Ánh nắng mặt trời, ít nhất là ở nơi tàu LA VOLONTÉ DE DIEU cặp bến, thì rặt một màu nâu, màu của nước đục và đất nhão, cả một vùng đầm lầy mênh mông dập dềnh dưới vòm trời vàng sậm. Vượt lên trên tất cả là một bãi xỉ, một bãi thải khổng lồ, một khối màu nâu sậm, như keo nhớt, thối khẳn, đang trườn ra biển tạo thành một dòng sông dài nhớp dính, một hòn non chuối thối. Còn mùi bốc lên thì khỏi nói.
Thế nhưng, trên boong tàu cao sang, người ta nhìn thấy César đang khoa chân múa tay trước núi phân này. Ông gào lên: Đồ dơ dáy, đồ bẩn thỉu. Thoạt đầu, từ này có vẻ rất chính xác, thích đáng và không hề quá lố, nhưng mặc cho tính phổ quát của nó, từ “bẩn thỉu” kém cỏi đó cũng không thể bao trùm được cái này. Quá đỗi kinh hoàng, chung quy là khiếp đảm: Ba tháng sản xuất chuối, sản xuất liên tục, thừa thãi, vô tội vạ, khăng khăng, vấp phải sự đình công không kém phần cương quyết, cứng cỏi, ngu ngốc kiên trì điên dại của bọn công nhân bốc hàng ở phía bên kia trái đất. Bẩn thỉu, từ này không áp dụng cho chuối mà để chỉ những người thợ bốc dỡ ở bến cảng, ở đây, từ này còn mang một âm hưởng đạo đức. Nhưng để chỉ đống núi chuối thối kia, thì còn từ gì nữa nhỉ? Bức tường phu khuân vác, núi chuối, và giữa hai cái là đại dương mênh mông. Chuối thối rữa lẩn chìm vào lòng đại dương.
Nói cho cùng, ở bên kia bờ đại dương, chuối chưa bao giờ thực sự ăn bén vào đời sống. Người ta uổng công chế biến nó thành bột, thành rượu manh, trộn lẫn nó với ca cao, lúa mì, rồi lại sấy khô nó, nhưng hương vị chuối thì không tài nào che giấu đi được. Phải nhìn thấy những người tiêu dùng lưỡng lự khi đứng trước giỏ hoa quả, thấy kẻ quả cảm nhưng phân vân về cách thức chế biến trái chuối, và thấy tất cả những máy mó khi nấu nướng, cắt nhỏ, nghiền nát, nhào trộn để làm nó biến dạng. Nhưng vị chuối vẫn còn đó, không lẫn vào đâu được, thậm chí ngay cả trong đĩa sa lát hoa quả thập cẩm. Dưới bất kỳ hình thức ngụy trang nào, người ta vẫn nhận ngay ra nó: một quả chuối, chỉ một quả thôi, thì cũng đủ làm cho đĩa sa lát chuyển vị đi. Chỉ còn mỗi nó ở trong miệng, tất cả đều trôi chảy, riêng mùi chuối vẫn đọng lại ở đầu lưỡi. Một niềm hy vọng cuối cùng đặt vào chuối nướng, được tinh lọc trên đám lửa xanh lơ bốc ra từ rượu mạnh. Nhưng lửa, nếu mà là rượu rum cũng không vô hiệu hóa được chuối; khi ngọn lửa tắt đi, bản thể vẫn còn nguyên, chuối hoàn chuối, lại còn ngọt hơn và nhây nhớt hơn nữa.
