân khấu dẫn đến khu nhà vệ sinh ở tận đằng xa. MacNeil đã có thể ngửi thấy mùi nước tiểu lâu ngày bốc lên nồng nặc ngay khi cánh cửa câu lạc bộ đóng lại sau lưng. Nhưng điều đó cũng làm tiếng nhạc ầm ĩ như tra tấn tắt ngấm, và đó là điều làm anh cảm thấy dễ chịu hơn. Một bóng đèn dài tỏa ánh sáng vàng chói lọi phản chiếu trên tấm vải sơn lót nến xỉn màu, và MacNeil phớt lờ những bức ảnh đen trắng được đóng khung về một số màn trình diễn nghệ thuật nổi tiếng đã làm nên tên tuổi của câu lạc bộ. Phòng thay quần áo nằm ở cánh cửa cuối cùng bên trái. Một tấm biển nêu rõ đấy là phòng riêng. MacNeil đẩy cửa ra. Đang nhìn vào chiếc gương treo tường phía trên bàn trang điểm của mình để lau chùi vết tích của những thứ nhếch nhác bẩn thỉu trên tay và trên gương mặt bằng khăn ướt nóng hổi, anh chàng Bào thai quay lại, hỏi.
“Không biết chữ sao, cha?”
Chỉ trong hai bước MacNeil đã vào hẳn đến cuối phòng, nắm lấy cổ áo gã Bào thai rồi dúi mạnh hắn vào tường, khiến hắn không thở được. “Tất nhiên là tao biết đọc chứ! Và ngay bây giờ, tao sẽ đọc cho mày nghe về những quyền chết tiệt của mày, tên bệnh hoạn khốn nạn.” Anh dùng một tay ghìm tên nghệ sĩ đen vào tường còn tay kia giơ ra tấm thẻ hành sự. “Tao sẽ nghĩ đến các tội danh sau. Cướp xác, trộm thai nhi, giết người, có thể là như vậy. Một tên bệnh hoạn như mày nên bị nhốt trong một thời gian rất dài.”
“Coi nè,” gã Bào thai phản đối. Và hắn bắt đầu cười. “Cứ làm tới đi, ông bạn! Ông không hề nghĩ rằng bất kỳ điều gì trong vụ này là thật, có phải thế không? Ý tôi là, đừng đùa nữa cha nội! Tôi đã ói ra hết ở khắp mọi nơi rồi.” Hắn ta hất đầu về phía cái bọc đầy máu vẫn còn đang nằm trên bàn trang điểm. “Đó chỉ là mứt và bánh mì cuộn. Tôi không thể chịu đựng nổi thức ăn ở quán ăn bình dân, cho nên tôi mang theo thức ăn đóng hộp của riêng mình.”
Hắn cựa mình thoát ra khỏi bàn tay kiềm giữ đã buông lỏng của MacNeil.
“Đó chỉ là chuyện trình diễn mà thôi, ông bạn à. Mọi người ai cũng thích bị giật mình. Họ thích nghĩ rằng đó là thật. Nhưng trong thâm tâm, họ biết đó chỉ là một chút trò đùa.”
“Chú mày có thể gọi đó là trò đùa à?”
“Đó là việc đẩy biên giới lùi ra xa. Tôi tạo sự hấp dẫn cho khán giả, gợi lên cho họ những phản ứng cảm xúc. Điều đó khiến họ đặt câu hỏi về những thứ như vậy, kéo dài những giới hạn của họ ra.”
Gã Bào thai lại ngồi xuống và tiếp tục lau mặt, trong khi MacNeil quan sát hình ảnh phản chiếu của hắn trong gương và thấy hắn không ngừng dõi cặp mắt e ngại hướng về mình.
“Tôi muốn nói rằng, vậy thì tôi sẽ lấy được một bào thai ở đầu, ông bạn? Tôi đã có ý tưởng ấy trong lúc xem một bộ phim tài liệu nói về việc một anh chàng người Trung Quốc thật sự làm việc ấy. Tôi muốn nói là việc ấy thực sự đã làm được. Nay, việc đó là sự bệnh hoạn. Còn phần tôi? Tôi chỉ thưởng thức một chiếc bánh mì kẹp.” Hắn kết thúc việc lau chùi rồi đứng dậy. “Vậy thì ông bạn còn muốn gì nữa không?”
MacNeil nhìn hắn, đầy giận dữ và khinh bỉ, và những cảm xúc đó đã gây ra bởi dư âm của sự chán ghét cực độ của anh đối với màn trình diễn của hắn. Anh phải cố gắng tập trung vào điều ngay từ ban đầu đã khiến anh phải đến đây. Anh nói, “Tôi đang tìm Ronnie Kazinski.”
