Các tối thứ ba, sau khi Phoebe đến nhà tu kín thăm ông nội, Quirke thường đãi con gái tại nhà hàng của khách sạn Russell. Cô gái tuyên bố thích nhà hàng ấy: nó có phong cách trưởng giả cố giữ thói hào hoa dù gia cảnh sa sút. Cô còn cười khẩy lạnh lùng nhận xét quán khá tao nhã. Thức ăn ngon dù hiếm khi cô đụng dao nĩa. Rượu cũng ngon hơn những nơi khác. Cứ một tuần một lần khi ở bên con gái, Quirke tạm buông toa tàu “kiêng rượu” để ngày hôm sau ông lại điềm tĩnh leo lên “toa” ấy. Kể cũng lạ vì ngoài các tối thứ ba, ông luôn tin rằng chỉ một ngụm cũng đủ đưa ông về đường mòn cũ dẫn tới sự diệt vong, hoặc chí ít cũng hủy hoại lá gan của ông. Không hiểu sao sự có mặt của con gái lại khiến ông vững dạ tin đó như hàng rào cách ly ông với sự sa đà. Tối nay, họ dùng thứ rượu vang đỏ mà Quirke nếm thử lần đầu trong dịp nghỉ cuối tuần ở Bordeaux nhiều năm về trước. Vừa nhấm nháp ly rượu làm từ nho chín, ông vừa nhớ đôi môi người con gái cùng đi với mình hôm ấy. Đó là cách ông nhớ về những người đàn bà đã đi qua đời mình: làn môi mềm, mùi hương cơ thể, làn da thớ thịt bừng bừng dưới bàn tay ông, dù tên tuổi và nét mặt họ đã mờ mịt sau màn sương quên lãng.
Phoebe mặc váy đen, cổ viền ren trắng. Nhìn dáng người hao gầy của con, Quirke không khỏi lo lắng. Hình như mỗi lần gặp, cô lại ốm đi một chút. Mái tóc sẫm màu của cô cắt cao, uốn thành lọn và xịt keo cứng ngắc. Một sự nhượng bộ của cô với thế giới thời trang. Cô thích giày đế bằng và gần như không trang điểm. Các nữ tu sĩ chăm sóc ông nội của cô hẳn hài lòng về cô. Hai năm qua, cô gây dựng cho mình một tính cách riêng: hay mỉa mai, mong manh nhưng hòa nhã. Mới hai mươi ba, nhưng cô trải qua nhiều biến cố như người bình thường ở tuổi bốn mươi. Quirke lúng túng trước ánh mắt đầy giễu cợt và ngờ vực của con. Từ nhỏ tới lớn, Phoebe vẫn tưởng mình là con của Sarah và Mal, không phải của Quirke và Delia. Chính Quirke cũng mặc cho cô tin như thế cho tới hai năm trước, sóng gió nồi lên buộc ông phải nói ra sự thật. Khi Phoebe chào đời và Delia chết vì hậu sản thì hợp lý nhất, hay chí ít dễ dàng nhất, là để Sarah nhận đứa bé. (Vị Quan tòa sắp xếp toàn bộ việc ấy). Sở dĩ như vậy vì vợ chồng Mal vô sinh, Quirke không muốn có con và biết một mình xoay sở với đứa bé còn đỏ hỏn sẽ rất khổ sở. Gốc rễ của mọi rắc rối chính là: ông chiều Sarah đến độ hùa theo màn kịch của cô, đến độ chính ông cũng tin con của Delia đã chết và tin Phoebe là con đẻ của Sarah. Hiện tại thật bẽ bàng: Phoebe biết chuyện, Sarah thành người thiên cổ, Mal một mình thui thủi, còn Quirke chỉ biết sượng sùng. Đúng thật ông sợ con gái ruột của mình.
