Khả năng cải thiện nghich cảnh của người này là sự mỏng manh của người khác - Khi ta trình bày ý tưởng mà ta đã suy nghĩ quá nhiều, thôi đừng cố gắng nữa - Thành công từ sự thất bại của người khác - Một ngày kia bạn có thể nhận được một lá thư cảm ơn
Chương này nói về sai lầm, tiến hóa, và khả năng cải thiện nghịch cảnh, với một nút thắt: chủ yếu chương này nói về những sai lầm của người khác - khả năng cải thiện nghịch cảnh của người này nhất thiết đạt được bằng sự mỏng manh ở người khác. Trong một hệ thống, thông thường cần có sự hy sinh của một vài người, hay một vài đối tượng mỏng manh, để làm lợi cho những đối tượng khác hay cho tổng thể. Tính mỏng manh ngay từ lúc khởi nghiệp là cần thiết để nền kinh tế trở nên có khả năng cải thiện nghịch cảnh, và đó là điều giúp phát huy tinh thần kinh doanh cùng với những thứ khác: tính mỏng manh của các nghiệp chủ và tỷ lệ thất bại cao của họ.
Như vậy, khả năng cải thiện nghịch cảnh trở nên phức tạp hơn một chút, và thú vị hơn, với sự hiện diện của các tầng lớp và tôn ti thứ bậc. Một vật thể hữu cơ tự nhiên không phải là một đơn vị cuối cùng duy nhất mà là tổng hợp của những đơn vị thành phần và bản thân nó có thể là thành phần của một tập thể rộng lớn hơn. Các đơn vị thành phần này có thể tranh đấu lẫn nhau. Thử nghĩ tới một ví dụ khác về kinh doanh. Các nhà hàng có tính mỏng manh, họ cạnh tranh lẫn nhau; nhưng tập thể các nhà hàng địa phương thì có khả năng cải thiện nghịch cảnh cũng chính vì lý do đó. Nếu cá nhân các nhà hàng đều mạnh mẽ, vì thế đều bất tử, thì hoạt động kinh doanh nói chung sẽ đình trệ hay suy yếu, và sẽ không cung cấp món gì khác ngoài những thực phẩm tự phục vụ, và tôi muốn nói tới những thực phẩm tự phục vụ kiểu Xô viết. Ngoài ra, nó còn bị phá hỏng bỏi tình trạng thiếu hụt mang tính hệ thống, cứ thỉnh thoảng lại có khủng hoảng toàn diện và chính phủ lại ứng cứu. Toàn bộ chất lượng, ổn định và sự tin cậy đều nhờ vào tính mỏng manh của chính các nhà hàng.
Vì thế, những bộ phận nào đó bên trong một hệ thống xem ra phải có tính mỏng manh để làm cho toàn hệ thống có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Hay chính vật thể hữu cơ có thể mỏng manh, nhưng thông tin mã hóa trong gene tái tạo ra nó sẽ có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Nhận định này không phải là tầm thường, vì nó ẩn chứa logic của quá trình tiến hóa. Điều này cũng áp dụng cho các nghiệp chủ và các nhà nghiên cứu khoa học.
Ngoài ra, ta vừa đề cập đến sự “hy sinh” ỏ trên. Đáng buồn thay, tập thể thường được hưởng lợi ích từ những sai lầm của những người khác - cứ như thể con người được thiết kế để phạm sai lầm vì một điều tốt đẹp cao cả hơn, chứ không phải vì chính mình. Than ôi, ta có xu hướng thảo luận về những sai lầm mà không xem xét đến sự phân chia tầng lớp và chuyển giao tính mỏng manh này.
Tôi từng nói rằng khái niệm về liệu pháp làm quen dần với độc tố (mithridatization) và cải thiện sức khỏe nhờ độc tố (liệu pháp Hormesis) là những ví dụ giới thiệu khả năng cải thiện nghịch cảnh nguyên thủy: đó là những ví dụ thậm chí còn sơ khai, và ta cần sàng lọc lại, thậm chí nâng cao hơn, để xem xét một hệ phức hợp trên bình diện tổng thể. Hormesis là một ẩn dụ; khả năng cải thiện nghịch cảnh là một hiện tượng.
Trước tiên, liệu pháp làm quen dần với độc tố và cải thiện sức khỏe nhờ độc tố chỉ là những hình thức sơ khai của khả năng cải thiện nghịch cảnh, trong đó lợi ích từ sự biến động, tai nạn, hay nguy hại chỉ có hạn và nếu vượt quá một liều lượng nhất định thì sẽ đảo ngược hiệu ứng bảo vệ hay có lợi của nó. Liệu pháp Hormesis chỉ ưa thích một chút yếu tố gây hại, hay đúng hơn, chỉ cần một ít yếu tố gây hại. Các liệu pháp này thú vị ở mức độ là không có chúng sẽ có hại, một điều mà ta không cảm nhận được bằng trực giác - trí óc ta không thể dễ dàng hiểu những phản ứng phức tạp (ta suy nghĩ một cách tuyến tính, nhưng phản ứng của cơ thể theo liều lượng có tính chất phi tuyến tính). Tư duy tuyến tính của ta không thích biến thể và rút gọn thông tin thành khái niệm nhị nguyên “có hại” hay “có lợi”.
Thứ hai, và cũng là nhược điểm chính, các liệu pháp này nhìn vật thể sống từ bên ngoài và xem đó là một tổng thể, một đơn vị duy nhất, trong khi sự vật có thể có nhiều sắc thái hơn.
Có một hình thức khác của khả năng cải thiện nghịch cảnh gắn liền với sự tiến hóa mà còn mạnh mẽ hơn cả liệu pháp Hormesis - thật ra rất khác với Hormesis; thậm chí còn đối nghịch. Có thể được mô tả là Hormesis - trở nên mạnh hơn khi gặp nguy hại - nếu ta nhìn từ bên ngoài chứ không phải từ bên trong. Hình thức khác của khả năng cải thiện nghịch cảnh này có tính tiến hóa, và vận hành ở cấp độ thông tin, các gene (mã di truyền) chính là thông tin. Không như Hormesis, đối tượng không mạnh lên khi phản ứng trước căng thẳng; nó chết đi. Nhưng nó thực hiện sự chuyển giao lợi ích; những đối tượng khác sống sót, và những đối tượng sống sót có các thuộc tính giúp cải tiến tập thể đối tượng, dẫn đến sự thay đổi thường được gọi bằng thuật ngữ mơ hồ là “tiến hóa” trong các sách giáo khoa và trong mục khoa học ngày thứ ba của tờ The New York Times. Vì thế, khả năng cải thiện nghịch cảnh ở đây không phải là của vật thể sống, vốn dĩ yếu ớt, mà đúng hơn, là của mã di truyền của nó, vẫn sống sót sau khi đối tượng chết đi. Mã di truyền thật ra không quan tâm đến lợi ích của chính đối tượng - hoàn toàn ngược lại, vì nó phá hủy nhiều thứ quanh nó. Robert Trivers giải thích sự cạnh tranh giữa gene và vật thể sống trong ý niệm của ông về “gene ích kỷ”.
