Hồi nhỏ, cứ vào tháng bảy hàng năm, cha mẹ Phoebe (hoặc hai người cô tưởng là cha mẹ), lại đưa cô đến căn nhà bên bờ biển ở Rosslare Strand nghỉ hai tuần. Nhà ấy do người bạn nghệ sĩ của mẹ Sarah cho mượn. Đáng lẽ kỳ nghỉ phải là dịp vui, nhưng cả nhà chưa thật sự tận hưởng nơi người ta thường gọi là “miền duyên hải tây nam ngập nắng” ấy. Bố Mal thường cáu kỉnh vì phải bỏ công bỏ việc, mẹ Sarah rầu rĩ vì chẳng biết làm gì, còn Phoebe, tuy cố giấu, nhưng thật lòng rất buồn chán. Một phần bởi cô không hứng thú gì với bãi biển, phần bởi ghét mặc đồ tắm đi lại ngoài bãi cát đông người. Hồi ấy, Phoebe gầy nhom, chân vòng kiềng, da không chịu ăn nắng (dù nằm phơi mình bao lâu làn da ấy vẫn trắng bợt) và… cô không giỏi kết bạn. Thêm vào đó, cô sợ biển. Một lần, hồi mới lên chín mười, lúc đi một mình trên doi đất lúp xúp cây gai và cỏ xanh mà dân làng quen gọi là Hang Thỏ ngăn giữa làng và bãi tắm, bất thần cô vấp phải một hang thỏ bên trong có hai con thỏ con chưa mở mắt. Từ nhỏ, cô chưa thấy thỏ con bao giờ. Rõ ràng thỏ mẹ xây tổ bằng cách liên tục xoay người bới quanh gốc cỏ tạo thành một cái hố có viền đất nén chặt. Hai chú thỏ con nằm cuộn tròn đầu sát vào đuôi, lưng quay vào nhau khiến cô nghĩ tới một biểu tượng trên quốc kỳ hay tiền xu nào đó. Chúng rất non nớt, chưa mở mắt, và thở phập phồng rất nhanh như thể chưa chi đã mệt mỏi với viễn cảnh phải chạy ngoắng lên cả đời. Lập tức Phoebe cho rằng chúng bị bỏ rơi (dù lý trí mách bảo điều đó chưa hẳn đúng) và rằng sứ mệnh của cô là phải cứu chúng. Cô bế chúng lên (người chúng sao mềm oặt và nóng hổi!), bỏ vào vạt áo mang về nhà, đặt chúng nằm trong đám cỏ dày cạnh thùng hứng nước mưa sau nhà. Ở đó sẽ không ai phát hiện ra chúng. Cô biết nhưng không muốn chấp nhận một sự thật là lẽ ra không nên bắt chúng lìa tổ ấm. Sáng hôm sau, khi ra thăm lũ thỏ và thấy chúng không còn ở đó, cơn hoảng hốt ụp xuống và cô vừa hối hận, vừa xấu hổ đến nỗi chỉ muốn ói ngay tại chỗ. Cô tự trấn tĩnh bằng cách tự nhủ rằng thỏ mẹ ngửi được mùi hai con nên đã mang chúng đi từ hồi đêm. Tuy nhiên, cô không tin nổi câu chuyên ấy. Cô chạy ra bãi Hang Thỏ xem có chúng ở đó không, nhưng dù lùng sục tìm từ sáng đến trưa, cô thậm chí còn không tìm thấy cái ổ cũ.
Cô không bao giờ kể lại chuyện này với bất kỳ ai và kỷ niệm buồn ấy rất hay trở về trong tâm trí cô. Nhiều năm đã trôi qua nhưng mỗi khi nhớ về nó, cô vẫn còn buồn và xấu hổ. Ký ức sống động đến nỗi mỗi lần nhớ, cô lại phấn kích, hồi hộp như khi nâng hai tạo vật yếu ớt mang phép lạ của sự sống trong vạt áo túm lại của mình. Cảm xúc ấy có thể trở về bất kỳ lúc nào, chẳng hạn như khi cô đi trên đường Station vào một chiều hè tĩnh lặng.