Nhà hàng chỉ còn vài bàn trống. Hai bên cánh cửa lối vào bếp có hai phục vụ bàn đứng im như tượng. Ánh đèn mờ từ trên cao chiếu xuống khiến căn phòng như vũ đài quyền anh. Bốn bức tường màu hồng nhạt khiến bầu không khí trong phòng thêm nặng nề, mệt mỏi. Quirke gợi chuyện:
- Tối hôm kia, bố vừa gặp bố Mal.
Phoebe không nhìn ông:
- Thế sao? Bố con sao rồi?
- Có vẻ buồn.
- Ý bố là bản thân ông đang buồn hay cảnh sống của ông đáng buồn?
- Cả hai. Nhận chó về nuôi là sai lầm.
- Con Brandy ư? Con tưởng ông thích nó. Ông bảo con thể mà.
- Có lẽ bố của… (Suýt nữa Quirke quen miệng nói “bố của con”). Theo bố, bố Mal chắc không phải người thích nuôi chó.
Ông rót chút xíu rượu vào ly mình và ly con gái. Đã thành thông lệ, khi nào ăn xong, chai rượu này mới cạn. Phoebe bảo:
- Có lẽ bố Mal tái hôn lại hay.
Quirke lườm con gái. Theo ông, Mal sống thế này mới đúng bản tính của anh ta. Như thể số Mal hợp với cảnh góa bụa.
Ông hỏi con:
- Thế còn con thì sao?
- “Con thì sao” là sao?
- Có triển vọng yêu đương gì không?
Phoebe nhướng lông mày nhìn cha, bĩu môi dưới tô son nhạt màu:
- Bố đùa gì lạ thế?
Quirke ngỡ ngàng trước thái độ sắt đá của con. Suy cho cùng, nó là con của Delia và càng ngày càng giống mẹ. Quirke chưa thấy phụ nữ nào cứng rắn như vợ mình. Trước sau như một, cô luôn là người đàn bà thép. Đó là điểm ông yêu nhất ở vợ: tính cách tinh tế, luôn đau khổ và biết làm người khác phải nếm mùi khổ đau.
- Đâu có. Bố không đùa.
Phoebe vờ nghiêm trang:
- Thế bố không thấy con lấy công việc làm chồng à?
Phoebe để tài năng thui chột; cô nhận một chân trong tiệm bán mũ, nhưng Quirke không thể phản đối vì biết thể nào con bé cũng nghiến đôi quai hàm xinh xắn (thêm một thứ được thừa hưởng từ mẹ) và vờ như không nghe thấy ông nói gì.
Lúc này, Phoebe gác dao nĩa ngang đĩa (cô gần như chưa đụng vào món bít tết) và móc túi lấy hộp thuốc lá mỏng bằng vàng, bật lửa hình trụ nhỉnh hơn thân bút chì tí xíu, cũng bằng vàng. Quirke mới thấy chúng lần đầu. Tim ông đau nhói. Chắc chắn Phoebe tự mua bởi chẳng ai tặng con bé mấy thứ xa xỉ ấy. Ông hình dung Phoebe mải mê ngắm dãy tủ kính sáng loáng dưới ánh mắt thương hại của cô bán hàng. Ai đời con gái phải tự mua quà tặng mình như thế bao giờ. Ông nhìn cổ tay, gò má nhô cao và hõm sâu nơi cổ con gái. Mọi thứ đều dần gầy sút đi, mỏng manh hơn, như thể con bé muốn thanh lọc mọi tế bào cho đến khi cơ thể chỉ còn là một tàu lá mỏng. Phoebe kể:
- Hôm nay con gặp chuyện khá buồn cười. Mà không, không phải buồn cười. Phải gọi là lạ lùng mới đúng. Nó khiến con suy nghĩ vẩn vơ mãi.
Cô cau mày khi chọn thuốc lá trong hộp. Quirke để ý thấy con vẫn trung thành với nhãn hiệu Passing Cloud. Ông mải mê nhìn lén một bên mặt nhìn nghiêng của Phoebe. Càng nhìn, ông càng thương con già trước tuổi: váy đen, lưng thẳng, mệt mỏi, héo hon, lẻ loi bên bàn ăn trong một khách sạn cũ. Phoebe châm thuốc, thổi ra làn khói mỏng và tì hai khuỷu tay lên bàn, mấy ngón tay lật tới lật lui chiếc bật lửa bằng vàng.
