Thiên Nga Bạc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3

❊ ❊ ❊

Trong trại tế bần (tên chính thức là trường Công nghệ Carrickles), nơi Quirke sống suốt những năm đầu của thời thơ ấu, người ta cố sức nhồi nhét cho ông một đức tin. Nhưng từ lâu lắm rồi, ông đã đánh mất nó. Song, cho đến bây giờ, khi sắp qua tuổi trung niên, ông vẫn tôn thờ nhiều vị thánh của lòng mình. Với ông, họ là biểu tượng trường tồn. Một trong số đó là Garret Griffin, vị Quan tòa, thần tượng vĩ đại mà gần như suốt đời ông tin là thánh nhân. Khi còn đương chức, vị quan tòa này đã đưa ra không biết bao nhiêu phán quyết quan trọng. Nhưng mới năm ngoái, khi vừa bước sang tuổi bảy mươi ba, cơn đột quy đã quật ngã ông cụ. Giờ cụ liệt toàn thân, trừ cơ miệng, mắt và hệ thống gân, dây chằng ở cổ. Dù không nói và cử động được, nhưng cụ vẫn khả năng nhận thức. Vị quan tòa uy nghi xưa giờ nằm một mình trong căn phòng rộng sơn trắng toát trên tầng ba nhà tu kín St Louis ở Rathfarnham, góc ngoại ô cách xa trung tâm thành phố.

Phòng có hai cửa sổ, mỗi cửa nằm sát một góc tường và nhìn ra hai quang cảnh trái ngược nhau của dãy núi Dublin: một bên toàn đá sỏi khô cằn, bên kia là màn xanh cây cối, thi thoảng điểm vài cây kim tước. Người bệnh thường đau đáu nhìn những sườn đồi thoai thoải ấy bằng ánh mắt tuyệt vọng, đau đớn và uất ức. Quirke thầm thán phục cái cơ thể tàn tạ kia còn có khả năng tập trung mọi nguồn nghị lực để dồn cả vào ánh mắt dữ dội đến nhường ấy. Dường như mọi sức mạnh tính cách của con người từng vang bóng một thời đều tụ về hai đốm lửa còn cháy mãi không thôi.

Thứ hai và thứ năm hàng tuần, Quirke đến thăm ông cụ. Phoebe, con gái Quirke, đến vào các ngày thứ ba và thứ sáu. Lượt thăm bệnh vào chủ nhật dành cho Malachy, con trai cụ. Còn các ngày thứ tư và thứ bảy, người bệnh nằm một mình ngắm ánh sáng trên núi thay đổi theo từng canh giờ. Nếu nhìn mắt có thể đoán được ý nghĩ, người ta có thể thấy ngay ông cụ đang âm thầm nín nhịn nỗi bất mãn cực điểm với sự chăm sóc của sơ Agatha, người nữ tu già đã ngoài bát tuần. Thời đương chức, vị quan tòa này đã ngầm giúp đỡ các nữ tu của nhà thờ Thiên Chúa giáo rất nhiều nên khi đại họa giáng xuống, họ là người đầu tiên đứng ra nhận trách nhiệm đưa ông cụ về chăm sóc. Sau cơn đột quỵ nặng, ai cũng tưởng cụ chỉ sống thêm một hoặc hai tuần là cùng. Thế nhưng đã nhiều tuần rồi nhiều tháng trôi qua, ý chí đấu tranh dai dẳng với bệnh tật chưa hề có dấu hiệu suy giảm. Có một trường nữ sinh chiếm tầng một và tầng hai của tòa nhà nên vào những giờ cố định trong ngày như chín giờ sáng, giờ ăn trưa và bốn giờ chiều, học trò lại đồng thanh ê a. Tiếng của chúng vọng lên tận tầng ba khiến sự căng thẳng và tập trung xuất hiện trong ánh mắt vị quan tòa. Nhìn ánh mắt ấy khó có thể biết ông cụ đang nghĩ gì. Phải chăng cụ đang phẫn nộ, hoài niệm, tiếc nuối hay hoang mang? Có lẽ cụ không còn biết mình đang ở đâu và nghe thấy âm thanh gì nữa. Có lẽ tâm trí cụ đang bị giam hãm trong trạng thái nghi hoặc, vô vọng, bối rối. Nhìn ông cụ như vậy, Quirke không biết phải nghĩ sao cho phải. Một phần con người ông, phần đắm chìm trong nỗi thất vọng và chua xót ê chề, muốn ông cụ phải khốn khổ vì bệnh tật. Phần khác, phần thuộc về thằng bé Quirke côi cút năm xưa, lại ước cơn đột quy giết chết vị quan tòa ngay tức khắc, tránh cho ông cụ trước khi chết phải cắn răng chịu để người khác phục vụ mình.

