Dần dà, trái tim Thầy Emmanuel ngày càng trở nên hoang dại hơn. Khi vừa mở mắt thức giấc, sự ghê tởm thế giới loài người đã xâm chiếm ngay tâm can Thầy, mạnh như một cơn co giật. Thầy cảm thấy mình bệnh hoạn, bất hạnh và độc ác. Thầy nhắm mắt lại và chắp tay vào nhau, Mụ hoàng Mab bảo Thầy đang cầu nguyện, không nên quấy quả Thầy. Mụ không thắp đèn, không gây tiếng động, nếu không Thầy sẽ nổi cơn tam bành thịnh nộ khủng khiếp. Tất cả nỗi đau tóe ra sẽ vò xé Thầy. Thầy khua khuấy lên, đánh tay, đập chân, cặp mắt như trồi ra khỏi tròng và nhất là Thầy la rất to, đến độ gào lên những thứ mà người ta chẳng hiểu gì. Thiên hạ nhầm lẫn về triệu chứng, họ sợ bị đánh đập, hoặc nữa bị giết chết, nhưng họ không hiểu là Thầy Emmanuel đang vật vã đau đớn.
Nhưng Mụ hoàng Mab thì biết. Mụ ôm gọn thân thể Thầy trong đôi cánh tay vạm vỡ và cặp đùi nở nang của mình, và cho dù Thầy có ra sức giãy giụa áp sát trên chiếc bụng bự và bộ ngực vĩ đại, thì cũng chỉ như sự ngọ ngoạy chân tay của đứa trẻ sơ sinh, Thầy dịu lại. Rồi đúng lúc ấy, mụ mới nói với Thầy: Hay chúng ta cũng đọc vài đoạn Kinh Thánh nhỉ? Thầy gật đầu đồng ý, giống như một đứa bé đang gặp buồn phiền đoán trước là đằng sau nỗi sầu muộn sẽ có hứa hẹn của một niềm an ủi, và nhờ đấy nó đã thấy nỗi buồn vơi đi hẳn.
Mụ tháo xõa tóc ra và gỡ những mảnh vỏ sò đính nơi ngọn của vô vàn những lọn tóc tết sam của mụ, rồi đặt những mảnh ấy vào lòng bàn tay Thầy. Ngồi giữa đám bụi, Thầy ném cho chúng chuội đi với vẻ lanh lợi bồn chồn của tay chơi có cử chỉ nóng lòng. Dựa trên các vỏ sò lăn lóc, số bụng hồng hồng xác định trang sách, số lưng lóng lánh xác định dòng chữ. Mụ mở cuốn sách của Cha Jean và đọc những gì mà số mệnh đã ấn định. Thầy Emmanuel chờ đợi Đấng Tối Cao sẽ hạ lệnh cho Thầy ra đi, nhưng trong cuốn sách vẫn chưa thấy có đả động gì tới vấn đề này. Chỉ thấy đề cập đến mỗi sự trừng phạt của Chúa và chiến tranh. Chúa Trời bất bình, coi họ là thần dân cứng cổ. Chúa Trời không yêu thương họ.
Thầy trả cho mụ những mảnh vỏ sò và nhìn mụ chải lại tóc, thấm chút nước bọt vào đầu những đuôi sam cho láng để xâu lại các vỏ sò vào đó, gắn chúng vào tóc mụ tựa như những cái lục lạc rồi buộc chung tất cả các dải sam cao lên đỉnh đầu, và sau cùng mụ quấn quanh cái đầu thần diệu của mình một chiếc khăn rằn khổng lồ. Mụ ráng sức an ủi Thầy. Mụ nói với Thầy là không nên sốt ruột trước định mệnh, do mọi thứ nếu đã được định sẵn rồi, thì ắt sẽ phải tới thôi. Thầy trả lời rằng Thầy biết rõ là thế, nhưng đúng ra là Thầy tự nghi ngờ chính bản thân mình, Thầy tự hỏi không biết cái ngày mà lệnh được truyền tới, liệu Thầy có còn đủ sức mà đi không. Mụ bác bẻ lại Thầy ngay rằng Chúa đã làm đúng khi kéo Moise ra khỏi Ai-cập, thoát khỏi nhà chứa nô lệ, và Chúa đã bắt ông ta băng qua sa mạc mênh mông và khủng khiếp, giữa những loài rắn thiêu đốt và loài bọ cạp đanh thép.