- Con gọi điện đến một tiệm ngay góc phố. Cửa hàng của con ở giữa con phố ấy nên có thể coi là gần. Chủ tiệm đặt mua một món đồ Mỹ, nước hoa hồng hiệu Kiehl’s gì đó, ở Anh không có thứ ấy. Chị đi vắng nên con gọi số nhà riêng. Chị ấy cho con số điện thoại nhà, bảo cứ gọi nếu cần. Con đang chờ người ta lấy hàng đặt nhưng mãi không thấy tới. Con phân vân không biết có chuyện gì không. Chồng chị khách hàng nghe điện, hay ít nhất theo con là chồng chị ấy. Anh ta bảo chị “không có mặt”. Anh ta nói nguyên văn như thế này “Cô ấy không có mặt” rồi cúp máy luôn. Con đoán chắc anh chàng đã xỉn. Đến lúc ấy, con bắt đầu thấy tò mò. Con gọi cho người cùng quản lý cửa hàng với chị kia. Anh ta cũng không có nhà nhưng bà vợ trả lời điện thoại. Con kể mình đã cố liên lạc với chị kia nhưng chỉ gặp anh chồng. Đã thế, anh ta còn ăn nói nghe rất lạ tai, bảo vợ mình “không có mặt”. Nghe thế, người đầu dây bên kia cười khẩy: “Lâu lắm rồi tôi mới nghe nói con mất dạy ấy vắng mặt”. Bố biết không, con giật thót cả người. Con bảo: “Xin lỗi. Chắc tôi gọi tới không đúng lúc”. Nhưng chắc chắn bà ta đang muốn “buôn chuyện” nên tiếp tục nặng lời về “gã chuột cống”, bà ta gọi chồng mình như thế. Chuyện bà ta kể sau đó mới thật hay ho. Con đoán người đàn bà này đang bị kích động mạnh: nào đống hình ảnh “dơ đáy” (con không hiểu lắm chi tiết này), nào thư từ chị kia gửi cho chồng bà. Rõ ràng là thư cũng không “sạch sẽ” gì hơn. Bà ta bảo rõ ràng “chuột cống” và chị kia đã ngang nhiên cắm sừng mình. Bà ta cứ nói mãi không chịu ngừng. Có lúc nghe tiếng, con đoán bà ta đang khóc nhưng phải nói đó là một hỏa diệm sơn chứ không ngoa. Gần như mất trí hoàn toàn. Nhưng theo con, nếu phát hiện một việc như thế, ai chẳng phát điên phát cuồng lên, bố nhỉ?
Quirke ngồi nghe, cảm giác bên trong ông có sợi dây cung đang bị kéo căng, run rẩy. Phoebe vẫn thản nhiên nghịch bật lửa. Ông hỏi:
- Tên cô ta là gì?
- Cô nào cơ?
- Người “không có mặt” ấy?
Trước khi Phoebe kịp mở miệng, ông đã đoán trước câu trả lời.
- Deirdre gì đó. Ở tiệm người ta gọi chị ấy là Laura Swan. Nhưng bố hỏi làm gì?
Ra khỏi khách sạn, hai bố con sang đường, đi dọc hàng rào đến đường Grafton. Trời sắp tối hẳn. Nền trời màu xanh thẫm chưa chịu nhường chỗ cho thần bóng tối và sứ giả của nó là một ngôi sao trắng mờ lơ lửng trên dãy nóc nhà cao. Phoebe hỏi:
- Giờ không đến quán rượu nữa thì tối bố làm gì?
Quirke lặng thinh. Phải, ông sẽ làm gì để giết thời gian đây? Ông sợ mình sẽ giống số đông người lang thang ngoài đường lúc màn đêm buông xuống. Họ đi bộ một mình, nép sát tường nhà, đứng vẩn vơ trước cửa hàng tấp nập hoặc ngồi im trong xe chưa tắt động cơ. Mặt họ chỉ được chiếu sáng một phần lúc bật lửa châm thuốc và mặc cho nỗi buồn gặm nhấm đời mình. Phoebe tặc lưỡi:
- Người cần chút lãng mạn chính là bố đấy.
