Khi bàn về vấn đề này, chúng ta hầu như không thể không quay về cội nguồn của phong trào Tôn giáo mà Elias Hicks sau này đã chứng tỏ là kết quả cá nhân nổi bật nhất. Chúng ta phải ngược dòng về những năm cuối thế kỷ 16 và toàn bộ, hoặc gần như toàn bộ, thế kỷ 17 — một giai đoạn chật ních những biến cố lịch sử, đổi thay và nhân vật quan trọng. Khắp châu Âu, đặc biệt là ở nơi ta gọi là Mẫu quốc của mình, con người sục sôi một cách bất thường (có kẻ sẽ bảo là hóa điên). Đó là một thời kỳ đặc biệt điên rồ với những phiên tòa xử phù thủy và các vụ treo cổ phù thủy. Chỉ trong vòng một năm, có tới sáu người bị treo cổ vì tội phù thủy chỉn tại một hạt duy nhất ở nước Anh. Đó đích thực là thời đại của những cuộc xung đột quân sự kết hợp tôn giáo. Chủ nghĩa Kháng cách và Công giáo giao tranh như những người khổng lồ để tranh giành quyền bá chủ, vắt kiệt từng chút sức lực. Thử nghĩ mà xem — thời đại ấy! Những biến cố, những con người — Shakspere vừa qua đời (các tập kịch đã được xuất bản hoàn chỉnh) — Charles Đệ nhất, kẻ mang bóng hình linh hồn và khối gỗ vững chãi! Tóm lại tất cả, đó chính là thời đại của Cromwell!
Quả thực, như một thứ tiền cảnh không thể thiếu đối với Elias Hicks, và có lẽ là điều kiện tiên quyết để đánh giá con người ấy, chúng ta phải tạm thời đưa bản thân trở lại nước Anh của thời kỳ đó. Như tôi đã nói, đây là thời điểm của những chấn động vô cùng lớn về luân lý và chính trị; những tư tưởng về các hình thái đối lập, chính phủ, thần học sôi sục, va đập như bão ngoài đại dương, và rút lên dâng xuống như những con triều hùng vĩ. Đó đã là, hoặc từng là, thời kỳ của mối thù truyền kiếp giữa Nghị viện và Ngai vàng. Giữa những mầm mống ấy, George Fox xuất hiện — sinh ra tám năm sau cái chết của Shakspere. Ông là con của một thợ dệt, bản thân làm nghề thợ giày, và đã được "quy đạo" trước tuổi 20. Ôi, những nỗi thống khổ cả về tinh thần lẫn thể xác mà tuổi trẻ kỳ lạ ấy phải trải qua! Ông tự nhận được Thiên Chúa sai phái để thực hiện một sứ mệnh. "Ta đến," ông nói, "để hướng dẫn con người đến với tinh thần đã sinh ra Kinh thánh." Tầm vóc tư duy của ông, ngay từ lúc đó, đã bao trùm hầu như mọi chủ đề quan trọng của các thời kỳ sau này như phong trào bãi nô, quyền phụ nữ, v.v. Dù ở tầng lớp thấp kém và giữa chốn quần chúng, ông vẫn là một nét nổi bật của thời đại.
Và quả thực, vượt lên trên tất cả, đó là một thời đại giông bão và sục sôi! Nền móng của những điều cũ kỹ, mê tín, mang tính thơ ca ước lệ, nhẹ dạ cả tin đều đang rạn vỡ — ánh sáng của cái mới, của khoa học và dân chủ bắt đầu định hình — một thời đại điên cuồng, dữ dội, gần như cuồng loạn! Những đấu tranh chính trị dưới các đời vua Charles và thời kỳ Bảo hộ của Cromwell bị nung nấu đến mức cuồng nộ bởi các cuộc tranh chấp thần học. Đó là những năm tháng nối tiếp sự ra đời và vận hành thực tế của phong trào Cải cách — thế nhưng Công giáo vẫn còn mạnh mẽ và vẫn mưu cầu sự tối cao. Chúng ta nghĩ thời đại mình đang sống thật ngập tràn những con người, sự việc cùng các đỉnh cao chiến tranh và hòa bình; và đúng là như vậy. Nhưng khó lòng có thể tìm được một thời đại nào vĩ đại, diễm lệ và đa dạng hơn thời đại ấy.