Đưa Leslie White vào nhà cho cô cảm giác tương tự. Cô tự biết cho hắn trú ngụ là sai lầm và nguy hiểm. Hắn thuộc về một thế giới xa lạ, một thế giới ô trọc của xe hơi thể thao và những chầu say túy lúy ngay đầu giờ chiều, của những thỏa thuận làm ăn mờ ám ở một thế giới mà cư dân của nó có thể bị tấn công bất ngờ trong hẻm tối bởi nhóm du côn không nói không rằng, chỉ biết hổn hển vụt tới tấp bằng gậy gộc. Ngoài những gì đã nói ngay đêm đầu tiên, Leslie không kể gì thêm về vụ hành hung. Hắn một mực khăng khăng rằng không quen ba tên kia, rằng không biết mình bị ăn đòn vì cớ gì. Phoebe không tin. Chỉ cần thấy hắn nhìn lảng đi mỗi khi bị gặng hỏi, cô biết hắn đang giấu giếm điều gì. Nhưng cô mừng vì hắn không nói. Cô tin rằng thà không biết nhiều về hành tung của Leslie White có lẽ lại hơn.
Đêm hôm nọ, Phoebe đến nhà bác sĩ Kreutz theo yêu cầu của Leslie. Chốn ấy không giống như cô hình dung. Trước hết, đó không phải phòng mạch. Khi taxi đỗ xịch trước địa chỉ cần tìm trên đường Adelaide, cô có ngay cảm giác về sự hắc ám mà cô chắc không phải do cảnh đêm hôm khuya khoắt và đường phố vắng như chùa bà đanh. Dù trời trông như sắp hừng sáng, nhưng cô đoán đó chỉ là ánh trăng lên muộn. Cô hiếm khi ngồi trên xe vào đêm hôm khuya khoắt thế này. Thế giới về đêm thật bí ẩn và có thể thay đổi bất ngờ. Dường như vạn vật đều đang tìm cách rũ bỏ bóng đêm. Đèn đường cao hơn tán cây hắt bóng lá to bè, run rẩy xuống hè đường. Cuối phố có hai ả “bán hoa” lảng vảng gần cổng bệnh viện. Đầu thuốc lá cháy đỏ của họ động đậy trong đêm trông như đom đóm lập lòe. Thấy Phoebe ngần ngừ bên cánh cổng sắt sơn đen trước nhà bác sĩ, họ rỉ tai nhau rồi cười ré lên, đoạn khẽ nói với về phía cô câu gì đó nghe không rõ. Chắc là câu hỏi hoặc lời mời gọi cô cùng nhập hội.
Bên trong căn hộ dưới tầng hầm không thấy dấu hiệu của sự sống, không tiếng động, không ánh đèn chiếu qua cửa sổ, nhưng khi cô chưa kịp rụt ngón tay vừa nhấn chuông về, cánh cửa đã mở toang như thể có cơ chế tự động. Bác sĩ Kreutz không bật đèn hành lang nên thứ đầu tiên cô trông thấy là tròng trắng của mắt y. Cặp mắt ấy giống hệt mắt người thôi miên rắn giữa rừng trong tranh của Douanier Rousseau. Chắc chắn tay Kreutz này phải biết cô đến ngay cả trước khi cô nhấn chuông. Khi cái tên Leslie White thốt ra từ miệng cô, trong một thoáng, những tưởng y sẽ sập cửa vào mặt cô. May thay, y chỉ tiến lên một bước, kéo cánh cửa phía sau khép hờ. Chưa bao giờ cô gặp vị bác sĩ nào lạ đời đến thế. Cô lúng túng như gà mắc tóc:
- Leslie bị tai nạn nên nhờ ông đưa thuốc cho anh ấy. Anh ấy bảo cứ nói thế là ông hiểu.
Người đàn ông ngoại quốc đứng trước mặt cô đêm ấy cao và gầy. Khuôn mặt y còn tối hơn đêm. Y mặc áo kiểu Tàu không cổ và khi nhìn xuống, cô thấy y đi chân đất. Người y thoảng mùi thơm ngọt ngào như mùi gia vị.
- Tai nạn à?
Y cất giọng đều đều. Giọng nói trầm, nhỏ và êm ái lạ thường.
- Phải. Bị thương khá nặng.
Phoebe không quên được ánh mắt hai cô gái điếm từ bên kia đường nhìn sang. Ánh mắt họ như đang khoan thủng lưng cô.
- Ra thế. (Bác sĩ Kreutz im lặng suy nghĩ và đánh giá thực hư những gì cô vừa nói). Chà, thật đau lòng hết sức.