Để giờ thăm bệnh chóng qua, Quirke đọc cho ông cụ nghe tin tức từ tờ Irish Independent. Hôm nay là thứ hai, một ngày giữa hè, và tin tức có vẻ thưa thớt trên trang báo. Ở Maynooth và All Hallows có lễ phong chức cho tám mươi tu sĩ. Quirke nghĩ, đời lại có thêm khối kẻ tu hành, đúng với mong muốn của khối người. Báo còn đăng hình ông Tom Bent, quản lý trạm sửa xe Talbot, đang trao chìa khóa một xe cứu hỏa mới toanh cho ngài thị trưởng. Cửa hàng Macy’s trên đường George có đợt giảm giá nhân dịp hè về. Phía dưới trang báo đăng tin về một vụ cướp bóc. Quirke lật sang trang quốc tế và đọc lời một chính trị gia phát biểu trong một cuộc mít-tinh lớn ở Dusseldorf đêm hôm qua. Sau đó, mắt ông bị hút vào bài báo trên trang nhất có tựa đề Phát Hiện Xác Một Cô Gái:

Hôm qua, thi thể của Mary Ellen Quigley (16 tuổi), một công nhân may mặc không thấy về nhà ở Derry từ ngày 17 tháng 6, đã được một người đánh cá vớt lên bằng lưới tại sông Foyle. Hôm nay, nhà chức trách đã mở cuộc điều tra vụ việc này.

Quirke đặt tờ báo xuống. Ông thèm thuốc. Tuy nhiên, sơ Agatha không cho phép hút thuốc trong phòng bệnh. Một mặt, quy định ấy làm Quirke thêm khó chịu. Nhưng mặt khác, nó cho ông cái cớ một tiếng hai lần lẻn ra hành lang trải simili bên ngoài, sốt ruột rít thuốc chẳng khác nào ông bố chờ con gái đi chơi đêm về trong một vở hài kịch.

Sao ông cứ nhất định phải đến đây để chịu cảnh này? Tất nhiên, chẳng ai trách nếu ngay từ đầu ông tránh né, để mặc ông lão gần đất xa trời nằm một mình gặm nhấm cơn giận dữ. Trước đây, vị quan tòa từng là kẻ tội đồ kín đáo và đáng sợ. Chính Quirke mang tội lỗi của ông cụ phơi ra ánh sáng. Một cô gái chết, một phụ nữ bị sát hại, tất cả đều do lỗi của ông cụ. Điều khiến Quirke nhớ đời là tấm màn im lặng phủ lên vụ việc ấy, để mặc ông đứng một mình phẫn nộ, đối phó với bao nguy hiểm rình rập, bị lãng quên, chẳng khác nào thằng hâm đứng gào thét ở góc đường nhưng chẳng ai thèm bận tâm. Vậy tại sao hàng tuần ông cứ nhẫn nại đến căn phòng trống trải dưới chân núi này? Bởi vì chính ông cũng có tội cần được tha thứ. Con gái ông, đứa con gái ông đã không dám nhìn nhận suốt hai chục năm qua, chứng thực điều ấy. Việc đến đây, một tuần hai lần, đọc tin cáo phó đăng trên báo và tin tòa án cho ông cụ đang hấp hối nghe là một hành động chuộc lỗi nhỏ nhoi.

Quirke lại nhớ Deirdre Hunt. Sau khi tình cờ phát hiện dấu kim tiêm trên cánh tay nạn nhân, không ai yêu cầu Quirke đừng khám nghiệm tử thi nữa. Nếu làm đúng bổn phận, ông phải mổ thi thể nhưng đó cũng không phải lý do chính khiến ông cầm dao mổ lên. Cũng như mọi khi, ông làm chủ yếu do tò mò dù biết rõ óc tò mò ấy không hề chất phác, đơn giản chút nào. Ông mở phanh xác chết, xem xét các cơ quan bên trong, xét nghiệm máu… Bây giờ, trước sự chứng kiến lặng lẽ của vị quan tòa, một lần nữa, ông lại lôi ra từng chi tiết nhỏ, xem xét nó dưới mọi góc độ. Tiếc thay, điều đó chẳng mang lại ích lợi gì.

- Bác Garret thấy sao ạ? Không lẽ đó chỉ là một cái chết thông thường?