Sinh ra từ và trong thời đại này — khi Milton, Bunyan, Dryden và John Locke vẫn còn sống; giữa những ký ức về Nữ hoàng Elizabeth và James Đệ nhất cùng các sự kiện dưới triều đại của họ; khi hào quang của chùm sao gồm các nhà thơ, chiến tướng, chính khách, thủ lĩnh, lãnh chúa, nhà thám hiểm, bậc thông thái và quý tộc từng nườm nượp chốn triều đình và thời đại của những vị quân chủ ấy vẫn ngập tràn bầu không khí; khi châu Mỹ bắt đầu được thám hiểm và định cư cũng đồng thời bị nghi ngờ là mang vận mệnh lật đổ những chuẩn mực và tính toán cũ; khi Chủ nghĩa phong kiến, tựa ánh hoàng hôn, dường như gom góp mọi vinh quang, hồi ức, dấu ấn cá nhân vào nỗ lực rực rỡ cuối cùng trước thềm một ngày mới, một thiên tài phôi thai mới — giữa các vòng tròn xã hội và gia đình của thời kỳ ấy — phớt lờ những âm vang tưởng chừng đủ sức đánh thức người chết, và ở một không gian xa rời những yến tiệc cung đình, sự kính sợ trước bất kỳ bậc tước vị hay sức hút trí tuệ, văn chương nào, hay sự náo động đổi thay của các phe phục Nghị viện hay Hoàng gia — chàng trai nhà quê kỳ lạ ấy cứ lang thang khắp nước Anh.
George Fox, sinh năm 1624, xuất thân từ một gia đình tử tế thuộc tầng lớp bình dân hạ lưu — khi lớn dần thành một thanh niên, ông làm nghề đóng giày cả việc đồng áng — thích ở một mình, ẩn khuất nửa kín nửa hở trong rừng sâu để đọc Kinh thánh — đi từ thị trấn này sang thị trấn khác, mặc trang phục bằng da — đi bộ rất nhiều vào ban đêm, cô độc, đầy trăn trở ("sự dạy dỗ thiêng liêng bên trong từ Chúa") — đôi khi bước vào các buổi tụ họp giáo hội của những bậc học giả lớn, dù chỉ là một thanh niên vẫn dũng cảm đưa ra lời làm chứng — đi lại tranh luận khắp nơi (chắc hẳn phải có một cá tính lớn lao) — nghe thấy tiếng Chúa phán rõ ràng với mình khi đang đi dạo ngoài đồng — cảm thấy những mệnh lệnh không thể cưỡng lại, không cần giải thích mà phải tuân theo: không được cất mũ chào, phải xưng hô "ngươi-ta" (Thee và Thou), không chào ai "Buổi sáng tốt lành" hay "Buổi tối tốt lành" — là người thất học, chỉ vừa đủ biết đọc biết viết — lên án các buổi biểu diễn, trò chơi và những niềm vui phù phiếm — bước vào các tòa án và cảnh cáo các thẩm phán phải lo làm tròn công lý — đi vào các quán nước công cộng và khu chợ để đả phá thói say sưa và việc kiếm tiền — đứng dậy giữa các buổi lễ nhà thờ để đưa ra những lời giải thích của riêng mình về các bài giảng của mục sư cũng như về các đoạn và câu kinh thánh — đôi khi vì những việc như vậy mà bị tống giam, đôi khi bị đấm thẳng vào miệng không thương tiếc ngay tại chỗ, hoặc bị đánh gục, nằm sõng soài ở đó trong đòn roi và máu me — là người sắc sảo, sẵn sàng đáp trả mọi câu hỏi bằng những câu trả lời đúng chỗ nhất — đôi khi bị ép đi lính (bắt một kẻ như ông đi lính!) — quả thực đã chịu biết bao đòn roi nhục nhã; nhưng ông cứ đi, đi, đi mãi — thường ngủ ngoài trời, dưới các hàng rào hoặc đống cỏ khô — liên tục bị giải tới trước các quan tòa — tận dụng những cơ hội ấy và mọi cơ hội để làm chứng và đưa ra lời khuyên răn — vẫn tiếp tục bước vào "nhà chọc trời" (cách ông gọi các nhà thờ), và dù thường bị lôi xềnh xệch ra đánh đập cho đến ngất lịm, nằm bất động như người chết, nhưng hễ tỉnh lại — ông lại đứng dậy, chìa thân thể bầm dập và đẫm máu của mình ra, thét lên với những kẻ hành hạ: "Hãy đánh đi — đánh nữa đi, vào chỗ tụi bay chưa chạm đến ấy! Vào tay ta, đầu ta, má ta," — Cuối cùng ông bị bắt và giải về London, diện kiến Bậc Bảo hộ Cromwell — được trả tự do và tổ chức những buổi họp lớn tại London.