Họ cùng tới Shelbourne, một quán quen uống cà phê. Hồi Phoebe còn đi học, chiều chiều ông hay đưa cô ra đây uống trà, ăn bánh kẹp, bánh nướng hoặc bánh mứt, bánh kem. Mới đó mà như lâu lắm rồi. Thời gian trôi nhanh quá.
Hôm nay quán trống trơn, chỉ có ba chính trị gia mặc vest xanh dương thẫm từ mấy trụ sở đầu não của chính phủ gần đó sang, đang chụm đầu bàn bạc quanh bàn trong góc phòng cạnh lò sưởi bỏ trống. Ánh sáng lúc hoàng hôn trong căn phòng lớn này lúc nào cũng lạ lẫm. Hai chùm đèn lớn, im lìm quái dị thi nhau tỏa ánh sáng mờ đục thay vì sáng rực rỡ. Về phần mình, Quirke đang tự hỏi buổi tối Phoebe thường làm gì. Cô sống một mình trong căn hộ ba phòng dưới đường Harcourt. Ông biết rõ con gái duy nhất của mình chưa có người yêu. Nhưng chẳng lẽ nó không có bạn bè, người quen gì sao? Người ta có mời nó đến nhà chơi hay tạt qua thăm nó không? Phoebe chẳng kể với ông bất cứ chuyện gì về cuộc sống của nó.
Ngồi thẳng lưng, bắt chéo chân trên chiếc ghế mạ kền, Phoebe lại hút thuốc. Hai cổ tay áo của cô cũng viền ren giống ở cổ. Trông cô như từ bức tranh cổ bước ra. Quirke nghĩ thơ thẩn: Cứ như trước kia, chắc con bé đã là gia sư cho đám con nhà giàu hoặc người tháp tùng có thù lao cho một quý cô quyền quý. Phoebe lên tiếng:
- Sao bố lại quan tâm đến Laura Swan?
Quirke nhướng một bên lông mày:
- Bố? Quan tâm đến cô ta ư?
- Đúng vậy. Nhìn bố lúc con nhắc đến tên chị ta xem. Bố biết Laura à?
- Không, đời nào. Hồi đó bố có quen chồng cô ấy. Gọi là có biết qua mặt nhau thì đúng hơn. Mà cũng lâu lắm rồi.
- Ông ta là người thế nào? Giọng ông ta nói chuyện điện thoại nghe như sắp phát khùng.
Quirke ngập ngừng:
- Người ta vừa mất vợ mà. (Im lặng giây lát). Vợ gã chết rồi.
Vừa định đưa điếu thuốc lên miệng, Phoebe dừng phắt lại tròn mắt nhìn bố:
- Ai chết cơ?
- Vợ gã. Deirdre… Deirdre Hunt. Laura Swan là nghệ danh.
Mắt Phoebe dao động bởi sự hoảng hốt trẻ con pha chút sợ hãi. Cô im lặng hồi lâu, mãi sau mới hỏi:
- Chết thế nào ạ? Con muốn hỏi là chị ấy gặp chuyện gì thế?
- Tuần trước, họ thấy xác cô ấy ở đảo Dalkey, bị sóng đánh giạt vào bờ đá. Thật tội nghiệp. Con thân với cô ta à? Có phải bạn con không?
Phoebe nhíu mày, buồn bã. Quirke bảo:
- Bố rất tiếc.
Phoebe lắc nhẹ vai, hoặc khẽ rùng mình:
- Con chỉ quen chứ không thân với chị ấy. Thỉnh thoảng đi ngang qua chỗ con, chị ấy có ghé vào chuyện phiếm, còn con hay sang cửa hàng của chị trên đường Anne mua mỹ phẩm. Chị gọi cửa hàng là Thiên Nga Bạc. (Phoebe ngừng lời). Chết đuối à? Tội nghiệp quá. (Như chợt nghĩ ra điều gì, cô liếc nhanh Quirke). Có phải tự tử không ạ?