Quirke quay lại hỏi. Đầu ông cụ kê cao trên đống gối, miệng méo xệnh, mắt trân trân nhìn người vừa hỏi. Quirke thở dài. Phòng này nóng và ngột ngạt quá. Dù đã cởi áo khoác, ông vẫn toát mồ hôi. Mấy mảng áo ướt dưới hai nách và ngoài khu vực giữa hai xương bả vai đang muốn dính bết vào người ông. Hồi nay ông hay tự hỏi liệu ông lão nằm kia có cảm nhận hết được cái nóng, cái lạnh và sự thay đổi liên tục diễn ra trong một ngày bình thường? Ông ấy có đau ở đâu trong người không? Hãy tưởng tượng một người bị đau triền miên nhưng không thể kêu rên cho bớt đau hoặc giãi bày hầu mong nhận sự cảm thông. Thật khủng khiếp!

Quirke lại thở dài. Ông nhớ cảm giác bất an chợt trỗi dậy khi người ngồi sau bàn tiếp tân của bệnh viện trao cho ông tờ giấy ghi tin nhắn của Billy Hunt yêu cầu ông gọi lại. Làm sao ngay lúc ấy ông đã biết thể nào cũng có chuyện? Trực giác hay giác quan thứ sáu định mách bảo ông điều gì? Ngay lúc này, ông thấy sợ nhưng không biết mình sợ gì. Lúc trước, cũng chỉ vì ông khám nghiệm tử thi một kiều nữ, mới dẫn đến chuyện chính tay ông vén bức màn bí mật phơi bày nhiều sự việc tày trời mà vị quan tòa này muốn giấu. Chẳng lẽ bây giờ ông còn muốn dấn thân vào chuyện tương tự? Hay ông nên bỏ qua cái chết của Deirdre Hunt? Chồng cô ta không biết chuyện có lẽ lại hay. Nếu quả cô ta chết vì tự tử thật thì ông điều tra cũng có nghĩa lý gì? “Ngựa chết, hết chuyện”! Mọi rắc rối của Deirdre Hunt đã theo cô xuống mồ, việc gì ông phải gây thêm phiền toái cho ông chồng giờ đang phải sống cảnh góa bụa? Nhưng dù đã tự cật vấn như thế, Quirke vẫn không thể bỏ qua nỗi khao khát thường trực trong ông. Ông luôn muốn đào xới đến tận gốc rễ của vấn đề, lục lọi mọi góc tối tăm của những gì được che dậy. Ông nhất định phải biết.

Sơ Agatha xồng xộc vào phòng. Rõ ràng, sơ khó chịu vì Quirke chưa chịu về. Mọi khi, vào giờ này, ông đã nôn nóng về cho sớm. Mà thật, ông cũng tự hỏi mình nán lại đây làm gì? Phải chăng ông chờ vị quan tòa âm thầm khai sáng cho mình? Trước đây, ông cụ vốn là người cầm lái, là túi càn khôn của không ít người. Chẳng lẽ Quirke đang trông chờ người ta giúp? Người nữ tu già nhỏ thó, quắt queo, lông mặt cứng như râu đàn ông này có cặp mắt tinh như mắt diều hâu. Hình như dù ở nơi nào trong phòng, sơ cũng tìm cách tạo nên bức màn che chở vô hình chắn giữa người bệnh và Quirke. Sơ ghét Quirke ra mặt và có vẻ muốn ông biết rõ như thế.

Sơ nói mà không nhìn ông:

- Giờ mà còn đứng đây ngắm trời ngắm đất thì còn gì bằng. Chẳng phải đã muộn lắm rồi sao, ông Quirke?

Thực ra có muộn màng gì đâu. Mới sáu giờ tối. Sơ đang nhắc khéo rằng bà muốn ông về. Ông quan sát sơ săn sóc người bệnh: nào chỉnh sửa đống gối, nào vuốt vuốt tấm chăn mỏng. Nếp gấp đầu chăn vắt ngang ngực ông cụ trông như sợi dây trói to bản. Trên chiếc giường sắt hẹp, trông vị quan tòa càng to lớn hơn bao giờ. Quirke nhớ một ngày bão nổi ở Carricklea cách nay đã lâu. Hôm ấy ông chứng kiến cây sồi cổ thụ bị gió bão quật ngã. Khi cây bật rễ đổ vật xuống, mặt đất rung chuyển. Khung cửa sổ nơi ông đứng háo hức nhìn ra rung lên bần bật. Ông cụ nằm đây cũng giống cây sồi kia: một minh chứng cho ngày tàn của một thứ tồn tại quá lâu và tưởng chừng không có gì lay chuyển nổi. Việc Quirke làm đã đóng góp bao nhiêu phần vào sự suy vi này? Vậy mà bây giờ, ông lại sắp gây nên một cơn bão khác lật đổ chân tượng đài Billy Hunt đã dựng lên để tôn thờ người vợ yêu không may vắn số.