Sao y không hỏi tai nạn gì?
Phoebe nói tiếp:
- Tôi không biết thuốc gì. Anh White không nói rõ. Anh ấy chỉ nhờ tôi đến bảo ông rằng anh ấy cần thuốc. (Cô bắt đầu liến thoắng và không dừng lại được). Không biết giờ này còn hiệu thuốc nào mở cửa không, nhưng nếu ông kê toa hộ tôi sẽ đi mua chỗ khác, chẳng hạn ra bệnh viện đằng kia.
Cô hất đầu về phía bệnh viện và thoáng thấy hai cô gái điếm đang rướn cổ tò mò nhìn về phía họ. Bác sĩ Kreutz chầm chậm lắc đầu:
- Không có thuốc đâu. Cô về bảo Leslie thế. Không thuốc thang gì nữa hết.
- Nhưng anh ấy đau lắm. Chẳng lẽ ông không giúp được ư?
Tự nhiên Phoebe muốn òa khóc. Mọi lời cô nói trước thái độ sắt đá và xa lạ của y có thể ví nắm đá nhỏ ném xuống vực sâu không đáy.
- Cô ơi, tôi rất tiếc, rất rất lấy làm tiếc.
Những lời ấy thốt ra từ miệng y dù nghe giọng cũng đủ biết y không thật lòng. Vài giây trôi qua, Phoebe vẫn không biết phải nói gì. Bác sĩ nhón chân lùi lại, biến vào lối đi tối om. Trước khi y đóng cửa, cô lại thấy cặp tròng trắng khi nãy lóe lên.
Chỉ khi ra đến ngoài, cô mới thấy tấm biển treo trên hàng rào sắt “Bác Sĩ Tâm Linh”. Cô tự hỏi ngành nghề gì lạ thế!
Từ lúc Phoebe đi, Leslie vẫn nằm nghẹo đầu trên ghế sofa ngủ lơ mơ. Ánh đèn bàn soi nghiêng khiến khuôn mặt sưng vù đầy vết thâm tím, đỏ bầm bóng nhẫy của hắn trông sưng hơn bình thường, cứ như một sản phẩm treo ngoài tiệm bán thịt. Nghe Phoebe truyền lại lời Kreutz xong, hắn ngoảnh mặt đưa tay lên che mắt. Nhìn đôi vai rung lên bần bật, cô biết hắn khóc. Nhưng không như cô đoán, hắn không chảy nước mắt. Cô giơ tay định chạm vào hắn nhưng rụt lại. Tự nhiên, một hố sâu thăm thẳm, rộng vô cùng ngăn cách họ. Cô lại nhớ ổ thỏ con. Ớ bên Leslie chẳng khác nào ở bên chúng: cô thuộc giống loài khác hẳn. Bỏ hắn ngoài phòng khách, cô quay lưng vào phòng ngủ. Nước mắt cô đơn lặng lẽ thấm ướt nệm ghế bọc nhung kẻ.
Những ngày sau đó, cảm giác về sự khác biệt, xa cách chưa bao giờ buông tha cô hoàn toàn. Nhưng cô vẫn cố hết sức chăm sóc hắn thật chuyên cần và dịu dàng. Cô nghĩ đó là việc một y tá được đào tạo bài bản vẫn làm (hồi nhỏ, cô thường ước sau này lớn lên làm y tá): chăm sóc bệnh nhân chu đáo nhưng không xen tình cảm cá nhân vào công việc. Mỗi sáng, cô cố ép hắn ăn một chén ngũ cốc hoặc một lát bánh mì với trà đường, nhưng hắn chẳng nuốt tí gì. Đến trưa, cô về nhà xem tình hình hắn ra sao. Còn buổi tối đi làm về, cô cười sẵn từ lúc chạy lên cầu thang và khi đẩy cửa thì luôn chuẩn bị tinh thần đối phó với tình huống hắn đã bỏ đi tự bao giờ. Thấy cô, hắn thường kêu lên:
- Kìa nàng họa mi, em đã về.