Đứng trước những nông trường chuối rộng mênh mông, cả thế giới giống như một kẻ dự bữa ăn tối, vào lúc cuối bữa, do dự không biết có nên dùng món tráng miệng hay không. Có quá nhiều chuối. Quá màu mỡ, quá ê hề gây nôn ọe. Chuối nằm lại trên bờ châu Phi trong khi phương Tây lại vui thú với các loại quà bánh khác. Những người phu khuân vác đẩy chuối xuống biển. Nhưng người ta vẫn sản xuất nó một cách mù quáng. Những Nhà Sản Xuất Chuối đổ ra cả hàng mấy ngàn tấn, họ chọn lọc những thửa đất tốt nhất, chọn giống sinh lợi nhất. Họ đã gạt bỏ loại chuối lợn, hai năm nở quả một lần để thay vào loại chuối cho quả quanh - năm - sát - đất, mọc bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào, chuối thừa mứa, chuối vô chính phủ, chuối doạ nạt, phá rối sự cân bằng sinh thái, kinh tế và xã hội. Càng ngày càng nhiều chuối. Không có mùa, không đất không trời gì hết mà chỉ có chuối, CHUỐI và CHUỐI, chẳng có thứ gì khác. Các Nhà Sản Xuất Chuối cóc cần quan tâm, họ đang ở trong một vòng xoắn quái quỷ, họ chẳng thèm biết rằng ở bên kia đại dương, người ta không muốn có chuối nữa, người ta không thể chịu đựng được nó nữa.
Ở Mégalo, người ta rất lo ngại chuối, là thứ đã làm hỏng hết các con đường của người ta, đã đánh quỵ nền kinh tế quốc gia, đã phá hủy môi trường - đến nỗi không còn chấp nhận cho nó được vận chuyển quá cảnh qua cảng chở hàng nữa. Người ta đã dành cho nó cái thuộc địa cũ, với lối ra vào khó khăn, bao quanh bởi một thành phố chết chìm mỗi khi trời đổ mưa, và bởi một nghĩa địa nhấp nhô xác chết. Đấy là cảng dành cho chuối. Những con tàu lớn thì đậu ngoài khơi xa giống như bị cách ly. Người ta đổ bộ những Nhà Sản Xuất Chuối lên nơi đó như lưu đày những kẻ ôn dịch. Mùi chuối bám vào đồng tiền của họ, và ở thủ đô, người dân thường không quý trọng họ. Thế là người ta đã tập hợp ở điểm F., được biệt danh là Cảng Chuối, tất cả những gì cần thiết cho cơ đồ của họ, những quầy mua bán lớn, những nhà băng và nhà thổ. Kiểu ấy tựa như một thành phố trong phim cao bồi tuy không có bụi nhưng đầy sự thối rữa, và tất cả ai nấy đều hài lòng.
Trong cảng, đất lấn biển, đáy biển như được bồi dần lên. Để cặp bờ, người ta phải dùng xuồng đáy bằng để vận chuyển từ tàu lớn vào. Ngoài khơi, LA VONLONTÉ DE DIEU giống như một cái tháp màu trắng sáng lừng lững lấp lánh. Trong lúc tiến về phía trước, đối mặt với núi lầy nhầy như keo, Victor chợt hiểu ra rằng gã họa sĩ cạnh cửa sổ tàu đã nói dối về cây cọ, và về tất những chuyện còn lại, bãi cát, bầu trời xanh lơ. Chỉ duy nhất có cô gái trong bức tranh là đúng. Nhưng trong ấy cô ta còn trẻ quá với mái tóc dài mà gió đã thổi cho rối tung, một chiếc váy nhỏ xíu, đôi xăng-đan lưới. Anh chậm nhận ra nàng, bởi vì anh mới chỉ thấy nàng vào lúc nàng khỏa thân.
Lola, túi mây trên vai, ngắm nhìn trái núi đang tiến lại gần. Đó không phải là ánh nắng, nhưng nàng tự nhủ thầm với mình, trong đất nước này, ánh nắng có lẽ là thế. Nàng nhầm giờ, nhầm ngày, nhầm năm và nhầm cả lục địa. Và trong cùng lúc ấy César đi đi lại lại trên tàu, đối diện với trái núi mà người ta cảm nhận được độ thối rữa nồng nặc, đang gào lên. Đồ rác rưởi, đồ bẩn thỉu. Trong khi quan sát người đàn bà trẻ, Victor không nghĩ tới những gì đang đón chờ anh, anh mơ màng đến tình thế phi lý giữa việc nhìn thấy một người đàn bà khỏa thân và khi gặp lại cô ta trong trang phục.