Kinh Thánh xoa dịu Emmanuel, miệng của Mụ hoàng Mab đã được thửa cho lời Chúa đi qua. Miệng mụ giống như nguồn suối giữa hai vách đã đã trở nên nhẵn bóng do nước trong suốt chảy qua. Khi mụ nói hoặc khi mụ đọc, Thầy ngắm nhìn miệng mụ kiểu như ta nhìn nước từ mạch rỉ ra, vừa bất biến vừa luôn đổi thay. Thầy căm ghét tất cả các khuôn miệng khác, những cái miệng đỏ của các bà da trắng, những cái miệng nói chuyện thông thường hàng ngày, những cái miệng phá lên cười. Thầy thích cái miệng của Mụ hoàng Mab, và cũng thích luôn cái miệng của con khỉ không biết nói.
Dù một mực cố gắng để trấn an Thầy, trái tim Mụ hoàng Mab vẫn trầm buồn. Mụ biết Thầy sắp ra đi, và mụ sẽ không níu giữ được Thầy bằng những trò chơi vỏ sò trong cát, với những câu chuyện đầy máu và vàng. Tất cả những gì mụ sẽ làm để cầm giữ Thầy đều tước đi niềm vui của Thầy và đem đến cho Thầy nỗi cay đắng. Lúc này, sự ham muốn ra đi nơi Thầy quá đỗi mạnh mẽ, đến nỗi mà Thầy chắc sẽ ra đi mà không đợi sự ban phép của Chúa, không cần sự chúc phước của mụ, tức là cũng vậy thôi. Thầy sẽ rón rén bỏ trốn, và đấy sẽ là một thảm hoạ lớn, tựa như chính ý Chúa bị suy sụp.
Mụ vuốt ve cái thân to lớn nằm dài cạnh mụ, vuốt ve tấm lưng vẫn còn rộng thêm ra, rồi cái bụng căng cứng, mụ nhẹ nhàng, mơ màng vuốt ve khuôn mặt của Thầy, nhưng Thầy úp mặt xuống đất. Thầy thấy thích nền đất lạnh hơn mảng đùi rộng nóng hổi nấp dưới lớp váy lụa tím của mụ. Thầy tự khép mình lại. Mụ cảm thấy cơ thể của chính mình không thể đi xa hơn được nữa, không thể trở thành lớn hơn được, to hơn được, khoẻ hơn được, để có thể vừa khít với thân hình của đứa trẻ đang keo cứng lại vì tuyệt vọng. Mụ không thể cố chịu được nữa. Mụ đã đẻ ra bầu trời, mụ không còn sức để sinh ra nước và cá cho biển. Thầy chắc hẳn phải ra đi.
Mụ hứa với Thầy, tuy chẳng tin lắm vào điều mình nói là sẽ có một lễ rửa tội cho một đứa bé chưa được đặt tên. Ta sẽ gọi nó là gì? Thầy biết rõ rằng ấy chỉ là lời hứa, lấy kẹo nhử mồi. Chẳng lễ rửa tội nào được dự kiến cả, nhưng từ giờ đến lát nữa mụ nhất định phải tìm ra cho Thầy một đám, nếu cần thì cũng buộc lòng ép bụng một bà nào đó để bắt chui ra ánh sáng một thai nhi đang kề cà chưa muốn chào đời. Thầy lắc đầu, Thầy muốn ở lại đây hơn, trên mặt đất, gần mụ hơn, người mà Thầy đang phải ly dị. Nhìn ta đây này, mụ nói. Thầy từ chối không đưa mắt về phía mụ. Nhìn tôi đây này, mụ cố nài, và hai tay đặt lên miệng, mụ phát hiện ra điều mụ e sợ từ trước: hai mắt Emmanuel ngập tràn một sự tăm tối ướt lỏng và tuyệt vọng.