Thật ra, khía cạnh thú vị nhất của sự tiến hóa là ở chỗ nó chỉ vận hành vì khả năng cải thiện nghịch cảnh của nó; nó yêu thích yếu tố căng thẳng, sự ngẫu nhiên, bất trắc, và hỗn độn; trong khi cá thể sinh vật tương đối mỏng manh thì nguồn gene lợi dụng các cú sốc để nâng cao thể trạng của chúng.
Như vậy, từ đây ta có thể thấy sự căng thẳng giữa tự nhiên và các cá thể sinh vật.
Mọi vật thể sống, hay mọi tổ chức hữu cơ trong tự nhiên đều có vòng đòi hữu hạn và cuối cùng sẽ chết - ngay cả Methuselah cũng chỉ sống không đến một nghìn năm. Nhưng nó thường chết đi sau khi sinh con đẻ cái với mã di truyền có thể khác với mã di truyền của bố mẹ, với thông tin đã được điều chỉnh. Thông tin di truyền của Methuselah vẫn còn hiện diện ở Damascus, Jerusalem, và lẽ dĩ nhiên, vẫn còn hiện diện ở Brooklyn, New York. Thiên nhiên không thấy các thành viên của mình còn hữu ích nữa sau khi khả năng sinh sản của chúng đã cạn kiệt (có lẽ ngoại trừ những tình huống đặc biệt, trong đó động vật sống thành bầy đàn, như nhu cầu cần có bà ngoại ở con người và con voi để hỗ trợ nhau trong việc chuẩn bị cho con cháu nhận lãnh trách nhiệm). Thiên nhiên thích để cho cuộc chơi tiếp tục ở cấp độ thông tin, nghĩa là mã di truyền. Vì thế, các vật thể sống cần phải chết đi để thiên nhiên có khả năng cải thiện nghịch cảnh - thiên nhiên có tính cơ hội, tàn nhẫn và ích kỷ.
Thử nghĩ xem, như một thực nghiệm tư duy, tình huống của một vật thể sống bất tử, vật thể sống được xây dựng mà không có ngày hết hạn. Để tồn tại, nó phải hoàn toàn thích nghi với mọi biến cố ngẫu nhiên khả dĩ diễn ra trong môi trường, mọi biến cố ngẫu nhiên tương lai. Theo một định nghĩa dứt khoát, biến cố ngẫu nhiên thì… ngẫu nhiên. Nó xảy ra mà không báo trước, không để cho vật thể sống kịp chuẩn bị và điều chỉnh để chịu đựng các cú sốc. Đối với một vật thể sống bất tử, việc thích-nghi- trước đối với mọi biến cố là cần thiết. Khi một biến cố ngẫu nhiên xảy ra, đã quá muộn để phản ứng, vì thế vật thể sống cần được chuẩn bị để chịu được cú sốc, hoặc phải nói lòi chia tay. Chúng ta thấy rằng cơ thể ta phản ứng vượt bậc trước các yếu tố căng thẳng, nhưng điều này vẫn không đủ; cơ thể ta không thể nhìn thấy tương lai. Chúng có thể chuẩn bị cho cuộc chiến kế tiếp, nhưng không thể chiến thắng. Sự điều chỉnh sau biến cố, bất kể nhanh đến mức nào, luôn luôn vẫn muộn màng.21
Để thỏa điều kiện bất tử, vật thể sống cần đoán trước tương lai một cách hoàn hảo - gần hoàn hảo thì không đủ. Còn để cho vật thể sống chỉ có một tuổi thọ hữu hạn, và có sự điều chỉnh giữa các thế hệ nối tiếp nhau, thiên nhiên sẽ không cần phải dự đoán sự biến dạng tương lai, ngoài một ý tưởng cực kỳ mơ hồ về những chiều hướng nào mà sự vật nên tiến tới. Thật ra, thậm chí cũng không cần biết đến những chiều hướng mơ hồ. Mọi biến cố ngẫu nhiên sẽ mang theo giải pháp riêng của nó dưới hình thức biến dị sinh thái. Cứ như thể thiên nhiên sẽ tự mình thay đổi ở mỗi bước và sẽ điều chỉnh chiến lược ngay tức thòi.
Thử nghĩ về điều này trong đòi sống kinh tế và thể chế. Nếu thiên nhiên điều hành nền kinh tế, nó sẽ không liên tục ứng cứu các thành viên sống để giúp họ sống mãi. Mà nó cũng không có các ban bệ hành chính và các bộ phận dự báo, ra sức trở nên tài khôn hơn tương lai; nó sẽ không để cho các nghệ sĩ bất lương của Văn phòng Quản lý và Ngân sách Hoa Kỳ hành động sai lầm do sự kiêu ngạo trí thức.
Nếu ta nhìn lịch sử như một hệ phức hợp tương tự như thiên nhiên, thì cũng như thiên nhiên, nó sẽ không để cho một vị hoàng đế duy nhất thống trị hành tinh mãi mãi - dù mọi siêu cường từ Babylon cho đến người Ai Cập, người Ba Tư, người La Mã, và cho đến nước Mỹ hiện đại đều tin vào khả năng tồn tại lâu dài của sự thống trị của mình và xoay xở để sản sinh ra các sử gia nhằm xây dựng lý thuyết cho tác động đó. Các hệ thống phụ thuộc vào sự ngẫu nhiên và không thể dự đoán, xây dựng một cơ chế còn hơn cả cường tráng để tự tái tạo qua mỗi thế hệ, với sự thay đổi liên tục về dân số và giống loài.
Môn học Quản trị Thiên Nga Đen 101: Thiên nhiên (và các hệ thống tương tự như thiên nhiên) thích sự đa dạng giữa các vật thể sống hơn là sự đa dạng bên trong một vật thể sống bất tử, trừ khi bạn xem chính thiên nhiên là vật thể sống bất tử, như trong thuyết phiếm thần (pantheism) của Spinoza hay trong các tôn giáo châu Á, hay chủ nghĩa khắc kỷ (Stoicism) của Chrisippus hay Epictetus. Nếu bạn tình cờ gặp một sử gia của thời đại văn minh, hãy cố gắng giải thích điều đó cho ông ấy nhé.