Beretti dừng lại trên bến cảng để thao dõi việc bốc dỡ hàng từ các xuồng xuống. Toàn bộ chuyến hàng của con tàu, những thùng rượu dập vỡ bốc mùi thối khẳn, cần phải được đưa xuống thẳng đứng, những kiện hàng khổng lồ, những bao tải đay đầy ứ phải lăn xuống, những túi ba lô. Cẩn thận, Beretti gào lên, hai tay đưa về phía giỏ hàng, cẩn thận, và đứng đối diện với những Giám Đốc vẫn còn đang bị lóa mắt do anh sáng và sau nhiều ngày sống trong ổ chuột nên đang cảm nhận được sự bập bềnh của đất, khi mà mặt đất chối từ ổn định, các anh không thể giúp một tay à! Bọn họ cũng chỉ đòi hỏi mỗi điều ấy và, trên bến cảng, họ cũng năng nổ như Beretti. Cũng lảo đảo, cánh tay họ cũng đưa lên, họ cũng gào lên với bọn da đen đang treo lơ lửng trên những sợ dây chão: Cẩn thận, và với những người đang xếp hàng vào xe tải: Nhẹ nhàng thôi! Có những thứ bị bẹp vỡ, qua tiếng động phát ra, họ nghi là không thể vớt vát lại được nữa. Một tảng lớn, chẳng rõ là thứ gì, bỗng mất hút trong biển. Đó quả là một sự mất mát lớn không lường trước được!
Tất cả hãy lại đây, Beretti nói trong lúc tập hợp nhóm người của mình, không còn xa nữa đâu, tôi sẽ dẫn các anh đi. Họ đi dọc theo khu nghĩa địa dành cho người da trắng, nạn nhân của bệnh sốt vàng da. Để tỏ bày nỗi đau đớn, những tàn phá và sự lan rộng của nạn dịch, người ta chỉ biết cách dựng lên những tác phẩm nhà binh, những tượng tính lông lá của đại chiến thứ nhất[1] đang ngậm kèn thổi, những tượng hình đàn bà phủ phục ngay sát những người lính đang co quắp hay lờ đờ, những chú gà trống nổi đóa, những thiên thần tí hon đội mũ bảo hiểm, tất cả những thứ đó vương víu trong lá cờ bằng đá, trong khăn vải liệm với những nếp gấp thẳng cứng, trong những dải nơ kiểu vùng Alsade cứng nhắc giống như xi măng mà người ta dùng để đúc chúng. Chiến tranh à? Victor hỏi. Không, Beretti đáp lại, nạn dịch đấy… Và do sản xuất quá độ tượng đài dành cho người quá cố, nên có những thị xã nhường chúng lại cho một châu Phi vẫn luôn mang ơn họ.
Họ đi dọc theo một phố đường đất, nhấp nhô ổ gà đây đó, giữa các tòa nhà thời thực dân, mà cây cối mọc lên đã lấn chiếm dữ dội bằng cách tiết ra không thiếu những rễ móc, cành thắt chặt và gai độc, và giữa các căn hầm mới hơn xây cất bằng những nguyên vật liệu thu nhặt được, gồm những khối đá xây mộ đã được cào khắc tên vài người Pháp nào đó, những mảnh sắt vụn mà ta có thể đoán được tuổi nhờ sự phân tầng của lớp gỉ. Nơi đây tựa như một kho chứa đồ tạp nham khổng lồ tua tủa các biển quảng cáo, trên chóp đầy đèn nê-ông, trang bị điện hết tầm: những vì sao xẹt sáng lóe lên rồi lại tắt ngấm, những chàng cao bồi bằng bóng đèn bật sáng xen kẽ nhau, lúc đỏ, lúc xanh, những chiếc máy bay khi cất, khi hạ cánh, những khóe miệng lúc há lúc ngậm, những cặp mắt nhấp nháy… tất cả như đi theo những hiệu lệnh một hai, một hai, co thắt và run giật có vẻ như sắp được chập mạch và đứt điện. Điện cũng chưa đến được với tất cả mọi người. Phía dưới kia, vẫn còn những người sống bằng củi lửa, bằng nước tù đọng, bằng cối giã tay không ngừng, với những cử chỉ lề mề còn giữ lại được từ thủa sơ khai của loài người. Trên những cánh cửa, vài bức tranh hồn nhiên được vẽ lên để ca ngợi tài cán của một chú thợ hớt tóc, một anh thợ may, và của một vài nhà xuất - nhập khẩu kém phần minh bạch, ít nhất là về mặt chính tả.