Ông lấy áo khoác vắt trên lưng ghế kê sát giường bệnh:

- Thôi chào sơ nhé. Thứ năm tôi lại tới.

Vị nữ tu bỏ ngoài tai câu chào của ông. Bà không nói, cũng không nhìn ông mà chỉ thở mạnh ra đằng mũi nghe như tiếng cười khẩy. Vị quan tòa cũng không phản ứng gì, chỉ nhìn lảng về phía đồi như một cử chỉ lạnh nhạt, khinh khi.

Vào quán ăn Tàu trên đường Baggot, Quirke gọi vài món rẻ tiền dùng cho bữa tối. Ăn xong, ông đi bộ về nhà, vừa đi vừa cố dùng lưỡi đẩy mẩu thịt giắt trong kẽ răng. Hồi này, do thiếu cảm giác đê mê nhờ rượu, buổi tối là thời gian khó chịu nhất của ông, đặc biệt là vào giữa hè có ngày dài đêm ngắn. Bạn ông, hay ít nhất là vài người ông quen, đều coi quán rượu là nhà. Vào những dịp hiếm hoi giáp mặt nhau, ông chỉ khiến họ mất thoải mái bởi trạng thái tỉnh táo lạ lẫm của mình. Ông đã nghĩ tới chuyện đi xem phim. Nhưng sau khi tưởng tượng mình ngồi trong ánh sáng chập chờn giữa các cặp tình nhân say đắm, ông thấy căn hộ vắng lặng tắm mình trong ánh nắng chiều vàng vọt còn dễ chịu hơn. Lên đến tòa nhà cũ kỹ xây theo lối kiến trúc Georgian trên đường Upper Mount, nơi ông cư ngụ, ông nhẹ nhàng khép cổng, gần như nhón chân đi qua sảnh để lên lầu. Không hiểu sao ông luôn mang cảm giác nơi này có người đột nhập và hắn đang lặng lẽ trốn trong góc tối.

Bầu không khí trong căn hộ trên lầu ba của ông thường trực một cảm giác căng thẳng, lén lút. Như thể một tiến trình ác hiểm nào đó vội ngưng bặt vào đúng lúc ông vừa tra chìa vào ổ khóa. Tay vẫn lăm lăm chìa khóa nhà, ông dừng giữa phòng khách và nhìn quanh: vài món đồ nội thất tầm tầm, kệ sách ngăn nắp đến khác thường, món đồ chơi là gã người lùn bằng gỗ bày trên mặt bàn nhỏ cạnh cửa sổ đang hùng hổ vung tay lên cao. Trên mặt lò sưởi có bình cắm hoa hồng. Thật không thể tưởng tượng nổi có người tặng hoa cho ông. Người tặng là một phụ nữ tóc vàng đã có chồng đang buồn chán. Thời gian hơn một tuần gặp nhau chẳng khiến họ vui lên mấy tí. Dù khi hoa tàn, cánh héo quắt, bình hoa hơi có mùi hôi nhắc nhớ căn phòng mổ xác, ông vẫn không nỡ vứt chúng đi. Ông mở radio tìm Chương trình BBC Thứ Ba, nhưng sóng thu thanh quá yếu. Còn tại sao ngay cả khi thời tiết đẹp mà đài không bắt được sóng thì ông chịu. Ông đến bên cửa sổ châm thuốc, nhìn xuống con phố rộng trống trải với những góc tối có một vẻ gì thật hắc ám. Chỉ lát nữa thôi, gái ăn sương sẽ kéo nhau đến chiếm một khoảng bên lề phố này. Có trùng hợp không khi tên phố là Mount[1]! Trong những đêm hè nóng nực như đêm nay, ngay cả một gái làng chơi già và xấu xí nhất cũng có thể kiếm chác nhờ khách “đi dù”. Hồi này, trong lúc trời nhập nhoạng giữa hè, trạng thái tuyệt vọng đã mon men đến tìm ông. Có tiếng động rất khẽ sau lưng khiến ông giật mình quay phắt lại. Một cánh hoa rời bó hồng héo khô vừa rơi ngay vào miệng lò sưởi, trông như mẩu vải nhung màu đỏ thẫm nhăn nhúm ngoài rìa. Quirke càu nhàu giật vội áo khoác và đi ra cửa.