Ta hãy xem thử sự tiến hóa đã hưởng lợi như thế nào từ ngẫu nhiên và biến động (lẽ dĩ nhiên là trong những chừng mực nhất định). Càng nhiều độ nhiễu trong một hệ thống, cho đến một điểm nào đó, ngoại trừ những cú sốc cực kỳ dẫn đến sự tuyệt chủng của một giống loài, thì ảnh hưởng tái tạo biến thể phù hợp nhất càng mạnh và sự đột biến ngẫu nhiên sẽ đóng vai trò xác định thuộc tính của thế hệ tiếp theo. Ví dụ, một vật thể sống sinh ra 10 vật thể con. Nếu môi trường hoàn toàn ổn định, cả 10 vật thể con đều có thể sinh sản. Nhưng nếu môi trường bất ổn làm triệt tiêu năm vật thể con (xét bình quân có thể yếu hơn so với những người anh em còn sống sót) thì những vật thể con nào được xem là mạnh hơn (bình quân) sẽ tiếp tục sinh sản, làm cho mã di truyền trải qua một kiểu chọn lọc nào đó. Tương tự, nếu có sự biến dị giữa các vật thể con, do sự đột biến tự phát ngẫu nhiên thi thoảng xảy ra, một kiểu lỗi sao chép trong mã di truyền, thì vật thể con tốt nhất sẽ tiếp tục sinh sản, làm gia tăng thể trạng của giống loài. Vì thế, sự tiến hóa được hưởng lợi từ tính ngẫu nhiên qua hai lộ trình khác nhau: sự ngẫu nhiên trong đột biến gene, và sự ngẫu nhiên trong môi trường - cả hai đều tác động như nhau để làm thay đổi đặc điểm của thế hệ tiếp theo sống sót.
Ngay cả khi có sự tuyệt chủng của cả một loài sau một biến cố cực đoan nào đó, thì cũng chẳng có gì là to tát, đó là một phần của cuộc chơi. Sự tiến hóa vẫn đang diễn ra, vì những giống loài tồn tại là những giống loài có thể trạng tốt nhất (thích nghi nhất) và tiếp quản từ những con khủng long tuyệt chủng - sự tiến hóa không phải là về một giống loài, mà là phục vụ tổng thể tự nhiên.
Nhưng lưu ý rằng sự tiến hóa chỉ thích tính ngẫu nhiên đến một giới hạn nhất định.22 Nếu một thảm họa tiêu diệt hoàn toàn sự sống của cả hành tinh, loài có thể trạng tốt nhất hay thích nghi nhất sẽ không còn tồn tại. Tương tự, nếu sự đột biến ngẫu nhiên xảy ra với một tỷ lệ quá cao, thì lợi ích thể trạng tốt nhất không chắc sẽ được giữ lại, mà có thể còn đảo ngược do một đột biến mới: như tôi vẫn liên tục nhắc lại, thiên nhiên có khả năng cải thiện nghịch cảnh đến một điểm nào đó, nhưng điểm đó khá cao - nó có thể chịu đựng được rất nhiều cú sốc. Nếu một thảm họa hạt nhân tiêu diệt hầu hết sự sống trên trái đất, nhưng không phải toàn bộ sự sống, loài chuột hay loài vi khuẩn nào đó sẽ xuất hiện từ đâu đó, có thể là từ dưới đáy đại dương, và câu chuyện lại bắt đầu lại, không có chúng ta, và dĩ nhiên, cũng không có các thành viên của Văn phòng Quản lý và Ngân sách Hoa Kỳ.
Vì thế, bằng cách nào đó, trong khi liệu pháp Hormesis tương ứng với những tình huống trong đó cá nhân vật thể sống hưởng lợi từ mối nguy
hại trực tiếp đối với bản thân mình, sự tiến hóa xảy ra khi mối nguy hại làm cho cá nhân vật thể sống bị hủy diệt và lợi ích được chuyển giao cho những vật thể sống khác còn sống sót cũng như các thế hệ tương lai.
Để minh họa việc tập hợp vật thể sống ưa thích mối nguy hại như thế nào để tiến hóa (cho đến một mức độ nào đó), dù không phải là chính cá thể sống đó tiến hóa, ta hãy xem xét hiện tượng lờn thuốc kháng sinh. Bạn càng cố gắng diệt vi khuẩn, những con sống sót càng mạnh hơn, trừ khi bạn có thể xoay xở để tiêu diệt chúng hoàn toàn. Điều này cũng xảy ra với bệnh ung thư: những tế bào ung thư xoay xở để sống sót sau độc tố của liệu pháp hóa trị và xạ trị thường sinh sản nhanh hơn và chiếm lấy chỗ của những tế bào yếu hơn.
Vật thể sống là quần thể và quần thể là vật thể sống
Ý tưởng xem xét sự vật theo quần thể, chứ không theo cá nhân, trong đó lợi ích của cá nhân xuất phát từ mối nguy hại đối với quần thể, hình thành trong tâm trí tôi từ công trình nghiên cứu về khả năng cải thiện nghịch cảnh của nhà vật lý học chuyển thành nhà di truyền học Antoine Danchin.23 Với ông, phân tích cần phải phù họp với việc vật thể sống không phải là một vật thể tách biệt và đơn độc: có sự phân lớp và tôn ti thứ bậc. Nếu bạn xem xét sự vật theo quần thể, bạn phải nâng cấp các thuật ngữ “mithridatization” (làm quen dần với độc tố) và “hormesis” (cải thiện sức khỏe nhờ độc tố) thành sự mô tả khả năng cải thiện nghịch cảnh. Tại sao? Diễn đạt lại lập luận đưa ra trên đây, Hormesis là phép ẩn dụ về khả năng cải thiện nghịch cảnh trực tiếp, khi một vật thể sống trực tiếp hưởng lợi từ mối nguy hại; còn trong quá trình tiến hóa, đối tượng nào ưu việt trong nhóm sẽ hưởng lợi từ mối nguy hại. Xét bên ngoài, sự tiến hóa có vẻ giống như Hormesis, nhưng bên trong, trong quá trình tiến hóa sẽ có kẻ thắng và người thua.