À LA RESSOURCE DE L’AFRICAIN. Khi họ tới trước nơi này, đây rồi, Beretti nói. Tất cả bước vào trong một kho chứa hàng khổng lồ. Những bao tải xếp cao ngất ngưởng tới tận mái nhà, trong một thế rất tròng trành mà bọn da đen, vẫn là bọn ở cảng hồi nãy, đang nguy hiểm trèo lên. Sau quầy, một thằng bé con lai tuyệt đẹp, nước da màu đồng sáng, với đôi mắt tuyệt hảo: xanh và trong suốt như màu lục bảo, viền hàng lông mi dày, dài và cong vút, trông dễ sợ như những nhị hoa của một số loài cây ăn thịt người. Mình trần, đã hơi béo bự, cổ lủng lẳng chiếc dây chuyền vàng. Đẹp đến nỗi khiến ta phải hoảng sợ.
Chào chú. Ôm hôn, tay vỗ lên tấm lưng trần. Bố thế nào? Beretti hỏi, qua đó cho thấy tính thiêng liêng gia đình, bền chặt của công ty. Vẫn thế. Giọng nói phát ra từ sau quầy thu tiền. Lại một con bé nữa, nhưng hom hem, vàng ủng, như là bản sao của đứa con trai nhưng cằn cỗi và biến chất. Nếu thằng con trai là bông hoa, thì cô ả là cái lá, là cành nhánh hay cái gai. Theo lời thằng con trai thì bố có vẻ trở thành mất trí, ông không chịu để cho ai đến gần, ông không muốn ai nói chuyện với ông. Thế thì sao? Cô bé lai lại nói, và ra mặt giận dỗi.
Dù sao thì chú cũng đến chào ông một câu, Beretti nói. Đứa con gái nhún đôi vai còm của mình. Ta hình dung, từ bộ ngực chìa ra trên quầy thu tiền, một kẻ còm cõi, với cặp chân khoèo. Những Giám Đốc im lặng, vẫn còn choáng váng bởi chuyến đi biển, đứng yên sau quầy, vạch phân cách thế giới. Beretti đi về phía một khối thủy tinh, hơi giống những khối pha lê của các viện bảo tàng mà trong đó người ta thường cất giữ những đồ cổ quý giá. Chủ nhà, cha đẻ của LA RESSOURCE to béo khủng khiếp, đang vừa ngự trong khối thủy tinh đó, cách ly tiếng ồn và khí nóng, vừa theo dõi công việc đi lại của công ty mình. Ông ta ở trong một chiếc hộp làm lạnh, cả khối thịt khổng lồ của ông áp sát vào mặt kính, làm thành từng mảng hồng dính vào chỗ này, chỗ kia, nơi mà cơ thể ông chạm vào như thể là có những ống giác hút chặt ông vào trong chiếc hộp của mình. Tối đến, hai thằng bồi đẩy chiếc hộp ngả về phía sau để ông có thể ngủ. Ông ra lệnh bằng dấu hiệu, một chiếc ròng rọc được mắc vào để làm cử động cánh tay phải của ông. Chỉ một tia mắt, một thằng bồi nâng lên hay hạ bàn tay của ông xuống. Ông không còn muốn nhúc nhích nữa, ông không còn muốn người ta đụng chạm vào ông.