Rõ ràng, ngoài chịu đau do bị đánh, hắn còn một nỗi thống khổ to lớn hơn. Cô không biết hắn hy vọng bác sĩ Kreutz đưa cho loại thuốc gì. Cô cũng không hỏi vì trong thâm tâm có giọng nói khuyến cáo cô không nên biết thì hơn. Lúc đầu cô tưởng hắn bị tiểu đường nên cần insulin, nhưng bằng chứng sau vài ngày theo dõi cho thấy rằng không phải thế. Hắn thường xuyên lên cơn sốt, nằm run bần bật nhiều giờ liền, mắt trợn trừng ngó trần nhà, hai hàm răng nghiến chặt đồng thời mồ hôi ướt đầm trán và môi trên. Hắn đã cởi bộ vest rách rưới, bẩn thỉu và mặc chiếc áo choàng Phoebe thừa hưởng từ Sarah (chiếc áo gấm có thêu rồng phượng). Hai vạt áo khép hờ để lộ khuôn ngực lép kẹp và trắng xanh. Cô mang toàn bộ quần áo của hắn, cả sơmi và đồ lót, vào giặt trong bồn rửa mặt của nhà tắm, cố không nhìn những vết bẩn đú loại dính trên đó. Từ nhỏ tới lớn, cô chưa bao giờ phải giặt quần áo cho ai.
Có điều đáng nói là cô không gặp khó khăn gì nhiều khi phải tự điều chỉnh cho phù hợp với cảnh sống cùng đàn ông trong lãnh địa trước đó hoàn toàn biệt lập. Cô luôn để ý đến thói lạ đời của hắn, đến con người hắn và sự khác biệt giữa họ. Đồng thời, cô quen dần với sự dị biệt và nhu cầu không giống ai của người bệnh. Leslie chẳng khác nào con thú nửa hoang dã bị thương bám chặt vào cô và phó mặc bản thân cho cô chăm sóc. Cô thấy mình giống cô gái có con kỳ lân phủ phục dưới chân trong một tấm thảm thêu nào đó. Cô không thể nhớ chiều hôm ấy họ bắt đầu ân ái như thế nào và ký ức chi tiết về trận “mây mưa” ấy giống mơ hơn là thực.
Cô cố thuyết phục hắn để cô gọi bác sĩ, lần này phải là bác sĩ thứ thiệt. Thế nhưng hắn chỉ cười giống tiếng rên, bàn tay mềm oặt của hắn vỗ vỗ vào người cô. Hắn vờ nhăn nhó, làm như khó chịu lắm:
- Không cần đâu. Có thương anh thì đừng đi rước lang băm.
Hắn không bị gãy xương. Ngực có đau nhưng chắc chắn xương sườn còn nguyên vẹn. Khi dìu hắn vào nhà tắm, cô tưởng mình đang vác một bao đựng đầy que củi. Thế nhưng lạ và đáng ngạc nhiên ở chỗ chính sự mong manh, yếu ớt của hắn lại gợi lên khao khát trong cô. Sao lại thế được nhỉ? Cô luôn tự nhắc mình rằng đây là xứ sở đẹp nhưng lạ lẫm mà lần đầu cô đặt chân tới. Trước Leslie, cô chưa từng ở gần đàn ông không có quan hệ gia tộc hoặc máu mủ. “Chung chạ” là từ thích hợp mô tả quan hệ giữa họ. Theo sách giáo lý vấn đáp, đó là tội lỗi chớ nên phạm phải và trước khi Leslie xuất hiện, cô chưa từng chủ động “chung chạ” với đàn ông. Cô cười thầm, bất giác kêu lên khe khẽ. Phải, đó là tội lỗi. Cuối cùng, cô cũng bất ngờ làm một việc trần tục như thế. Một đêm nọ, dù đạp tung chăn nhưng cô vẫn trằn trọc hàng giờ liền vì nóng nực. Trên người chỉ có chiếc váy ngủ ướt mồ hôi, cô vào phòng khách, trèo lên sofa và nép mình vào hắn. Hắn tỉnh giấc, làu bàu quay sang rên khẽ và ôm cô vào lòng. Hơi nóng từ những vết bầm tím trên người hắn đốt cháy da thịt cô. Cô nhắm mắt xuýt xoa như thể chính cô bị đau chứ không phải hắn.