Malachy Griffin, hiện được một bà hầu gái chăm sóc, vẫn sống trong căn nhà ở đường Rathgar, nơi ông và Sarah chung sống đã mười lăm năm. Sarah đã bỏ lên thiên đàng một mình, và Mal đã nghĩ đến chuyện bán nhà. Thể nào cũng đến lúc phải bán thôi nhưng lúc này ông chưa muốn đối mặt với những tay môi giới nhà đất, cân nhắc giá cả, hẹn ngày giờ với bên dịch vụ chuyển nhà và cuối cùng là tiến trình di chuyển đầy khó nhọc. Ông cố hình dung tiến trình ấy: khép cửa chính lúc xe tải chở đồ đạc phóng đi, lủi thủi trên con đường mòn hẹp chạy giữa bãi cỏ xanh, đến cánh cổng sắt sần sùi cả trăm năm tuổi được sơn lại không biết bao nhiêu lần, ngửi mùi hương thủy lạp lần cuối, đi bước cuối cùng ra vỉa hè, xoay gót lần cuối để ra phía sông đào, hướng về một tương lai không thể đoán điều gì sẽ tới. Không, tốt hơn ta nên trì hoãn, nấn ná trong không gian lặng lẽ này, cứ mặc mỗi ngày lại thấy một tờ lịch rơi. Trì hoãn chẳng để làm gì ngoài việc sáng ngủ dậy, đi làm, về nhà và ngủ: tồn tại. Cuộc sống chẳng còn ý nghĩa gì nữa.

Con chó nghe tiếng bước chân đến gần cửa chính. Khách chưa nhấn chuông cửa nó đã nhe nanh gầm gừ. Đang gà gật trong ghế bành ngoài phòng khách, tiếng động làm Mal bừng tỉnh. Giờ này ai còn đến đây? Cửa kính ở ban công mở rộng, trông ra vườn sau nhà rộng mênh mông. Hoàng hôn màu bạc dần sẫm lại. Ông cố ý chờ động tĩnh từ người hầu gái Maggie nhưng dạo này bà ta “cố thủ” trong phòng riêng dưới nhà, nhất định không mở cửa đón khách. Ông cũng định không mở vì bản thân chẳng muốn gặp ai, nhưng cuối cùng ông thở dài, gạt tờ báo và chậm chạp ra phòng lớn. Con chó chạy theo, hai chân trước khuỵu xuống, chân sau nhồng lên, gầm gừ trong họng.

- Quirke đấy à. Đi chơi muộn thế.

Mal nói, giọng không ra ngạc nhiên cũng không phải hào hứng. Quirke không nói không rằng. Mal lùi lại mở rộng cửa. Con chó lùi xuống hằm hè nhìn khách, vươn dài thân hình trên bộ móng nhọn hoắt. Tiếng phì phì, khào khào từ cổ họng nó phát ra nghe như tiếng rắn chuông.

Mal vào phòng khách trước. Khi đã vào đến bên trong, Quirke sập cửa ngay trước mũi con chó. Quirke băng ngang qua phòng, đến bên cửa sổ, đút tay vào túi quần ngắm vườn cây. Thân hình hộ pháp, phình to ở phần giữa của ông chắn gần hết khung cửa sổ. Khoác trên mình bộ complê đen, ông trông giống sứ giả của thần bóng tối. Trong suy nghĩ của Mal, ông chẳng khác nào em bé to xác hay đòi hỏi và luôn cố tình, hoặc vô ý gây họa lớn.

- Trong năm em ớn nhất mùa này. Buổi tối sao dài quá thể.

Quirke nói. Mắt ông không rời khóm hoa mẫu đơn, hoa hồng và cây liễu sum suê, ủ rũ trồng từ hồi Sarah và Mal mới chuyển đến. Càng lúc khu vườn càng giống vườn hoang. Trước đây, chỉ Sarah mới chăm sóc hoa cỏ.

- Uống chút gì nhé? (Mal vội nói thêm). Dượng uống trà hay…

- Không. Cảm ơn anh.