Tôi đây, Beretti nói. Cuối cùng cũng về đấy à, kẻ béo phệ lên tiếng. Và rồi, trong một khoảng thời gian hình như rất lâu, người ta chẳng còn nghe thấy gì nữa. Kẻ béo phì, cặp mắt trắng dã, mơ một giấc mơ nặng nề, cụ thể mà nó lại cứ ì ra đó, không chịu đi đi cho. Khiến người ta có ý muốn giúp ông. Thế nào? Beretti hỏi. Thế nào à? Kẻ béo phì nói, và bằng một cử chỉ, chỉ hơi nhích khẽ mà cũng đủ làm cho chiếc ròng rọc rít lên, ông ta chỉ về phía sâu trong cùng của kho chứa hàng. Nhiều thế này cơ à… Beretti nói, ấy là chưa tính đến những gì tôi mang về. Lại thêm một thời gian im ắng rất lâu không có chuyện gì xảy ra. Kẻ béo phì vất vả xua đuổi giấc mơ của mình, điều đó làm cho ông ta có cái nhìn chòng chọc đầy ảo giác kinh hoàng. Mọi người chờ một tiếng nấc, một cơn co thắt, một cái gì đó từ bên trong giải tỏa cho ông. Victor đã từng biết đến những lần đợi chờ kéo dài khủng khiếp, những câu chào hỏi câu nệ không dứt, những lời phát biểu hời hợt che lấp những vấn đề chính yếu, nhưng lần này không có gì giống như thế. Anh thấy hình như có lẽ phải đánh thức ông ta dậy, hình như từ câu nọ sang câu kia, ông ta có lẽ đã quên mất sự có mặt của bọn anh ở đây.
Họ ở đây tất, Beretti tấn công thẳng thừng. Và như để hối lỗi: đó là tất cả những gì tôi đã có thể làm được. Bọn họ, ai nấy đều luộm thuộm, nhem nhuốc, râu ria rậm rì, chỉ duy nhất có Victor là đã cố gắng sửa soạn đôi chút, cạo râu, diện complet đen và thắt cravat. Một đám tù khổ sai với những cặp mắt rực lửa như loài sói. Kẻ béo phì quan sát họ kỹ lưỡng, tiếng động của công chuyện làm ăn đã đánh thức ông ta tỉnh dậy ngay. Tôi đã thông báo cho họ biết nội dung công việc, bọn họ đồng ý hết, Beretti nói. Victor không dám cắt ngang lời ông, chắc ông thừa biết ông đang làm gì. Vào thời khắc này anh tin tưởng nơi Beretti. Kẻ béo phì hất đầu: năm mươi phần trăm trả vào lúc giao hàng, số còn lại vào đúng kỳ hạn. Vâng, Beretti nói. Bao gồm cả hàng tồn kho, kẻ béo phì nói rõ. Đương nhiên rồi, Beretti trả lời. Thế thì mọi chuyện ổn rồi, kẻ béo phì kết luận. Beretti quay về phía những ông Giám Đốc của mình, khoa tay ra hiệu với họ để nói rằng mọi chuyện đều diễn ra suôn sẻ.
Mấy gã đàn ông đứng đợi đằng sau quầy, giống như ở vạch xuất phát. Ông ta vốn như thế, Beretti phân trần. Khi ta nghĩ đến chân dung doanh nhân mà ông ta đã từng là…, kẻ giỏi nhất trong chúng ta, kẻ giỏi nhất trong tất cả mọi người. Bắt đầu từ con số không, ở một ngách khỉ ho cò gáy không hình dung được… Không phải như các anh bây giờ đâu, các anh được cung cấp xưởng thợ, cửa hàng, được cung ứng hàng hóa, khách khứa… Chẳng có gì phải làm hết. A, có chứ, đến đây ông ta phá lên cười to, BÁN,… Các anh sẽ gắp thăm những chi nhánh cửa hàng cho mình. Câu này cùa Beretti như thể báo hiệu khởi đầu cuộc đua tìm hạnh phúc. Bọn họ đang ở trong tư thế sẵn sàng, chân trên bàn dậm. Đằng sau quầy thu tiền, đứa con gái lại đang viết tên các cửa hàng chi nhánh lên những mẩu giấy nhỏ. Những địa danh xa lạ, những tên gọi không thể phát âm nổi, nhưng họ lại thấy hài lòng khi nhẩm đọc những từ chẳng nói lên được điều gì, như thể số phận, khi đã gán cho họ những mẩu giấy đó, đã tỏ ra ưu ái họ. Họ còn một tiếng đồng hồ.