Sự phân lớp này vận hành như thế nào? Cây có nhiều nhánh, và các nhánh hệt như những cây nhỏ; tiếp đến, các nhánh lớn có nhiều nhánh nhỏ hơn và những nhánh nhỏ lại cũng hệt như những cây nhỏ hơn. Đây là biểu hiện của cái mà ta gọi là tự đồng dạng lặp (fractal self-similarity), tầm nhìn của nhà toán học Benoit Mandelbrot. Có một tôn ti thứ bậc tương tự trong các sự vật, và nhìn từ bên ngoài, ta chỉ thấy lớp cao nhất. Tế bào bao gồm nhiều phân tử, tiếp đến vật thể sống bao gồm nhiều tế bào, và một giống loài bao gồm nhiều vật thể sống. Cơ chế củng cố giống loài đạt được bằng sự hy sinh tổn thất của một vài cá thể; tiếp đến, cá thể sống mạnh lên bằng tổn thất của một số tế bào; có cả con đường đi xuống cũng như con đường đi lên.
Ví dụ, nếu bạn uống thuốc độc với những liều nhỏ, theo Danchin, cơ chế để cơ thể bạn trở nên mạnh hơn là sự tiến hóa bên trong cơ thể, những protein xấu (và yếu) trong tế bào sẽ được thay thế bằng những protein mạnh hơn và trẻ hơn và những protein mạnh dự trữ (hay vận hành tương tự nào đó). Khi bạn bị đói khát, chính những protein xấu sẽ gục ngã trước và được cơ thể bạn tái tạo - một quá trình gọi là tự tiêu (autophagy). Đây là một quá trình tiến hóa thuần túy, quá trình chọn lọc và tiêu diệt những thành phần yếu nhất để thích nghi. Nhưng ta đâu cần phải hấp thu một lý thuyết sinh học cụ thể (như protein lão hóa và tự tiêu) để tin vào ý tưởng tổng quát rằng áp lực tồn tại trong nội bộ vật thể sống đóng vai trò nhất định trong sự cải thiện chung của nó dưới áp lực bên ngoài.
CẢM ƠN NHỮNG SAI LẦM
Bây giờ chúng ta chuyển sang những sai lầm và làm thế nào sai lầm của người này mang lại lợi ích cho người khác.
Ta có thể đơn giản hóa mối quan hệ giữa tính mỏng manh, sai lầm và khả năng cải thiện nghịch cảnh như sau. Khi bạn mỏng manh, bạn phụ thuộc vào nhiều thứ trong một lộ trình được lên kế hoạch chính xác, với càng ít sai lệch càng tốt, vì sự sai lệch sẽ có hại nhiều hơn có lợi. Đây là lý do khiến tính mỏng manh cần có những cách tiếp cận có thể dự đoán trước, và ngược lại, các hệ thống dự đoán trước lại gây ra tính mỏng manh. Khi bạn ưa thích sự sai lệch, và bạn không lo lắng về sự phân tán những kết quả khả dĩ mà tương lai có thể mang lại, vì hầu hết sẽ có lợi cho bạn, khi ấy bạn là người có khả năng cải thiện nghịch cảnh.
Ngoài ra, một yếu tố ngẫu nhiên trong hoạt động thử nghiệm và sửa sai sẽ không hoàn toàn ngẫu nhiên, nếu nó được thực hiện một cách duy lý, sử dụng sai lầm như một nguồn thông tin. Nếu mọi phép thử đều mang lại cho bạn thông tin về những gì không có tác dụng, bạn sẽ bắt đầu tóm lại thành một giải pháp - vì thế mọi nỗ lực trở nên có giá trị hơn, giống chi phí hơn là sai lầm. Và lẽ dĩ nhiên bạn sẽ khám phá nhiều hơn trong quá trình đó.
Học hỏi từ sai lầm của người khác
Nhưng nên nhớ rằng chương này nói về sự phân lớp, các đơn vị (đối tượng hay vật thể sống), tôn ti thứ bậc, kết cấu lặp (fractal structure), và sự khác biệt giữa quyền lợi của đơn vị (unit) với quyền lợi của nhóm con (subunit). Như vậy, thật buồn thay, sai lầm của người này thường không làm lợi cho chính họ, mà lại làm lợi cho những người còn lại. Chúng ta đã thấy rằng các yếu tố căng thẳng chính là thông tin, trong đúng bối cảnh. Đối với những người có khả năng cải thiện nghịch cảnh, mối nguy hại từ những sai lầm phải nhỏ hơn lợi ích. Lẽ dĩ nhiên, ta đang nói về một số sai lầm chứ không phải tất cả; những sai lầm không tàn phá toàn bộ hệ thống sẽ giúp ngăn ngừa những thảm họa lớn hơn. Nhà sử học kiêm kỹ sư Henry Petroski trình bày một luận điểm rất tinh tế. Nếu như con tàu Titanic không có tai nạn chết người nổi tiếng đó, thì chắc ta sẽ tiếp tục xây dựng những con tàu đại dương ngày càng lớn hơn và thảm họa tiếp theo chắc còn bi kịch hơn nữa. Vì thế, không thể chối cãi rằng những người ra đi đã hy sinh vì một điều tốt đẹp cao cả hơn; họ cứu được nhiều sinh mạng hơn so với những sinh mạng đã mất. Câu chuyện con tàu Titanic minh họa cho sự khác biệt giữa lợi ích của hệ thống và thiệt hại của một số thành phần trong hệ thống.
Ta cũng có thể nói hệt như thế về vụ nổ lò hạt nhân Fukushima: ta có thể nói chắc rằng sự kiện đó làm ta ý thức được vấn đề với các lò phản ứng hạt nhân (và các xác suất nhỏ) và ngăn ngừa những thảm họa lớn lao hơn. (Lưu ý rằng sai lầm của phép kiểm định sức ép ngây ngô ấu trĩ và việc dựa vào các mô hình rủi ro đã bộc lộ khá hiển nhiên vào lúc đó; cũng như với khủng hoảng kinh tế, nhưng không ai muốn lắng nghe.)
Mọi tai nạn máy bay đều giúp đưa ta đến gần hơn với sự an toàn, cải tiến hệ thống, và làm cho chuyến bay kế tiếp an toàn hơn - những người ra đi đóng góp vào sự an toàn của những người khác. Những chuyến bay 111 của Thụy Sĩ, 800 của TWA, và 447 của Hàng không Pháp đã giúp cải tiến hệ thống. Nhưng các hệ thống học hỏi bỏi vì chúng có khả năng cải thiện nghịch cảnh và được bố trí để khai thác những sai lầm nhỏ; câu chuyện không giống như vậy đối với những vụ sụp đổ kinh tế, vì hệ thống kinh tế không có khả năng cải thiện nghịch cảnh trong cách tổ chức xây dựng hệ thống hiện nay. Tại sao? Có hàng trăm nghìn chuyến bay mỗi năm, và tai nạn của một chiếc máy bay không liên quan đến những chiếc khác, vì thế sai lầm được khống chế và được học hỏi rút tỉa kinh nghiệm, trong khi các hệ thống kinh tế toàn cầu hóa vận hành như chỉ có một: sai lầm lây lan và nhân rộng.