Gã Bào thai nhún vai, “Ronnie là ai?”
Cửa phòng thay quần áo bỗng mở ra. MacNeil nhìn qua gã Bào thai trong tấm gương để thấy hình ảnh phản chiếu của một chàng thanh niên mặc quần jean và áo khoác da. Tên này không phải là một kẻ cao lớn, và y đã cố gắng làm nổi bật sự nhỏ bé của cái đầu của mình bằng cách dùng keo dán mái tóc đen mỏng của y ép sát vào hộp sọ. Trong một khoảnh khắc MacNeil nghĩ rằng anh đã nhận ra y. Có gì đó quen thuộc trên đôi gò má cao và cặp mắt mở to. Y có làn da xấu, nhão và trắng, trông như một kẻ đã không nhìn thấy ánh sáng ban ngày trong nhiều tháng. Một ký ức kỳ lạ thoáng qua trong đầu MacNeil. Khuôn mặt của một người phụ nữ sau bức màn lưới, những nét đặc trưng của nhiều thế hệ nghèo đói. Và anh nhớ ra nơi mình đã trông thấy người đàn ông này trước đây. Một tấm ảnh bị nhòe trên bản in từ máy fax. Ronald Kazinski.
Kazinski ngừng lại ngay ngưỡng cửa và thấy hình ảnh phản chiếu của MacNeil đang quay lại nhìn mình. Ánh mắt của y lóe lên để tiếp xúc với ánh mắt của gã Bào thai, và y biết ngay mình đang gặp rắc rối. Y quay lưng bỏ chạy, leo ngược lên hành lang như một kẻ bị ma nhập, đôi giày thể thao kêu cót két trên tấm vải sơn lót nền. MacNeil đuổi theo y, chậm chạp hơn; thân hình to lớn của anh di chuyển nặng nề qua làn ánh sáng vàng rực chói chang cho đến khi anh đến được cánh cửa ở phía xa, vượt qua nó rồi xông vào cả một biển mặt nạ đang rực sáng cùng với tiếng nhạc tra tấn vẫn ầm ầm vang lên. Kazinski đã cắt được một vạt trống để chạy xuyên qua chỗ ấy rồi hướng về khu vực cầu thang ở phía xa; MacNeil theo sau y bén gót, xô đẩy mọi thân hình nào ngáng đường tiến của anh, cho đến khi cả biển người ấy tự nguyện tách ra trước lối đi của anh.
Anh nhảy từng hai bậc thang một, và tấm cánh cửa kim loại nặng nề đã đóng sầm lại khi anh đến được chiếu nghỉ ở đầu cầu thang. Gã có nhiệm vụ bảo kê có cái đầu trọc mặc chiếc áo chẽn bằng da đứng cản đường anh. Hắn ta giơ tay ra ngăn anh lại. “Bạn nghĩ là mình sẽ đi đâu vậy, ông bạn?”
Chỉ cần một động tác lắc cổ nhẹ nhàng, MacNeil nghiêng người về phía trước như thể muốn hôn gã ấy. Anh cảm thấy sống mũi của tên đàn ông trọc đầu này vỡ ra từng mảnh dưới vầng trán của anh thế rồi gã bảo kê ấy loạng choạng lùi lại, hai mắt trợn trừng ngạc nhiên. Sau ót của y bị dập vào tường và chiếc mặt nạ y đang mang biến thành màu đỏ như thể máu đã thấm vào lớp vải trắng. MacNeil đẩy tung cánh cửa ra rồi lao vào màn đêm. Anh nghe có tiếng loảng xoảng của những chiếc thùng rác bị lật đổ, một mùi thối khủng khiếp của rác thải xộc lên theo chiều của cơn gió lạnh. Ánh sáng ùa ra sân từ cánh cửa mở giúp anh nhìn thấy bóng Kazinski đang chạy trốn khi y lao vào một con hẻm dẫn ra đường cái. Bầy chuột nhốn nháo kêu lên dưới chân khi MacNeil đuổi theo y.