Cả bọn tản đi trong niềm phấn khởi hân hoan của lũ trẻ khi vào giờ tan lớp. Họ biết sẽ đi tiêu khiển ở đâu, tất cả vào nhà thổ. Nhà mái tôn lượn sóng, nhà bằng hộp các tông, nhà bằng mảnh gỗ ghép, khách sạn sang trọng có kiến trúc theo kiểu bánh ga tô cưới, ở Cảng Chuối, có nhiều nhà thổ hợp với tất cả mọi sở thích. Xin chào mừng, lũ gái kêu hét ầm ĩ trên bậc thềm nhà, welcome, các cô vừa gào lên vừa vén tấm ri đô bằng hột cườm của các nhà thổ loại xoàng xĩnh nhất, willkommen. Các cô bỏ dở bữa ăn gồm thịt bò hộp và đậu đỏ, họ thay nhau đuổi ruồi và nhanh chóng bắt tay vào việc. Nhanh lên em, một gã nói mà đầu óc đã ở tận đâu đâu, nhanh lên chứ, xe tải của anh sắp đi rồi.
Victor ở lại trong kho chứa hàng. Này, cậu làm gì ở đây thế? Beretti hỏi tựa như người ta lục vấn một đứa trẻ không muốn chơi. Và cũng giống như một đứa trẻ ngồi tách trong sân trường vào giờ ra chơi, Victor không trả lời. Cậu không đi với bọn chúng à? Beretti vẫn tiếp tục hỏi. Victor hé nở một cười đủ để nói rằng đó chẳng qua là những cuộc chơi mà anh chẳng hiểu trò trống gì cả. Tại vì bà cậu à? Beretti cật vấn.
Trong hộp, chiếc ròng rọc thực hiện công việc của dây và bánh xe của nó, kẻ béo phì ra hiệu cho họ đến gần, ông ta muốn nói với họ điều gì đó. Hai người vượt qua quầy, rất thành kính đối với thần tượng, họ đứng quanh chiếc hộp. Victor chợt nghe như tiếng kêu của loài chuột, anh chưa bao giờ nghe ai nói chuyện xuyên qua một khối pha lê. Bố Già ngỏ lời với anh. Ông ta hỏi tuổi cậu đấy. Hai mươi, Victor trả lời. Nhưng đối với những con người ấy, tuổi tác này chẳng nói lên được điều gì, đấy là hai mươi tuổi của thủa xưa, hai mươi tuổi được chăm ẵm và chín muồi dần bởi một người đàn bà, và lại là một người đàn bà thuộc một thế hệ khác. Hai mươi tuổi với sự thẹn thùng của người trinh nữ, sự ngây thơ của trẻ con, sự trong trắng của cô gái mới lớn, hai mươi tuổi đã xoa hồng đôi má và điểm lệ trên mi, hai mươi tuổi không biết nói thành lời. Từ đấy, ắt phải có một quầng sáng bao quanh chàng trai trẻ áo đen, hay có chăng ít ra vẻ đẹp của chàng, tựa như một luồng ánh sáng phát ra từ đôi mắt. Hai người thì thầm thủ thỉ sát tai nhau. Tôi cũng đã nghĩ đến chuyện đó, Beretti trả lời. Bố Già muốn phái cậu đến LÀNG KIỂU MẪU, vẫn là giọng của Beretti. Đó là cơ sở của César, một chi nhánh mà chúng ta có những ưu đãi rất đặc biệt. Tôi chúc mừng cậu, cậu có thể viết thư về cho bà được rồi đấy. Cám ơn ông, Victor trả lời mà chẳng hiểu gì. Tôi gửi gắm cậu cho tay đốc công của nông trường chuối, lát nữa cậu sẽ đi cùng đoàn xe tải của nhóm DEVIL’S BANANA. Cám ơn ông, Victor nhắc lại lời cảm tạ hồi nãy.
❀ ❀ ❀
[1] Trong thời kỳ đại chiến thế giới thứ I, những chiến sĩ sau nhiều tháng không cạo râu tóc, tất cả mọc dài tậm rì nên được gọi là Poilu: người lông lá.