Cô không thể ép hắn ăn cho ra bữa. Hắn tồn tại chủ yếu nhờ bánh quy Garibaldi mỏng như giấy bẫy ruồi và rượu gin hiệu Gordon. Mấy ngày ở chỗ cô, hắn uống hết bốn chai như thế. Sau chai đầu tiên mua ở quán rượu ngay góc phố, cô phải đi thật xa mua thêm vì sợ nếu cứ đến một quán, người ta sẽ báo Bảo Vệ canh chừng kẻ nghiện rượu nguy hiểm là cô. Leslie thèm đồ ngọt các loại, từ bánh xốp, sôcôla đến các loại kẹo cứng. Hắn nài nỉ cô mua kẹo bơ cứng hiệu Yorkshire Toffee về ngậm suốt ngày, không khác gì trẻ con.
Cô có sợ hắn không? Tất nhiên là có. Ngay cả khi cơ thể nóng hổi của hắn ghì sát vào ngực cô, tay hắn luồn trong tóc cô, môi hắn ép chặt môi cô và mồ hôi chảy nhột nhạt giữa cặp nhũ hoa căng tròn, nỗi sợ hãi vẫn làm tai cô ù đặc. Thể chất vốn không khỏe cộng thêm trận đòn vừa rồi khiến hắn yếu đi nhiều. Nhưng chẳng phải kẻ yếu ớt, yếm thế thường nguy hiểm nhất đó sao? Hình ảnh xác Laura Swan lềnh bềnh trên mặt nước đục ngầu, mái tóc dày dập dờn quanh khuôn mặt ngâm nước không còn nhận dạng nổi lại hiện về trong tâm trí cô.
Cô đến Shelbourne gặp bà Rose Crawford. Cô biết không nên kể chuyện Leslie White với bà hay bất kỳ ai khác, nhưng chỉ riêng sự hiện diện của bà cũng khiến tâm trí đang quay cuồng của cô dịu lại. Cô biết dù bí mật có bị tiết lộ, bà vẫn không phán xét chỉ trích cô. Quan điểm về đạo lý rất “thoáng” của bà sẽ thông cảm với cô về chuyện Leslie.
Họ ăn trưa trong quán nướng của khách sạn. Bà Rose thở dài sườn sượt:
- Ta bị kẹt cứng mất rồi. Hết ăn lại nằm. Bữa sáng chưa xong đã lại đến bữa trưa, tiếp ngay sau là bữa trà và rồi… (bà làm bộ rụt cổ bắt chước giọng ồm ồm của tay bồi bàn) “Mời bà đùng bữa tối!” (bà mỉm cười). Nhàn hạ thế thì chẳng sợ già.
- Bà chưa già đâu ạ.
- Phải, chưa già nhưng không còn trẻ. Nửa vời thế mới chán chứ. Con có thấy anh chàng ngồi ăn với bà cô giàu nứt đố đổ vách kia không?
Phoebe quay sang nhìn. Chàng trai, trong bộ complê nhung sọc nhuyễn và đôi giày da chưa thuộc, có khuôn mặt đầy đặn, hồng hào, với mái tóc rẽ ngôi giữa vuốt dầu bóng ép sát da đầu. Bà già ngồi đối diện anh lưng còng và gầy teo tóp. Dao nĩa trong đôi tay khô gầy, run rẩy của bà va vào đĩa kêu lạch cạch.
- Bà quen anh ấy à?
- Không. Nhưng chỉ cần nhìn qua, ta biết hắn là ông cháu ân cần và đang ôm mộng thừa hưởng gia tài. Nhưng điều ta muốn nói là khi hai ta vừa vào cửa, hắn có liếc sang. Nói đúng hơn là chỉ liếc con thôi, Phoebe ạ. Sau đó, hắn nhìn ta từ đầu đến chân mà mi mắt không hề nháy nhỏm gì cả. (Bà cười khẩy). Lúc trước, không bao giờ có chuyện ấy đâu.
Bà Rose gọi cá bơn cho cả hai kèm một chai Chablis. Nắng chiếu qua cửa sổ tạo đường sọc sáng như kim tuyến trên khăn trải bàn và viền những đốm nhỏ sáng lấp lánh trên miệng ly của hai người. Bà Rose cao giọng hỏi:
- Bố con ở đâu thế không biết! Ta những tưởng ông ấy sẽ luôn bên cạnh, ai ngờ từ sau hôm ta mới đặt chân đến đây, ông ấy biệt tăm. Ông ấy tưởng ta làm gì suốt mấy ngày dài đằng đẵng thế chứ? Ta có quen ai ở thành phố này đâu.
- Vậy sao bà còn ở đây?