Nhắc lại một lần nữa, điều quan trọng là ta đang nói về những sai lầm cục bộ chứ không phải tổng quát, những sai lầm nhỏ, không quan trọng và không chí mạng. Điều này dẫn đến sự phân biệt giữa hệ thống tốt và hệ thống xấu. Hệ thống tốt như những chiếc máy bay, có những sai lầm nhỏ, không phụ thuộc lẫn nhau - hay thực chất là có tương quan nghịch biến với nhau, vì sai lầm làm giảm xác suất xảy ra sai lầm tương lai. Đây là một cách để ta thấy môi trường này có khả năng cải thiện nghịch cảnh (hàng không) và môi trường khác có tính mỏng manh (đời sống kinh tế hiện đại với sự kết nối lẫn nhau theo kiểu “trái đất phẳng”).
Nếu mỗi vụ tai nạn máy bay làm cho vụ tai nạn tiếp theo ít có khả năng xảy ra hơn, thì mỗi vụ sụp đổ ngân hàng làm cho vụ tiếp theo càng có nhiều khả năng xảy ra hơn. Ta cần loại bỏ kiểu sai lầm thứ hai - kiểu sai lầm dẫn đến hiện tượng lây lan - khi xây dựng một hệ thống kinh tế xã hội lý tưởng. Ta hãy nhìn lại Mẹ Thiên Nhiên một lần nữa.
Thiên nhiên được xây dựng từ những sai lầm phi hệ thống nối tiếp nhau: sai lầm của tôi khi khuân đá gây ra những chấn thương nhỏ giúp tôi tránh bị đau trong những lần tới - suy cho cùng, đó là mục đích của con đau. Những con báo di chuyển như một khúc giao hưởng của thiên nhiên đâu có được dạy dỗ bởi các huấn luyện viên kèm riêng về cách “tạo dáng phù hợp” để đưa một con hươu lên cây. Sự huấn luyện của con người có thể có tác dụng với những môn thể thao nhân tạo như quần vợt, bowling, hay bắn súng, chứ không có tác dụng với những chuyển động tự nhiên.
Một số doanh nghiệp yêu thích những sai lầm riêng của mình. Các công ty tái bảo hiểm, chú trọng vào việc bảo hiểm rủi ro thiên tai (và được các công ty bảo hiểm sử dụng để “tái bảo hiểm” những rủi ro không thể đa dạng hóa), xoay xở để làm ăn khấm khá sau một vụ thiên tai hay biến cố khiến họ bị tác động mạnh. Nếu họ vẫn còn hoạt động và xoay xở để có kế hoạch cho những tình huống phát sinh như vậy, họ bù đắp lại bằng cách tăng phí bảo hiểm - khách hàng đáp ứng mạnh sau khi thiên tai xảy ra và đóng phí nhiều hơn để bảo hiểm. Họ xác nhận rằng họ không biết gì về mức giá hợp lý, nghĩa là định giá phù hợp cho việc bảo hiểm, nhưng họ biết chắc rằng nó sẽ được đánh giá cao vượt bậc vào những thời điểm xảy ra căng thẳng, đủ để họ đảm bảo lợi nhuận trong dài hạn. Tất cả những gì họ cần là giữ cho sai lầm của mình ở mức nhỏ đủ để họ có thể tồn tại.
Làm sao để trở thành Mẹ Teresa
Sự biến động gây ra những sai lầm và điều chỉnh; nó cũng giúp bạn biết ai là bạn bè. Cả thành công và thất bại của bạn đều mang lại thông tin cho bạn. Và đây là một trong những điều tốt đẹp trong đời, nhiều khi bạn chỉ biết về tính cách của ai đó sau khi bạn gây thiệt hại cho họ mà bạn là người chịu trách nhiệm duy nhất về lỗi lầm đó - tôi đã từng bất ngờ trước sự rộng lượng của nhiều người qua cách họ tha thứ cho những lỗi lầm của tôi.
Và lẽ dĩ nhiên bạn cũng học hỏi từ những sai lầm của người khác. Có thể chẳng bao giờ bạn biết ai đó thuộc loại người nào cho đến khi hoàn cảnh mang lại cho họ cơ hội vi phạm luân thường đạo lý. Tôi nhớ một bạn học nữ thời trung học phổ thông có vẻ tử tế, trung thực và là một thành viên trong nhóm bạn có tinh thần không tưởng phi thực tế thời thơ ấu của tôi. Tôi nhận ra rằng, trái với kinh nghiệm của tôi (và vẻ ngoài thơ ngây của nàng), nàng hóa ra không phải là Mẹ Teresa hay Rosa Luxemburg, khi nàng bỏ rơi người chồng đầu tiên (giàu có) để lấy một người khác giàu hơn, rồi lại bỏ rơi người này trong cơn hoạn nạn tài chính đầu tiên để đến với một người tình khác nữa, giàu có và quyền lực hơn. Nếu trong một môi trường không biến động, tôi (và có lẽ cả nàng) chắc sẽ tưởng nhầm nàng là một người theo chủ nghĩa không tưởng và một vị thánh. Một số thành viên trong xã hội - những người không cưới nàng - nhận được thông tin quý giá trong khi những người khác, nạn nhân của nàng, phải trả giá.
TẠI SAO TỔNG THỂ GHÉT CÁ THỂ
Chúng ta đã thấy rằng khả năng cải thiện nghịch cảnh trong thế giới sinh vật vận hành nhờ vào các phân lớp. Tính kình địch giữa các thành phần phụ đóng góp vào sự tiến hóa: các tế bào trong cơ thể ta cạnh tranh với nhau; trong các tế bào, các protein cạnh tranh với nhau, và sự việc cứ thế tiếp diễn. Ta hãy lý giải điều này trong những nỗ lực của con người. Nền kinh tế có các lớp tương tự: các cá nhân, thợ thủ công, các doanh nghiệp nhỏ, các phòng ban trong công ty, các công ty, ngành, nền kinh tế khu vực và lớp trên cùng là tổng thể nền kinh tế - ta thậm chí còn có thể phân chia thành nhiều lớp hơn.