Ðó cũng chính là lỗi của mụ, mồm lúc nào cũng thốt ra hai chữ thiên đàng, thiên đàng này, thiên đàng nọ, nghe nhiều quá Thầy đã tin mụ, nghe nhiều quá Thầy thấy thiếu vắng nó, Thầy chỉ muốn có thiên đàng ngay lập tức. Ðiều gì trời đã định thì đã định. Chấm hết, có thế thôi. Chuyện rất đơn giản: trước kia có thiên đàng, sau đấy là sa ngã; rồi sau cùng lại thiên đàng, giữa hai đầu có sự phạm tội và chuộc tội. Thầy đã từng phạm tội, Thầy đã sa vào sai lầm, đã lạc vào tội lỗi và bây giờ Thầy muốn quay trở lại. Chấm hết, có thế thôi. Sự cải tạo kéo vào thêm con chiên đã được giao phó cho Thầy như là hình thức chuộc tội. Thầy chỉ biết rằng Thầy sẽ không quay lại một mình. Mụ hoàng Mab đồng tình trên tất cả mọi việc, chỉ trừ có việc quay trở lại. Việc ấy làm mụ sợ hãi. Ðối với mụ, việc ấy chẳng có gì là vội. Ta có nhiệm vụ của ta, mụ nói. Thầy Emmanuel đoán chắc rằng nhiệm vụ của mụ chẳng qua là buôn bán dựa lên cửa hàng LA RESSOURCE. Còn mụ thì muốn mình là nhà kinh doanh TỘT BẬC của châu Phi.
Thiên đàng của Thầy mang một hương vị tuổi thơ một cách dữ dội, có lẽ Thầy còn có thể định vị được nó rõ trên bản đồ, một cách chính xác bên dưới cái cây nơi mọi người đến nói chuyện dài dòng của ngôi làng, cái cây khổng lồ đỏ rực như ngọn lửa vào mùa trú đông, trải rộng xanh ngắt lộng lẫy vào mùa khô, với những đàn gà bới bụi và những con thằn lằn co giật lưng vàng đang săn đuổi các con cái nhỏ hơn màu xám. Ở đó cũng có một con chó cái nằm nghiêng, trưng ra trên cát những bầu vú hồng hồng. Thiên đàng ở đấy đấy, ở giữa cẳng chân của những người đàn ông đang phe phẩy chiếc vỉ ruồi, ở giữa vòng tay của những người đàn bà vừa mua được ít hàng rong đi ngang qua hay đang bới chấy cho đứa trẻ. Thầy hẳn cũng có thể xác định được ngày tháng của thiên đàng, cái thiên đàng ấy đã xảy ra trước lúc Thầy mười lăm tuổi, trước khi Cha Jean xuất hiện ở làng, vào thời mà viên cựu chiến binh luôn kể những mẩu chuyện rất hay, thỉnh thoảng có điểm thêm những tiếng lậc khậc trong cổ. Hoặc vài tiếng thở dài khi câu chuyện quá lôi cuốn.
Rồi đã có sự trốn chạy, với nước mũi và nước mắt với máu dính đầu ngón tay và tiếng nức nở trong cổ họng, sa ngã là thế. Chẳng có gì, không một lời nói, cuốn sách khép kín như một hòn đá. Thầy là gã đã mang một cuốn sách vượt rừng. Nhiều lần Thầy có ý định vất bỏ nó cùng với cây thánh giá và chiếc túi của Cha Jean, nhưng Thầy vẫn giữ nó lại bởi lẽ, nếu không có nó, hai bàn tay Thầy sẽ chẳng khép lại trên vật gì, hai vai Thầy sẽ chẳng mang vác cái gì và hai cánh tay Thầy cũng sẽ chẳng có gì để nâng đỡ. Chính cuốn sách, trong niềm bất hạnh, đã giữ cho Thầy bản chất con người. Nếu không có cuốn sách, đôi cánh tay Thầy chắc đã dài ra, và đôi bàn tay Thầy sẽ co quắp lại như vó ngựa.
Và rồi còn phải học hỏi thế giới, không phải thế giới của khu làng gồm những kê và sắn nghiền nát, nước xốt cỏ ninh lâu dậy mùi ớt cay nồng; nhưng là cái khác kia, cái thế giới đã nhiễm thói dã man, mà loài người quên mất bởi họ đã không từng đặt tên cho nó. Trước những quả xa lạ mà Thầy chỉ biết qua nhờ mùi và vị, mũi và miệng Thầy cố nếm để phân biệt cái ngon và cái tồi. Đây là những sự lừa đảo khủng khiếp của thiên nhiên, quả thơm không phải lúc nào cũng tốt, và quả thối không phải lúc nào cũng xấu; một quả có vỏ căng tròn dày thịt và ngọt lịm nào đó đã giáng cho Thầy một trận đau bụng nhừ tử như đã ăn phải một thứ độc cực mạnh; một quả vừa đắng vừa tanh nào khác lại chữa cho Thầy khỏi bệnh. Mắt Thầy nhìn sâu hơn vẻ bề ngoài, tai Thầy nghe xuyên qua các tiếng động. Mọi thứ đều đe dọa Thầy, chỉ có chất thải của Thầy là tốt lành và thuận lợi, nhưng những loài vật, những con ruồi xanh kiến cỏ lại tranh giành nó với Thầy.