Ngay sau khi Sarah mất, giữa hai người ngầm có sự thỏa hiệp. Thoảng hoặc, họ rủ nhau ăn tối ở St Stephen’s Green Club, nơi Mal thừa hưởng thẻ hội viên của bố. Một lần họ chơi cá cược tại trường đua ở Leopardstown nhưng chỉ để mua sầu chuốc não. Quirke mất hai mươi bảng và cáu tiết với Mal. Dù biết đôi chút về mấy chú ngựa, Mal vẫn dè sẻn đặt cược mỗi lần vài xu và cuối cùng bằng lòng thu về năm bảng.

Tối nay, Mal lo âu không biết Quirke đến với mục đích gì. Quirke không đến nếu không được mời, còn Mal rất hiếm khi mời ông. Mal thầm thở dài ngao ngán, hy vọng Quirke không đến phàn nàn về chuyện ngân sách của bệnh viên - Mal vốn là trưởng khoa sản bệnh viện Holy Family và là trưởng ban quản lý bệnh viện. Bất ngờ, Quirke rủ ông đi dạo. Mal không nghĩ Quirke thuộc kiểu người ưa tản bộ. Nhưng ông nhận lời; đằng nào cũng đã sắp đến giờ dắt chó đi dạo. Ông quay vào thay đôi dép lê bằng giày dạo phố.

Bị bỏ lại một mình trước khu vườn tĩnh lặng đang chìm trong bóng chiều nhập nhoạng, Quirke có ý tưởng kỳ quặc rằng những cụm hoa hồng, hoa trang và cái cây um tùm xõa xượi kia đang thầm xét nét và rỉ tai nhau về ông. Ông hình dung rõ mồn một hình ảnh Sarah đứng trong vườn, đội nón rơm rộng vành kiểu Địa Trung Hải, mặc váy bó bằng vải tuýt, đeo găng tay làm vườn. Bà đang đi trên bãi cỏ tiến về phía ông, đồng thời đưa cổ tay lên vuốt lọn tóc xòa xuống trán.

Tờ nhật trình nằm trên bàn, đúng chỗ Mal đã ném xuống khi nãy. Ánh sáng chạng vạng từ vườn chiếu vào khiến giấy báo sáng lên ma quái, trông như kim loại mờ xỉn. Dòng tít lại đập vào mắt Quirke:

Phát Hiện Xác Một Cô Gái.

Mal trở vào phòng. Ông đã đi giày cao cổ và mặc áo khoác xám bằng vải bông nhăn nhúm. Ông không còn chau chuốt trong cách ăn mặc như trước. Ông chẳng quan tâm đến bản thân, nói chi đến vườn tược, vẻ bề ngoài của ông mờ nhạt đi, mọi nét nổi bật xưa kia không còn, như thể có một lớp bụi mịn mắt thường không thể nhìn thấy phủ đều trên cơ thể ông. Tóc Mal đã trắng xóa. Nhìn mái tóc khô xác của ông, người ta cảm tưởng nếu sờ tay vào, tóc sẽ gãy vụn. Chỉ có tròng kính trong gọng sắt của ông vẫn còn bóng loáng dù cặp mắt sau nó hình như đã mờ đi, như thể chúng quá mệt mỏi do phải liên tục săm soi đủ thứ qua hai mảnh thủy tính tròn tròn. Ông hỏi:

- Thế nào? Giờ ta đi được chưa?

Họ tản bộ dọc bờ kênh trong buổi chiều yên tĩnh. Đường phố thưa thớt người và xe cộ. Họ tới tận đường Leeson, sau đó xuôi theo con phố xuống cầu Huband. Nhớ thu xưa, Quirke còn đưa Sarah đi trên con đường này trong một sáng chủ nhật mù sương. Giờ ông định kể cho Mal nghe câu chuyện ngày hôm đó: Sarah cầu xin ông hãy giúp chồng mình “Quirke à, anh ấy là người tốt”, còn ông đã hiểu lầm Sarah, hiểu lầm thứ bà không có can đảm nói thẳng, nói thật cho ông hay.

Mal khẽ ngâm nga trong cổ họng giai điệu không đầu không cuối. Lại thêm một thói quen mới xuất hiện ở ông sau khi vợ chết.

Quirke hỏi:

- Hồi này anh xoay sở thế nào?

- Dượng bảo gì?

- Lo chăm nom nhà cửa, chăm sóc bản thân chứ còn gì nữa. Anh thấy sao?

- Thì vẫn bình thường. Có Maggie để ý mọi chuyện mà.

- Tôi đang hỏi anh kìa. Bản thân anh có thấy ổn không?