Cứ tiếp tục như thế, ở con người ông có sức hút kỳ lạ với một hoặc hai người ở đây, ba hoặc bốn người ở kia, cho đến khi dần dần có những người khác cùng đi theo tinh thần ấy, và rồi dần dà Hội Tôn giáo Bạn hữu (Society of Friends) thành hình, đứng vững giữa hàng ngàn giáo phái tôn giáo trên thế giới. Phụ nữ cũng nhiễm phải "căn bệnh" ấy, đi khắp nơi và thường xuyên bị đối xử tệ bạc một cách đáng hổ thẹn. Cứ qua sự lan truyền và những việc truyền giáo như vậy, hàng chục, suýt chút nữa là hàng trăm nam nữ lữ hành nghèo khó cứ tiếp tục năm này qua năm khác, dẫu cho bị chế nhạo, đánh đập, bỏ tù, v.v. — một số mục sư của phái Bạn hữu di cư sang Tân Thế giới — nơi cách đối xử với họ trở thành chương đen tối nhất trong những biên niên sử đầu tiên của vùng đất mới. Một số người bị hành quyết, số khác bị tàn phế, thiêu nửa người, bị đánh roi — hai trăm người chết trong ngục tối — một số trên giá treo cổ, hoặc trên giàn hỏa thiêu.
Chính bản thân George Fox đã đến thăm châu Mỹ, tìm thấy chốn dung thân cùng những người lắng nghe, và đã giảng đạo nhiều lần trên đảo Long Island, bang New York. Tại ngôi làng Oysterbay, người ta sẽ chỉ cho bạn tảng đá mà ông từng đứng đó (vào năm 1672) để diễn thuyết trước đám đông giữa trời quang — tuân thủ một cách nghiêm ngặt phong cách của thời đại các tông đồ. (Bản thân tôi đã nghe rất nhiều giai thoại về ông). Flushing cũng lưu giữ (hoặc từng lưu giữ — tôi đã tận mắt thấy) những kỷ vật về Fox và con trai ông trong hai cây sồi trắng cổ thụ từng che mát cho ông khi ông đứng ra làm chứng trước những người tụ tập bên vệ đường. — Vâng, những người Quaker ở châu Mỹ đã bị đàn áp rất dã man — gần như ngang ngửa với sự đồng thuận của tất cả các giáo phái khác đối với người Do Thái ở châu Âu thời trung cổ. Tại New England, những bộ luật tàn khốc nhất đã được thông qua và đem ra áp dụng để chống lại họ. Như đã nói, một số bị đánh roi — phụ nữ cũng chịu hình phạt y hệt đàn ông. Một số bị cắt tai — số khác bị sắt nung chọc thủng lưỡi — những người khác nữa bị thích chữ lên mặt. Tồi tệ hơn thế, một phụ nữ và ba người đàn ông đã bị treo cổ (vào năm 1660). — Công luận và luật pháp đã kết hợp với nhau trong một liên minh gớm ghiếc, gom chung những người Quaker, Baptists, Công giáo La Mã và cả Phù thủy vào một giuộc. — Đó là một bức phác họa chắp vá về George Fox cùng thời đại của ông — và sự ra đời của "Hội Tôn giáo Bạn hữu" tại châu Mỹ.
Nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng Shakspere và George Fox (hãy nghĩ về họ! hãy so sánh họ!) lại sinh ra và lớn lên từ những gốc gác tương tự, trong hoàn cảnh và địa vị xã hội xấp xỉ nhau — cùng từ một nước Anh ấy — và ở một giai đoạn tương tự. Một người tỏa ra toàn bộ vẻ lộng lẫy của nghệ thuật, của văn chương — một vẻ rực rỡ đến chói lòa khiến chính bản thân ông gần như lu mờ trong đó, và những người đồng thời với ông cũng vậy — những nhân vật hư cấu Othello, Romeo, Hamlet, Lear của ông chân thực chẳng kém gì bất kỳ vị lãnh chúa nào của nước Anh hay châu Âu thời bấy giờ — trong tâm trí, ta đôi khi thấy họ còn chân thực hơn cả con người Shakspere bằng xương bằng thịt. Rồi đến người kia — ta có thực sự được phép gọi tên họ trong cùng một ngày không? George Fox nghèo hèn, mộc mạc là gì khi đem so sánh với William Shakspere — vị chúa tể của tưởng tượng, người thừa kế của trí tưởng tượng cơ chứ? Thế nhưng, George Fox cũng đại diện cho một điều gì đó — một tư tưởng — tư tưởng bừng tỉnh trong những giờ phút tĩnh lặng — có lẽ là tư tưởng sâu sắc nhất, vĩnh hằng nhất tiềm ẩn trong tâm hồn con người. Đó chính là tư tưởng về Thiên Chúa, hòa quyện trong những suy ngẫm về lẽ phải luân lý và sự bất tử của bản ngã tôi. Vĩ đại thay, vĩ đại thay tư tưởng này — ừm, vĩ đại hơn tất thảy mọi thứ trên đời. Khi bức tranh rực rỡ của Nghệ thuật, chói lọi dưới ánh mặt trời, điểm tô bởi hoa hồng và vàng son — với tất cả những gì là thơ ca thuần túy phong phú nhất, cũ hay mới (kể cả của Shakspere), với tất cả những gì mà tượng điêu khắc, kịch nghệ, hội họa, âm nhạc, kiến trúc, hùng biện có thể mang lại — không còn đủ sức thỏa mang và làm vui lòng ta nữa; khi cuộc rượt đuổi gấp gáp vì tiền tài chùng xuống, và ngay cả cái đẹp cũng trở thành thứ gớm ghiếc — và khi tất cả những giá trị thế tục, xác thịt, thẩm mỹ, hay thậm chí khoa học, sau khi đã hoàn thành sứ mệnh đối với nhân cách con người và đóng góp phần mình vào sự phát triển của nhân cách ấy — lúc bấy giờ, dẫu chưa hẳn là trước đó, tư tưởng bao trùm này mới bước lên phía trước, mang theo những tiềm năng và mầm mống của nó. Là thuộc tính bị bỏ bê nhiều nhất trong cuộc đời của nhân loại, dễ dàng bị lớp vỏ bám đầy, bị mê muội, lạm dụng và hắt hủi, thế nhưng nó lại là nguồn cội chắc chắn duy nhất cho những gì mà tất cả đang kiếm tìm nhưng ít ai hoặc chẳng mấy ai tìm thấy — Bản thân tôi nhìn thấy rõ ràng tận cùng sâu thẳm nhất và đỉnh cao chót vót nhất của nghệ thuật, văn chương và mục đích sống. Tôi cho rằng bất cứ ai lao động ở đây, đóng góp ở đây, hoặc tuyệt vời nhất là dựng nên một tấm gương bằng da bằng thịt ở đây, về sự sống hay cái chết, chính là người gần gũi nhất với nhân loại — ở lại mãi sau khi những kẻ khác đã ra đi. Và tại đây, vì những mục đích ấy, và chiếu theo ánh sáng vốn có trong con người mình — con người Elias Hicks — cũng như con người George Fox đã làm nhiều năm trước ông — đã sống lâu và qua đời, trọn đời trung tín và ra đi cũng trọn vẹn niềm trung tín.