Bà Rose trợn mắt như thể ngạc nhiên lắm lắm:
- Kìa, sao cưng lại hỏi thế? Muốn ta biến đi cho rảnh nợ phải không?
- Tất nhiên là không rồi. Con chỉ…
- Mà thôi, con hỏi thế cũng phải. Sao ta phải ở đây, chính ta cũng không biết nữa. Chắc ta thấy mến xứ Alien bé tí mà ác nghiệt này mất rồi. Vậy mà từ trước đến giờ ta không biết mình thích tình ngang trái!!
Nụ cười buồn bã, bí ẩn quen thuộc hiện trên môi Phoebe.
- Hay bà ở lại vì bố Quirke?
Bà Rose nhìn lảng đi:
- Cho phép ta không trả lời câu hỏi ấy.
Bồi bàn tiến đến làm động tác kiểu cách khi đưa chai rượu cho bà Rose kiểm tra, hệt như ảo thuật gia hoa tay chuẩn bị hô biến con bồ câu trong mũ. Rót rượu xong, anh ta bỏ đi. Bà Rose soi ly cồn ra chỗ sáng, kề cà nói:
- Còn con nữa. Đang có chuyện gì, nói ta nghe.
Nếu không cắn môi kịp thời, Phoebe đã toét miệng ra cười như anh hề. Cô đoán chắc khi mang bầu cô cũng giống thế này: cảm giác nóng bừng và hồi hộp chỉ riêng mình biết bởi cơn cảm xúc dâng cao đe dọa tràn cả ra ngoài. Cô tròn mắt như không hiểu bà nói gì.
- “Chuyện gì” là chuyện gì ạ?
- Thôi đừng đùa dai nữa. Ta biết con đang có chuyện mà.
- Sao bà biết?
Phoebe không giấu nổi sự háo hức trong giọng nói. Nếu chỉ mình bà Rose đoán ra bí mật của cô thì không sao. Bà sẽ không bao giờ nói với ai nên cô có thể thoải mái tâm sự với bà.
- Có gì đâu. Trông con rạng rỡ hẳn lên. Mắt thì sáng long lanh. Ta đoán chác con đang trong cuộc phiêu lưu tình ái chứ gì?
Phoebe nhìn xuống. Dù không hay đỏ mặt nhưng chắc lúc này mặt cô đỏ như cà chua chín. Cô mừng vì bồi bàn vừa đặt con cá bơn bơi trong đĩa nước sốt đầy bơ béo ngậy xuống bàn. Cá không phải món khoái khẩu của cô nhưng bà Rose quyền thế đã không hỏi ý cô trước khi gọi món. Nhưng không sao, cô hiếm khi ăn trưa và chưa chắc hôm nay cô đã đụng đến đồ ăn. Cô uống một hơi cạn ly Chablis. Hơi cồn xộc thẳng lên đầu hệt như tia sáng vàng cam bay vút lên cao. Cô cân nhắc từng câu chữ:
- Có chuyện này trùng hợp lắm ạ.
- Trùng họp ư? Con nói rõ hơn xem nào.
- Một người quen bố Quirke đến gặp ông yêu cầu không khám nghiệm tử thi.
- Sao ngược đời thế?
- Vâng, quả có lạ thật.
- Khám nghiệm ai thế?
- Chị vợ. Vợ người đàn ông quen bố con ấy. Chị ấy chết rồi!!
- Phải, ta cũng biết thế. Không chết thì làm gì có khám nghiệm tử thi! Vợ chồng họ quan hệ thế nào với con?
- Chẳng có gì đâu ạ. Chỉ là… người bình thường. Con quen chị vợ… thực ra không hẳn quen, nhưng… chị ấy quản lý thẩm mỹ viện. Con có mua đồ chỗ chị ấy vài lần.
- Đồ gì?
- Chỉ là kem dưỡng da mặt, da tay linh tinh thôi. Thế rồi…
Phoebe ngừng lời. Cô cảm giác mình tuyệt vọng, rơi chầm chậm từ trên cao xuống hệt như trong một giấc mơ. Hai bàn tay chợt run lên khiến cô gái trẻ lo sợ mình sẽ giống bà già ban nãy, ngỗi gõ dao nĩa lạch cạch xuống mép đĩa bằng thiếc.
- Chị ấy tự tử.
Câu nói nghe sao trần trụi, lạnh lùng đến thế. Phoebe vẫn tưởng cái chết luôn huyền ảo và bí ẩn khôn lường. Giờ thì hết rồi.