Khi MacNeil đi ra khỏi con hẻm thì Kazinski đang cố gắng chạy hết tốc lực đến trung tâm Phố Dean, nhanh chóng bị nuốt chửng bởi bóng đêm. Y chẳng khác một con thỏ rừng trước một MacNeil là loại chó săn thượng hạng. MacNeil đã trông thấy y quẹo vào đường Cung điện Thánh Anne, một con đường hẹp dành cho khách bộ hành giữa những tòa nhà cao tầng bằng gạch, và biết rằng mình sẽ mất dấu kẻ nghi can ấy. Nhưng khi đến được khúc quanh, anh thấy có điều gì đó đang xảy ra ở phía cuối con đường. Ánh lửa lúc bập bùng lúc chói lòa và tiếng lép bép của những ngọn lửa đang cháy rực. Những giọng nói vang lên trong tiếng cười và tiếng hò hét chế nhạo. Bọn phá hoại. Kazinski chùn lại, liếc về phía sau nhìn theo hướng MacNeil, để thấy mình đang bị kẹt giữa hai lựa chọn mà điều nào cũng không ổn. Hầu như MacNeil đã có thể thấy sự việc tiến triển theo hướng tốt đẹp khi Kazinski cố gắng quyết định xem điều nào là ít tệ hại hơn trong hoàn cảnh lưỡng đầu thọ địch này. Thế nhưng thay vào đó, tên nghi can này đã chọn được giải pháp thứ ba. Một lối đi hẹp chạy về phía nam, hợp với con đường Cung điện Thánh Anne thành một góc vuông, đối diện với những cửa sổ kiểu George đã bị vỡ vụn của nơi từng là một cửa hàng bánh ngọt. Lối đi này không rộng hơn một thước, và y vội vàng lao vào đó, chạy được khoảng năm sáu chục thước mới nhận ra rằng lối dẫn vào đường Cung điện Flaxman ở cuối con đường đã bị nghẹt cứng bởi những thùng rác bị lật ngược, những đống đổ vỡ được quăng ra khỏi cửa sổ của những văn phòng đã bị cướp phá. MacNeil nghe thấy tiếng y nguyền rủa trong bóng tối và đi chậm lại để cố lấy lại hơi thở. Không có lối thoát cho Kazinski. Y đã chui vào ngõ cụt và không đi đến đâu.
Khi MacNeil tiến tới thì Kazinski thụt lùi cho đến khi y không thể lùi xa hơn được nữa. MacNeil nói, “Mẹ anh nghĩ rằng anh đang ở chỗ làm việc.”
“Ông muốn gì?”
“Tại sao anh bỏ chạy?”
“Tôi có thể đánh hơi thấy mùi cảnh sát trong vòng năm chục bước chân.”
“Phải rồi, đó là mùi nước đái mà bọn cặn bã như anh đã tè ra trong quần của họ.”
“Tôi có quyền.”
“Đúng. Anh đã có quyền được hy sinh trong thầm lặng. Anh đã có quyền được hưởng một đám tang tử tế. Không phải là anh sẽ hưởng được một trong những quyền ấy. Không phải là từ nay trở đi. Nhưng rồi anh sẽ biết tất cả về điều ấy.”
Kazinski cố gắng vượt thoát khỏi sự kiềm tỏa của anh, xoay xở bằng mọi cách để lách qua khoảng hở giữa phía phải của MacNeil và bức tường. Nhưng thân hình McNeil hầu như bằng với chiều ngang của con hẻm. Anh chỉ cần nghiêng người về bên phải rồi ép chặt Kazinsky vào bức tường. Tiếp theo, anh túm lấy cổ áo của y, hầu như nhấc hổng chân y lên rồi ném toàn thân y vào hàng rào chắn cuối con hẻm. Kazinski rơi vào đống đổ nát, rác rưởi và gạch vụn đổ xuống ào ào lên thân hình y.
MacNeil nói, “Hãy kể cho tôi nghe về chuyện đống xương.”
“Đống xương nào?”
MacNeil thở dài, “Tôi đã có một dấu vân tay trên tấm vé đi tàu điện ngầm được phát hiện nơi anh thủ tiêu đống xương ấy. Anh đang đối diện với án giết người đấy, Ronnie ạ!”
“Tôi không hề giết đứa trẻ gái ấy.” Có sự hoảng loạn trong giọng nói của Kazinski. “Tôi nói thật đấy, thưa ông. Tôi chỉ vứt bỏ đống xương ấy mà thôi.”
“Anh đã không thực hiện hoàn hảo công việc ấy.”
“Tôi đã được yêu cầu lén lút mang chúng vào Battersea, ném chúng vào lò hỏa thiêu. Ban đầu, họ muốn tôi mang cả cái thi hài ấy đi. Nhưng chẳng cách nào tôi có thể đưa cô bé ấy vào đó qua khỏi cổng an ninh. Thế nên tôi nói, cho tôi bộ xương, tôi mới có thể mang vào được. Họ không muốn để lại dấu vết mà, có phải vậy không? Họ buộc phải tiêu hủy.”
“Tại sao vậy?”
“Tôi không biết. Tôi chẳng liên quan gì đến việc ấy, tôi xin nói thật.”
“Vậy tại sao anh không thiêu đống xương ấy?”