Quirke cẩn trọng:
- Nhân viên điều tra sẽ kết luận thế.
Phoebe không bỏ qua dấu hiệu lạ ấy. Cô thắc mắc:
- Nhưng bố cho là không phải vậy?
Quirke nhún vai thay cho câu trả lời. Phoebe hỏi gặng:
- Bố có xem xét thi thể chị ta không, có khám nghiệm tử thi không? (Quirke gật đầu). Bố phát hiện được gì?
Quirke liếc mấy con buôn chính trị trong góc phòng. Họ không nhìn sang phía này.
- Cô ta là người thế nào?
Phoebe ngẫm nghĩ:
- Con không biết phải nói sao. Laura hoàn toàn… bình thường. Dễ thương nhưng không có gì đặc biệt. Có nghĩa là ở chị ấy, con không thấy có gì đặc biệt. Rất nghiêm nghị, ít khi cười. Nhưng lúc nào cũng hòa nhã, ân cần. Con để ý đến Laura bởi giữa chị ấy với anh chàng đồng quản lý tiệm có cái gì đó trên mức bình thường.
- Anh ta là ai?
- Leslie White. Chắc là người Anh. Anh ta cao, gầy, da cực kỳ trắng và đặc biệt là mái tóc bạch kim ánh bạc cực kỳ đẹp. Ai cũng bảo cái tên “White” rất hợp. Lại còn hay đeo cà vạt trắng bạc nữa chứ.
Phoebe nhăn mũi. Quirke nhìn con chăm chú:
- Sao con biết hắn?
- Có lần con sang bên tiệm ấy, anh ta có đưa danh thiếp cho con. (Phoebe giơ một ngón tay viết vào không khí). “Leslie White - Giám đốc phụ trách kinh doanh - Thẩm mỹ viện THIÊN NGA BẠC”. Anh ta ra vào tiệm liên tục. Có vẻ bí hiểm lắm. Con không nghĩ người như thế có thể đẩy đàn bà con gái xuống biển. (Phoebe nghiêm nghị nhìn Quirke). Có phải Laura bị người ta xô xuống vách đá không?
Ông nhìn lảng đi, tránh ánh mắt con. Việc Phoebe biết Deirdre Hunt và Leslie White khiến ông lo lắng. Như thể có một thứ ông tưởng ở khoảng cách xa an toàn đột nhiên vươn xúc tu kinh tởm chạm vào người ông. Đồng hồ trên mặt lò sưởi trong góc phòng kêu khe khẽ, tựa tiếng thì thầm mờ ám. Có vẻ ba chính trị gia kia coi đó là dấu hiệu để họ đứng bật dậy, vội vã kéo nhau rời quán trông như nhóm nhân vật phản diện trong một vở nhạc kịch.
Quirke nói nhỏ:
- Bố không biết. Nguyên nhân cái chết còn chưa được làm rõ. Nhưng bố biết cô ấy không bị chết đuối.
Ông nói dối ban điều tra, đúng như ông và thanh tra Hackett đều biết. Ông không tự dối lòng rằng mình làm thế vì không muốn chạm đến vết thương lòng của Billy Hunt hoặc để bảo vệ danh tiếng cho vợ gã. Thực chất ông muốn không ai đụng đến vụ này, cũng như Hackett giăng dây quanh hiện trường vụ án để điều tra thêm. Thế thôi.