Đang chăm chú ăn, bà Rose ngẩng phắt lên, nhìn Phoebe chăm chú. Vốn nhạy cảm, bà biết khi nào chuyện phiếm biến thành thông tin quan trọng. Bà hỏi ngay:
- Phoebe này. Có phải bố Quirke lại dây dưa vào chuyện gì rồi phải không?
Hình như chưa bao giờ bà gọi thẳng tên cô như thế. Nhưng rồi cô chợt nhớ bà Rose hiếm khi gọi tên thân mật của người đối thoại. Còn nữa, bà không để ý đến thông điệp chính của Phoebe: Trong chuyện này, không chỉ mình bố cô gặp rắc rối. Cô cầm ly lên nhưng không uống. Cặp mắt sáng quắc của bà Rose vẫn nhìn cô không chớp. Cô từ tốn:
- Không. Bố con không việc gì đâu.
Phục vụ bàn khúm núm tiến đến rót rượu tuần thứ hai cho họ. Khi anh ta xong việc, bà Rose nóng nảy phẩy nhẹ ngón tay ra dấu bảo anh ta lui nhanh. Bà nhấp một ngụm nhỏ. Tia lo lắng trong mắt bà dịu đi. Bất ngờ, Phoebe nhận ra bà thực sự có tình cảm sâu nặng với bố mình. Cô ngỡ ngàng vì mình không hề ngạc nhiên trước khám phá ấy.
- Thế con bảo chuyện gì ngẫu nhiên?
- Người tự tử chết là Laura Swan. Con còn quen bạn làm ăn với chị ấy nữa.
- Bạn làm ăn nào?
- Người đồng quản lý thẩm mỹ viện với chị ấy. Anh ta tên là Leslie White. (Hình như cô hơi run giọng khi nhắc đến cái tên ấy? Cô nói nhanh hơn). Bố Quirke thấy có gì đó không bình thường trong cái chết của Laura Swan, nhất là khi chồng chị ấy đến gặp bố…
Phoebe im bặt. Chắc chắn cô run rẩy khi nhắc đến tên của Leslie nên giờ bà Rose không thể bỏ qua. Bà hơi trề môi ngâm nga thật chậm tên người lạ:
- Leslie White! Có phải chính anh chàng khiến con phải phiêu lưu?
- Không, không, làm gì có! Ý con là bố Quirke không chịu cho qua.
Bà Rose gật đầu:
- Phải, con nói đúng.
Bà nhìn xuống đĩa, xiên một miếng cá nhỏ. Phoebe ngẩn người ngắm miếng cá trắng điểm vài đường gân nhỏ màu hồng đi qua khuôn miệng tô son đỏ chót của bà. Quanh môi trên của bà có những vết nhăn nhỏ xíu như thể ai đó dùng tơ thật mảnh và trong suốt thêu viền quanh môi. Bà hỏi thăm:
- Hai cha con hồi này sao rồi?
Mỗi khi có ai nói Quirke là cha mình, Phoebe luôn ngần ngừ một thoáng trước khi nói tiếp. Cô cố ôn tồn:
- Bình thường ạ. Mỗi tuần bố đãi con một bữa.
Bà Rose mỉm cười chua chát như thứ rượu trong ly thủy tinh trước mặt.
- Và ông ấy lại uống một ly chứ gì.
Phoebe lại nhìn xuống.
- Con và bố chưa hẳn có mối quan tâm chung.
- Hừm, ngoại trừ vụ việc trùng hợp vừa rồi. Anh chàng kia tên gì, ta quên rồi? Leslie gì ấy nhỉ?
Phoebe không trả lời, cũng không dám nhìn lên. Bà Rose gác dao nĩa trên đĩa, chống khuỷu tay lên bàn, hai bàn tay đan vào nhau và khẽ chạm môi vào khớp ngón tay trỏ. Bà thủng thẳng:
- Con có biết chuyện trước kia ở Scituate, và trước nữa, ở Dublin này không? Chuyện về Quan tòa Griffin, cha con và cô gái chết trẻ ấy? Ta cũng quên tên cô ấy rồi.
- Christine Falls.
Phoebe nói, ngạc nhiên sao mình nhớ rõ và nhanh quá.
- Rõ là con biết. Ai kể con hay vậy?
- Mẹ Sarah có kể một ít.