Mal ngẫm nghĩ giây lát:

- Nói chung thì có thứ khá lên, có thứ dở đi. Chẳng hạn, tôi khó chịu về đêm, nhưng ban ngày không sao. Vả lại, tôi còn có Brandy. (Quirke tưởng Brandy là một loại rượu nên trợn mắt nhìn Mal. Mal cười uể oải, chỉ con chó). Là nó đó.

- À, té ra nó có tên cơ đấy.

Quirke nhìn con vật căng thẳng, tò mò, hối hả chạy ngúng ngoắng và thi thoảng hau háu hít ngửi đám cỏ dại. Trong bóng tối chạng vạng, Brandy trông như món đồ chơi bằng máy. Bộ lông cứng, loăn xoăn của nó như làm từ sợi đay thô nhúng nước. Phoebe xin nó về làm bạn với người cách nay hai năm cô vẫn tưởng là cha ruột. Rõ ràng, ông chủ và con chó chẳng ưa gì nhau: con vật cố chịu đựng Mal, còn Mal không biết phải làm gì với thói bướng bỉnh của nó. Có một sự thật khó tin là từ khi có Brandy, hình như Mal già đi, tiều tụy, khó chịu và chán nản hơn. Như đọc được suy nghĩ của Quirke, Mal biện hộ:

- Có nó cũng đỡ lắm.

Đột nhiên, Quirke thèm rượu ghê gớm, chỉ cần được ngửa cổ nốc một ly nhỏ rượu thật mạnh rồi muốn ra sao thì ra. Nhưng tất nhiên, chẳng ai uống một ly cả. Hồi đó, ông có uống một ly bao giờ đâu. Cơn thịnh nộ, hay nói đúng hơn, nỗi ai oán vì bất lực của người khát rượu lớn dần trong ông.

Ánh sáng trắng từ những bóng cao áp xuyên thủng vòm lá thưa xao động của hai hàng cây cao tương phản với màn đêm sâu thăm thẳm. Họ dừng chân, ngồi nghỉ trên ghế băng sắt sơn đen. Bóng lá đung đưa trên mặt đường, quanh quẩn bên chân họ. Con chó cuồng cẳng tức tối, vừa hộc lên vừa chạy tới chạy lui gần đó. Quirke châm thuốc. Ngọn lửa từ hộp quẹt tạo nên quả cầu sáng trong lòng hai bàn tay khum khum che gió của ông. Quirke kể:

- Sáng nay có người gọi cho em. Gã học trường y với tụi mình. Anh có nhớ Billy Hunt to con, tóc đỏ không? Em không nhớ gã chơi bóng bầu dục hay chạy vượt rào nữa. Có điều chưa học xong năm nhất, hắn đã bỏ ngang.

Mal lẳng lặng nhìn con chó, chẳng biết ông có nghe hay không. Quirke nói tiếp:

- Vợ gã chết đuối. Cô ta nhảy từ mặt đê chắn sóng ở Sandycove xuống biển. Hôm qua, họ vớt được xác bị sóng đánh dạt vào đảo Dalkey. Cô này trẻ, chưa tới ba mươi.

Ông ngừng lại rít thuốc rồi nói tiếp:

- Billy bảo em chớ mổ tử thi. Gã bảo không chịu được cảnh xác vợ bị mổ xẻ.

Nói rồi ông im bặt, nhìn trộm khuôn mặt dài nghiêng nghiêng của Mal tắm trong ánh đèn đường. Mùi nước tù đọng và thực vật thối rữa từ kênh xông lên. Con chó chạy tới, hai chân trước quắp lấy mép ghế băng, răng cắn chặt sợi dây da cố lôi dây khỏi tay Mal. Ông nhăn nhó hất nó ra.

- Dượng vừa bảo tên gã là gì?

- Hunt. Billy Hunt.

Mal lắc đầu:

- Tôi không nhớ. Mà vợ gã làm sao? Ý tôi là sao cô ta tự tử?

- Em cũng đang thắc mắc chuyện ấy.

Giờ đến lượt Mal liếc trộm ông em rể của vợ:

- Thật sao? Thế ra, đây là… Bên cảnh sát gọi là gì nhỉ?… Nghi án phải không?

Quirke vẫn không đáp, nhưng sau giây lát im lặng, ông nói tiếp:

- Dù tên thật là Deirdre Hunt, nhưng vợ gã tự đặt cho mình tên khác: Laura Swan. Nghe rất bóng bẩy.

- Cô ta là diễn viên à?

- Không, là chuyên viên làm đẹp. Hình như cô ta tự nhận thế thì phải.