Để nền kinh tế có khả năng cải thiện nghịch cảnh và đạt được cái mà ta gọi là “sự tiến hóa”, mọi doanh nghiệp riêng lẻ nhất thiết phải có tính mỏng manh, trải nghiệm đổ vỡ - sự tiến hóa cần có những vật thể sống (hay mã di truyền của nó) chết đi và được thay thế bởi những vật thể sống (hay mã di truyền) khác, để đạt được sự cải thiện, hay để tránh tái tạo khi chúng không phù hợp như những vật thể khác. Cũng vì lẽ đó, khả năng cải thiện nghịch cảnh của những lớp cao hơn có thể đòi hỏi tính mỏng manh và sự hy sinh của những lớp thấp hơn. Mỗi khi bạn sử dụng chiếc máy pha cà phê để chế biến ly cà phê cappuccino buổi sáng, bạn đang hưởng lợi từ tính mỏng manh của những nghiệp chủ chế biến cà phê từng thất bại. Họ thất bại để giúp đưa chiếc máy ưu việt này lên bàn bếp nhà bạn.
Thử xem xét những xã hội truyền thống. Ở đây ta cũng có sự phân lớp tương tự: các cá nhân, các gia đình, các đại gia đình nhiều thế hệ, các bộ lạc, những người sử dụng cùng một thổ ngữ, các nhóm, các cộng đồng sắc tộc.
Trong khi hy sinh là một đặc điểm hiển nhiên trong xã hội loài kiến, tôi chắc chắn rằng cá nhân các doanh nhân sẽ không thích thú gì kiểu mổ bụng tự sát vì điều tốt đẹp cao cả của nền kinh tế; do đó nhất thiết họ sẽ lo tìm kiếm khả năng cải thiện nghịch cảnh hay chí ít một mức độ mạnh khỏe nào đó cho chính mình. Điều đó không nhất thiết tương thích với lợi ích của tập thể, của nền kinh tế. Vì thế, vấn đề là thuộc tính của tổng thể sẽ khác với thuộc tính của từng cá thể; thật ra, nó còn có hại cho cá thể.
Thật đau lòng khi nghĩ tới sự tàn nhẫn của động cơ cải tiến.
Vậy thì giải pháp là gì? Than ôi, không có giải pháp nào làm hài lòng tất cả mọi người - nhưng có cách để giảm nhẹ thiệt hại cho những người yếu nhất.
Vấn đề này hóc búa hơn bạn tưởng. Người ta đến trường kinh doanh để học cách làm ăn đồng thời bảo đảm sự tồn tại của mình, nhưng điều mà nền kinh tế, như một tập thể, muốn họ làm là không thể tồn tại, hay nói đúng hơn, muốn họ chấp nhận thật nhiều rủi ro bất cẩn về phần mình và mù mờ trước các kết quả. Các ngành kinh tế cải thiện từ thất bại này đến thất bại khác. Các hệ thống tự nhiên và giống tự nhiên muốn có sự tự tin vượt bậc về phía các tác nhân kinh tế riêng lẻ, nghĩa là sự ước lượng quá cao về khả năng thành công và ước lượng quá thấp về rủi ro thất bại trong việc kinh doanh của họ, miễn là thất bại của họ không tác động đến những người khác. Nói cách khác, hệ thống muốn sự tự tin vượt bậc một cách cục bộ, chứ không phải tổng thể.
Chúng ta đã thấy việc kinh doanh nhà hàng hiệu quả một cách tuyệt vời, chính xác bỏi vì các nhà hàng dễ bị tổn thương, có thể phá sản bất cứ lúc nào, và các nghiệp chủ không bận tâm trước viễn cảnh này, bỏi họ nghĩ họ sẽ thắng cuộc. Nói cách khác, việc chấp nhận rủi ro liều lĩnh, hay thậm chí sống chết, là hiện tượng lành mạnh đối với nền kinh tế - với điều kiện là không phải mọi người đều nhận lãnh cùng những rủi ro như nhau, và rủi ro vẫn nhỏ và có tính cục bộ.
Bây giờ, thông qua phá vỡ mô hình, như chúng ta sẽ thấy, bằng cách ứng cứu, chính phủ thường thiên vị một tầng lớp doanh nghiệp đủ lớn để yêu cầu được cứu giúp nhằm tránh lây lan cho các hoạt động kinh doanh khác. Điều này trái với hành động chấp nhận rủi ro lành mạnh, nó chuyển giao khả năng cải thiện nghịch cảnh từ tập thể sang những người không phù hợp. Người ta khó lòng nhận ra rằng giải pháp là xây dựng một hệ thống sao cho sự sụp đổ của người này không kéo theo sự sụp đổ của người khác - và sự thất bại vẫn tiếp diễn để bảo toàn hệ thống. Nghịch lý thay, nhiều hành động can thiệp của chính phủ và các chính sách xã hội cuối cùng lại làm tổn thương những người yếu nhất và củng cố những kẻ kỳ cựu nhất.
CÁI GÌ KHÔNG TIÊU DIỆT ĐƯỢC TÔI SẼ TIÊU DIỆT NHỮNG NGƯỜI KHÁC
Đã đến lúc vạch trần một huyền thoại.
Là một người cổ xúy khả năng cải thiện nghịch cảnh, tôi cần cảnh báo về ảo tưởng nhận ra khả năng này khi người ta thật sự không có. Người ta có thể tưởng lầm khả năng cải thiện nghịch cảnh của hệ thống là khả năng cải thiện nghịch cảnh của cá nhân, khi thật ra nó xảy ra bằng tổn thất của cá nhân (sự khác nhau giữa liệu pháp Hormesis và hiện tượng chọn lọc của quá trình tiến hóa).
Câu nói nổi tiếng của Nietzsche “cái gì không diệt được tôi sẽ làm tôi mạnh hơn” có thể bị giải thích sai như ý nghĩa của liệu pháp làm quen dần với độc tố hay cải thiện sức khỏe nhờ độc tố. Câu đó có thể là một trong hai hiện tượng này, rất có thể, nhưng cũng có thể nghĩa là “cái gì không diệt được tôi đã không làm tôi mạnh hơn, nhưng nó chừa tôi ra vì tôi mạnh hơn những người khác; nhưng nó đã diệt những người khác và cá thể bình quân hiện đã trở nên mạnh hơn, vì những kẻ yếu đã ra đi.” Nói cách khác, tôi đã vượt qua vòng đấu loại. Tôi đã thảo luận vấn đề này trong những bài viết trước đây về ảo tưởng nhân quả sai lầm, với một bài báo nói rằng các thành viên mafia mới, những người Xô viết lưu đày, “đã được tôi luyện bỏi từng ở trại Gulag” (các trại tập trung của Xô viết). Vì việc tạm trú ở Gulag đã tiêu diệt những kẻ yếu nhất, nên người ta có ảo tưởng về sự mạnh lên của các cá nhân. Đôi khi ta thấy có những đối tượng sống sót sau những đợt thử nghiệm; và vì quần thể sống sót khỏe mạnh hơn so với quần thể ban đầu, nên ta tưởng tượng rằng việc thử nghiệm này là tốt đối với các cá thể. Nói cách khác, việc thử nghiệm chỉ là một cuộc thi khốc liệt tiêu diệt những kẻ thất bại. Tất cả những gì ta có thể chứng kiến là sự chuyển giao tính mỏng manh (hay đúng hơn, khả năng cải thiện nghịch cảnh) từ cá nhân sang hệ thống mà tôi đã thảo luận trên đây. Thử để tôi trình bày theo cách khác. Quần thể sống sót rõ ràng là mạnh hơn so với quần thể ban đầu, nhưng cá thể thì không, vì những kẻ yếu hơn đã chết.