Khi tòa họp lúc chín, mười giờ sáng, không khí trong phòng xử đã nồm nực và vương vất mùi mồ hôi. Như mọi khi, nơi đây cũng có cảnh hối hả đến chóng mặt, váng đầu: nào nhân viên tòa án chuyển giấy tờ tới lui, nào bồi thẩm đoàn nghiêm nghị kiệm lời, nào đám ký giả bỡn cợt ồn ào tại góc dành riêng cho họ ở sát tường. Quirke thấy có mặt ở đây toàn phóng viên trẻ. Như thế có nghĩa các tổng biên tập không kỳ vọng gì nhiều. Nếu đúng là tự tử, chẳng ai buồn đưa tin: đó là luật bất thành văn của cánh nhà báo. Nếu chỉ cần tìm hiểu người có sở thích quái đản hoặc chán sống, người ta chẳng cần đọc báo vì họ có thể thấy ở khắp nơi. Billy Hunt ngồi ngay hàng ghế đầu, giữa hai người phụ nữ một già một trẻ, và ôm mặt suốt buổi. Đầu bên kia của dãy ghế có cặp vợ chồng luống tuổi. Quirke đoán chắc chắn là bố mẹ của Deirdre Hunt. Bà mẹ ngoài năm mươi nhuộm tóc và trông ốm đau bệnh hoạn. Ông bố thấp lùn, tóc hoa râm, mặt mũi hằm hằm, mặc bộ vest nâu. Nút áo khoác của ông ta chỉ chực bung ra vì cố che cái bụng phệ.
Vẫn như mọi khi, Sheedy, nhân viên điều tra các vụ tử vong bất thường mặc complê màu xám nhạt, sơmi xanh và cà vạt sọc bản nhỏ. Sau khi lắng nghe viên trung sĩ cảnh sát từng vớt thi thể trần truồng của Deirdre Hunt trên bãi đá ở Dalkey đưa ra các bằng chứng, ông day khuôn mặt dài và trắng xanh về phía Quirke, ôn tồn yêu cầu cho biết kết luận về nguyên nhân tử vong của Deirdre sau khi đã xem xét thi thể người xấu số. Giọng Quirke dõng dạc, quả quyết hơn mọi khi. Ông còn thấy hình như cái mũi trắng bợt của Sheedy hơi động đậy. Giữ cương vị nhân viên điều tra các vụ chết bất thường của thành phố đã hơn hai mươi năm, ông rất thính nhạy trước mọi sự do dự, thoái thác khó nhận biết nhất trong lời khai của ngay cả những nhân chứng trong sáng nhất. Giọng Quirke khẩn trương hơn. Ông nói đã xem xét kỹ bên ngoài cơ thể nạn nhân và kết luận nguyên nhân tử vong chỉ là chết đuối.
Thực ra, ông đã mổ phanh thi thể Deirdre Hunt và không tìm thấy bọt nước trong phổi, thứ nhất định phải có nếu cô ta chết đuối. Thứ ông thấy rõ ràng nhất là lượng cồn trong máu cực kỳ cao và dư chất còn lại của một liều lớn morphine chắc chắn đủ để gây chết người.
Ngồi chồng hai bàn tay đặt lên mặt bàn, Sheedy im lặng lắng nghe. Trước khi quay sang chờ bồi thẩm đoàn đưa ra phán quyết “chết đuối do tai nạn”, Quirke cảm giác một thoáng ngờ vực, do dự lướt qua nét mặt Sheedy. Khi phiên tòa kết thúc, Billy Hunt thôi không ôm mãi khuôn mặt thảng thốt mà đứng lên, lê bước khỏi phòng xử với người hai phụ nữ đỡ hai bên. Ba người họ hao hao giống nhau nên Quirke đoán chắc đó là mẹ và em gái gã. Quirke cũng định về nhưng Sheedy gọi giật ông lại. Ông ta không nhìn Quirke, chỉ vờ quan sát đống tài liệu trên bàn và hỏi khẽ:
- Này anh Quirke, có điều gì anh chưa cho tôi hay không?
Hai vai và cơ hàm của Quirke căng ra. Ông không nói không rằng. Sau cái thở dài sườn sượt của Sheedy, Quirke biết ông ta sẽ cho qua. Suy cho cùng, không ai vô tội trong vụ này. Bản thân Sheedy biết tự tử là kết luận đáng ngờ nhất nhưng không nói ra. Thủ tục giải quyết các vụ tự tử đều rối rắm với cả đống tài liệu cần hoàn tất. Còn nữa, phán quyết người chết đã “quyên sinh” chỉ làm đau lòng gia quyến bởi họ nghĩ rằng người thân mình hiện đang bị lửa địa ngục thiêu đốt: giới giáo sĩ luôn khẳng định hố sâu nhất dưới âm ty luôn dành cho những linh hồn lúc trước đã tự kết liễu mạng mình.