Thầy đã nên người vào lúc Thầy tìm lại được chỗ đứng của mình giữa loài vật, và giữa thiên nhiên. Râu ria Thầy mọc rậm rì như trên mặt các nhà thám hiểm đi lạc giữa rừng sâu, mà người ta tìm lại được nhiều năm sau nhưng chỉ còn là những bóng ma của chính họ; râu mọc nhanh cũng tựa như tóc bỗng dưng bạc trắng do thử thách quá gay go. Vài bước đi lảo đảo, một cái cây Thầy chưa bao giờ nhìn thấy bỗng đâu xuất hiện, với những quả dài mà khi ăn vào nó không làm Thầy đau bụng, rồi cả một rừng loại cây này, có nước chảy vào giữa trưa. Thầy đã trải qua một năm trong vườn chuối mà không phải sợ lũ khỉ to lớn cũng đến bên mép rừng như Thầy, để lấy chuối và nước về ăn uống. Nhìn đoàn người vác chuối chạy qua, bầy khỉ và Thầy im lặng sửng sốt, khiếp sợ bọn họ, trong khi khỉ và Thầy lại chẳng sợ lẫn nhau. Và cứ như vậy, cho đến tận lúc Mụ hoàng Mab bắt gặp Thầy bên cạnh bờ giếng và nêu cho Thầy ý nghĩa của cuốn sách.
Ngôi làng đã đem lại cho Thầy tiện nghi và quyền lực, lời rao và câu viết. Hẳn Thầy đã có thể an cư trong cái mà Mụ hoàng Mab gọi là hạnh phúc, Thầy hẳn cũng đã có thể ham muốn cửa hàng LA RESSOURCE, để cùng với mụ trở thành vị thương gia lớn TỘT BẬC của châu Phi. Nhưng chính tại điểm này mà họ có những ý khác nhau, hạnh phúc không đủ thỏa mãn lòng Thầy. Thầy luôn khụt khịt vì khó chịu, luôn tua tủa những lo sợ, luôn bận lòng với một mong muốn phải mất rất nhiều thời gian để biểu lộ, để rồi sau đó còn phải tỏ nét ra và trở thành thiết yếu, một mong muốn rút cục chỉ là điều mơ ước được trở về thiên đàng. Cái mong muốn này dĩ nhiên đã khiến Mụ hoàng Mab nhún cao đôi vai mập ú của mình, và hôm nay điều mong muốn ấy Thầy cảm nhận rõ qua mùi vị và màu sắc của da thịt mụ ta, qua cách vấn tóc lại của mụ, đã làm mụ hết sức buồn phiền.
Mụ trút cơn cáu giận của mình lên Victor. Mụ bắt anh phải thanh toán nợ ngay lập tức. Đưa cho tao những gì mày có, mụ nói với anh. Nhưng tôi nào có gì, anh trả lời, giọng bực tức. Đưa đây, mụ khăng khăng, đô la, bảng Anh, đồng mác, đồng yên… Tôi chẳng có gì mà, chẳng có gì hết, CHẢ CÓ GÌ HẾT. Ðồng hồ vàng, tiền bạc, nữ trang đâu hả? Tôi không có gì, anh dốc hết lên quầy hàng những thứ có trong túi. Thế còn cái này? Mụ vừa hỏi anh vừa liếc đến chiếc ví. Anh mở cho mụ xem, lôi ra những giấy tờ căn cước, bản hợp đồng khốn nạn gắn liền anh với LA RESSOURCE. Bỗng từ đấy rơi ra một mẩu giấy lụa nhỏ. Anh đã quên khuấy những viên hồng ngọc đã được đánh thành hoa tai. Chúng nhỏ tí, đen sì như những cục cứt chuột. Cái này, mụ nói. Tôi không thể, anh trả lời. Tại sao? Mụ vặn hỏi. Bởi vì, bởi… Đưa ngay, mụ đòi dữ, và anh đành đưa cho mụ đôi hoa tai. Ngày mai tao quay lại, vừa nói mụ vừa vặn đôi tòn ten hồng ngọc lên tai mình, và mày phải thanh toán hết nợ đấy nhé. Tao cũng vậy, tao không thể chờ thêm được nữa.