Quirke vứt mẩu thuốc xuống đường và di mạnh bằng gót chân. Con chó lại ngoạm dây da, kêu ăng ẳng.

- Ta nên đi thôi.

Mal đứng lên, gắn đầu dây vào cổ dề của chó. Họ đi giữa hai hàng rào một đoạn, tới Herbert Place thì vòng lại trở về chỗ cũ. Dãy nhà bên đường đối diện lù lù trong đêm. Quirke nghĩ thầm: Kể cũng lạ. Con người thích xây nhà vuông thành sắc cạnh, còn thiên nhiên lại “thích” đường cong.

Mal lẩm bẩm:

- Không hiểu sao tôi nghe tên Laura Swan hơi quen quen.

- Cô ta có tiệm ở đường Anne, trên một cửa hàng gì đó. Có vẻ làm ăn cũng khá. Các bà các cô có tiền có của từ Foxrock đến chỗ cô ta cạo lông chân, tẩy ria mép, đại loại thế. Rồi thì làm giả da rám nắng, mua kem chống nhăn. Ông chồng Billy làm cho hãng dược chắc rót hàng cho vợ kiếm chút lời hoặc chỉ lấy thuốc hộ. Nghe qua tưởng họ cũng bình thường, vô hại.

- Thế sao dượng còn thắc mắc?

Quirke nhún vai, đút tay túi quần. Mal thấy bụng Quirke đang phệ ra. Họ còn trẻ trung gì nữa đâu. Dưới vành rộng của chiếc mũ nỉ, nét mặt Quirke trở nên bí hiểm.

- Không ổn anh ạ. Em thấy ám muội lắm.

- Dượng nghi gã kia đẩy vợ xuống biển à?

- Không. Theo em biết thì chẳng ai xô cô ta từ mặt đê xuống nước cả. Nhưng chết đuối cũng không phải.

Từ đó cho tới khi trở về nhà ở Rathgar Road, không ai nói thêm với ai câu nào. Đến cổng, cả hai dừng bước. Mọi cửa sổ trông ra đường đều tối om. Trong một thoáng, sự pha trộn của đủ loại hương thơm trong vườn nghe như hơi thở của quá khứ. Hình như khung trời hoa bướm của hai chàng trai trẻ xưa vẫn còn lẩn quất trong khu vườn này. Mal thả chó. Nó lồng lên trên con đường đất, nhào lên bậc tam cấp bằng đá và cuống cuồng cào móng vuốt lên cánh cửa trước nhà. Hai chân trước cúa nó hua lên thành vòng tròn khiến Quirke liên tưởng tới con sóc chạy trong lồng quay. Hai anh em cột chèo chậm rãi đi theo. Gót chân họ nghiến trên sỏi nghe xào xạo. Giờ tản bộ đã hết nhưng họ không biết phải kết thúc nó ra sao. Mal hỏi:

- Bố tôi sao rồi? Hôm nay dượng có ghé chỗ ông ấy không?

- Vẫn thế. Cụ chưa “đi” được. Phải nói ý chí cụ mạnh thật. Chắc hẳn anh khâm phục cụ lắm.

- Còn dượng thì sao?

- Em làm sao?

- Dượng có khâm phục không?

Đến bên bậc tam cấp, họ lại dừng chân. Trong vườn có con dơi bay quanh quẩn gần bóng đèn. Quirke tưởng như tiếng đôi cánh nhỏ xíu của nó vỗ thật nhanh, thật đều vẳng đến tận tai ông. Ông bộc bạch:

- Cụ ghét em. Cụ toàn lườm em thôi.

Mal ôn tồn:

- Hồi đó, dượng làm ông cụ thân bại danh liệt.

- Cụ tự gây ra cho mình đấy chứ.

Nghe thế, Mal chẳng nói gì thêm. Thấy con chó vẫn cào cửa không ngừng, Mal chán nản:

- Con chó này bực mình thật. Lúc trong nhà thì rú rít đòi ra. Lúc ra được rồi lại nóng ruột đòi vào.

Họ đứng bên nhau. Mal bực bội nhìn Brandy còn Quirke ngắm con dơi lúc ẩn lúc hiện phía xa xa.

- Về chuyện cô Deirdre Hunt gì đó, dượng lại định “mua” rắc rối vào mình đấy à?

Quirke thở dài, di di mũi giày trên nền đất trải sỏi.

- Nếu trong chuyện này có gì khuất tất, em cũng không ngạc nhiên.

❀ ❀ ❀

[1] Mount tiếng Anh có nghĩa là “cưỡi lên”.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.