- Ra thế.
- Nhưng đa phần do con đoán.
- Con có biết suýt chút nữa Quirke đã hủy hoại thanh danh Quan tòa Griffin, người ông quá cố của con không?
- Có, con có biết. Nhưng chuyện ông nội bị bưng bít ngay.
- Họ không công khai là đúng. Chuyện chẳng hay ho gì. Chính vì thế ta mới hỏi con có phải Quirke lại định rước họa vào thân chăng. Vụ trước khiến bố con còn chưa hết khốn đốn. Ta không thích phải chống mắt nhìn ông ấy đâm đầu vào bê bối nữa. Quirke tưởng mình là hiệp sĩ khoác giáp trụ sáng loáng, nhưng thực ra không phải.
Làn gió nhẹ từ công viên bên kia đường theo cửa sổ cao và rộng mở, mang hương hoa cỏ đầu hè tới chỗ họ, quyện với mùi cỏ khô bốc lên từ bãi đậu xe taxi. Các bác tài đội mũ sờn rách đang suốt ruột đi lại, chờ khách du lịch rủng rỉnh túi tiền đến tìm mình. Bà Rose cất lời, chịu đựng cái nhìn nghiêm nghị của Phoebe:
- Con nên tha thứ cho ông ấy. Phải, phải, ta biết đó không phải chuyện của ta. Nhưng cưng ơi, con nợ bản thân mình điều ấy, nếu không nói là nợ cả Quirke. (Bà ngẩng lên cười hớn hở). Đúng không con? (Thấy Phoebe không trả lời, bà đành nhún vai). Thôi, mình dùng bánh xốp có kem và hoa quả tráng miệng rồi sang công viên đi dạo nhé?
- Con phải về đi làm.
- Hay con xin nghỉ một buổi đưa bà trẻ cô đơn đi chơi có được không?
Lâu lâu, tự nhiên bà Rose nói giọng đặc sệt của người miền Nam nước Mỹ. Sau khi lè nhè nài nỉ, bà cười tự chế giễu, chẳng giống tiểu thư miền Nam chút nào. Phoebe lắc đầu. Bà Rose thở dài nhướng cặp lông mày tỉa nhỏ kẻ chì đen thẫm.
- Vậy mình dùng nốt cà phê rồi về nhỉ?
Bà hơi nghiêng đầu ngắm cô gái trẻ trước mặt giây lát rồi thân tình hỏi gặng:
- Cưng này, hình như con không ưa ta phải không?
Phoebe ngẫm nghĩ trước khi trả lời:
- Con ngưỡng mộ bà trẻ.
Bà Rose ngả đầu cười, tiếng cười nghe lạnh lùng sắc nhọn:
- Trời đất! Đúng là con gái bố Quirke có khác!
Cô không đến thẳng tiệm bán mũ mà sang đường Green, đi suốt đường Harcourt, rồi đắm mình trong không gian tĩnh lặng đầu giờ chiều của tòa nhà có căn hộ của mình. Hôm nay, cô không chạy vội lên cầu thang như mấy hôm trước. Cô vịn tay vào lan can, chậm chạp leo lên từng bậc. Cô chưa cần mở cửa, linh tính mách bảo rằng Leslie đã bỏ đi. Tấm chăn và nệm gối vẫn trên ghế sofa, giấy kẹo vương vãi trên thảm và ly rượu cạn tới đáy cùng tờ nhật trình nhăn nhúm lăn lóc trên bàn nước. Cô đứng đó hồi lâu, tâm trí dần trống rỗng giống như não bộ bị hút cạn kiệt. Hình ảnh hai con thỏ hoang thở hổn hển trong ổ giữa bãi cỏ lại hiện ra trước mắt cô. Ít nhất thì cũng không có cáo hay chồn nào ăn thịt được Leslie. Nhưng ai biết loại nguy hiểm nào đang rình rập hắn. Tiếng thổn thức đầu tiên gần như không thật, nó không phải của cô mà của ai đó từ phòng bên vọng sang. Cô đặt túi lên bàn, ngay cạnh chiếc ly vẫn còn một giọt rượu gin đọng dưới đáy. Sau đó, cô nằm xuống ghế sofa, đặt đầu mình lên dấu lõm của đầu Leslie hằn trên gối, kéo chăn tới tận cằm, nhắm mắt và để mặc suối lệ trào tuôn.