“Bởi vì cái hố móng kia sẽ được lấp đầy bằng bê-tông vào buổi sáng hôm sau. Điều đó có nghĩa là tôi đã không phải chấp nhận một rủi ro nào, và họ cũng sẽ không biết bất kỳ một biện pháp nào khôn ngoan hơn.”
“Họ là ai?”
“Không biết.”
“Láo toét.”
“Tôi nói thật đấy, thưa ông. Họ chỉ thuê tôi thủ tiêu đống xương ấy.”
MacNeil nghiêng người về phía kẻ nghi phạm, “Ronnie này, anh sẽ gánh tội cho bọn người ấy trừ khi anh cho tôi biết chúng là ai.”
“Lạy Chúa, thưa ông. Tôi không biết tên bọn họ. Một hôm, có gã nọ đến gặp tôi sau giờ làm việc, đưa ra một đề nghị mà tôi không thể từ chối được.”
MacNeil lắc đầu, “Anh phải thành thực hơn như vậy nữa mới được, Ronnie à. Anh nhận bộ xương ấy ở đâu?” Anh nghe tiếng Kazinski thở dài trong bóng đêm.
“Tôi không biết địa chỉ. Đó là một tòa nhà lớn. Chắc là ông biết, một trong những chỗ dành cho những ông bà già giàu có.”
“Ở đâu?”
“Đó là một nơi nào đó gần với khu Wandsworth Common, đường Root, Ruth hay một cái tên nào gần gần như vậy. Lúc ấy trời tối, tôi không biết. Họ đón tôi đến rồi đưa tôi đi trong một chiếc xe hơi.”
“Trong giờ giới nghiêm à?”
“Chắc chắn. Có vẻ như điều đó không thành vấn đề. Chẳng ai chận xe chúng tôi lại.”
MacNeil đứng dậy nhìn xuống tên nghi phạm một hồi. Anh cần có nhiều thông tin hơn bấy nhiêu, và anh tin chắc rằng Kazinski còn có nhiều điều hơn để khai ra. Anh nói, “Để coi. Đứng dậy đi.”
Kazinski không nhúc nhích, “Ông sẽ làm gì nữa?”
“Tôi sẽ câu lưu anh vì tình nghi giết người.” Anh đã không kịp trông thấy chiếc sào quơ lên trong bóng tối trước khi quá trễ. Anh chỉ nghe tiếng “choeng” của một thanh kim loại rỗng ruột đập vào hộp sọ của mình khiến anh khuỵu xuống dưới hai đầu gối. Kazinski đã quăng theo cả chiều dài của một cây trụ giàn giáo mà y vừa quơ tay tìm được giữa đống rác, và thanh trụ ấy tiếp tục lăn lông lốc trên mặt đường tráng nhựa ngay khi y nhảy qua thân hình ngã sấp mặt của viên cảnh sát rồi chạy hết tốc lực ngược theo con đường mà y đã đến.
MacNeil gập đôi người lại thở hổn hển, ánh sáng nháng lên trước mắt. Làm sao mà anh lại có thể bất cẩn đến như vậy? Anh nguyền rủa, đập tay xuống mặt đất trong lúc thấy được vị máu trong mồm. Phải mất cả một phút anh mới có thể loạng choạng đứng dậy được, tựa một bàn tay vào bức tường gạch để tìm một chỗ dựa cho đến lúc anh có thể đứng thẳng mà không bị ngã lại. Đầu anh vẫn nghe ong ong như có tiếng chuông rền. Chẳng có ích lợi gì trong việc nắm bắt mọi thứ quá nhanh. Kazinski đã biến mất.
Phải mất mấy phút anh mới có thể xuất hiện với sự run rẩy trên đường Cung điện Thánh Anne và nhìn thấy một hình thù không rõ rệt nằm sõng soài trên mặt đất chỉ vài thước về hướng đông. Trong khoảnh khắc, anh tự hỏi đó là cái gì. Cách đây vài phút, ở chỗ đó chẳng có gì cả. Anh đi vài bước về hướng ấy và thấy đó là một người nằm sấp mặt, một thứ chất lỏng màu đen đọng thành vũng trên mặt đất bên cạnh kẻ đó. Một lớp máu bầy nhầy đang đông lại trong làn gió lạnh cóng. MacNeil quỳ xuống và phát hiện thân hình ấy vẫn còn ấm. Anh lật thi thể ấy lên thì thấy Kazinski trừng trừng nhìn anh với đôi mắt đã đứng tròng. Chiếc áo sơ mi trắng của y đẫm máu, nhưng MacNeil đã có thể thấy nơi ba viên đạn xuyên qua người y. Tất cả đều ở chung quanh quả tim. Kazinski đã hoàn toàn chết hẳn.