Từ sáng cho đến lúc xoay người định rời bàn, Quirke mới thấy Hackett lần đầu. Anh ta ở đây suốt buổi ư? Thanh tra cảnh sát Hackett cầm mũ đứng giữa hai hàng ghế nhìn ông, mặc cho cánh nhà báo và những người đến xem xử án đang theo hướng ngược chiều nườm nượp kéo nhau ra cửa. Nụ cười, cái nháy mắt và động tác vỗ chiếc mũ trước ngực thốt nhiên trở nên khó chịu như thể Hackett đang theo dõi ông, ngang nhiên tỏ thái độ ta đây bắt thóp được Quirke.
Ra đến cổng, Quirke đi bộ dọc bờ sông trong cái nóng như nung giữa trưa hè. Ông chỉ muốn cởi phắt bộ vest và chiếc mũ nỉ đen. Ông dừng chân, dựa lưng vào bức tường ốp đá dưới chân đê để hút thuốc. Thủy triều xuống phơi ra lớp bùn đen dưới đáy sông khiến mùi hôi thôi xông lên nồng nặc. Lũ mòng biển kêu rít lên và chao lượn ngay trên đầu ông. Cuộc điều tra đã khép lại khiến ông mừng rơn. Nhưng không hiểu sao một cảm giác lạ lùng cứ đè nặng lên ông, như thể ông vừa dốc ngược chiếc đại lộc bình, đổ hết mọi thứ bên trong, nhưng tiếc thay, nó vẫn nặng y như cũ. Ông vẫn muốn biết mạng Deirdre Hunt đã bị lấy đi như thế nào và tại sao. Ông giả định nguyên nhân là do vô tình dùng ma túy quá liều (nhưng thực tế không có dấu hiệu gì cho thấy Deirdre Hunt là con nghiện), sau đó có kẻ đem xác cô ta đến Sandycove và vứt tùm xuống biển. Nhưng nếu Billy Hunt tránh rắc rối bằng cách tống khứ thi thể vợ, tại sao gã lại cho rằng chết vì tự sát nhục nhã hơn vì dùng ma túy quá liều? Giả sử Billy tưởng Quirke không thấy dấu kim tiêm, gã cũng không thể biết rằng Quirke sẽ thông đồng với nhân viên điều tra lờ đi khả năng vợ gã tự tử bằng cách nhảy xuống biển. Phải chăng Billy hy vọng cái xác kia không bao giờ nổi lên, do đó sẽ không bị phát hiện? Hay gã cho rằng phải tới khi cái xác biến dạng đến không thể nhận diện, người ta mới tìm ra chăng? Nếu thủ phạm là Billy, sao hắn phải lột truồng xác vợ? Cảnh sát điều tra và pháp y vào cuộc nhưng lạ ở chỗ họ bỏ qua những chi tiết trên. Rõ ràng, chuyện tìm thấy thi thể kia diễn ra vô cùng chóng vánh. Vậy sao Billy có thể nghĩ (cứ cho là không có chuyện mổ xác đi) Quirke sẽ không thể phát hiện nguyên nhân tử vong? Nhưng chắc Billy chẳng màng chi tiết ấy. Quirke hiểu rõ hơn ai hết tâm trạng đàn ông mất vợ: vừa đau xót, giận ông trời trớ trêu, vừa bại hoại và lạ nhất là sự nhẹ nhõm mà nếu nói ra sẽ bị người đời phỉ nhổ.
Ông búng mẩu thuốc qua tường. Tưởng mồi ngon, một con mòng biển lao theo. Đúng là bề ngoài và thực chất khác nhau một trời một vực.