Ai đó phải trả giá để cả hệ thống cải thiện.
Tôi và chúng ta
Mối căng thẳng dễ nhận thấy giữa quyền lợi cá nhân và tập thể này là mới mẻ trong lịch sử: trong quá khứ nó đã được xử lý bằng sự không tương họp của các cá thể. Sự hy sinh vì quyền lợi của tập thể ẩn chứa sau khái niệm chủ nghĩa anh hùng: điều đó là tốt cho bộ lạc, nhưng thiệt thòi cho những người ra đi trong con sốt chiến tranh. Bản năng chủ nghĩa anh hùng và quyền lợi cá nhân phai mờ trước quyền lợi tập thể đã trở nên lầm lạc với những kẻ đánh bom tự sát. Những kẻ khủng bố trước khi chết này rơi vào tâm trạng như xuất thần ngây ngất, trong đó cảm xúc thôi thúc họ trở nên bàng quan trước vấn đề sinh tử của mình. Đó là sự ngụy biện, trong đó những kẻ đánh bom liều chết bị dụ dỗ bởi lòi hứa hẹn ban thưởng về một thiên đường Hồi giáo nào đó với trinh nữ và những lạc thú khác, cho dù, như nhà nhân loại học Scott Atran vạch ra, những kẻ đánh bom tự sát đầu tiên ở Levant là những nhà cách mạng gốc Chính thống Hy Lạp - cùng nhóm với tôi - chứ không phải người Hồi giáo.
Dường như có điều gì đó chuyển biến trong ta, thôi thúc sự hy sinh cá nhân vì quyền lợi tập thể khi ta tham gia vào những cuộc nhảy múa tập thể, các vụ tụ tập quần chúng, hay chiến tranh. Tâm trạng của bạn bây giờ là tâm trạng của bầy đàn. Bạn là một phần của cái mà Elias Canetti gọi là đám đông nhịp điệu và rộn ràng. Bạn cũng có thể cảm thấy một kiểu trải nghiệm đám đông khác trong lần gây náo loạn đường phố tiếp theo, khi nỗi lo sọ chính quyền biến mất hoàn toàn trong con sốt tập thể.
Ta hãy khái quát hóa nhận định này. Nhìn thế giới từ một khoảng cách nhất định, tôi thấy mối căng thẳng chung giữa con người và thiên nhiên - mối căng thẳng trong sự đánh đổi tính mỏng manh. Chúng ta đã thấy thiên nhiên muốn chính mình tồn tại trên bình diện tổng thể - chứ không phải mọi giống loài; tương tự, đến lượt mình, mọi giống loài riêng lẻ đều muốn các cá thể của mình mỏng manh (nhất là sau khi sinh sản) để sự chọn lọc tiến hóa diễn ra. Chúng ta đã thấy việc chuyển giao tính mỏng manh từ cá thể sang loài là cần thiết cho sự tồn tại chung: các loài có khả năng cải thiện nghịch cảnh tiềm tàng, với ADN là thông tin, nhưng các thành viên của loài có thể lụi tàn nên sẵn sàng hy sinh; và trên thực tế, cá thể được thiết kế để làm điều đó vì lợi ích tập thể.
Ý tưởng về quá trình thích nghi và chọn lọc ở đây làm cho tác giả ray rứt và cảm thấy đau lòng khi viết một vài phần trong quyển sách này - tôi ghê sợ tính tàn nhẫn của quá trình chọn lọc, sự bất nghĩa lạnh lùng của Mẹ Thiên Nhiên. Tôi ghê tởm quan điểm cải thiện hệ thống nhờ vào mối nguy hại đối với những người khác. Là con người, tôi chống lại khả năng cải thiện nghịch cảnh của hệ thống bằng tổn thất của các cá thể, vì nếu bạn theo mạch lập luận này, điều đó làm cho con người chúng ta trở nên không tương họp về mặt cá thể.
Lọi ích to lớn của thời đại Khai sáng là đưa cá nhân ra phía trước với các quyền cá nhân, tự do, độc lập, “mưu cầu hạnh phúc” (bất kể “hạnh phúc” đó nghĩa là gì), và trên hết, sự riêng tư cá nhân. Cho dù chối bỏ khả năng cải thiện nghịch cảnh, thời đại Khai sáng và các hệ thống chính trị vươn lên từ đó đã giải phóng chúng ta (ít nhiều) từ sự thống trị của xã hội, bộ lạc, và gia tộc từng thịnh hành xuyên suốt lịch sử.
Đon vị trong các nền văn hóa truyền thống là tập thể, và người ta có thể nhận thấy tập thể chịu tác hại bởi hành vi của một cá nhân - danh dự gia đình bị hoen ố nếu người con gái chưa chồng có thai chẳng hạn, hay một thành viên gia đình tham gia vào những vụ lừa đảo đa cấp (Ponzi schemes) và lừa đảo tài chính quy mô lớn, hay tệ hơn, tham gia rao giảng đề tài kinh tế tài chính bịp bợm ở trường đại học. Và những tập tục này vẫn tồn tại dai dẳng. Thậm chí mãi đến thế kỷ 19 hay đầu thế kỷ 20 gần đây mà ở các vùng nông thôn Pháp vẫn còn chuyện một người phải mang hết tiền tiết kiệm của mình để xóa nợ cho một người họ hàng xa (một thông lệ gọi là passe léponge, hiểu sát nghĩa là dùng miếng bọt biển để lau sạch nghĩa vụ nợ ghi trên bảng), và người ta làm thế để bảo toàn nhân phẩm và thanh danh dòng tộc. Người ta nhận thấy đó là một nghĩa vụ. (Tôi thú nhận rằng chính mình cũng đã làm điều đó phần nào ngay trong thế kỷ 21 này!)
Rõ ràng cần có hệ thống cho sự tồn tại của các cá nhân. Vì thế, người ta cần thận trọng khi tôn vinh một lợi ích đi ngược lại những lợi ích khác khi có sự hiện diện của mối quan hệ qua lại và tính phức hợp.24
Trong Cosa Nostra, giới mafia Ý, danh hiệu “con người danh dự” (uomo d’onore) ngụ ý rằng những người bị cảnh sát bắt sẽ giữ im lặng và không tố giác bạn bè, bất kể quyền lợi ra sao; và thà chịu cuộc sống tù đày còn hơn bào chữa để gây tổn hại cho các thành viên khác. Tập thể (Cosa Nostra) ưu tiên hơn cá nhân. Và điều làm tan vỡ hậu phương của mafia là sự hình thành những người thương lượng bào chữa gần đây. (Lưu ý rằng khái niệm “danh dự” trong giới mafia hạn chế trong việc đoàn kết nội bộ nhóm mà thôi - họ nói dối, và đối với họ trong những lĩnh vực khác không có gì là danh dự.) Và họ giết người từ sau lưng, điều mà ở đông Địa Trung Hải bị xem là hình thức thuần túy nhất của sự hèn nhát.)
Tương tự, con người chúng ta có lẽ coi mình là trung tâm bằng tổn thất của các giống loài khác, với nguy cơ gây ra tính mỏng manh về mặt sinh thái, nếu điều đó đảm bảo sự tồn tại của ta. Quyền lợi của chúng ta, của loài người, chi phối quyền lợi của thiên nhiên; và chúng ta có thể chấp nhận ít nhiều tình trạng không hiệu quả, ít nhiều tính mỏng manh, để bảo vệ các cá nhân, cho dù hy sinh thiên nhiên quá nhiều cuối cùng có thể gây thiệt hại cho chính chúng ta.
Chúng ta đã thấy sự đánh đổi giữa quyền lợi của tập thể và quyền lợi của cá nhân. Một nền kinh tế không thể tồn tại mà không làm vỡ những quả trứng cá nhân; sự bảo hộ là có hại, và ràng buộc các áp lực tiến hóa để làm lợi cho các cá nhân xem ra không cần thiết. Nhưng ta phải bảo vệ các cá nhân không bị chết đói, mang lại cho họ sự bảo vệ xã hội. Và tôn trọng họ. Hay nhiều hơn thế, như ta sẽ thấy sau đây.
Ngày Nghiệp chủ quốc gia
Trong khi đó, nếu nhìn từ góc độ chủ nghĩa không tưởng (thật vậy), tôi ghét những gì tôi đang nhận ra, tôi cho rằng ta vẫn có một niềm hy vọng.
Chủ nghĩa anh hùng và sự tôn trọng cần có đối với nó là một hình thức đền bù của xã hội dành cho những người dám chấp nhận rủi ro vì những người khác. Và tinh thần kinh doanh là một hoạt động rủi ro và anh hùng, cần thiết để tăng trưởng và thậm chí để nền kinh tế tồn tại.
Tinh thần kinh doanh nhất thiết cũng mang lại lợi ích tập thể trên cơ sở nhận thức luận; nó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tài năng chuyên môn. Ai đó tuy không thành công cũng vẫn mang lại cho những người khác tri thức, tri thức tốt nhất về những gì không có hiệu quả, thế nhưng họ gần như không được ghi nhận công lao vì điều đó. Họ là phần trung tâm trong quá trình dành các ưu đãi cho những người khác, và điều tệ hại hơn là họ lại không được vinh danh.25
Tôi là một kẻ vô ơn đối với những người mà sự tự tin vượt bậc của họ khiến họ mở nhà hàng rồi thất bại, nhờ đó tôi được tận hưởng những bữa ăn ngon trong khi có lẽ họ đang phải ăn cá ngừ đóng hộp.
Để tiến bộ, xã hội hiện đại phải đối xử với những nghiệp chủ thất bại hệt như cách ta đối xử với người lính hy sinh, có thể không vinh danh họ nhiều đến thế, nhưng sử dụng chính xác cùng một logic như vậy (nghiệp chủ vẫn còn sống, dù có bị đổ vỡ tinh thần và mang tiếng về mặt xã hội, nhất là nếu họ sống ở Nhật Bản). Mặc dù không có chuyện làm người lính thất bại, dù chết hay sống (trừ khi họ hành động một cách hèn nhát), tương tự, cũng không có chuyện làm nghiệp chủ thất bại hay nhà nghiên cứu khoa học thất bại, nhưng ta có nhiều kẻ nói nhảm thành công, những triết gia giả hiệu, những nhà bình luận, nhà tư vấn, những người vận động hành lang, hay các giáo sư trường kinh doanh, những người không dám chấp nhận rủi ro cá nhân. (Xin lỗi nhé.)
Các nhà tâm lý dùng cụm từ “tự tin vượt bậc” để nói về một căn bệnh, khiến người ta mù quáng trước tỷ lệ thành công khi tham gia vào những cuộc phiêu lưu mạo hiểm. Nhưng có một sự khác biệt giữa kiểu chấp nhận rủi ro anh hùng, tử tế, có lợi cho những người khác, trong trường hợp khả năng vượt qua nghịch cảnh, và kiểu hiện đại kinh tởm hơn, liên quan đến những biến cố Thiên Nga Đen tiêu cực, như sự tự tin vượt bậc của “các nhà khoa học” tính toán rủi ro thiệt hại từ lò phản ứng hạt nhân Fukushima. Trong trường hợp đầu, cái họ gọi là sự tự tin vượt bậc là điều tốt, không phải là một căn bệnh cần điều trị.
Và ta hãy so sánh các nghiệp chủ với các nhà quản lý đo lọ nước mắm đếm củ dưa hành ở các công ty, những người trèo lên chiếc thang danh vọng mà không bao giờ nếm trải thiệt hại. Nhóm người họ hiếm khi gặp rủi ro.
Điều mà Erasmus gọi là ingratitude vilgi, nghĩa là sự vô ơn của quần chúng, ngày càng gia tăng trong thời đại toàn cầu hóa và Internet.
Mơ ước của tôi, giải pháp, là ta sẽ có một Ngày Nghiệp chủ quốc gia, với thông điệp sau đây:
Phần lớn các bạn sẽ thất bại, không được tôn trọng, trở nên nghèo túng, nhưng chúng tôi mang ơn các bạn vì những rủi ro các bạn nhận lãnh và những hy sinh các bạn đã chịu đựng cho sự tăng trưởng kinh tế của hành tinh và đưa những người khác thoát khỏi đói nghèo. Bạn là cội nguồn của khả năng cải thiện nghịch cảnh của chúng tôi. Đất nước cảm ơn bạn.